NHO
Nho
có thể trị được 10 thứ bịnh:
a.- Buổi sáng khoảng 11 giờ ăn 10 quả nho có thể trị chứng đau đầu,
nặng đầu, chóng mặt, con mắt mệt mỏi, muốn ngủ, đau đầu một bên,
chảy mũi nước.
b.- Buổi chiều khoảng 4 giờ, ăn 1 chùm nho có tác dụng thanh lọc máu,
bổ máu, bổ khí, tiêu trừ sự mệt mỏi.
LONG NHĂN:
Long Nhăn có
thể trị nhiều chứng bịnh:
a.- Buổi sáng, 11 giờ, ăn 10 trái long nhăn, trị chứng đầu óc tăm
tối và đầy ứ.
b.- Buổi trưa, sau khi dùng cơm, ăn 20 trái long nhăn, trị chứng
dùng óc quá độ, con mắt mệt mỏi, nghẹt mũi, sổ mũi, cận thị, tứ chi
bải hoăi.
c.- Buổi chiều, khoảng 4 giờ, ăn 30 trái long nhăn trị chứng bịnh
thiếu máu (bần huyết).
d.- Buổi tối, khoảng 7 giờ, ăn 40 trái long nhăn, có thể trị được
chứng thiếu máu trầm trọng (không nuốt bả v́ ăn nhiều bả sẽ làm tổn
thương đến dạ dày).
TRÁI VẢI
Trái Vải
trị được 11
chứng bịnh:
a.- Buổi sáng, 10 giờ, ăn 10 trái vải có tác dụng bổ khí, thông máu,
bổ và thanh lọc máu, nặng đầu mỏi mắt.
b.- Buổi trưa, sau bữa cơm 12 giờ rưởi, ăn 8 trái vải, trị được
chứng sổ mũi và nghẹt mũi.
c.- Buổi chiều, 4 giờ, dùng 8 trái vải trị bịnh áp huyết cao.
d.- Buổi chiều, 5 giờ, dùng 8 trái vải trị chứng tứ chi bải hoải.
e.- Buổi tối, 8 giờ, dùng 8 trái vải, giải trừ được sự mệt mỏi trong
ngày.
QUẢ TÁO:
Quả táo trồng nơi xứ lạnh, bản chất của nó
thuộc hàn nên có thể trị được hỏa khí:
a.- Buổi sáng, 10 giờ, ăn 1 quả, trị chứng gan nóng (hỏa can).
b.- Buổi trưa, 2 giờ, ăn 1 quả, trị chứng nóng ở vị tạng.
c.- Buổi chiều, 5 giờ, ăn 1 quả, trị chứng nóng ở ruột già.
DƯA HẤU
Dưa
hấu trị chứng cảm mạo vào mùa Hạ. Buổi sáng không nên dùng,
ngoại trừ các thể tháo gia.
a.- Sau khi ăn cơm trưa, ăn 1 miếng nhỏ dưa hấu có thể trị chứng
trúng gió, cảm mạo.
b.- Buổi trưa, 2 giờ, ăn 1 miếng nhỏ dưa hấu thoa bột cam thảo trị
chứng đau cuống họng.
c.- Buổi chiều, 4 giờ, ăn 1 miếng dưa hấu nhỏ thoa với mật ong trị
được bịnh cao máu (trẻ em không được dùng phương này).
d.- Buổi chiều, 5 giờ, ăn 1 miếng dưa hấu thoa đường trắng để thanh
lọc máu.
e.- Buổi tối, 8 giờ, ăn 1 miếng nhỏ dưa hấu thoa muối, trị bịnh ăn
uống không tiêu.
f.- Buổi tối, 10 giờ, ăn 1 miếng nhỏ dưa hấu thoa bột cam thảo, trị
chứng nhức răng, đau cuống họng.
ĐU ĐỦ
Đu đủ có thể trị được 13 thứ bịnh:
a.- Buổi sáng, 8 giờ, ăn một phần tư (1/4) miếng đu đủ, trị chứng
nóng ở ruột và dạ dày. (Trái đu đủ chia làm 4 miếng)
b.- 9 giờ sáng, ăn 1/2 miếng đu đủ để thanh lọc máu.
c.- 10 giờ sáng, ăn 1/2 miếng đu đủ, trị được gan nóng (hỏa can) hay
nổi giận.
d.- 11 giờ sáng, ăn 1/2 miếng đu đủ, trị chứng khô cuống họng.
e.- 1 giờ trưa, ăn 1/4 miếng đu đủ thoa bột cam thảo, trị chứng ăn
uống không tiêu.
f.- 2 giờ trưa, ăn 1/4 miếng đu đủ, trị chứng hôi miệng.
g.- 3 giờ chiều, ăn 1/2 miếng đu đủ, trị chứng nóng ở ruột già.
h.- 4 giờ chiều, ăn 1/4 miếng đu đủ thoa mật ong, trị chứng cao máu.
i.- 5 giờ chiều, ăn 1/2 miếng đu đủ, trị bịnh tiểu đường.
j.- 7 giờ tối, ăn đu đủ giải trừ được cơn mệt mỏi trong ngày.
k.- 8 giờ tối, ăn 1/4 miếng đu đủ, thanh lọc máu.
l.- 9 giờ tối, ăn 1/2 miếng đu đủ thoa đường trắng, trị chứng gan
nóng (hỏa can).
m.- 10 giờ tối, ăn 1/2 miếng đu đủ thoa muối, trị chứng đau cổ họng.
DƯA LEO
Dưa leo trị chứng cảm mạo vào
mùa Hè:
a.- Khoảng 11 giờ sáng, ăn 1 trái.
b.- Khoảng 4 giờ chiều, ăn 1 trái.
c.- Khoảng 10 giờ tối, ăn tiếp thêm 1 trái nữa, sẽ thấy công hiệu
ngay.
TRÁI KHẾ
Khế trị bịnh ho.
Vào đầu mùa Hè, ăn khế cần chú ư:
- Khi trời mưa, không nên ăn khế.
- Khi thời tiết hơi nóng, ăn khế phải thoa đường trắng.
- Khi trời trở mát, ăn khế phải thoa muối.
- Khi thời tiết không nóng không lạnh th́ khỏi cần phải thoa thứ ǵ
cả khi ăn khế.
TRÁI ĐÀO
Đào vào mùa Hè, trước khi đi
ngủ ăn 1 trái đào có thể tiêu trừ được sự mệt mỏi trong ngày.
trị được 6 chứng bịnh:
a.- Buổi sáng, khoảng 10 giờ, ăn 1 trái, có tác dụng thanh lọc máu.
b.- Buổi chiều, 1 giờ, ăn 1 trái, trị chứng ăn uống không tiêu.
c.- Buổi chiều, 2 giờ, ăn 1 trái, trị bịnh tiểu đường.
d.- Buổi chiều, 3 giờ, ăn 1 trái, trị chứng sa dạ dày (cần lấy trái
thật chín).
e.- Buổi chiều, 4 giờ, ăn 1 trái, có tác dụng thanh lọc máu.
f.- Buổi chiều, 5 giờ, ăn 1 trái, trị chứng ăn uống không ngon.
TRÁI LỰU
Lựu trị được 6 chứng bịnh:
a.- Buổi sáng, khoảng 10 giờ, ăn 1 trái, có tác dụng thanh lọc máu.
b.- Buổi chiều, 1 giờ, ăn 1 trái, trị chứng ăn uống không tiêu.
c.- Buổi chiều, 2 giờ, ăn 1 trái, trị bịnh tiểu đường.
d.- Buổi chiều, 3 giờ, ăn 1 trái, trị chứng sa dạ dày (cần lấy trái
thật chín).
e.- Buổi chiều, 4 giờ, ăn 1 trái, có tác dụng thanh lọc máu.
f.- Buổi chiều, 5 giờ, ăn 1 trái, trị chứng ăn uống không ngon.
HẠT GẤC

Để chữa trĩ, có thể dùng hạt gấc giă nát, thêm
một ít giấm thanh, gói bằng vải, đắp vào hậu môn để suốt đêm. Mỗi
đêm đắp thuốc một lần.
