 |
Hoa Nhài ướp trà uống hoặc dùng 2 - 4g hoa khô
sắc uống giúp chữa kiết lị, mất ngủ. Cũng có thể
dùng nước này để rửa mắt.
Các loài hoa sau có tác dụng chữa bệnh
Hoa Cúc: Có thể sử dụng với dạng nấu nước uống
như nước giải khát hoặc sắc uống để chữa đau đầu,
chóng mặt, hoa mắt, đau mắt, cao huyết áp, sốt.
Mỗi ngày có thể dùng 10 - 16g dưới dạng thuốc
sắc, ngâm rượu uống, hoặc giã nát đắp mụn nhọt. |
Hoa Sứ (hoa Đại): Có tác dụng hạ
huyết áp, chữa ho, tiêu đờm, tiêu thũng, liều dùng 6
- 12g mỗi ngày dưới dạng thuốc sắc. Người ta còn
dùng nước sắc hoa Sứ chữa cảm sốt, kiết lị. Một số
ghi nhận ở Lào cho thấy hoa Sứ còn có tác dụng chữa
viêm tắc động mạch, ở Campuchia dùng chữa hắc lào.
Hoa Hồng: Có tác dụng hoạt huyết, điều kinh, giải
độc, dùng để chữa kinh nguyệt không đều, đau bụng
kinh, ho viêm họng, lở loét mồm, liều dùng 3 - 6g/ngày
dưới dạng thuốc sắc. Tinh dầu hoa Hồng pha nước tắm
có tác dụng an thần.
Hoa Hòe: Hoa Hòe có nhiều rutin, một chất làm bền
thành mạch, dùng điều trị cao huyết áp, ngăn ngừa
xuất huyết do vỡ mao mạch, chữa ho ra máu, tiểu ra
máu, chảy máu cam. Liều dùng 5 - 20g mỗi ngày dưới
dạng thuốc sắc. Có thể sao khô để dành pha uống như
nước Trà. Hiện nay, hoa Hòe được bào chế thành dạng
thuốc viên, hàm lượng 0,02g, ngày uống 3 lần/ngày,
mỗi lần uống 1 viên.
Hoa Dâm bụt: Dùng lá và hoa giã nhỏ trộn với muối
đắp lên mụn nhọt sẽ giúp giảm đau và chóng vỡ mủ. Ở
Malaysia, người ra dùng hoa pha nước uống như uống
trà để thông tiểu và chữa mẩn ngứa.
Hoa Mào gà: Sắc uống mỗi ngày 8 - 16g, chữa đi tiêu
ra máu, hoặc dùng 10g hoa sấy khô, tán nhỏ, chia
nhiều lần uống trong ngày. Mỗi lần uống 1 - 2g chữa
lị ra máu, tiêu ra máu, kinh nguyệt kéo dài.
Hoa Cam: Dùng để pha chế thuốc theo đơn, hoa Cam
chứa nhiều tinh dầu, có tính kháng khuẩn nhưng kém
hơn tinh dầu vỏ quả. Có thể dùng nước hoa Cam uống
để làm êm dịu thần kinh.
Hoa Khế: Dùng chung với lá khế, cành non, nấu sôi
dùng để xông hoặc tắm chữa lở loét, dị ứng. |
|
|
|
|
|
|