Cùng Chung Lăn Chuyn Bánh Xe Pháp

                  

 
 

GIẢNG GIẢI

-o0o-

Chú Nghĩa Kinh A Di Đà
Chánh Sĩ
 

Phần Chánh Tông
Cơi nước Cực Lạc và đức Phật A Di Đà,
nhân hạnh để được văng sanh

Y báo vô cùng trang nghiêm

KINH: “Xá Lợi Phất, v́ sao cơi đó tên là Cực Lạc?” 

Đây là câu hỏi thứ nhất trong 3 câu hỏi, mà đức Phật đă hỏi ngài Xá Lợi Phất trong pháp hội giảng nói kinh A Di Đà. Phật hỏi ngài Xá Lợi Phất v́ ngài là người có trí tuệ bậc nhất trong hàng Thanh Văn đại đệ tử của Phật, có đầy đủ trí huệ để có thể hiểu và có thể tin về những sự mầu nhiệm ở thế giới Cực Lạc.

KINH: “V́ chúng sanh trong cơi nước đó không có những sự khổ, chỉ thọ hưởng các điều vui, nên cơi đó tên là Cực Lạc.”

Thế giới Cực Lạc là thế giới công đức của Phật A Di Đà ở phương Tây, cách xa nơi nầy 10 tỷ cơi nước Phật, là cơi sáng rất an vui và không có sự khổ nạn, v́ vậy nên gọi là Cực Lạc (cơi rất vui). Cái vui ở cơi Cực Lạc là vui tịch tĩnh, khinh an, đó không phải là vui đối đăi với khổ theo quan niệm nhị nguyên ở cơi thế gian.

Nơi chốn Cực Lạc trang nghiêm ấy, có đầy đủ tất cả 8 điều vui sướng Niết Bàn (gọi là bát lạc): 

– hóa sanh từ hoa sen tinh khiết, trẻ măi không già, không bao giờ bị ốm đau, sống lâu vô cùng, tùy ư toại nguyện mọi y thực và có thần thông tới lui khắp các cơi Phật không ngăn ngại, gần gũi bạn lành, cùng chung chí hướng với người tốt, thân tâm thanh tịnh và an lạc.

Những sự khổ nạn mà đức Phật muốn nói đến là 84.000 thứ phiền năo trói buộc làm khổ lụy thân tâm con người ở cơi Ta Bà nầy. 84.000 sự khổ, chung quy lại, th́ có 8 cái khổ chính (gọi là bát khổ), đó là sanh, già, bệnh, chết, mong cầu mà không được như ư, xa cách người ḿnh yêu thương, gần gũi người ḿnh oán ghét, bị ràng buộc và khống chế bởi thân ngũ ấm.

Thế nào là Ngũ ấm? Ngũ ấm, c̣n gọi là ngũ uẩn, là 5 nhóm cấu thành thân xác và tinh thần của con người:

- sắc: thân xác 
- thọ: cảm giác 
- tưởng: sự nhận biết (tri giác)
- hành: sự vận hành của tư tưởng (tâm tư)
- thức: ư thức phân biệt

Để đối trị với 84.000 phiền năo, đức Thế Tôn đă thuyết dẫn ra 84.000 pháp môn tu tŕ, tùy căn cơ của người tín nhận. Sở dĩ có con số 84.000 là v́ dựa trên 250 giới cấm của người Tỳ Kheo, trong 4 oai nghi đi đứng nằm ngồi, qua 3 thời Quá khứ Hiện tại Vị Lai, với 4 món Độn Sử (tham, sân, si, mạn), tác động qua lời nói và hành động, gây tạo ra 7 tội (sát sanh, trộm cướp, tà dâm, nói dối, nói thêu dệt, nói lưỡi hai chiều, nói lời hung ác). Tổng cộng tất cả là 84.000 phiền năo (250 x 4 x 3 x 4 x 7 = 84.000).

KINH: “Lại nữa, Xá Lợi Phất, nơi cơi nước Cực Lạc đó có bảy lớp dậu rào, bảy lớp mành lưới, bảy lớp hàng cây, đều bằng bốn chất báu, bao ṿng khắp nơi, v́ thế nên cơi nước đó tên là Cực Lạc.” 

Ở cơi nước Phật A Di Đà, có những lan can dậu rào 7 lớp, có những mành lưới giăng 7 tầng, có các hàng cây mọc theo từng hàng 7. Tất cả đều làm bằng 4 món châu báu (tứ bảo) là vàng, bạc, lưu ly, pha lê. Những lớp hàng cây, dậu rào, mành lưới được xếp theo từng hàng 7 của 3 loại, tượng trưng cho con số 21 (tức là 7 x 3), bao ṿng ở khắp mọi nơi (châu tráp vi nhiễu), v́ vậy nên cơi đó được gọi là Cực Lạc. Các dậu rào ở đây là rào vàng, lưới ở đây là lưới báu, cây ở đây là cây ngọc. Có những thân cây bằng vàng, lá pha lê, trái lưu ly, hoa nhánh bạc. Cũng có rất nhiều hàng cây với thân cành lá chỉ thuần một chất báu của vàng, bạc, lưu ly hoặc pha lê.

Ư nghĩa của số 7:

Số 7 là con số biểu trưng cho cơi chánh đạo của chư Phật, đó là cơi thứ 7 giải thoát khỏi 6 nẻo luân hồi. Số 7 cũng là 7 nhóm trong 37 phẩm trợ đạo. Ở đây, số 7 là để nêu lên 7 thứ Thánh Tài: Tín, Giới, Văn, Xả, Huệ, Tàm, Quư. Có nghĩa là người niệm Phật phải phát khởi niềm tin vững mạnh để tiến tu, nghiêm mật giữ ǵn giới luật, nghiên cứu đọc tụng kinh điển, lắng nghe và học hiểu các lời khuyến dẫn đúng đắn của chư Tăng Ni, buông xả những buộc ràng vướng mắc trong tâm thức, b́nh thản với sự đời, không chấp trước vào pháp, không chấp giữ ở những ǵ tốt xấu, vừa ư, nghịch ḷng, t́m đạt đến trí tuệ sáng suốt, đối với ḿnh th́ luôn sanh tâm biết lỗi, sám hối để chừa bỏ các lỗi lầm, đối với người th́ luôn sanh tâm biết hổ thẹn khi lỡ phạm những điều sai trái.

Số 7 thường gắn liền với cuộc đời của đức Thế Tôn. Khi vừa được sinh ra, ngài đi 7 bước, mỗi bước một đóa sen nở dưới chân ngài. Sau khi đản sanh được 7 ngày, Thánh mẫu Ma Gia, mẹ của ngài, đă từ trần, sanh lên cơi Trời Đao Lợi của vua Đế Thích. 

Đức Thế Tôn học đạo, ngồi dưới gốc cây Bồ Đề, bên bờ sông Ni Liên Thiền (thuộc chi nhánh sông Hằng), ở miền Bắc Ấn Độ xứ Ma Kiệt Đà, 7 lần của 7 ngày, tức là liên tục 49 ngày suy niệm (7 x 7), đến tuần lễ thứ 7 th́ ngài đạt được sự giác ngộ Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác và thành Phật. 

Khi ngài thuyết giảng đại pháp, đă giảng nói kinh Hoa Nghiêm lần đầu tiên, tại Bồ Đề Đạo Tràng, xứ Ma Kiệt Đà, trải qua 21 ngày liền (3 lần của 7 ngày). Cuộc đời hành đạo của ngài là 49 năm (7 x 7). Sau khi nhập diệt, thân xác của ngài được giữ trong kim quan đúng 7 ngày trước khi làm lễ trà tỳ (hỏa thiêu) ở thành Câu Thi La.

Số 7 cũng là thời gian 7 ngày, khi đức Phật trở về thành Ca Tỳ La Vệ, nói pháp và cảm hoá toàn bộ gịng họ Thích, gia đ́nh của ngài, theo về với Phật pháp.

Nếu nói về thời gian, số 7 là 7 ngày của một tuần, tính từ ngày chủ nhật cho đến thứ 7. Bảy ngày là định kỳ mà Phật đă khuyến dẫn trong kinh A Di Đà, để người tu dựa theo thời hạn đó mà tŕ niệm danh hiệu Phật cho được nhất tâm, đạt đến cảnh giới Niệm Phật Tam Muội.

Nếu nói về khoa học, th́ sau mỗi 7 năm, cơ thể con người sẽ hoàn toàn thay đổi với tế bào mới. Số 7 cũng gắn liền với 7 ngày, 21 ngày (7 x 3), 49 ngày (7 x 7) khi người chết có thể đầu thai vào cơi khác, hoặc tái sanh trở lại kiếp người, hoặc hóa sanh về ao thất bảo ở cơi Cực Lạc. Sau mỗi 7 ngày và 7 lần như vậy (trong 49 ngày sau khi chết và chưa đầu thai, c̣n ở giai đoạn thân trung ấm), người chết sẽ phải đối diện trở lại với kư ức sợ hăi về cái chết của ḿnh và sự đau đớn thân xác lúc hấp hối. 

Trên khuôn mặt con người cũng có thất khiếu (7 lỗ) là mắt, tai, mũi, miệng. Số 7 cũng gắn liền với Pháp thân, là 7 chỗ đầy đặn và đẹp tốt của 32 tướng đại nhân: 2 ḷng bàn tay, 2 ḷng bàn chân, 2 vai và yết hầu. Niệm hồng danh chư Phật và tŕ chú Đà Ra Ni cũng thường gắn liền với con số 7 trong các bản kinh Phật đă thuyết (niệm 7 lần, 21 lần, 49 lần). Con số 7 c̣n có rất nhiều ư nghĩa cũng như thế.