Đông y gọi hạt gấc là "mộc miết tử" (con ba ba gỗ) v́ nó dẹt, h́nh
gần như tṛn, vỏ cứng, mép có răng cưa, hai mặt có những đường vân
lơm xuống, trông tựa như con ba ba nhỏ. Theo các sách cổ, nhân hạt
gấc vị đắng, hơi ngọt, tính ôn, hơi độc, vào 2 kinh can và đại tràng,
có tác dụng chữa mụn nhọt, tiêu thũng. Nó được dùng trong những
trường hợp ngă, bị thương, sang độc, phụ nữ sưng vú, hậu môn sưng
thũng. Hạt gấc có thể dùng uống (ngày 1 nhân nướng chín) nhưng chủ
yếu là dùng bôi ngoài, không kể liều lượng.
Trong nhân dân, nhiều gia đ́nh có thói quen để dành hạt gấc sống
hoặc đă qua đồ xôi. Khi cần đến th́ chặt đôi đem mài với ít rượu
hoặc giấm thanh để bôi chỗ sưng tấy do mụn nhọt, sưng quai bị; bôi
nhiều lần trong ngày, cứ khô lại bôi; rất mau khỏi. Có người giă
nhân hạt gấc với một ít rượu, đắp lên chỗ vú sưng, đắp liên tục,
ngày thay thuốc 1 lần, rất chóng khỏi.
Một số ứng dụng khác:
- Chữa chai chân (thường do dị vật găm vào da, gây sừng hóa các tế
bào biểu b́ ở một vùng của gan bàn chân, ảnh hưởng tới việc đi lại):
Lấy nhân hạt gấc, giữ cả màng hạt, giă nát, thêm một ít rượu trắng
35-40 độ, bọc trong một cái túi nylon. Dán kín miệng túi, khoét một
lỗ nhỏ rộng gần bằng chỗ chai chân, buộc vào nơi tổn thương, 2 ngày
thay thuốc một lần. Băng liên tục cho đến khi chỗ chai chân rụng ra
(khoảng 5-7 ngày sẽ có kết quả).
- Chữa sang chấn đụng giập trong những trường hợp bị ngă, bị thương,
tụ máu: Dùng hạt gấc đốt vỏ ngoài cháy thành than (nhân bên trong
chỉ vàng, chưa cháy), cho vào cối giă nhỏ, cứ khoảng 30-40 hạt th́
cho 400-500 ml rượu vào ngâm để dự trữ dùng dần. Dùng rượu ngâm hạt
gấc bôi vào chỗ sang chấn, có tác dụng tốt gần như mật gấu.
BS Vũ Nguyên Khiết, Sức Khoẻ & Đời Sống
DÂU

Trong Đông y, loăng
xương thuộc phạm vi chứng "cốt nuy" có liên quan tới 3 tạng là thận,
tỳ và can; trong đó, tạng thận có vai tṛ đặc biệt quan trọng. Về
trị liệu, ngoài việc dùng thuốc, châm cứu, tập khí công dưỡng sinh,
người xưa c̣n sử dụng nhiều món ăn - bài thuốc độc đáo.
1. Thể bệnh thận âm hư tổn: Lưng đau gối mỏi, hay buồn nhức các đầu
ngón tay và chân, ḷng bàn tay và bàn chân nóng, trong ngực chộn rộn
không yên, môi khô miệng khát, thích ăn đồ mát, đại tiện táo, tiểu
tiện sẻn đỏ, chất lưỡi đỏ.
- Đậu đen 500g, sơn thù, bạch linh, đương quy, tang thầm, thục địa,
bổ cốt chi, thỏ ty tử, hạn liên thảo, ngũ vị tử, kỷ tử, địa cốt b́,
vừng đen, muối ăn mỗi thứ 10 g. Đậu đen rửa sạch, ngâm nước ấm trong
30 phút; các vị thuốc khác đem sắc kỹ 4 lần, mỗi lần chừng 30 phút.
Trộn 4 loại nước lại với nhau, cho đậu đen và muối vào sắc kỹ bằng
lửa nhỏ cho đến khi cạn kiệt. Lấy đậu đen ra phơi hoặc sấy thật khô,
đựng vào lọ kín dùng dần; mỗi ngày ăn 20-30 g. Công dụng: Bổ thận
dưỡng can, cường gân tráng cốt.
- Tang thầm tươi (quả dâu chín) 2.500 g, thục địa, hoài sơn, hoàng
tinh mỗi thứ 50 g, thiên hoa phấn 100 g. Tang thầm rửa sạch, ép lấy
nước cốt; các vị thuốc khác đem sắc kỹ lấy 500 ml dịch chiết rồi ḥa
với nước dâu, tiếp tục cô nhỏ lửa cho đến khi thành cao đặc. Đựng
thuốc trong b́nh thủy tinh kín miệng để dùng dần, mỗi ngày uống 2
lần, mỗi lần 2 th́a canh. Công dụng: Bổ can thận, dưỡng khí huyết,
làm mạnh gân cốt.
2. Thể bệnh can thận âm hư: Thể trạng gầy yếu, hay hoa mắt chóng mặt,
thị lực giảm sút, tai ù điếc, lưng đau gối mỏi, móng tay và móng
chân khô gịn, dễ bị chuột rút, tâm trạng phiền muộn, trong ḷng hay
bức bối không yên, ḷng bàn tay và bàn chân nóng, có thể có găy
xương, miệng khô họng khát, lưỡi đỏ, đại tiện táo, tiểu tiện sẻn đỏ.
- Tang thầm 30 g, kỷ tử 30 g, gạo tẻ 80 g. Các vị thuốc rửa sạch đem
nấu với gạo thành cháo, chế thêm một chút đường phèn, chia ăn vài
lần trong ngày. Công dụng: Tư âm, bổ can thận.
- Bột bạch linh, bột mỳ, bột xương dê, bột mẫu lệ và đường trắng
lượng bằng nhau trộn đều, cho lượng nước vừa đủ, nhào thật kỹ, chế
thêm mỡ và muối rồi nặn thành những chiếc bánh nhỏ, nướng chín, dùng
làm đồ ăn điểm tâm hằng ngày. Công dụng: Bổ tỳ thận, làm mạnh gân
cốt.
- Quy bản 100 g, vỏ trứng gà 100 g, đường trắng 50 g. Quy bản và vỏ
trứng rửa sạch, để ráo nước rồi sao gịn và nghiền thành bột, cho
thêm đường trắng, trộn đều, ăn mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 5 g. Công
dụng: Bổ thận, kiện tỳ, làm mạnh gân xương.
3. Thể tỳ thận dương hư: Toàn trạng mệt mỏi, sợ lạnh, chân tay lạnh,
lưng đau gối mỏi, ăn kém, chậm tiêu bụng chướng, đại tiện lỏng hoặc
nát, có thể có phù nhẹ hai chân, nam giới liệt dương, di tinh, nữ
giới kinh nguyệt không đều, miệng nhạt, chất lưỡi nhợt.
- Chim sẻ 5 con, kỷ tử 20 g, đại táo 15 g, gạo tẻ 60 g. Chim sẻ làm
thịt, bỏ lông, chân và phủ tạng rồi đem hầm với kỷ tử và gạo tẻ
thành cháo, chế thêm gia vị, chia ăn vài lần trong ngày. Công dụng:
Bổ thận, ôn dương, ích tinh, làm mạnh gân xương.
- Cá ngựa (hải mă) 50 g, dương vật và tinh hoàn ḅ 500 g, đan sâm
500 g, hoàng kỳ, a giao, hạch đào nhân, đường phèn mỗi thứ 250 g.
Tinh hoàn và dương vật ḅ rửa sạch, thái miếng; cá ngựa sao khô tán
thành bột mịn; a giao tẩm rượu sao phồng; hoàng kỳ và đan sâm sắc kỹ
lấy nước cốt. Cho tất cả vào cô nhỏ lửa thành cao đặc, đựng vào lọ
thủy tinh kín miệng để dùng dần, mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 2 th́a
canh. Công dụng: Bổ thận, tráng dương, ích tinh, cường gân, tráng
cốt.
