Trong
vô lượng các vị Đại Bồ tát, từ tha phương quốc độ
đến Ta bà để trợ duyên với Đức Phật Thích Ca Mâu Ni
giáo hóa độ sanh, có thể nói Bồ tát Phổ Hiền là một
trong các vị Bồ tát trợ duyên giáo hóa đắc lực nhất
và có nhân duyên sâu nặng đối với tất cả chúng sanh,
thể hiện qua tâm nguyện thủ hộ Chánh pháp và hộ tŕ
người tu tập của Ngài.
Theo
kinh Pháp Hoa, Ngài là vị Bồ tát ở quốc độ của Phật
Bảo Oai Đức Thượng Vương Như Lai, phía Đông cơi Ta
bà, nghe thế giới này thuyết kinh Pháp Hoa liền lănh
đạo năm trăm vị Đại Bồ tát đến nghe pháp và phát tâm
hộ tŕ Chánh pháp của Đức Phật Thích Ca.
Phổ
Hiền, tiếng Phạn Sàmantabhadra, dịch âm là Tam mạn
đà bạt đà la, hoặc Tam mạn đà bạt đà. Phổ là biến
khắp, Hiền là Đẳng giác Bồ tát, Phổ Hiền là vị Bồ
tát Đẳng giác có năng lực hiện thân khắp mười phương
pháp giới, tùy mong cầu của chúng sanh mà hiện thân
hóa độ.
Căn
cứ vào tranh tượng Hoa Nghiêm Tam Thánh, Bồ tát Phổ
Hiền cưỡi voi trắng hầu bên trái, c̣n Bồ tát Văn Thù
cưỡi sư tử hầu bên phải Đức Phật Tỳ Lô Giá Na. Bồ
tát Phổ Hiền biểu thị Đại hạnh, Bồ tát Văn Thù biểu
thị Đại trí, hai vị dùng trí tuệ và hạnh nguyện đồng
trợ hóa cùng Đức Tỳ Lô Giá Na hóa độ chúng sanh.
Bồ tát ngồi trên lưng voi trắng sáu ngà, biểu thị
hạnh nguyện rộng lớn. Voi là loài có sức mạnh, kham
nhẫn, có thể chuyên chở người và vật từ chỗ này sang
chỗ khác. Bồ tát Phổ Hiền cũng thế, dùng Đại hạnh
hóa độ chúng sanh, đưa họ từ bờ mê sang bến giác.
Voi trắng biểu thị Bồ tát tuy lăn lộn trong trần thế
hóa độ chúng sanh nhưng Ngài không vướng nhiễm bụi
trần, tâm hoàn toàn trong sạch. Sáu ngà trượng trưng
cho Lục độ, sáu công hạnh tu tập của chư vị Bồ tát.
H́nh ảnh Bồ tát Phổ Hiền cưỡi voi trắng sáu ngà mang
ư nghĩa Ngài là vị Bồ tát với tâm Bồ đề vững mạnh,
hoàn toàn thanh tịnh, khéo vận dụng Lục độ làm
phương tiện giáo hóa độ sanh.
Theo
kinh Bi Hoa, tiền thân của Bồ tát Phổ Hiền là thái
tử con vua Vô Tránh Niệm. Nhờ phụ vương khuyên bảo,
thái tử đă phát tâm cúng dường Đức Phật Bảo Tạng và
chư Tăng trong ba tháng an cư, đồng thời đối trước
Phật và đại chúng phát đại nguyện độ sanh. Sau khi
thấy sự phát nguyện rộng lớn và kiên cố của thái tử,
Đức Phật Bảo Tạng vô cùng hoan hỷ và thọ kư cho Ngài
về sau thành Phật, hiệu là Phổ Hiền Như Lai.
Trong
các pháp hội Đức Phật Thích Ca thuyết pháp, Bồ tát
Phổ Hiền đóng vai tṛ quan trọng, đại diện chúng Bồ
tát khuyến thỉnh và phát nguyện khuyến phát đạo tâm,
trợ duyên tu tập, dẹp trừ ma chướng cho hành giả
trên bước đường hành Bồ tát đạo. Kinh Pháp Hoa, phẩm
Phổ Hiền khuyến phát, Bồ tát sau khi hỏi Phật về các
điều kiện cần yếu của hành giả khi thọ tŕ kinh Pháp
Hoa xong, liền đối trước Phật phát nguyện đời mạt
pháp, nếu có người nào phát tâm tŕ tụng kinh này,
Ngài sẽ cưỡi voi trắng sáu ngà cùng chư Đại Bồ tát
hiện ra trước mặt cùng đọc tụng và hộ tŕ người đó.
Kinh Lăng Nghiêm, chương Đại Thế Chí viên thông, Bồ
tát sau khi tŕnh bày về pháp môn tu tập của ḿnh,
liền đối trước Phật phát nguyện sau này người nào tu
hạnh Phổ Hiền, khi gặp ma chướng, Ngài sẽ hiện thân
đến để xoa đầu, an ủi ủng hộ, khiến các ma sự sớm
tiêu trừ không thể phá hoại được. Kinh Địa Tạng,
phẩm Địa ngục danh hiệu thứ năm, Bồ tát v́ muốn
chúng sanh trong cơi Ta bà không tạo ác nghiệp mà
thỉnh cầu Bồ tát Địa Tạng nói về những danh hiệu và
tội báo trong địa ngục, nhằm giúp chúng sanh đời sau
nghe được mà bỏ ác làm lành để khỏi đọa vào địa ngục
chịu nhiều nỗi khổ đau.
Phổ
Hiền là hạnh nguyện rộng lớn. Hạnh ở đây nói theo
nghĩa rộng là nhiếp tất cả hạnh, tất cả các công
hạnh lợi tha dù lớn hay nhỏ cũng không ngoài chữ
hạnh này. Nói theo nghĩa hẹp, hạnh là bao gồm mười
hạnh nguyện Phổ Hiền. Kinh Hoa Nghiêm, phẩm Phổ Hiền
hạnh nguyện có nêu lên mười hạnh nguyện của Bồ tát
và dạy rằng đây là mười hạnh nguyện tối viên măn của
Đẳng giác Bồ tát; trong chúng Bồ tát, vị nào tu tập
được mười hạnh nguyện này th́ đều được gọi là Phổ
Hiền Bồ tát.
Trên
bước đường hành Bồ tát đạo, muốn thành tựu quả vị
Phật cần phải thực hành mười công hạnh này. Mười
công hạnh Phổ Hiền là thường lễ kính các Đức Phật;
xưng tụng công đức của Như Lai; thờ phụng và cúng
dường tất cả chư Phật; sám hối các nghiệp chướng từ
vô thỉ đến nay và tuân giữ tịnh giới; thường tùy hỷ
công đức của tất cả chư Phật, Bồ tát; lễ thỉnh tất
cả chư Phật giảng nói giáo pháp; thỉnh cầu Phật, Bồ
tát chớ nhập Niết bàn mà trụ thế để nói pháp; thường
theo Phật Tỳ Lô Giá Na học giáo pháp; ứng theo sự
khác biệt của các loài chúng sanh mà làm các việc
cúng dường; và cuối cùng là hồi hướng công đức cho
tất cả chúng sanh để thành tựu Phật quả. Đây là mười
pháp tối thắng, hay nói cách khác là Đại hạnh, nhiếp
tất cả muôn hạnh thế gian và xuất thế gian của ba
đời mười phương chư Phật.