– Ư nghĩa của 7 lớp dậu rào: 7 lớp dậu rào (thất trùng lan thuẫn) là biểu thị cho Giới, như những lan can, bao lơn, rào cản… ngăn chặn thân tâm không để bị uế nhiễm bởi sự cám dỗ của ngũ dục là tiền của, sắc đẹp, danh vọng, ăn uống, ngủ nghỉ (tài, sắc, danh, thực, thùy). 

– Ư nghĩa của 7 lớp mành lưới: 7 lớp mành lưới (thất trùng la vơng) là biểu thị cho Định, cảnh giới tịch tĩnh bao trùm khắp mọi nơi như lưới giăng. 

– Ư nghĩa của 7 lớp hàng cây: 7 lớp hàng cây (thất trùng hàng thọ) là biểu thị cho Huệ, trí tuệ chiếu soi như những thân cây cành lá nẩy chồi vươn lên cao, t́m đến ánh sáng của mặt trời.

Bốn món châu báu (tứ bảo: vàng, bạc, lưu ly, pha lê) của 7 lớp dậu rào (biểu trưng cho giới), 7 lớp mành lưới (biểu trưng cho định), 7 lớp hàng cây (biểu trưng cho huệ), ở cơi nước Cực Lạc, là biểu thị cho 4 đức Niết Bàn trang nghiêm và ngời sáng:

- sống lâu (chân thường)
- an vui (chân lạc)
- thần thông biến hoá (chân ngă)
- thanh tịnh tịch tĩnh (chân tịnh)

KINH: “Lại nữa, Xá Lợi Phất, nơi cơi nước Cực Lạc đó có ao bảy chất báu, trong ao tràn đầy tám nước công đức, đáy ao thuần bằng cát vàng trải làm mặt đất. Những lối đi bốn bên bờ ao là vàng, bạc, lưu ly, pha lê hợp thành. Trên đó, có lầu các, cũng đều nghiêm sức bằng vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xa cừ, trân châu, mă năo. Trong ao, có hoa sen lớn như bánh xe: hoa sắc xanh ánh sáng xanh, hoa sắc vàng ánh sáng vàng, hoa sắc đỏ ánh sáng đỏ, hoa sắc trắng ánh sáng trắng, hương thơm vi diệu tinh khiết.”

Ở cơi Cực Lạc, có ao bảy chất báu, có tám thứ nước công đức, có vô lượng vô số hoa sen với ánh hào quang sáng chói, có các lầu đài, cung điện, tịnh xá bằng bảy món châu báu quư giá và rực rỡ trang nghiêm. Ao bảy chất báu (thất bảo tŕ) là ao vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xa cừ, trân châu, mă năo. 7 món châu báu nầy, của ao thất bảo ở cơi Cực Lạc, biểu thị cho sự sáng ngời của 7 phần giác ngộ (tức là Thất Giác Chi, c̣n gọi là Thất Bồ Đề Phần):

- quán sát các pháp, biện giải đúng lư nghĩa (trạch pháp)
- dũng mănh tu tập theo chánh pháp (tinh tấn)
- vui mừng an trụ nơi chánh pháp (hỷ)
- thư thái khinh an trong chánh pháp (lạc)
- ĺa xa các pháp hư vọng, buông bỏ mọi chấp trước (xả)
- nhất tâm an trụ nơi chánh pháp (định)
- luôn nhớ tưởng chánh pháp (niệm)

Trong ao, có 8 thứ nước công đức rất diệu dụng (bát công đức thủy), đó là các yếu tố trong sạch, đượm nhuần, mát mẻ, thơm tho, ngon ngọt, êm đềm, giải trừ đói khát, tươi khỏe thân tâm. 8 thứ nước công đức nầy, thể hiện qua 6 trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp), tác động vào 6 căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ư), đưa đến sự vui thích như ư qua 6 yếu tố thọ nhận (lục nhập): 

- yếu tố sắc nhập: trong sạch
- yếu tố thanh nhập: êm đềm
- yếu tố hương nhập: thơm tho
- yếu tố vị nhập: ngon ngọt
- yếu tố xúc nhập: đượm nhuần, mát mẻ
- yếu tố pháp nhập: giải trừ đói khát, tươi khỏe thân tâm

8 thứ nước như ư (Như-ư-thủy), tuôn chảy ra từ hạt ngọc Ma Ni của Phật (c̣n gọi là Như-ư-châu-vương). Ḿnh muốn nước ấy ấm mát, dịu ngọt, nhuần khiết ra sao th́ nó sẽ y như vậy trong sự thấy biết và cảm nhận của chính ḿnh. Nước nầy chảy qua những cọng sen, lá sen, phát ra những tiếng pháp Ba La Mật rất là mầu nhiệm. 

Theo tinh thần của bản kinh A Di Đà, 8 thứ nước công đức nầy, ư nói tự tánh thanh tịnh A Di Đà, biểu trưng cho Bát Chánh Đạo (c̣n gọi là Bát Thánh Đạo Phần, 8 con đường tu hành chân chánh): 

- hiểu biết chân chánh (chánh kiến)
- suy nghĩ chân chánh (chánh tư duy)
- lời nói chân chánh (chánh ngữ)
- hành động chân chánh (chánh nghiệp)
- sinh sống chân chánh (chánh mạng)
- chuyên cần chân chánh (chánh tinh tấn) 
- nhớ tưởng chân chánh (chánh niệm)
- thu nhiếp tâm chân chánh (chánh định)

8 phạm trù trên chia thành 3 nhóm:

- giới: chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng
- định: chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định
- huệ: chánh kiến, chánh tư duy

Giới là những điều răn cấm của Phật dạy, để tránh vướng mắc vào lầm lỗi. Định, thuộc về tâm linh, là giữ tâm cho chuyên nhất, không để bị loạn náo bởi vọng tưởng điên đảo hoặc ngoại cảnh chi phối. Huệ là sự nhận thức sáng suốt, trí tuệ chiếu soi, hướng về chân lư.

Nếu nói về Pháp thân, Giới Định Huệ được hiểu như sau: 3 nghiệp thân khẩu ư (hành động, lời nói, ư nghĩ) xa ĺa tất cả tội lỗi, gọi là Giới. Chân tâm xa ĺa tất cả vọng niệm, gọi là Định. Chân trí sáng suốt chiếu soi, nhận hiểu rơ tất cả các pháp, gọi là Huệ.

8 con đường tu hành chân chánh:

– Chánh kiến (hiểu biết chân chánh): hiểu rơ về 4 chân lư của Tứ Diệu Đế (chân lư về sự khổ), tin hiểu vào lư nhân quả, luật luân hồi, nghiệp báo và duyên sinh.

– Chánh tư duy (suy nghĩ chân chánh): không tham muốn, không sân hận, không khinh mạn, không nghĩ suy làm hại người và vật, biết suy xét Vô Minh (tâm thức mê mờ v́ bị vọng tưởng che lấp) là nguyên nhân đau khổ, nhận biết những lỗi lầm của ḿnh để sám hối, chừa bỏ.

– Chánh ngữ (lời nói chân chánh): không nói láo, không nói lưỡi hai chiều, không nói thêu dệt, không nói lời hung ác, không nói chuyện thị phi.

– Chánh nghiệp (hành động chân chánh): không sát sanh, không trộm cướp, không tà dâm, không uống rượu, không trả thù, không phan duyên (lợi dụng), không làm tổn hại đến quyền lợi và hạnh phúc của người khác.

– Chánh mạng (sinh sống chân chánh): không nuôi sống bằng những nghề bất lương làm nguy hại đến người và vật, không chấp theo ngoại đạo, không mê tín dị đoan.

– Chánh tinh tấn (chuyên cần chân chánh): nỗ lực làm những điều đúng, dũng mănh tiến bước trên con đường giải thoát.

– Chánh niệm (nhớ tưởng chân chánh): luôn nhớ nghĩ đến danh hiệu Phật và các cơi lành, cảm mộ ân đức của tất cả chư Phật, chư thầy, cha mẹ và thí chủ (tứ trọng ân).

– Chánh định (thu nhiếp tâm chân chánh): tập trung suy tưởng và quán sát sự việc đúng theo chánh pháp, không có những mục đích sai lầm, nghịch lư.

Bát Chánh Đạo là pháp môn chính trong 37 phẩm trợ đạo. Người niệm Phật phải dựa vào 8 con đường chân chánh đó để tu tập Giới Niệm Định Huệ, đạt đến quả vị Thánh Trí vô thượng. 

Theo tinh thần của bản kinh A Di Đà, những lối đi ở bốn bên bờ ao thất bảo (tứ biên giai đạo), là sự hợp thành của 4 chất báu: kim, ngân, lưu ly, pha lê, biểu trưng cho sự thành tựu trang nghiêm công đức Giới Niệm Định Huệ của pháp môn Nhất Hạnh Tam Muội.
Giới là vị thầy hộ tŕ cho pháp thân, giữ ǵn thân khẩu ư thanh tịnh. Định là cửa vào Thánh Trí, tiến đến cảnh giới nhất niệm, đó là niệm tưởng A Di Đà. Huệ là ngôi nhà Kim Cang Thánh Trí, viên ngọc Ma Ni ngời chiếu, gịng suối Tâm an lạc tịch tĩnh. Niệm là trái tim ánh sáng huyền nhiệm của 4 chữ A Di Đà Phật không thể nghĩ bàn, là mấu chốt đan kết và tương hợp giữa 3 điểm vô thượng Giới Định Huệ:

- Niệm ở giữa Giới và Định (Giới-Niệm-Định)
- Niệm ở giữa Định và Huệ (Định-Niệm-Huệ)
- Niệm ở giữa Huệ và Giới (Huệ-Niệm-Giới)

Giới Niệm Định Huệ là 4 món Ba La Mật vô cùng vi diệu của người tu tŕ theo pháp môn Niệm Phật. Người tu học phải giữ giới thanh tịnh, tŕ niệm danh hiệu Phật để chuyên nhất tâm tưởng, buông bỏ vạn duyên bên ngoài, diệt trừ mọi phiền năo bên trong, đạt đến cảnh giới an lạc của Phật Trí vô thượng.