- Xương sống chó 200 g, đẳng sâm, thỏ ty tử, thục địa mỗi thứ 10 g,
gia vị vừa đủ. Xương chó rửa sạch, chặt nhỏ; các vị thuốc cho vào
túi vải buộc kín miệng; tất cả cho vào nồi hầm nhừ, chế đủ gia vị,
dùng làm canh ăn hàng ngày. Công dụng: Bổ thận ôn dương, ích khí
dưỡng huyết, cường gân tráng cốt.
- Tôm nơn 50 g, trứng gà 1 quả, rau hẹ 200 g, dầu thực vật và gia vị
vừa đủ. Tôm rửa sạch, rau hẹ cắt đoạn, phi thơm hành mỡ rồi cho rau
hẹ và tôm vào xào to lửa, khi gần chín đập trứng vào đảo đều một lát
là được, dùng làm thức ăn hàng ngày. Công dụng: Bổ thận, ôn dương và
làm mạnh gân cốt.
ThS Hoàng Khánh Toàn, Sức Khoẻ & Đời Sống
BƯỞI

Bưởi c̣n có tên là ḅng, được trồng phổ
biến để lấy quả ăn. Các bộ phận của cây được dân gian dùng làm thuốc
chữa bệnh. Chẳng hạn, lá bưởi tươi thường được dùng nấu với nhiều lá
thơm khác để xông, tắm chữa cảm cúm, nhức đầu rất có hiệu quả.
Các ứng dụng khác:
- Vỏ quả bưởi chữa ăn uống không tiêu, đau bụng, ho, ngày dùng 4 -12
g dưới dạng thuốc sắc.
- Vỏ hạt bưởi được dùng để cầm máu trong các trường hợp chảy máu,
ngày dùng 4-10 g dưới dạng thuốc sắc.
- Nước ép múi bưởi được dùng làm thuốc chữa tiêu khát (đái tháo nhạt),
thiếu vitamin C.
- Tầm gửi cây bưởi được dùng chữa các bệnh khớp, ăn uống khó tiêu.
- Chữa chốc đầu trẻ con: Hạt bưởi bóc vỏ cứng ở ngoài, xâu vào dây
thép, đốt cháy thành than, nghiền nhỏ. Rửa sạch nơi chốc đầu, bôi
bột thuốc này lên ngày 1-2 lần, điều trị 3-6 ngày là khỏi.
BS Ngô Trường Giang, Sức Khoẻ & Đời Sống
QUẢ VẢI

Để chữa mụn nhọt, lấy múi
vải giă nát với ô mai, tạo thành cao đắp lên mụn; hoặc lấy 5-7 múi
vải giă nát với ít hồ nếp, dàn thành miếng cao, dán lên nơi mụn nhọt.
Vải c̣n gọi là lệ chi, được trồng nhiều ở nước ta, quả vải thu hoạch
vào tháng 5-6, dùng ăn tươi hay sấy khô. Hạt vải (lệ chi hạch) thái
mỏng phơi hay sấy khô được dùng làm thuốc. Trong hạt vải có tanin,
độ tro, chất béo. Theo Đông y, hạt vải vị ngọt chát, tính ôn, có tác
dụng tán hàn, chữa tiêu chảy ở trẻ em với liều từ 4-8 g dưới dạng
bột hay sắc uống.
Phần áo hạt vải thường gọi là múi vải, thành phần chủ yếu là đường,
ngoài ra có vitamin A, B, C. Vitamin A và vitamin B chỉ có trong múi
vải tươi. Múi vải cũng là một vị thuốc trong Đông y, vị ngọt chua,
tính b́nh, có tác dụng dưỡng huyết, làm hết phiền khát, chữa những
bệnh mụn nhọt với liều 10-16 g múi khô. Ngoài ra, người ta c̣n dùng
hoa vải, vỏ thân và rễ cây vải sắc lấy nước dùng súc miệng có thể
chữa viêm miệng và đau răng.
Các đơn thuốc dùng múi vải và hạt vải:
- Chữa nấc: Vải cả quả đốt thành than, tán bột, ḥa với nước
nóng uống.
- Chữa đau răng: Vải cả quả thêm ít muối, đốt thành than,
nghiền nhỏ, xát vào chỗ răng đau.
- Chữa tinh hoàn sưng đau: Hạt vải đốt thành than, nghiền nhỏ,
ḥa với rượu cho uống ngày 4-6 g. Hoặc: Hạt vải, trần b́, hồi hương
3 vị bằng nhau, tán nhỏ, ngày uống 4-6 g.
Có người sau khi ăn quả vải bị nôn nao, nổi mề đay, đau bụng, nôn
mửa... Các triệu chứng đó không phải do vải mà do một loại nấm sống
ở những núm quả vải bị dập nát, úng thối gây ra.
BS Hương Tú, Sức Khoẻ & Đời Sống
ỚT

Theo y học cổ truyền, ớt vị
cay, nóng, có tác dụng tán hàn, tiêu thực, giảm đau... Dân gian
thường dùng nó để chữa đau bụng do lạnh, tiêu hóa kém, đau khớp,
dùng ngoài chữa rắn rết cắn...
Theo y học hiện đại, quả ớt có rất nhiều ích lợi cho sức khỏe. Chất
capsicain trong ớt kích thích năo bộ sản xuất ra chất endorphin, một
morphin nội sinh có tác dụng giảm đau, đặc biệt có ích cho người bị
viêm khớp mạn tính và ung thư. Ớt cũng giúp ngăn ngừa bệnh tim nhờ
một số hoạt chất giúp máu lưu thông tốt, tránh t́nh trạng đông vón
tiểu cầu. Ngoài ra, loại quả này c̣n giúp ngăn ngừa t́nh trạng huyết
áp tăng cao. Một số nghiên cứu cho thấy, các loại ớt vỏ xanh, trái
nhỏ có hàm lượng capsaicin cao hơn.
Một số bài thuốc Nam thông dụng có ớt:
- Chữa rụng tóc do hóa trị liệu: Ớt trái 100 g, ngâm với rượu trắng
trong 10-20 ngày. Dùng rượu này bôi lên da đầu, có tác dụng kích
thích mọc tóc.
- Giảm đau do ung thư, đau khớp: Ăn 5-10 g ớt mỗi ngày.
- Chữa ăn uống kém tiêu do ung thư: Ớt 100 g, hắc đậu xị 100 g, tán
bột ăn hằng ngày.
- Chữa ăn uống chậm tiêu: Ớt trái dùng làm gia vị, ăn hằng ngày.
- Chữa đau thắt ngực: Ớt 2 quả, đan sâm 20 g, nghệ đen 20 g. Sắc
uống ngày 1 thang.
- Chữa đau dạ dày do lạnh: Ớt 1-2 quả, nghệ vàng 20 g, tán bột uống
ngày 2-3 lần.
- Chữa bệnh chàm (eczema): Lá ớt tươi 1 nắm, mẻ chua 1 th́a. Hai thứ
giă nhỏ, lấy vải sạch gói lại, đắp lên nơi bị chàm đă rửa sạch bằng
nước muối.
- Chữa rắn rết cắn: Lá ớt giă nhỏ, đắp vào nơi bị thương, băng lại.
Ngày làm 1-2 lần cho đến khi hết đau, 2-3 giờ là khỏi.
- Chữa bệnh vảy nến: Lá ớt 1 nắm to (sao chín nhưng không cháy),
tinh tre đằng ngà 1 bát, lá sống đời 7-9 lá, thiên niên kiện khoảng
300 g. Tất cả cho vào nồi với 2 lít nước, đun sôi kỹ, uống dần thay
nước chè, uống chừng 3 ấm là khỏi.
- Đau bụng kinh niên: Rễ cây ớt, rễ chanh, rễ hoàng lực mỗi thứ
khoảng 10 g. Sao vàng, sắc uống ngày 1 thang.