Bát Chánh Đạo

8 con đường tu hành chân chánh

Nền tảng của Bát Chánh Đạo là Giới, với 3 phạm trù căn bản về đạo đức là Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng. Ngôi nhà Thánh Trí mà người tu học phải nương trú vào đó, để tu tập Chánh niệm và để thành tựu Chánh định, là pháp Niệm Phật Tam Muội. Cánh cửa để mở vào Bát Chánh Đạo là Văn Huệ và Tư Huệ, tức là 2 yếu tố Chánh kiến và Chánh tư duy ở giai đoạn Tri Thức.

Trên bước đường tu học, yếu tố Chánh tinh tấn là để trợ lực cho người niệm Phật có ư chí mạnh mẽ và chuyên cần. Khi yếu tố Chánh niệm thành tựu, dựa trên pháp niệm Phật A Di Đà, đưa đến sự phát sinh và thành tựu yếu tố Định, tức là cảnh giới Nhất Tâm Bất Loạn, từ đó mở rộng 2 phạm trù Thánh Trí là Chánh kiến và Chánh tư duy, tức là sự phát triển của yếu tố Tu Huệ, thấy hiểu và nghĩ suy theo Chánh đạo, nh́n thấu rơ thật tướng của vạn pháp thế gian, giúp ta vượt thắng tất cả mọi phiền năo tư duy và đạt đến sự giải thoát tâm linh.


Thế nào là Kim sa nơi ao thất bảo? 

Ở dưới đáy ao thất bảo trải thuần bằng cát vàng bóng mịn, màu sắc sáng chói lên cả trên mặt nước và bốn bên bờ ao, gọi là kim sa (cát vàng). 

Đáy ao trải dài bằng cát vàng quư báu, là biểu trưng cho Bồ Đề Tâm của đức Phật A Di Đà đă v́ chúng sanh mà nguyện thề cứu độ, cũng là biểu trưng cho Bồ Đề Tâm của hàng Thánh chúng đă chí thành trải ḷng ḿnh theo về thế giới Cực Lạc, phát khởi ḷng đại bi, tu dưỡng công đức và đạo hạnh, hướng nguyện sanh về cơi Niết Bàn Tịnh Độ của đức Phật A Di Đà. Bồ Đề Tâm là tâm t́m cầu giải thoát, hướng về Phật đạo, với ư nguyện lợi tha, muốn giúp đời và cứu người thoát khổ.

Trong ao thất bảo, có các loài hoa sen lớn như bánh xe (đại như xa luân), ư nói là các hoa sen nầy to lớn như bánh xe chuyển pháp của đức Như Lai. Sau khi thành đạo, đức Phật chuyển pháp luân (thuyết giảng đại pháp) lần đầu tiên, về Tứ Diệu Đế và Bát Chánh Đạo, tại vườn Lộc Uyển, thuộc miền Sarnath ở xứ Isipatana.

Các hoa sen nầy có vị hương rất tinh khiết, nhiệm mầu và ngời chiếu ánh hào quang (vi diệu hương khiết). Hoa màu xanh th́ tỏa chiếu ánh sáng xanh, hoa màu vàng th́ tỏa chiếu ánh sáng vàng, hoa màu đỏ th́ tỏa chiếu ánh sáng đỏ, hoa màu trắng th́ tỏa chiếu ánh sáng trắng. 

4 màu sắc chính, xanh vàng đỏ trắng, của các hoa sen ở ao thất bảo, biểu trưng cho phẩm đức và hạnh nguyện của người chân tu (cũng như những hạt Xá Lợi, thể hiện qua nhiều màu sắc khác nhau, đó là những việc mầu nhiệm chẳng thể nghĩ bàn). Người niệm Phật, khi được sanh về cơi Tịnh Độ, tùy ở phẩm hạnh mà được hoá sanh vào một trong các loại sen đó. Khi văng sanh, tùy theo phước huệ, mà hoa sen sẽ nở và tỏa chiếu ánh hào quang, liền sau khi được sanh về, hoặc sau 1 ngày đêm, hoặc sau 7 ngày, 49 ngày, hoặc sẽ phải sau nhiều kiếp.

Có tất cả 9 phẩm cứu cánh để người niệm Phật phát nguyện văng sanh, chia ra 3 bậc Thượng, Trung, Hạ:

– Muốn sanh về hàng thượng bối (tức là 3 thượng phẩm của bậc Bồ Tát Đại Thừa), th́ người ấy phải xuất gia, dũng mănh phát tâm Bồ Đề vô thượng, tŕ niệm danh hiệu A Di Đà, nghiêm tŕ giới luật, tu tạo nhiều hạnh nghiệp và công đức độ sinh, thiết tha nguyện sanh về cơi Tịnh Độ.

– Muốn sanh về hàng trung bối (tức là 3 trung phẩm của bậc Thanh Văn Tiểu Thừa), th́ người ấy phải phát tâm Bồ Đề vô thượng, tŕ niệm danh hiệu A Di Đà, làm các điều phước thiện, lánh xa mọi điều ác, quy y Tam Bảo, giữ ǵn ngũ giới tại gia, hiếu dưỡng cha mẹ, tu tạo nhiều công quả, cúng dường chư Tăng Ni, thờ kính Phật, đọc tụng kinh điển, không phạm vào thập ác ngũ nghịch, thường xuyên sám hối lạy Phật và hồi hướng công đức về Cực Lạc. 

– Muốn sanh về hàng hạ bối (tức là 3 hạ phẩm của bậc Thiện Nhân), th́ người ấy phải phát tâm Bồ Đề vô thượng, tŕ niệm danh hiệu A Di Đà, không phạm vào các trọng tội ngũ nghịch, hoặc hủy báng chánh pháp của Phật, tha thiết nguyện sanh về Tây phương Tịnh Độ.

Các bậc thượng bối có 3 phẩm là thượng phẩm thượng, thượng phẩm trung, thượng phẩm hạ. Các bậc trung bối và hạ bối cũng chia ra 3 bậc thượng trung hạ giống như vậy. Tất cả là 9 phẩm văng sanh (3 x 3).

Bậc thượng phẩm thượng là bậc cao nhất được văng sanh, gọi là bậc tối thượng phẩm của các vị đại Bồ Tát. Người được sanh vào hàng thượng phẩm thượng (tức là bậc tối thượng phẩm) sẽ được hóa sanh từ hoa sen liền ngay sau khi người ấy chấm dứt hơi thở, được Phật A Di Đà và hàng Bồ Tát Thánh chúng tiếp dẫn về Cực Lạc. 

Những bậc khác (tức là 8 phẩm c̣n lại), tính từ thượng phẩm trung cho đến hạ phẩm hạ, th́ khi sanh về, phải sau 1 ngày đêm, hoặc sau 7 ngày, 49 ngày, hoặc sau 6 kiếp, 12 kiếp, th́ hoa sen hóa sanh mới nở. Khi hoa sen nở, người được hóa sanh có thân sắc vàng (yến sáng), không nam không nữ, 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp, ngồi kiết già trong hoa sen, và tùy ở phẩm hạnh, sẽ được 2 vị đại Bồ Tát là đức Quán Thế Âm và đức Đại Thế Chí thuyết giảng cho nghe những nghĩa lư diệu mầu của Phật pháp. Trên mỗi cánh sen khi nở, có 84.000 đường gân, mỗi hoa sen có 84.000 cánh, tỏa chiếu ra 84.000 ánh hào quang, biểu thị cho 84.000 đức hạnh và 84.000 pháp mầu. 

4 thứ ánh sáng chiếu tỏa ra từ các hoa sen, xanh vàng đỏ trắng, biểu trưng cho Tứ Vô Lượng Tâm (c̣n gọi là Tứ Đẳng Tâm, bốn thứ tâm vô cùng rộng lớn): 

- ḷng yêu thương, đem niềm vui đến cho người (từ)
- ḷng thương xót, muốn cứu người thoát khổ (bi)
- ḷng vui theo khi thấy người thoát khổ (hỷ)
- ḷng buông xả, tha thứ, không cố chấp (xả)

Trong từng mỗi câu niệm A Di Đà, người niệm Phật phải trải rộng tâm Từ của ḿnh đến tất cả mọi chúng sanh b́nh đẳng, trải tâm Bi đến những kẻ đang đau khổ, trải tâm Hỷ đến những ai đang vui sướng, trải tâm Xả đến những người ḿnh yêu thích hoặc ghét bỏ. Đó là thể hiện 4 đức tánh liên hoa: vi, diệu, hương, khiết trong câu Phật hiệu A Di Đà.
người niệm Phật phải phát khởi 4 thứ tâm vô lượng và tin vào tha lực hộ tŕ của tất cả chư Phật mười phương

4 màu sắc hào quang, xanh vàng đỏ trắng, chiếu tỏa từ các hoa sen ở ao thất bảo, cũng là biểu trưng cho các cảnh giới ánh sáng chói ngời trong giai đoạn thân trung ấm (thân trung ấm là phần linh thể của con người xuất ra khỏi thân xác lúc hơi thở vừa dứt hẳn, ở giai đoạn giữa của kiếp nầy và kiếp sau trong thời hạn 49 ngày). 