- Chữa đau lưng, đau khớp: Ớt chín 15 quả, lá đu đủ 3 cái, rễ chỉ
thiên 80 g. Tất cả đem giă nhỏ, ngâm cồn với tỷ lệ 1/2, dùng để xoa
bóp, sẽ mau khỏi.
- Chữa mụn nhọt: Lá ớt giă nát với ít muối, dùng đắp vào nhọt đang
mưng mủ, sẽ bớt đau nhức, dễ vỡ mủ, mau lành.
- Chữa khản cổ: Dùng ớt làm thuốc súc miệng (dưới dạng cồn thuốc).
- Chữa rắn rết cắn: Lá ớt giă nhỏ, đắp vào vết thương cho đến khi
hết đau nhức th́ bỏ đi. Ngày đắp 1-2 lần cho đến khi hết đau. Thường
chỉ 15-30 phút th́ hết đau.
BS Quách Tuấn Vinh, Sức Khoẻ & Đời Sống
DƯA
HẤU CHỮA HÔI MIỆNG

Nếu nguyên nhân gây hôi miệng là dạ dày bị
nhiệt, có thể lấy chanh tươi 2-3 quả rửa sạch, cắt đôi, vắt lấy nước,
ḥa mật ong vừa đủ ngọt; mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 1-2 th́a canh.
Cũng có thể áp dụng các biện pháp sau:
- Dưa chuột (dưa leo) rửa sạch, gọt lấy vỏ, đun nước uống ngày 3 lần.
- Rễ cỏ lau tươi 100-200 g, đường phèn 30-50 g, rễ cỏ lau tươi rửa
sạch, cắt thành từng đoạn bỏ trong bát, cho đường phèn vào một ít
nước, hấp cách thủy, lọc bỏ bă, lấy nước uống thay chè.
- Vỏ chanh rửa sạch, nhai kỹ nuốt dần, ngày vài lần.
- Dưa hấu ép lấy nước uống.
Chữa hôi trong khoang miệng:
- Vỏ quưt 30 g rửa sạch, thái sợi, nấu thành nước uống hàng ngày.
- Hạt hoa quế 3 g, nấu nước, dùng súc miệng mỗi ngày vài lần.
- Quả vải khô 2-3 quả, bỏ vỏ, hạt, lấy cùi ngậm trước khi đi ngủ,
sáng hôm sau nhổ đi, ngậm liên tục 10-15 ngày.
- Đu đủ 30 g, hoắc hương 6 g, đem sắc lấy nước súc miệng ngày 3 lần.
- Cau bổ thành từng miếng, ngậm dần trong miệng hàng ngày.
Chữa hôi miệng do đầy bụng khó tiêu
- Mơ xanh ướp muối, phơi khô, ngậm trong miệng sau bữa ăn.
- Lá cây đậu xanh 15 g, hoắc hương 10 g, sắc lấy nước, súc miệng
ngày 3 lần.
- Quả lê bỏ vỏ, hạt, thái miếng mỏng, ngâm nước sôi để nguội trong
nửa ngày, uống thay nước trong vài ngày liền.
BS Thu Hiền, Sức Khoẻ & Đời Sống
ĐẬU ĐEN

Với những người bị bất tỉnh
do say rượu, có thể lấy đậu đen sắc lấy nước, uống cho nôn ra th́
khỏi. C̣n nếu bị ngộ độc do ăn rau quả, nên lấy đậu đen tán nhỏ,
ngâm rượu, chắt lấy nước cốt để uống.
Sau đây là một số bài thuốc Nam đơn giản có đậu đen khác:
- Trúng hàn (cảm lạnh): Đậu đen sao cháy; đang lúc c̣n nóng
th́ chế rượu vào uống, sau đó trùm chăn cho ra mồ hôi là khỏi.
- Bụng trướng do ăn nhầm các loại cá độc: Đậu đen sắc với nước uống
lúc c̣n ấm.
- Ngộ độc nấm dại: Đậu đen 2 vốc cho vào ăn, uống hoặc sắc
lấy nước uống.
- Trĩ ra máu: Dùng bồ kết sắc lấy nước để tẩm với đậu đen, để
một lát rồi đem đậu sao vàng, xát bỏ vỏ, tán nhỏ. Lấy mỡ lợn để
luyện thành viên bằng hạt ngô, mỗi lần uống 30 viên với nước gạo.
- Đau đầu: Đậu đen 3 phần sao hơi có khói, ngâm với 5 phần
rượu, đậy kín 7 ngày rồi uống hết.
- Đau lưng, xương sống đau nhức quá không cử động được: Đậu
đen 1 đấu, chia làm 5 phần: 3 phần sao, 1 phần luộc, 1 phần đồ chín.
Thêm 3 đấu rượu cho vào b́nh, dùng nồi lớn đổ nước vào, chưng cách
thủy nửa giờ. Để nửa tháng mới uống, uống nhiều hay ít tùy sức.
- Mất ngủ: Đậu đen rang nóng cho vào 1 cái túi đen để gối đầu,
khi nguội lại thay.
- Tiểu đường: Đậu đen tán nhỏ, dồn vào một cái túi mật ḅ,
phơi trong bóng râm 100 ngày, làm thành viên. Mỗi sáng uống 1 viên.
Hoặc: Đậu đen, thiên hoa phấn lượng bằng nhau, tán nhỏ, khuấy hồ,
làm thành viên bằng hạt ngô, mỗi lần dùng 70 viên, sắc với nước đậu
đen uống mỗi ngày 2 lần.
BS Quách Tấn Vinh, Sức Khoẻ & Đời Sống
QUẢ SUNG

Sung thuộc họ dâu tằm (Moraceae),
c̣n có tên là vô hoa quả, thiên sinh tử, ánh nhật quả, văn tiên quả,
phẩm tiên quả, năi tương quả, mật quả... Quả sung vị ngọt, tính b́nh,
là một vị thuốc quư chữa được nhiều bệnh, cách làm đơn giản.
Viêm họng:
- Sung tươi sấy khô, tán bột rồi lấy một ít bột này thổi vào họng.
- Sung tươi gọt vỏ, thái phiến, sắc kỹ lấy nước, cho thêm đường phèn
rồi cô nhỏ lửa thành dạng cao, ngậm hàng ngày.
Ho khan không có đờm: Sung chín tươi 50-100g gọt bỏ vỏ, nấu với
50-100g gạo thành cháo, chia ăn vài lần trong ngày. Có thể cho thêm
ít nho khô hoặc đường phèn cho dễ ăn.
Hen phế quản: Sung tươi rửa sạch, giă nát, ép lấy nước cốt uống mỗi
ngày 1 lần.
Viêm loét dạ dày tá tràng: Sung sao khô tán bột, mỗi ngày uống 2-3
lần, mỗi lần 6-9g với nước ấm.
Tỳ vị hư nhược, rối loạn tiêu hóa: Sung 30g, thái nhỏ, sao hơi cháy,
mỗi ngày lấy 10g hăm với nước sôi trong b́nh kín, sau 20 phút th́
dùng được, chế thêm một chút đường phèn, uống thay trà trong ngày.
Kiết lỵ: Sung vài quả (nhiều, ít tùy theo tuổi), sắc kỹ lấy nước,
chế thêm một chút đường rồi uống. Nếu không có quả sung th́ có thể
dùng lá sung tươi sắc uống.
Táo bón:
- Sung tươi 9g sắc uống hàng ngày.
- Sung chín ăn mỗi ngày 3-5 quả.
- Sung tươi 10 quả rửa sạch, bổ đôi, ruột già lợn một đoạn làm sạch
thái nhỏ, hai thứ đem hầm nhừ, chế thêm gia vị, ăn trong ngày.
Trĩ xuất huyết, sa trực tràng:
- Sung tươi 10 quả đem hầm với một đoạn ruột già lợn cho nhừ rồi ăn.
- Sung tươi 6g, rễ thị 9g, sắc uống. Nếu không có quả, có thể dùng
lá sung sắc lấy nước xông ngâm tại chỗ chừng 30 phút.