Ánh sáng xanh có 2 loại là ánh sáng màu xanh dương và ánh sáng màu xanh lục. Có tất cả 5 loại ánh sáng chói ngời và 6 loại ánh sáng mờ nhạt trong 7 ngày đầu ở giai đoạn thân trung ấm: 

– ánh sáng xanh dương chói ngời: đây là luồng ánh sáng cứu độ của đức Phật Tỳ Lô Giá Na.

– ánh sáng trắng chói ngời: đây là luồng ánh sáng từ bi lực của đức Phật Kim Cang Tát Đỏa và các vị đại Bồ Tát Địa Tạng, Di Lặc.

– ánh sáng vàng chói ngời: đây là luồng ánh sáng của đức Phật Bảo Sanh và đại Bồ Tát Phổ Hiền.

– ánh sáng đỏ chói ngời: đây là luồng ánh sáng diệu hạnh thanh tịnh của Tự tánh A Di Đà.

– ánh sáng xanh lục chói ngời: đây là luồng ánh sáng công năng Trí Tuệ nhiệm mầu của Tự thân.

Các loại ánh sáng nầy, khi lâm chung, thân trung ấm sẽ phải đối diện (lúc hơi thở đă hoàn toàn dứt hẳn). Cùng với những luồng ánh sáng chói ḷa nầy là những ánh sáng mờ nhạt của 6 cơi Lục Đạo cũng tuần tự phát xuất:

- ánh sáng trắng mờ nhạt của cơi Trời
- ánh sáng xám mờ nhạt của cơi Địa ngục
- ánh sáng vàng mờ nhạt của cơi Người
- ánh sáng đỏ mờ nhạt của cơi Ngạ quỷ
- ánh sáng xanh lục mờ nhạt của cơi A Tu La
- ánh sáng xanh dương mờ nhạt của cơi Súc sanh

Lúc lâm chung, người niệm Phật cần phải thật an định trong giờ phút cuối cùng đó, cố gắng tŕ giữ câu Phật hiệu A Di Đà không buông lơi, để thể nhập chân tánh của ḿnh vào các luồng ánh sáng chói ngời và rực rỡ kia, giải thoát đến cảnh giới tốt đẹp của chư Phật và Bồ Tát. 

Khi đối diện với những luồng ánh sáng chói ḷa đó, chớ nên sợ hăi và trốn lánh, v́ đó là những luồng ánh sáng có năng lực cứu độ. Hăy b́nh tâm nương tựa vào ánh sáng đó và tŕ niệm danh hiệu Phật. 6 chữ Nam Mô A Di Đà Phật, có công năng phá trừ 6 nẻo sanh tử luân hồi trong Lục Đạo.

Nếu để bị lôi cuốn vào các vùng ánh sáng mờ nhạt (v́ bị nghiệp lực lôi kéo, hoặc v́ sợ hăi những luồng ánh sáng chói ḷa kia, hoặc v́ quá tham luyến cơi đời mà mê loạn) th́ sẽ bị đọa lạc vào 6 nẻo luân hồi (Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sanh, A Tu La, Người, Trời).

V́ vậy, trong giờ phút sống, nếu chúng ta không tinh tấn tŕ niệm A Di Đà để giữ vững tâm, th́ khi hấp hối, giờ phút mà sự đau đớn bức xẻ cùng cực trên thân xác và trí lực, chúng ta khó có thể giữ được liên tục 10 niệm A Di Đà vững chắc trong định tỉnh và vô úy.

Những người tạo nhiều nghiệp ác trong lúc sống, khi đối diện với những luồng ánh sáng chói ngời trong giờ phút hấp hối, thân trung ấm sẽ rất sợ hăi và t́m mọi cách để trốn lánh. V́ thế, thần thức rất dễ bị cuốn hút, cám dỗ vào những vùng ánh sáng mờ nhạt của các cơi Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sanh (tam ác đạo).

Màu sắc của hoa sen:

Những màu sắc xanh vàng đỏ trắng của hoa sen là 4 màu sắc chính, tỏa chiếu ra 4 màu hào quang chính. Các loài sen ở ao thất bảo th́ nhiều vô lượng vô biên, dù là bậc A La Hán có thiên nhăn thông cũng chẳng thể nào tính đếm mà biết được số lượng. Trong vô số các loại hoa sen đó, có tất cả 84.000 màu sắc khác nhau và mỗi hoa sen ngời chiếu 84.000 ánh hào quang rực rỡ. Hoa sen xanh th́ tỏa chiếu 84.000 hào quang xanh, hoa sen vàng th́ tỏa chiếu 84.000 hào quang vàng, hoa sen đỏ th́ tỏa chiếu 84.000 hào quang đỏ, hoa sen trắng th́ tỏa chiếu 84.000 hào quang trắng...

Một khi có người ở cơi thế gian chứng được cảnh giới Niệm Phật Tam Muội th́ sẽ có một nụ sen mới trổi lên từ ao thất bảo và phát ra ánh sáng hào quang công đức. Đến khi người ấy được văng sanh th́ hoa sen sẽ nở. Tùy ở phẩm đức đă tích tập qua nhiều kiếp và trong kiếp nầy mà được hóa sanh vào hoa sen có màu sắc và ánh sáng đó. Những người sanh về Cực Lạc, sẽ được hóa sanh thành thân kim cang Na La Diên không bao giờ bị hư hoại. Thân sắc đó rất linh hoạt và có ánh sáng màu vàng bao quanh (gọi là yến sáng). Thân sắc nầy không giống như thân xác tứ đại nhơ uế ở cơi thế gian. V́ vậy, người ở cơi đó có ánh hào quang rất chói ngời và việc tới lui ngàn dặm ở đó cũng rất mau lẹ và kỳ diệu. 

Ở cơi Cực Lạc, những khi có mưa hoa, nhạc trời, mọi người đều tự nhiên nhất tâm niệm Phật, th́ yến sáng của người niệm Phật, tương ưng với tiếng niệm Phật chân thành của chính người ấy, lại càng ngời sáng hơn lên.

Thế nào là Quy y Tam Bảo?

Quy y, tiếng Phạn là Namo (Nam Mô), có nghĩa là trở về nương tựa. Quy y Tam Bảo là trở về nương tựa vào Phật, Pháp, Tăng. Phật là đấng giác ngộ, sáng suốt và từ bi. Pháp là con đường đưa chúng ta đến sự giải thoát. Tăng là người đang thực hành pháp giải thoát của Phật, hướng dẫn chúng ta trên bước đường tu đạo. Nam Mô A Di Đà Phật, là trở về nương tựa vào đức Phật A Di Đà.

– Quy y Phật là luôn nhớ tưởng đến Phật, niệm danh hiệu Phật, trở về với Phật tánh sáng suốt của chính ḿnh. 

– Quy y Pháp là luôn nhớ tưởng đến chánh pháp của Phật, thường đọc tụng kinh điển, phát huy các đức hạnh từ bi, nhẫn nhục, bố thí, tha thứ, buông xả.

– Quy y Tăng là luôn nhớ tưởng, tôn kính, tu tập theo sự khuyến dẫn đúng đắn của chư Tăng Ni và cùng ḥa hợp vào chân tánh thanh tịnh của chính ḿnh. 

Khi đă quy y Phật, ḿnh là con của Phật, tu theo hạnh của Phật, sẽ không bị đọa vào Địa ngục. Khi đă quy y Pháp, ḿnh tu tập theo chánh pháp, sẽ không bị đọa làm Ngạ quỷ. Khi đă quy y Tăng, ḿnh tu tập theo sự hướng dẫn và khuyến tấn của chư Tăng Ni, sẽ không bị đọa làm Súc sanh.

Thế nào là Thập ác? Thập ác là 10 điều ác đức:

- sát sanh 
- trộm cướp 
- tà dâm 
- nói dối (vọng ngữ)
- nói thêu dệt (ỷ ngôn)
- nói lưỡi hai chiều (lưỡng thiệt)
- nói lời hung ác (ác khẩu)
- tham lam 
- sân hận
- si mê (hiểu thấy sai lầm, tin mê ngoại đạo)

(tin mê ngoại đạo: thần tài, xin xăm, bói quẻ, bốc dịch, bấm độn, buộc tôm, đeo niệt, coi sao, cúng hạn, đốt giấy tiền vàng bạc, cúng tế tà thần…)

Thế nào là Ngũ nghịch? Ngũ nghịch là 5 trọng tội ác nghịch, trái với đạo lư:

- giết cha
- giết mẹ
- giết các bậc Thánh (A La Hán)
- nhiễu phá sự ḥa hợp của Tăng (Ni) chúng
- làm cho thân Phật chảy máu

Người phạm vào 1 trong 5 trọng tội ác nghịch trên sẽ bị đọa vào địa ngục vô gián (c̣n gọi là đại ngục A Tỳ). Vô gián, nghĩa là không có thời gian hạn định, hoặc gián đoạn, trong việc thọ nhận ngục h́nh nghiệp báo.

Thế nào là Thân tứ đại? Thân xác con người được cấu thành bởi 4 yếu tố chính:

- yếu tố đất như da, xương, thịt, tim, gan…
- yếu tố nước như máu, mủ, đàm…
- yếu tố gió như hơi thở vô ra…
- yếu tố lửa như sức nóng trong người…

Những ǵ hiện hữu ở xác thân hoàn toàn không có tự tánh riêng biệt. Nếu như một mai thân xác có mất đi, có tan ră, th́ gió sẽ về với gió, lửa sẽ về với lửa, nước sẽ về với nước, đất sẽ về với đất. Không có sự mất. Không có sự được. Không có sự thêm. Không có sự bớt. Thân xác con người, tất cả chỉ là đất nước gió lửa tạm bợ ḥa hợp trong một tổng thể vô thường, theo thời gian rồi cũng hoại tàn, tất cả sẽ trở về với đất nước gió lửa. Đó là định luật chung cho tất cả vạn vật trần gian.

KINH: “Xá Lợi Phất, cơi nước Cực Lạc thành tựu công đức trang nghiêm như thế.”

Cơi Cực Lạc có được là v́ 48 đại nguyện của ngài Bồ Tát Pháp Tạng (tức là đức Phật A Di Đà), đă lấy công đức đạo hạnh và trí huệ của chính ḿnh để thành tựu nên sự trang nghiêm như thế, không ngoài mục đích v́ thương xót và muốn cứu độ chúng sanh có được một nơi chốn an vui, để cùng nhau tu hành, vượt thoát con đường sanh tử luân hồi. 

Trong bản kinh A Di Đà, đức Phật Thích Ca đă 4 lần nói đến sự thành tựu công đức trang nghiêm ở cơi Tịnh Độ, đó là một nơi chốn văng sanh rất thiêng liêng và kỳ diệu. 

Sự trang nghiêm ở công đức trí huệ đă được dựng lên tại cơi nước Cực Lạc là các dậu rào, các mành lưới, các hàng cây bằng bốn món châu báu, với ao thất bảo, với tám thứ nước công đức, đáy ao toàn bằng cát vàng, những lối đi ở bốn bên bờ ao do tứ bảo hợp thành, các lầu đài và tịnh xá cũng đều nghiêm sức bằng bảy chất báu vô cùng rực rỡ, có vô số các loại hoa sen hương thơm tinh khiết, với hào quang tỏa sáng rất trang nghiêm.

Mỗi một vật thể nơi cơi Cực Lạc được đề cập đến trong bản kinh A Di Đà là sự biểu trưng cho công đức đạo hạnh thành tựu và giáo pháp vô biên nhiệm mầu của đức Phật A Di Đà, và sự biểu trưng đó được bồi dựng thêm lên bởi hàng Thánh chúng đă hồi hướng công đức trang nghiêm cơi Phật Tịnh Độ.

KINH: “Lại nữa, Xá Lợi Phất, nơi cơi nước Phật đó thường trổi nhạc trời, mặt đất bằng vàng, ngày đêm sáu thời có mưa hoa Mạn Đà La. Chúng sanh trong cơi đó, thường mỗi sáng sớm, lấy vạt áo đựng những hoa kỳ diệu đó, cúng dường mười vạn ức Phật ở các phương khác. Đến giờ ăn, liền trở về nước của ḿnh, ăn cơm, rồi kinh hành.”

Ở cơi đó thường có nhạc trời và mưa hoa. Nhạc từ mây trời (thiên nhạc) rất thường trổi lên nhiều lần trong suốt ngày đêm. Những khi như vậy th́ các nhạc cụ tự nhiên hiện ra, bay lơ lửng trên không trung, tự động cùng ḥa nhịp với nhau và phát ra muôn ngàn thanh âm huyền diệu. Mọi người nghe những thanh âm ấy, thân tâm cảm thấy rất thanh tịnh và an lạc. Các vị thần âm nhạc và chư Thiên ở khắp mười phương cũng cùng đến tấu nhạc trên không trung và trong các lầu đài tịnh xá.

Mặt đất ở cơi đó đều toàn bằng vàng (huỳnh kim vi địa) và chiếu sáng khắp mọi nơi, biểu trưng cho sự chí thành ngời chói Bồ Đề Tâm, của đức Phật A Di Đà đă v́ chúng sanh mà trải ḷng từ bi cứu độ, của đại chúng đă phát trải ḷng ḿnh theo về với Phật, không ngừng tu dưỡng đức hạnh tự lợi và lợi tha, cứu ḿnh và giúp người.

Thế nào là 6 thời?

Ngày đêm ở cơi đó chia làm 6 thời (trú dạ lục thời), tính theo giờ của nước Ấn Độ trong thời Phật c̣n tại thế. Ngày có 3 thời (gọi là sơ nhật, trung nhật, hậu nhật), đêm có 3 thời (gọi là sơ dạ, trung dạ, hậu dạ), mỗi thời là 4 tiếng. Cực Lạc là cơi sáng, không có ngày đêm, đây chỉ là tạm nói ngày đêm theo cái hiểu của thế gian, để dễ phân định ra 6 chuỗi thời gian (6 x 4) những khi có mưa hoa và nhạc trời. Ở cơi Cực Lạc không có mặt trời, không có mặt trăng, không có ngôi sao, không có sáng trưa chiều tối, không có thời gian năm tháng, không có bốn mùa, không có nắng mưa, không có Quá khứ Hiện tại Vị lai, và mọi loài ở cơi nước đó cũng không có tánh ngủ v́ tất cả đều được hóa sanh từ hoa sen tinh khiết. Cơi nước ấy rất sáng, sáng hơn cả mặt trời mặt trăng. Cơi đó sáng là v́ ánh hào quang vàng chói của Phật A Di Đà (vô lượng quang) với đức tướng to lớn khôn cùng, và yến sáng của Thánh chúng (kim thân), cùng với ánh sáng của 4 bảo, 7 báu tỏa ra từ những hàng cây, lưới, rào, ao hồ, mặt đất, đáy ao, lầu đài, cung điện, tịnh xá, hoa trời, hoa sen, nhạc cụ, chim thiêng… Ở cơi Cực Lạc không có bất cứ chỗ nào có bóng tối.

Theo tinh thần của bản kinh A Di Đà, 6 thời của ngày đêm, với mưa hoa, với nhạc trời… là biểu trưng cho pháp Lục Độ Ba La Mật của bậc Bồ Tát (tức là 6 pháp tu để đạt đến bờ bên kia của sự giải thoát):

- bố thí (hiến tặng)
- tŕ giới (nghiêm mật giữ ǵn giới luật)
- nhẫn nhục (nhận chịu những điều trái ư, nghịch ḷng)
- tinh tấn (chuyên cần tu tập không ngừng nghỉ)
- thiền định (giữ tâm cho chuyên nhất) 
- trí tuệ (nhận thức sáng suốt)

Bố thí, bao gồm các mặt: lao tác, ḷng yêu thương, tiền của, lời khuyên dạy, sự không sợ hăi, ánh mắt hiền lành, nụ cười và nét mặt tươi vui, cử chỉ và lời nói nhă nhặn…

Người tu đạo phải thực hành hạnh Bố Thí trên nhiều khía cạnh như thế. Mỗi một tiếng niệm A Di Đà, phải được thể hiện trên nét mặt tươi vui, trong sự an b́nh thanh thản của tâm hồn và trong ánh mắt từ bi của chính ḿnh. Người niệm Phật phải dùng tiếng niệm A Di Đà để quét sạch mọi ư niệm biệt phân, chấp trước vào nhân ngă tướng trong khi thực hành hạnh Bố Thí.

Về phần giới luật, Tỳ Kheo thọ 250 giới, Tỳ Kheo Ni thọ 348 giới, Bồ Tát xuất gia thọ 58 giới, Bồ Tát tại gia thọ 34 giới, Cư sĩ thọ 5 giới. 

Ngoài ngũ giới (5 giới), c̣n gọi là ngũ đức, của người tu tại gia, th́ các giới thuộc về Tỳ Kheo giới, Tỳ Kheo Ni giới, Bồ Tát giới chỉ có người phát tâm thọ giới mới được học đến.

Thế nào là Ngũ giới? Ngũ giới là 5 điều răn cấm của người Cư sĩ tu tại gia, đây cũng là 5 giới căn bản của những người xuất gia: 

- không sát sanh
- không trộm cướp
- không tà dâm
- không nói sai sự thật
- không uống rượu

Nếu nói rộng ra, ngũ giới bao gồm những điều răn cấm như sau: Không giết người, không sát hại thú vật, cũng không khuyến khích người khác giết, hoặc thuê mướn người, nhờ người giết dùm, không đe dọa khủng bố hoặc báo thù người, không đánh đập người và vật, không làm cho người hoặc các loài sinh vật giết hại lẫn nhau, cũng không tàng trữ các loại vũ khí giết người. Không trộm cắp, không cướp bóc, không gạt gẫm, không giựt nợ, không cờ bạc hoặc mua bán gian lận. Không ngoại t́nh, không thủ dâm, không hăm hiếp người, cũng không gần gũi vợ chồng thái quá. Không nói láo, không nói lưỡi hai chiều, không nói thêu dệt, không nói lời hung ác, không nói chuyện thị phi, không nói lăng nhăng. Không dùng các chất say (bia, rượu) và các chất nghiện (thuốc lá, cần sa, x́ ke, ma túy, thuốc phiện), không mua bán rượu, tặng rượu, cũng không khuyến khích hoặc nài ép người khác uống rượu.

Thế nào là Kinh hành và Thiền hành? 