Sa đ́: Sung 2 quả, tiểu hồi hương 9g, sắc uống.
Sản phụ thiếu sữa: Sung tươi 120g, móng lợn 500g, hai thứ đem hầm
thật nhừ, chế thêm gia vị, chia ăn vài lần trong ngày. Bài này có
công dụng bổ khí huyết, làm ra sữa dùng rất tốt cho sản phụ sau sinh
bị suy nhược, sữa không có hoặc có rất ít.
Viêm khớp:
- Sung tươi lượng vừa đủ đem hầm với thịt lợn nạc ăn.
- Sung tươi 2-3 quả rửa sạch thái vụn rồi tráng với trứng gà ăn.
Mụn nhọt, lở loét: Sung chín sao khô, tán bột rồi rắc lên tổn thương.
Để đạt hiệu quả cao, trước đó có thể ngâm rửa tổn thương bằng nước
sắc quả hay lá sung tươi, sau đó lau khô rồi rắc bột thuốc và băng
lại.
Ngoài ra, nhựa của thân cây hay quả sung xanh c̣n được dân gian dùng
để chữa mụn nhọt, bắp chuối và sưng vú. Cách làm: Rửa sạch vùng tổn
thương, lau khô, dùng nhựa sung bôi trực tiếp vào nơi bị bệnh, sưng
đỏ đến đâu th́ bôi đến đó, bôi nhiều lần trong ngày. Để không phải
bôi nhiều lần, có thể trộn nhựa sung với lá non, giă nát rồi đắp lên
chỗ đau. Nếu mụn chưa có mủ th́ đắp kín, nếu đă vỡ mủ th́ đắp để hở
một chỗ bằng hạt ngô. Khi đă có mủ muốn lấy ng̣i ra th́ giă thêm một
củ hành với nhựa sung rồi đắp như trên, để hở miệng. Nếu sưng vú,
đắp hở đầu vú.
Chữa đau đầu: Phết nhựa lên giấy bản rồi dán hai bên thái dương. Có
thể phối hợp với việc ăn lá sung non hoặc dùng 5ml nhựa sung ḥa
trong nước đun sôi để nguội, uống trước khi đi ngủ.
Thạc sĩ Hoàng Khánh Toàn, Sức khoẻ và Đời sống
QUẢ TRÁM (Trâm)

Trám có 2 loại là trám trắng có vỏ màu xanh
lục và trám đen màu tím thẫm. Quả trám vị chua, tính ấm, có tác dụng
giải khát, thanh giọng, giải độc cá, giải say rượu mê man, nhức đầu.
Trám dùng làm thuốc thường là trám trắng. Cùi trám giàu đạm, đường,
một số vitamin, đặc biệt đáng chú ư là vitamin C và các khoáng chất
như canxi, phốt pho, kali, magne, sắt, kẽm...
Một số tác dụng chữa bệnh của quả trám:
- Về mùa đông, nếu đêm ngủ bị khô cổ và ho, gây mất giấc, dùng 20-30
quả trám trắng, bỏ hột, đập dập nấu nước uống. Có thể thêm gừng,
đường hay mật để uống ban ngày.
- Nếu bị viêm họng cấp hay măn, viêm amiđan, khô cổ, mất tiếng, dùng
trám muối để ngậm hay pha nước uống. Có thể dùng trám tươi để hăm
uống.
- Sốt cao, khô môi miệng, khát nước, nên giă quả trám lấy nước uống
hàng ngày.
- Ho khản cổ, lấy trám tươi 4 quả bỏ hột, giă nát với huyền sâm 10 g
thái lát. Cho vào nồi đất đổ ngập nước, nấu uống. Bài thuốc này có
tác dụng tư âm, giáng hỏa, lợi yết hầu, thanh nhiệt giải độc, tiêu
thũng.
- Kiết lỵ ra máu, dùng trám và ô mai lượng bằng nhau đốt thành tro.
Ngày dùng 9 g uống với nước cơm.
- Ngộ độc cua cá, lấy trám trắng 30 g sắc nước uống. Cách này cũng
dùng cho trẻ em lên sởi và chữa bệnh hoại huyết.
- Sâu răng, lấy quả trám đốt, tán nhỏ, trộn một ít xạ hương bôi vào
chỗ đau. Phụ nữ mang thai tránh ngửi mùi xạ hương.
- Viêm tắc mạch máu, dùng quả trám trắng luộc ăn cái, uống nước hàng
ngày, mỗi ngày 200 g. Liệu tŕnh 1-2 tháng.
- Nẻ da do lạnh, cước, khô nứt môi chảy máu, lấy trám đốt thành tro,
trộn mỡ lợn hoặc dầu thực vật bôi.
- Chữa ho, thanh nhiệt giải thử, dùng cho người luôn thấy miệng khô,
hay khạc nước miếng, ôn bệnh nhiệt thịnh, phổi ráo, dùng trám tươi 5
quả bỏ hột, kim thạch hộc 5 g, thái nhỏ, rễ lau 5 g thái nhỏ, mă
thầy 5 g gọt vỏ, lê gọt vỏ 2 quả, mạch đông 10 g, ngó sen 10 miếng.
Tất cả nấu với 2 lít nước bằng lửa nhỏ 1 giờ. Để nguội lọc lấy nước
uống hàng ngày.
- Để thanh nhiệt, dùng trám tươi 20 g bỏ hạt, rễ lau tươi 4 chùm
thái nhỏ. Nấu với 0,5 lít nước trong 1/2 giờ, lọc nước uống. Trám
tươi có tác dụng thanh phế, lợi hầu, khử hỏa, hóa đàm. Rễ lau thanh
can nhiệt, vị nhiệt, sinh tân dịch, khỏi ho. Nên uống nóng.
- Muốn thanh tân, chỉ khát, giải nhiệt, thanh phế, lợi hậu, trị
chứng hay nhổ nước bọt có khi có sợi máu, khó nuốt thức ăn, sưng
họng, ho, buồn nôn, lấy cam 10 g, trám tươi 10 g (bỏ hột), ngó sen
tươi 120 g, mă thầy 150 g, gừng tươi 6 g. Tất cả bỏ vỏ, giă nát cho
vào vải sạch vắt lấy nước.
- Pḥng chữa bệnh đường hô hấp trên như khi bị cảm cúm., dùng bài
thuốc Thanh long bạch hổ gồm trám tươi (bỏ hột) 15 g đập dập, củ cải
sống 250 g thái nhỏ. Dùng nồi đất ninh. Lấy nước uống thay trà, có
thể ăn cái.
- Điều trị viêm họng khô rát, khản cổ, ho khan, lấy trám 3 quả, trà
xanh 5 g, mật ong 20 g. Trám đập dập cho vào nồi đất đun 15 phút rồi
rót vào cốc đă để sẵn trà, mật ong. Hăm 10-15 phút chờ nguội bớt,
uống thay trà.
- Chữa động kinh, lấy trám trắng bỏ hột, đập dập, đun nhỏ lửa 30
phút, cho đường phèn đun thành cao. Pha uống ngày 2 lần, mỗi lần 1
th́a con.
Bác sĩ Phó Đức Thuần, Sức Khỏe & Đời
Sống
CÀ CHUA

Lycopene không phải là chất duy nhất trong cà
chua có khả năng chống ung thư tuyến tiền liệt, các nhà khoa học Mỹ
khẳng định. Thực tế là nó chỉ phát huy hết tác dụng khi có sự hỗ trợ
của một số chất khác trong thứ quả này.
Lycopene là chất đem lại cho cà chua màu đỏ đặc trưng. Từ lâu, nó
đă được biết đến là "người thu dọn" các gốc tự do - kẻ thù số một
phá hủy mô cơ thể và gây ung thư. Nhiều bằng chứng khoa học cho thấy,
hàm lượng lycopene trong máu cao có liên quan đến nguy cơ mắc ung
thư tuyến tiền liệt thấp.
Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu thuộc bang Illinois và Ohio (Mỹ), vừa
khẳng định trong tạp chí của Viện ung thư Mỹ rằng, một ḿnh lycopene
không đủ hiệu quả để ngăn ngừa sự phát triển ung thư tuyến tiền liệt.