Kinh hành là đi từng bước thong dong và thư thả trong chánh niệm, vừa đi vừa niệm Phật. Niệm theo lối mặc niệm (niệm trong tâm, không động môi, không phát ra tiếng) và chỉ niệm 4 chữ A Di Đà Phật. Niệm chậm răi và rơ ràng từng chữ một. Tập trung tâm ư vào danh hiệu Phật. Mỗi một câu niệm 4 chữ, theo liền với 2 bước. Chân TRÁI bước tới, niệm “A Di”. Chân PHẢI bước tới, niệm “Đà Phật” (chấm dứt chữ “Phật” khi chân PHẢI vừa chạm đất). Pháp kinh hành được áp dụng khi đi trên con đường dài, đi dạo chơi trong rừng, trong công viên, đi dạo quanh chùa, hoặc tản bộ dọc theo bờ sông…

Thiền hành th́ cách thức cũng giống như kinh hành nhưng từng mỗi bước đi phải thật chậm răi và chánh niệm. Pháp thiền hành được áp dụng khi đi dạo trong vườn, đi nhiễu quanh tượng Phật, đi ṿng quanh chánh điện… Mỗi bước đi là mỗi một câu niệm (theo lối mặc niệm và chỉ niệm 4 chữ A Di Đà Phật). Chân TRÁI bước tới, niệm “A Di Đà Phật”, chấm dứt chữ “Phật” khi chân trái vừa chạm đất. Chân PHẢI bước tới, niệm “A Di Đà Phật”, chấm dứt chữ “Phật” khi chân phải vừa chạm đất. Từng mỗi bước đi, từng mỗi câu niệm, thành kính quy ngưỡng về Tam Bảo.

Khi đạt được sự an lạc trên từng mỗi bước chân qua lối kinh hành và thiền hành như thế, điều ấy có nghĩa là tương đối đă có sự chuyên nhất trong niệm tưởng A Di Đà. Khi có chánh niệm th́ mỗi bước đi sẽ là nguồn an lạc mầu nhiệm vô biên. Từng bước nở hoa sen, nó có ư nghĩa rất thánh thiện là như vậy.

Thế nào là Mưa hoa Mạn Đà La?

Mỗi ngày đêm 6 lần, có hoa Mạn Đà La từ mây trời tuôn rải xuống như mưa (vũ thiên Mạn Đà La hoa). Đây là loại hoa màu trắng, giống hoa sen, nên c̣n gọi là Bạch liên hoa, có mùi hương rất tinh khiết. Loại hoa nầy, cánh nhỏ vừa th́ gọi là Mạn Đà La (tiếng Hán là Bạch hoa), cánh lớn th́ gọi là Ma Ha Mạn Đà La (tiếng Hán là Đại bạch hoa). Đây là loài hoa Tự-nhiên-ư, tùy người muốn h́nh dạng, màu sắc, hương thơm ra sao th́ chính người ấy sẽ tự cảm nhận và được thấy y như vậy. 

Hoa nầy rơi xuống như mưa, khoảng chừng một bữa ăn, th́ hoa sẽ tự động tan biến. Đến thời kế tiếp th́ hoa lại rơi, như vậy 6 lần theo ngày đêm. Ngửi được mùi hương của hoa nầy làm cho tinh thần rất vui thích, v́ vậy nên c̣n gọi là Thích-ư-hoa. Mưa hoa trời là v́ hoa nầy từ mây trời rơi xuống và nhiều như mưa (ở Cực Lạc th́ chỉ có mưa hoa, không có mưa nắng tuyết băo hoặc sấm chớp như ở cơi trần gian, không có lũ lụt, hạn hán, động đất, tật dịch, binh đao, không có cái lạnh và cái nóng, chỉ có sự mát mẻ, dễ chịu và gió pháp nhẹ nhàng). Nếu hoa nầy được đem đi cúng dường cho các đức Phật, th́ sau khi dâng cúng, hoa sẽ tự nhiên bay trong hư không, ngát tỏa hương thơm vô cùng vi diệu và tinh khiết.

Mỗi sáng sớm, các Thánh chúng thường dùng vạt áo (y kích) làm đăy hoa, để đựng những hoa trời, đem đi cúng dường cho mười vạn ức chư Phật ở các phương khác (thập vạn ức Phật). Nếu tính theo số mục của thời xưa, thập vạn ức là 10 tỷ (10 x 10.000 x 100.000), hoặc tính theo thời nay là 10.000 tỷ (10 x 10.000 x 100.000.000), ở đây nên hiểu là vô lượng vô số các đức Phật. 

Các phương khác (tha phương), ư nói là mười phương. Lấy vạt áo của ḿnh để đựng hoa cúng dường, ư nói là Thánh chúng gói gém những hương hoa dâng lên chư Phật bằng tất cả tấm ḷng chân thành của chính người ấy. Cúng dường mỗi sáng sớm, là v́ sáng sớm lúc tâm tưởng của mọi người rất thanh tịnh và an b́nh, đó là việc đầu tiên nhất, nhớ tưởng đến chư Phật và chánh pháp của Phật.

Nơi cơi rất sáng đó, mọi người có thể đọc được tư tưởng của nhau, có thể giao tiếp và cảm thông với nhau bằng tâm thức (v́ có tha tâm thông). Những khi muốn đi đến một nơi nào, người ấy chỉ cần tập trung tâm trí, một ḷng chuyên chú vào ư thức đó, th́ chỉ trong sát na đă tới được nơi ḿnh muốn đến (v́ có thần túc thông). Bởi thần thông diệu dụng như vậy, cho nên việc đi cúng dường những hoa trời cho 10 tỷ chư Phật ở các phương khác chỉ trong khoảng thời gian độ chừng một bữa ăn. Sát na là khoảng thời gian rất ngắn, độ chừng 1 phần 60 của một giây (1/60). Ở cơi nước Cực Lạc c̣n có các loại mưa hoa Mạn Thù Sa (c̣n gọi là Lam hoa) và mưa hoa Ma Ha Mạn Thù Sa (c̣n gọi là Hạm hoa). Cả 2 loài hoa nầy, sắc hoa màu đỏ, hương thơm tinh khiết, h́nh dạng lớn nhỏ khác nhau và mịn mát như tơ lụa.

Thế nào là Phạn thực?

Khi đến giờ ăn, đại chúng liền trở về nước của ḿnh để ăn cơm và kinh hành. Cực Lạc là cơi thế giới của chân tánh, của công đức trí huệ, v́ vậy ở cơi đó không có việc ăn uống vật thực để nuôi dưỡng kim thân, ở đây ư nói là dùng tâm ư để thọ nhận những hương vị của thức ăn. Sáu căn, mắt tai mũi lưỡi thân ư, đều có thể thưởng thức được chất vị các món ăn theo ư nguyện (phạn thực). Khi muốn thức ăn th́ chỉ cần tập trung tâm trí và các món ăn sẽ tự động bày ra trước mặt như ư muốn. Sau khi dùng rồi th́ các thức ăn sẽ tự động tan biến vào hư không. Ở cơi nước Phật A Di Đà, cái vui an lạc và thanh tịnh của pháp được xem là món ăn của tâm để tăng trưởng phước huệ (pháp hỷ thực: món ăn vui của pháp).

Khi người niệm Phật đạt được Nhất Tâm Bất Loạn, th́ tất cả pháp thế gian nơi cơi Ta Bà nầy, trong hoàn cảnh động hoặc tĩnh, chẳng thể làm lay chuyển hoặc chi phối tâm tưởng của người niệm Phật. Trong tâm người ấy, toàn thể là sự vắng lặng, thanh tịnh, sáng suốt, nhiệm mầu. Sự an lạc đó được thể hiện qua lời nói, nụ cười, ánh mắt từ bi, nét mặt, cử chỉ, hành động của chính người ấy. Niềm vui của pháp là món ăn hoan hỷ trong tâm của người niệm Phật. Trong tâm người ấy, suốt cả 6 thời đêm ngày, vạn ngàn tiếng niệm A Di Đà là những thanh âm vô cùng mầu nhiệm chẳng thể nghĩ bàn, đó là cảnh giới Niết Bàn Tịnh Độ của tự tánh tự niệm A Di Đà.

KINH: “Xá Lợi Phất, cơi nước Cực Lạc thành tựu công đức trang nghiêm như thế.”

Cơi Cực Lạc thành tựu sự trang nghiêm như thế là bởi công đức và đạo hạnh của đức Phật A Di Đà. Sự trang nghiêm ở công đức trí huệ đă được dựng lên tại cơi nước Cực Lạc là mưa Thích-ư-hoa, với nhạc trời tự động ḥa xướng mỗi ngày đêm 6 thời, mặt đất đều toàn bằng vàng, tỏa ánh hào quang vô cùng rực rỡ và trang nghiêm.

KINH: “Lại c̣n nữa, Xá Lợi Phất, nơi cơi nước đó thường có nhiều giống chim kỳ diệu, đủ các màu sắc: chim Bạch Hạc, Khổng Tước, Anh Vơ, Xá Lợi, Ca Lăng Tần Già, Cộng Mạng. Các loài chim đó ngày đêm sáu thời hót ca thanh âm ḥa nhă. Trong thanh âm đó diễn nói các pháp: Ngũ Căn, Ngũ Lực, Thất Bồ Đề Phần, Bát Thánh Đạo Phần, các pháp như thế. Chúng sanh trong cơi đó nghe thanh âm ấy, tất cả đều niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng.” 

6 loài chim: Bạch Hạc (loài hạc trắng), Khổng Tước (loài công), Anh Vơ (loài két), Xá Lợi (loài c̣), Ca Lăng Tần Già (loài chim kalavinka), Cộng Mạng (loài chim hai đầu), ở miền Trung Ấn Độ, là những giống chim xinh đẹp lạ thường, có rất nhiều màu sắc khác nhau (tạp sắc chi điểu), tiếng hót êm dịu ḥa nhă (xuất ḥa nhă âm). Nơi cơi Cực Lạc, mọi người nghe được những tiếng chim ấy, đều tăng trưởng vững chắc Bồ Đề Tâm, một ḷng tôn kính và nhớ tưởng đến chư Phật, chánh pháp của Phật và hàng Thánh chúng (niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng). 

Theo tinh thần của bản kinh A Di Đà, 6 giống chim nầy (lục hóa cầm) được Phật biến hóa ra để nói pháp ở cơi Cực Lạc, biểu trưng cho Lục Thông của Bồ Tát (tức là 6 phép thần thông diệu dụng). Tất cả những người được sanh về cơi nước Phật A Di Đà, có đầy đủ công đức và đạo hạnh, đều có 6 thứ thần thông:

- mắt thấy xa ngàn dặm (thiên nhăn thông)
- tai nghe xa ngàn dặm và hiểu được tiếng nói của mọi loài (thiên nhĩ thông)
- biết được tâm tưởng của người khác (tha tâm thông)
- biết rơ được nhiều kiếp trước (túc mạng thông)
- biến hoá vô cùng tự tại (thần túc thông)
- đoạn dứt tất cả phiền năo (lậu tận thông)

Tuy vậy, mục đích tu niệm không phải là để được các phép thần thông. Mục đích chân chánh của việc niệm Phật là để cắt đứt ṿng dây sanh tử luân hồi. Do vậy, khi chấp tŕ danh hiệu Phật th́ phải chấp tŕ với tâm không mong cầu bất cứ điều ǵ, đừng quá bám víu để trở thành một cái ǵ khác lạ, ngay cả quả vị cứu cánh là để đạt được cảnh giới nhất tâm, diệt tận phiền năo, tự tại tâm thức, vượt thoát bể khổ trầm luân. 

Hăy tinh tấn mà niệm Phật với tâm xả ly tất cả pháp. Mỗi ngày như mọi ngày, người niệm Phật chỉ biết thành tâm mà niệm Phật, nghiêm kính mà hành tŕ, với tâm vô cầu. Người niệm Phật ngày đêm cẩn thiết chấp tŕ danh hiệu Phật, dẫu cho rằng: chỉ c̣n một hơi thở cuối cùng, người niệm Phật vẫn một ḷng tŕ giữ tiếng niệm A Di Đà trong tâm trí. Niệm Phật tinh tấn và nghiêm mật như vậy, gọi là “chân chánh chấp tŕ danh hiệu Phật”.

Ngũ Căn và Ngũ Lực: 

Các tiếng pháp, qua sự diễn xướng 6 thời của 6 giống chim, là những pháp Ngũ Căn, Ngũ Lực, Thất Giác Chi, Bát Chánh Đạo, tổng cộng là 25 phẩm trợ đạo. Ngũ Căn là 5 cội rễ làm căn bản phước huệ để tu tŕ:

- tin tưởng vào chánh pháp (tín căn)
- dũng mănh tu tập theo chánh pháp (tấn căn) 
- nhớ tưởng chánh pháp (niệm căn)
- thu nhiếp tâm theo chánh pháp (định căn) 
- trí tuệ chiếu soi sáng suốt (huệ căn)

Ngũ Lực là 5 sức mạnh làm tăng trưởng Ngũ Căn, phá trừ tất cả những chướng ngại trên bước đường tu đạo:

- tín lực, phá trừ ḷng tin sai lầm 
- tấn lực, phá trừ sự biếng nhác
- niệm lực, phá trừ các tà ư
- định lực, phá trừ mọi loạn tưởng
- huệ lực, phá trừ sự ngu mê

Có niềm tin vững chắc, cùng dựa trên sự trợ lực của yếu tố Tinh Tấn, người niệm Phật ngày đêm tŕ giữ câu Phật hiệu A Di Đà không buông lơi, không chán mỏi. Niệm Phật chuyên cần và cẩn mật như thế th́ mới có thể làm tăng trưởng 2 yếu tố Định và Huệ, phá vỡ bức tường Vô Minh đă che mờ chân tánh từ bao ngàn kiếp trước.

Trong kinh Niệm Phật Bát Nhă Tam Muội, Phật Thích Ca nói: “Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nào đủ ḷng tin, th́ chỉ cần chuyên nhất xưng niệm danh hiệu A Di Đà Phật, suốt cả sáu thời đêm ngày và giữ trọn đời không thay đổi, th́ hiện tiền chiêu cảm được Y báo và Chánh báo của Phật A Di Đà ở cơi Cực Lạc.”

Đức Phật Thích Ca và tất cả chư Phật 6 phương (Đông, Tây, Nam, Bắc, Trên, Dưới) đă 7 lần khuyến tín, 7 lần khuyên dẫn, 7 lần tán thán, với lời chân thật, về sự phải nên TIN vào bản kinh A Di Đà, vào pháp môn niệm Phật, vào công đức trí huệ thành tựu. Chúng ta phải có ḷng TIN vững và chắc như thế, th́ mới có thể tu tŕ tinh tấn và có cứu cánh Niết Bàn để hướng nguyện sanh về.

TÍN là nền tảng, là cửa vào của pháp tu Nhất Hạnh Tam Muội. Niềm tin có kiên cố và vững chắc là ở sự nương vào ánh sáng trí tuệ của TRI, tức là yếu tố Văn Huệ và Tư Huệ của Tri Thức, hiểu được chánh pháp, nắm giữ được cương lĩnh của đạo, thấu suốt được nghĩa lư của kinh, tinh tấn tu tŕ đúng theo bản ư của lời Phật dạy. TRI là để hiểu sâu, thấu hiểu được lời Phật dạy. TÍN dựa vào yếu tố TRI, th́ niềm tin sẽ càng vững mạnh và bền chắc, làm tăng trưởng 3 yếu tố NIỆM ĐỊNH HUỆ. 

4 pháp chính trong 37 phẩm trợ đạo mà các tiếng chim diễn xướng qua 6 thời (bao gồm các pháp Ngũ Căn, Ngũ Lực, Thất Giác Chi, Bát Chánh Đạo) là 4 mắt xích phối hợp thành một chuỗi, qua 3 nhóm chung là Tấn Niệm Định. 

Sự đan lưới vào nhau giữa 3 yếu tố Tấn Niệm Định của 4 pháp nầy, làm thành một khối kim cang của giáo nghĩa trợ đạo Ba La Mật tối thượng. Đó là các pháp trợ đạo vô cùng vi diệu, mà người niệm Phật phải nương dựa vào những lư nghĩa đó để phát khởi tín tâm, nghiêm mật tu tŕ, đạt đến cảnh giới Nhất Hạnh Tam Muội, vượt đến bờ bên kia của sự giải thoát. Giáo nghĩa trợ đạo nầy, dựa trên pháp Niệm Phật Tam Muội, theo cách tứ tự mặc niệm, giúp cho người tu học có phương tiện để nương theo đó mà tu dưỡng công đức trí huệ và đạo hạnh.

Thế nào là Tứ tự mặc niệm?

Tứ tự mặc niệm là chỉ niệm 4 chữ A Di Đà Phật và tŕ niệm theo pháp mặc niệm (niệm trong tâm). Trong bước đầu tu tập, người niệm Phật nên thường ngồi yên tịnh một ḿnh, cố gắng giữ tâm cho tĩnh lặng, lắng ḷng mà niệm Phật, để quen dần với cách mặc niệm. Đừng niệm quá nhanh v́ dễ bị niệm dối. Đừng chạy theo số lượng nhiều mà niệm tán loạn. Niệm từng chữ và phải chắc từng chữ. Niệm chữ “A”, tâm nghe rơ ràng chữ “A”. Niệm chữ “Di”, tâm nghe rơ ràng chữ “Di”. Niệm chữ “Đà”, tâm nghe rơ ràng chữ “Đà”. Niệm chữ “Phật”, tâm nghe rơ ràng chữ “Phật”. Khi đă chuyên niệm vững vàng, th́ có thể niệm nhanh theo lối truy đảnh, niệm nầy nối tiếp niệm kia, niệm truy đuổi niệm, niệm niệm gối đầu theo nhau, không một kẽ hở giữa các niệm để vọng tưởng có thể chen vào. 4 chữ danh hiệu A Di Đà Phật có công năng vô cùng diệu dụng và tối thắng, qua công phu tŕ niệm tinh tấn và nghiêm mật của người tu tŕ, được đúc thành một khối kim cang tứ cú kệ vững và chắc.

Thế nào là Kim Cang tứ cú kệ? 

Đó là lưỡi gươm sắc bén làm bằng ngọc báu của trí tuệ, có thể chặt đứt mọi phiền năo, tà kiến, tham, sân, si, mạn, nghi (tham lam, sân hận, ngu mê, ngạo mạn, nghi ngờ). Tứ Cú Kệ là tinh túy cốt tủy của kinh Kim Cang Bát Nhă Ba La Mật: “vô ngă tướng, vô nhân tướng, vô chúng sanh tướng, vô thọ giả tướng”. Sự chấp trước vào nhân ngă tướng là những trở ngại lớn trên bước đường tu đạo mà người niệm Phật thường hay bị mắc phải.

Thế nào là Ngă tướng? Nghĩ rằng ḿnh có cái tốt, cái giỏi hơn người, nên sanh tâm kiêu ngạo chính ḿnh. Trừ diệt được cái chấp về ngă tướng th́ gọi là vô ngă tướng.

Thế nào là Nhân tướng? Nghĩ rằng ḿnh tu hành, giữ giới, niệm Phật, nên khinh rẻ những người chẳng tu hành, chẳng giữ giới, chẳng niệm Phật. Trừ diệt được cái chấp về nhân tướng th́ gọi là vô nhân tướng.