Nó không tốt bằng việc ăn nguyên quả cà chua, trưởng nhóm John
Erdman nhận định.
Thí nghiệm của Erdman như sau: cho những con chuột lang tiếp xúc
với chất gây ung thư tuyến tiền liệt, sau đó nuôi chúng theo 3 chế
độ dinh dưỡng khác nhau gồm: bột của nguyên quả cà chua, bột
lycopene, và bột không chứa lycopene. Những con ăn bột không chứa
lycopene được coi là nhóm đối chứng.
Kết quả ban đầu cho thấy, nguy cơ phát triển ung thư ở những con
chỉ ăn bột lycopene tương đương với nhóm đối chứng. Nghĩa là việc
dùng lycopene hay không cũng không thay đổi được t́nh h́nh trong
giai đoạn đầu. Điều đáng ghi nhận ở giai đoạn này là nhóm ăn bột của
nguyên quả cà chua giảm 26% so với nhóm đối chứng.
Khi kết thúc thí nghiệm, sự khác biệt mới thực sự rơ nét: bệnh ung
thư tuyến tiền liệt đă tiêu diệt 80% số chuột trong nhóm đối chứng,
72% trong nhóm chỉ ăn bột lycopene. Nhóm ăn bột của nguyên quả cà
chua có số tử vong thấp nhất, chỉ chiếm khoảng 62%.
Theo Erdman, điều này chứng tỏ lycopene có tác dụng chống ung thư,
song một ḿnh nó không đủ hiệu quả. Vẫn c̣n nhiều thành tố khác
trong cà chua tham gia hỗ trợ.
Trái nhàu
Các thảo dược cải lăo hoàn đồng

Việc lựa chọn thực phẩm tác động rất
lớn đến sức khỏe và tuổi thọ con người. Từ xưa, các thầy thuốc đă
chú tâm t́m kiếm những loại cây cỏ giúp đẩy lùi tuổi tác, khiến con
người trẻ lâu hơn. Khoa học ngày nay chứng minh, một số loại thảo
dược có khả năng đó.
Lăo hóa là một hiện tượng tự nhiên, không tránh được. Nhưng quá
tŕnh này rất khác nhau về thời gian và cách biểu hiện ở mỗi người.
Có những người chưa nhiều tuổi nhưng cơ thể đă lăo suy, lại có người
sống đă lâu nhưng ,thân thể vẫn tráng kiện, tóc vẫn xanh. Bằng một
lối sống tích cực và sử dụng thức ăn, dược phẩm hợp lư, con người có
thể can thiệp vào quá tŕnh lăo hoá để nó đến chậm hơn.
Trong kho tàng Đông dược có rất nhiều cây cỏ được xem là thuốc
trường sinh, cải lăo hoàn đồng, bao gồm:
1. Sâm: Có 5 loại là nhân sâm, sa sâm, huyền sâm, đan sâm và
tử sâm; mỗi loại bổ cho một số tạng phủ. Danh y Đào Hoằng Cảnh
(452-536) cho rằng nhân sâm có tác dụng an thần, giảm xúc động và
hồi hộp, làm sáng mắt, thanh thần, gia tăng trí năng, dùng lâu sẽ
giúp tăng tuổi thọ. Lương y Tôn Tư Mạo (thế kỷ thứ 7) dùng nhân sâm
để chữa chứng lănh cảm hoặc hỗ trợ cho cô dâu bị thẹn thùng trong
đêm tân hôn. Một cuốn kinh cổ Ấn Độ viết: "Nhân sâm làm nẩy mầm hạt
giống mà người đàn ông gieo vào người đàn bà, để sinh ra đứa con
trai có sức khỏe như ḅ mộng. Dược vật này đem đến cho con người
sinh lực".
2. Hoa: Cánh hoa đào của mùa xuân sau khi rụng được dùng làm
phấn dưỡng da. Hoa cúc giúp mát gan tiêu độc, tiêu những mầm mụn
trên da. Hoa sen giúp an định thần kinh. Hoa ḥe làm bền chắc thành
mạch, tránh những mảng xơ vữa...
3. Trái cây: Tương truyền, Dương Quư Phi nhờ ăn quả lệ chi (vải)mà
giữ được làn da đẹp và nhan sắc làm say ḷng người. Nhiều loại trái
cây là những vị thuốc không thể thiếu trong việc bồi bổ, tăng cường
sức khỏe như táo, sơn tra, bí đao, thanh trà, nhăn, mè...
Từ những huyền thoại và kinh nghiệm lưu truyền trong dân gian, các
nhà khoa học đă nghiên cứu và khẳng định tác dụng chữa bệnh của
nhiều loại thảo dược:
1. Trà: Trà xanh hay trà đen (trà ướp, trà tẩm) đều có tác
dụng tốt cho sức khỏe khi dùng đều đặn mỗi ngày. Trà chứa các
Polyphenol có tác dụng chống oxy hóa, loại trừ các gốc tự do là mầm
mống gây hại đến các axit nhân của tế bào. Chính các gốc tự do này
là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại bệnh tật mạn tính và sự lăo hóa
nhanh.
2. Nhân sâm: Có khả năng kích thích miễn dịch tế bào. Nó giúp
cải thiện khả năng đáp ứng miễn dịch của các đại thực bào ở bệnh
nhân viêm phế quản mạn tính, có vai tṛ trong việc ngăn ngừa và điều
trị các rối loạn đường hô hấp. Dịch chiết nhân sâm có tác dụng hạ
đường huyết trong bệnh tiểu đường. Loại thảo dược này cũng có tác
dụng cải thiện tuần hoàn năo và tác động tốt ở nhóm người lăo hóa
sớm.
3. Trái nhàu: Cung cấp nhiều dưỡng chất và giúp các thuốc
khác tăng thêm tính hiệu quả. Trong trái nhàu có serotonin, rất cần
thiết cho hoạt động tế bào; nếu thiếu chất này, tế bào sẽ thoái hóa
dần.
4. Các loại hạt: Lạc, đậu nành, rau xanh, hạt hướng dương,
hạt bí, hạt mè... có nhiều vitamin E. Đây là chất giúp tăng cường hệ
thống miễn dịch, bảo vệ cơ thể an toàn trước dịch cúm, giảm bớt tác
hại của khói thuốc lá...
5. Các loại rau củ quả: Chứa những thành phần hợp chất hữu cơ
như Flavon, vitamin C, vitamin E..., có tác dụng chống lăo hóa tế
bào, giúp tăng cường tuổi thọ và pḥng chống các bệnh nội khoa mạn
tính, ung thư... Tốt nhất là các loại rau quả có màu đậm như nho đỏ,
nho đen, rau xanh, bí đỏ, củ dền, cà rốt, cà chua, hạt hướng dương...
TS Nguyễn Thị Bay, Sức Khoẻ & Đời Sống
NUỚC CỐT TRÁI NHÀU

Trên thị
trường xuất hiện ngày càng nhiều loại sản phẩm mới về mặt hàng nước
giải khát, nào là sâm dứa, trà sâm, sirô. Thế nhưng cần có một thức
uống bổ dưỡng dùng để giải khát, mang nhiều tính năng tác dụng tăng
cường sức khỏe nhưng vẫn giữ được khả năng hữu hiệu của phương thuốc
dân gian mà không làm mất đi tính năng của nó.
Mới đây cơ sở
Hương Thanh vừa nghiên cứu sản xuất thành công một thể loại thức
uống giải khát mới: Nước cốt trái nhàu mật ong.
Nguyên liệu
chính để sản xuất là: Nước cốt trái nhàu phối hợp với mật ong nguyên
chất.
Đă từ lâu, cây
nhàu đă được người dân Việt Nam biết đến và coi đó như là một phương
thuốc dân gian dùng để cha các chứng bệnh đau mỏi, nhức lưng. Đến
năm 1994 khi Viện đại học Hawai công bố công dụng của trái nhàu, th́
ở Mỹ cây nhàu đă được trồng thành những đồn điền và khai thác triệt
để và nó được coi như là một thần dược ở Mỹ. Theo tài liệu cho biết
nước cốt trái nhàu chứa chất đường (Polysaccharide-rich-subtance) và
một số hoạt chất khác, có hoạt tính ngăn chặn quá tŕnh phát triển
của bệnh ung thư, chống ung thư phổi; chống khối u mẫu màng bụng;
trị đau nhức; tiểu đường; huyết áp cao; trị táo bón; trị nghẽn ruột.
Rễ cây nhàu sắc uống trị đau lưng, trị các vết thương lở loét, nhiễm
trùng; sốt kiết lî, trị bệnh gan v.v. ngoài ra c̣n là thần dược của
phái nữ, làm tăng sắc đẹp cho da, chống lăo hóa da và tăng tuổi thọ.
Tháng 8 vừa
qua, tại hội chợ triển lăm chất lượng hội nhập lần I do Tổng cục đo
lường chất lượng phối hợp tổ chức, sau khi tham gia dự thi chất
lượng sản phẩm, nước cốt trái nhàu đă được trao cúp vàng chất lượng
về sản phẩm.
Trong một thời
gian ngắn sau khi sản phẩm được bán ra thị trường đă được người tiêu
dùng chấp nhận và nhiều ư kiến cho biết nước cốt trái nhàu - mật ong
có tác dụng giải khát, tăng cường sức khỏe, an toàn cho người sử
dụng. Qua thử nghiệm sử dụng ở nhiều người thấy: hương vị phù hợp,
không gây mất ngủ, đặc biệt thích hợp cho những người làm việc ở
ngoài trời nắng gắt, và làm việc căng thẳng quá sức, ngoài ra nó c̣n
có tác dụng ngăn chặn sự lăo hóa da, phục hồi những làn da bị sạm
nắng một cách nhanh chóng, hạn chế ngăn chặn quá tŕnh phát triển
bệnh ung thư, kích thích miễn dịch để bảo vệ cơ thể.
Sản phẩm độc
đáo này đă có mặt trên thị trường mang tên nước cốt trái nhàu - mật
ong do cơ sở Hương Thanh sản xuất, địa chỉ liên hệ: 441/19/28 Nguyễn
Bỉnh Khiêm, Phường 1, Quận G̣ Vấp, TPHCM.
Quỳnh Dung
Uống nước cốt
trái nhàu xanh chữa bệnh đường tiêu hoá
"Gần đây, tạp chí Tri Thức Trẻ
có đăng công dụng của cây thuốc nhàu, trong đó có công dụng đối với
đường tiêu hoá. Xin cho cháu biết cách sử dụng cây nhàu. Cháu nên
dùng bao lâu mới khỏi bệnh viêm đại tràng mạn tính và mua trái nhàu
xanh ở đâu?".
Trả lời:
Đối với bệnh viêm đại tràng
mạn tính, cháu có thể dùng nước cốt quả nhàu để uống, bởi cây nhàu
có rất nhiều tác dụng. Người ta dùng cả thân, rễ, lá và quả nhàu để
chữa bệnh:
- Rễ và thân cây nhàu có tác
dụng hạ huyết áp nhẹ, giảm đau.
- Lá nhàu dùng tẩm bổ cho
phụ nữ mới sinh.
- Quả nhàu có tác dụng giảm
đau, an thần nhẹ, nhuận tràng, giúp tiêu hóa tốt, ăn uống ngon miệng
hơn, chữa bỏng, mụn nhọt.
Cháu nên:
- Uống khoảng 100 ml nước
cốt trái nhàu vào buổi sáng, vào lúc đói bụng để không làm tổn
thương enzym.
- Dùng trái nhàu xanh uống
tốt hơn lúc nó chín v́ dễ uống và chứa nhiều hoạt chất.
- Chú ư kiêng uống rượu, trà,
cà phê khi dùng nhàu.
Hiện nay, trên thị trường
thuốc đă có sản phẩm mới, Morinda Citrifola do Công ty Xuất nhập
khẩu y tế Đồng Tháp sản xuất từ cao trái nhàu và được nén dưới dạng
viên nang và viên bao phim. Cháu có thể t́m mua ở các hiệu thuốc ở
Hà Nội. Ngoài ra, cháu cần quan tâm hơn đến chế độ ăn uống, nghỉ
ngơi sao cho phù hợp. Điều này rất quan trọng trong điều trị viêm
đại tràng.
BS
Hoài Hương, Tiền Phong
MƯỚP ĐẮNG (Khổ Hoa)

Bệnh đái tháo đường type 2 - loại không phụ
thuộc insulin - thuộc phạm vi chứng tiêu khát, với triệu chứng ăn,
uống và tiểu tiện nhiều. Những thảo dược như hành tây, mướp đắng,
nhân sâm... rất hiệu quả trong điều trị bệnh, do có tác dụng hạ
đường máu.
Một số thảo trị đái tháo đường type 2:
Bạch truật: các hoạt chất atractan A, B và C trong bạch truật có
tác dụng hạ đường máu. Bài thuốc gồm bạch truật 12 g, hoàng kỳ 65 g,
đảng sâm 25 g, hoài sơn 15 g, phục linh 12 g. Sắc uống ngày 1 thang.
Mỗi đợt điều trị 2 tháng.
Cam thảo đất: hoạt chất amellin trong cam thảo đất có thể làm giảm
đường máu và các triệu chứng của bệnh đái tháo đường type2, khiến
cho quá tŕnh giảm nồng độ đường máu và nước tiểu diễn ra dần dần.
Nó c̣n làm tăng mức dự trữ kiềm bị hạ thấp ở người bệnh nhân và giảm
hàm lượng các chất tạo ceton trong máu.
Câu kỷ: có tác dụng hạ đường máu và ức chế men aldose reductose -
men gây tích lũy sorbitol trong tế bào sinh ra biến chứng nghiêm
trọng của bệnh đái tháo đường như bệnh về vơng mạc, thần kinh và
thận. Bài thuốc: câu kỷ 12 g, thục địa 20 g, hoài sơn 20 g, thạch
hộc 12 g, mẫu đơn b́ 12 g, sơn thù 8 g, rễ qua lâu 8 g, sa sâm 8 g.
Sắc uống ngày 1 thang.
Hành tây: có tác dụng dự pḥng sự tăng đường máu. Trên lâm sàng,
những bệnh nhân được uống dịch ép hành tây đă giảm đường máu đáng kể.
Bệnh nhân cần uống dịch ép hành tây, mỗi buổi sáng một th́a canh,
uống liền trong 1-2 tháng sẽ có hiệu quả.
Mướp đắng: khi c̣n xanh, mướp đắng chứa các hoạt chất charantin,
glycosid steroid, có tác dụng hạ đường máu, làm chậm sự phát triển
các bệnh về vơng mạc và đục thủy tinh thể và làm tăng khả năng dung
nạp glucose của người bệnh. Mướp đắng c̣n có tác dụng chống oxy hóa,
loại bỏ gốc tự do - một trong những nguyên nhân gây đái tháo đường.
Bài thuốc: dùng quả mướp đắng c̣n xanh, thái mỏng, phơi nắng cho khô,
tán thành bột mịn. Mỗi ngày uống 12-20 g, chia làm 2-3 lần, sau bữa
ăn, chiêu với nước. Sau khoảng 2 tháng, khi đường máu hạ xuống gần
mức b́nh thường, giảm liều thuốc xuống một nửa và duy tŕ.
Nhân sâm: có khả năng hạ đường máu và hiệp đồng với thuốc hóa dược.
Nếu dùng nhân sâm phối hợp với thuốc hóa dược th́ có thể giảm bớt
liều thuốc này, thời gian hạ đường máu được kéo dài hơn. Bài thuốc:
nhân sâm 15 g, thiên môn 30 g, sơn thù 25 g, câu kỷ 15 g, sinh địa
15 g. Sắc riêng nhân sâm và cô thành 30 ml cao, sắc chung 4 dược
liệu c̣n lại và cô thành 170 ml cao lỏng, trộn lẫn hai cao này. Mỗi
lần uống 20 ml, ngày dùng 2-3 lần trước bữa ăn.
Sinh địa: chứa hoạt chất hạ đường máu là các glycosid iridoid A, B,
C và D. Nó cũng có tác dụng làm chậm sự phát triển biến chứng đục
thể thủy tinh ở mắt và giảm các triệu chứng bệnh thần kinh ngoại
biên ở người bệnh.
Các bài thuốc liên quan:
- Sinh địa 800 g, hoàng liên 600 g. Giă sinh địa vắt lấy nước, tẩm
vào hoàng liên, phơi khô rồi lại tẩm, làm như vậy cho đến hết nước
sinh địa. Tán nhỏ hoàng liên, làm thành viên. Mỗi lần uống 10 g,
ngày dùng 2-3 lần.
- Sinh địa, hoài sơn, phục linh, mỗi vị 15 g, sơn thù, trạch tả,
ngưu tất, mỗi vị 10 g. Hạt mă đề, mẫu đơn b́, mỗi vị 6 g. Sắc uống
ngày một thang.
Giáo sư Đoàn Thị Nhu, Sức Khỏe & Đời Sống
Nước
Chanh
Theo các nhà khoa học Australia, có bằng chứng
rơ ràng cho thấy nước chanh là sát thủ đáng gờm của tinh trùng và
HIV. Nghiên cứu trong pḥng thí nghiệm chỉ ra rằng, dung dịch nước
chanh 10% làm giảm đáng kể hoạt tính của của HIV. Hơn thế nữa, 1/2
th́a cà phê nước chanh c̣n tiêu diệt được 2 th́a cà phê tinh trùng
chỉ trong ṿng 30 giây.
Ông Roger Sort
- người dẫn đầu nghiên cứu, chuyên gia sinh lư học về sinh sản, Đại
học Melbourne - cho rằng, tính axit cao là bí quyết giúp nước chanh
loại trừ được HIV và tinh trùng. Theo ông, chanh vỏ vàng và vỏ xanh
đều có tác dụng như nhau. Ưu điểm nổi bật của loại quả này là rất rẻ
tiền.
Theo các tác
giả, nếu những nghiên cứu tiếp theo trên người và động vật linh
trưởng thành công, một ngày nào đó, nước chanh có thể trở thành
thuốc tránh thai lư tưởng cho phụ nữ ở những nước nghèo. Chanh cần
được vắt vào miếng xốp hoặc mẩu bông đă thấm nước và đặt vào âm đạo
người phụ nữ trước khi quan hệ. Điều này không hề gây đau đớn cho
chị em.
Tuy nhiên, các
chuyên gia về AIDS cảnh báo là tới nay, người ta vẫn chưa hay biết
ǵ về độ an toan và tính hiệu quả của việc sử dụng nước chanh v́ mục
đích chống HIV ở con người. C̣n chưa rơ, nước chanh có gây hại trực
tiếp cho âm dạo và tử cung, cũng như ảnh hưởng gián tiếp tới vi
khuẩn sống ở âm đạo hay không.
Nhóm nghiên
cứu dự định tiến hành thử nghiệm trên khỉ macaca ở Indonesia.
Theo ông Sort,
dùng chanh để làm thuốc tránh thai không phải là ư tưởng mới. Nó rất
phổ biến từ 300-400 năm trước tại vùng Địa Trung Hải và sau đó đă
dần bị lăng quên.
Quả Lê
Cây lê được
trồng nhiều ở các tỉnh Lạng Sơn, Lào Cai, Thái Nguyên. Có hoa vào
mùa xuân, thu hái quả vào mùa thu. Nó là một trong số rất ít loại
quả chín sau khi thu hái. Lê được bày bán ở nhiều nơi hiện nay là lê
nhập từ Trung Quốc.
Theo tài liệu
cổ, quả lê có vị ngọt, hơi chua, tính lạnh, không độc, vào các kinh
phế, vị. Có công dụng nhuận phổi, mát tim, tiêu đờm, giáng hỏa, giải
khát. Chữa đờm nhiệt sinh ho (nấu cao để điều trị ho), đại tiện bí
kết... Theo y học cổ truyền; quả lê dùng để chữa một số bệnh sau:
Nhuận phổi trị ho: Dùng khoảng 100g lê tươi cắt
vụn, cho nước vào nấu nhừ, vắt bỏ bă, nước đem cô đặc thành cao lỏng,
thêm một ít đường phèn vào trộn đều cho đủ ngọt, chia làm 3 - 4 lần
uống trong ngày sẽ mau khỏi ho.
Ở Trung Quốc, người ta c̣n chế nhiều loại cao lê khác nhau để điều
trị ho. Đơn cử một loại cao lê với tên "Thu lê đường" bào chế như
sau: Lê mùa thu: 20 quả, gừng tươi: 0,2kg, táo tàu: 1 kg, ngó sen:
1,5kg. Các thứ trên thái nhỏ đem nấu lấy nước cô thành cao, cho tiếp
0,25 kg đường phèn và thêm một ít mật ong chế thành cao lỏng.
Chữa bỏng: Dùng quả lê tươi, lấy dao sạch cắt thành
từng lát mỏng đắp lên chỗ bỏng th́ hết đau và không bị loét da.
Giải độc rượu: Quả lê tươi đem gọt bỏ vó, cắt thành
từng miếng vừa ăn, cho người uống rượu say ăn vào sẽ mau dă rượu
giải độc.
Chữa nôn nấc, khó nuốt: Lấy một quả lê gọt bỏ vỏ,
khoét bỏ lơi, nhét vào đấy 15 hạt đinh hương, dùng lá rau gói bọc
kín lại, đem nướng chin (hoặc hấp), khi ăn bỏ đinh hương đi, chỉ ăn
lê sẽ hết bệnh. Về phương diện dinh dưỡng, một quả lê (khoảng 250g)
cung cấp cho cơ thể 98 kilôcalo, 25g gluxit, và một lượng đáng kể
vitamin C(11%). Đặc biệt lê chứa một lượng lớn pectin (nhiều hơn cả
táo) - một loại chất xơ thực phẩm ḥa tan được. Nhờ có nhiều pectin
lê trở thành món ăn có tác dụng hạ mức cholesterol trong máu. Pectin
dễ tan trong nước, khi đi qua ruột tạo ra thể đông (gel) giữ muối
mật trong lớp chất nhầy không cho nó quay trở vào máu . Cơ thể luôn
luôn có chức năng sản xuất loại muối mật để bù vào lượng muối mật
mất đi mỗi ngày. Nguyên liệu mà cơ thể cần để tổng hợp ra muối mật
chính là cholesterol - do đó pectin có nhiều trong lê gián tiếp tham
gia vào việc làm giảm hàm lượng cholesterol trong máu, rất tốt cho
những ai đang điều trị bệnh tăng cholesterol huyết. Nhờ có nhiều
pectin, lê c̣n góp phần làm tăng độ xốp mềm của bă thải tiêu hóa
chống táo bón.
Theo Sức Khỏe
và Đời Sống
Mướp và nếp
nhăn da
“Em đọc báo thấy nói mướp chữa
được nhiều bệnh, đặc biệt là xóa nếp nhăn trên da. Xin bác sĩ cho
biết cách bào chế và sử dụng như thế nào?”.
Trả lời:
Theo Đông y, mướp giúp làm
giảm hay làm mất nếp nhăn ở da mặt. Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có
công tŕnh nào nghiên cứu và báo cáo kết quả của mướp trong việc
giải quyết những nếp nhăn trên da, cũng chưa thấy có dạng kem bào
chế nào sử dụng mướp để bôi da. Trước mắt, để có thể hạn chế nếp
nhăn ở da mặt, bạn cần tránh nắng, không lo âu suy nghĩ nhiều, ăn
thêm nhiều rau cải, trái cây tươi, massage mặt mỗi đêm trước khi đi
ngủ.
BS Huỳnh Huy Hoàng, SK&ĐS