Thế nào là Chúng sanh tướng? Nghĩ rằng ḿnh v́ nhàm chán cơi đời ô trược nầy mà muốn sanh về các cơi lành của Phật, Bồ Tát, chư Thiên. Trừ diệt được cái chấp về chúng sanh tướng th́ gọi là vô chúng sanh tướng.

Thế nào là Thọ giả tướng? Nghĩ rằng ḿnh v́ muốn tạo nhận nhiều công đức trí huệ, có thần thông biến hóa, tự tại vô ngại, sống lâu, mà tu nghiệp phước, làm điều lành, chấp lấy pháp không rời bỏ. Trừ diệt được cái chấp về thọ giả tướng th́ gọi là vô thọ giả tướng.

Đức Phật dạy rằng, muốn trừ diệt những cái chấp tướng, chấp pháp, th́ phải quán chiếu tất cả mọi vật, mọi việc trên thế gian nầy chỉ là cơn gió huyễn mộng. Những ǵ có h́nh tướng, có sắc thể hữu vi, ở cơi Ta Bà nầy, chẳng thể nào trường tồn để chúng ta có thể ôm giữ măi được: “tất cả những ǵ có h́nh tướng, như chiêm bao, huyễn ảo, bọt nước, bóng mờ, như sương mù cũng như ánh chớp, phải nên quán sát là như vậy”.

Trong thời Mạt pháp, muốn tu hành để trừ diệt những cái chấp về ngă tướng, nhân tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng, th́ không có pháp môn nào khác thù thắng hơn pháp tŕ danh niệm Phật. Phải dùng tiếng niệm Phật để dứt trừ những chấp trước về nhân ngă tướng. Khi đạt được cảnh giới Niệm Phật Tam Muội th́ cái nh́n của tri thức ḿnh đă đang bước vào ngưỡng cửa của Vô Tướng.

Khi niệm Phật đến một tŕnh độ nào đó, người niệm Phật sẽ thấy và hiểu – một cách rất sâu xa – về tất cả mọi sự vật chung quanh đúng như bản chất thật sự của chúng. Tất cả mọi hữu thể là sự kết hợp của vạn duyên, và sự kết hợp cứ như vậy mà chuyển biến không ngừng. Mọi vật thể không có thực thể riêng biệt. Tất cả mọi sự vật sinh khởi, tăng trưởng, suy yếu, tàn hoại đều có những khởi duyên và hoại duyên theo cùng với. Bởi bản chất vô thường của chúng là như vậy nên tất cả những ǵ có h́nh tướng trên thế gian nầy giống như chiêm bao, huyễn ảo, bọt nước, bóng mờ, sương mù, ánh chớp.

Theo tinh thần của bản kinh A Di Đà, 2 pháp chính làm nền tảng trợ lực trong pháp môn niệm Phật là Ngũ Căn và Ngũ Lực, kết hợp với nhau như gốc rễ và thân cành lá, qua 5 nhóm chung là Tín, Tấn, Niệm, Định, Huệ. Trong đó, Tín là quan trọng nhất v́ là cái nhân khởi đầu trong pháp tu niệm Phật, và Huệ là cái quả của rốt ráo sau cùng. Có Tín vững chắc th́ mới có Nguyện thiết tha, mới có Hành tinh chuyên, mới có Định của Nhất Tâm Bất Loạn, mới có sự viên măn sáng suốt của Huệ. 

Ở sự chân chánh, dựa trên 2 phạm trù Chánh Kiến và Chánh Tư Duy của Bát Chánh Đạo (tức là sự hiểu biết và suy nghĩ chân chánh), cùng với yếu tố Trạch Pháp của Thất Giác Chi (tức là sự quán sát các pháp, biện giải đúng lư nghĩa) – Tất cả 3 yếu tố nầy đan kết vào nhau, hỗ trợ nhau, từ đấy phát triển sự thấy, sự hiểu, sự suy tư thâm sâu hơn vào giáo nghĩa huyền diệu của bản kinh A Di Đà, giúp ta nh́n thấu suốt những nghĩa lư huyền ẩn và nhiệm mầu của 4 chữ danh hiệu A Di Đà Phật.

Đấy là những điểm tương quan, hợp phối với nhau trên lănh vực Tri Thức, đưa đến sự thành tựu của cái thấy biết có trí huệ (gọi là Tư Huệ và Văn Huệ), nghĩa là trí huệ đạt được từ sự suy tư hiểu biết qua tri thức và sự lắng nghe, học hiểu qua nghĩa lư văn tự. Đồng thời, cùng với sự tinh tấn tŕ niệm danh hiệu Phật ngày đêm 6 thời, một cách chí thành và nghiêm mật, đưa đến sự thành tựu Nhất Tâm Bất Loạn, phát triển trí tuệ sáng suốt (gọi là Tu Huệ), tức là trí huệ đạt được do sự tu hành, chuyên nhất chấp tŕ danh hiệu Phật. Các pháp Ngũ Căn, Ngũ Lực, Thất Giác Chi, Bát Chánh Đạo là 4 pháp chính mà 6 giống chim kỳ diệu đă cùng nhau diễn xướng qua mỗi ngày đêm 6 thời. Những pháp nhiệm mầu như thế (như thị đẳng pháp) và các pháp nhiệm mầu khác nữa, đó là Tứ Vô Lượng Tâm, Lục Độ Ba La Mật, Tứ Chánh Cần, Tứ Như Ư Túc, Tứ Niệm Xứ, Tứ Diệu Đế, Thập Thiện Nghiệp, Tứ Nhiếp Pháp… 

Ư nghĩa huyền diệu của 4 chữ A Di Đà Phật:

– A Di Đà Phật là trí tín nguyện hạnh, từ bi hỷ xả, giới niệm định huệ, vi diệu hương khiết, không tham yêu, không giận ghét, không mê loạn, không sợ hăi, sáng chói vô biên, sống lâu vô cùng, diệu hạnh vô lượng, trí tuệ vô tận. A Di Đà Phật là vô lượng Chánh Đẳng Chánh Giác, vô ngă tướng, vô nhân tướng, vô chúng sanh tướng, vô thọ giả tướng.

– A là mười phương tam thế chư Phật trong 3 thời Quá khứ Hiện tại Vị lai. Di là tất cả chư vị Bồ Tát Thánh chúng trong các cơi giới. Đà là tất cả 84.000 kinh giáo của đức Như Lai. Phật là tỉnh giác, sáng suốt, từ bi.

Thế nào là Tứ Chánh Cần? Tứ Chánh Cần là 4 điều chuyên cần hợp với chánh đạo:

- ngăn ngừa những điều ác chưa phát sinh
- trừ diệt những điều ác đă phát sinh
- làm sanh khởi những điều lành chưa phát sinh
- tăng trưởng những điều lành đă phát sinh

Người niệm Phật phải nghiêm cẩn tu giữ 4 điều chân chánh của Tứ Chánh Cần trong từng mỗi phút giây, bất cứ nơi đâu, bất cứ hoàn cảnh nào, trên cả 3 phương diện: ư nghĩ, lời nói, hành động (thân khẩu ư). Đó chính là pháp tu tổng tŕ của 84.000 giáo pháp Như Lai.

Thế nào là Tứ Như Ư Túc? Tứ Như Ư Túc là 4 pháp để nương tựa tu tập cho công đức đạo hạnh được như Ư:

- mong muốn tu các pháp lành cho được như ư
- tinh tấn tu tập các pháp lành cho được như ư
- chuyên nhất vào các pháp tu cho được như ư
- sáng suốt quán sát tu tập cho được như ư

Thế nào là Tứ Niệm Xứ? Tứ Niệm Xứ là 4 lănh vực quán niệm về thân và tâm:

- thân xác là bất tịnh, nhơ nhớp
- tâm thức là vô thường, biến động
- cảm thọ là khổ ải, mê lụy, trói buộc
- các pháp là vô ngă, không có thực thể riêng biệt

Thế nào là Tứ Nhiếp Pháp? Tứ Nhiếp Pháp là 4 phương pháp để nhiếp thọ chúng sanh theo về chánh đạo:

- bố thí để đưa dẫn người đến với chánh đạo
- nói lời dịu dàng để giúp người an trụ nơi chánh đạo
- làm lợi ích cho người để cùng an trụ nơi chánh đạo
- làm việc chung với người để cùng hướng về chánh đạo

Thế nào là Tứ Diệu Đế? 

Tứ Diệu Đế, c̣n gọi là Tứ Thánh Đế, là 4 chân lư mầu nhiệm trên cuộc đời:

- đời người là khổ với 84.000 phiền năo (khổ đế)
- nguyên nhân của khổ là 108 ái dục (tập đế)
- cứu cánh sau khi diệt khổ là Niết Bàn (diệt đế)
- con đường để diệt khổ là 37 phẩm trợ đạo (đạo đế)

Tất cả những ǵ trên thế gian nầy đều vô thường. Mọi sự việc luôn biến dịch đổi dời. Không một h́nh tướng nào, một tưởng suy nào nằm nguyên một trạng thái. Đó là chân lư vô thường của tất cả vạn vật trần gian. Mọi sự, mọi việc trên cuộc đời nầy, đều trải qua những giai đoạn sinh khởi, biến thể, rồi tàn phai, và bởi tâm chúng ta cố măi bám víu vào sự chiếm hữu, mong cầu tất cả vẫn luôn thường hằng, v́ vậy nên mới có sự khổ. 

Nguyên nhân của khổ là ḷng luyến ái, tham lụy, mê đắm, nuối tiếc, ích kỷ, sân hận, kiêu mạn, tà kiến, chấp ngă… Trong đó, gốc rễ căn bản của khổ là Vô Minh, tức là tâm thức mê mờ v́ bị vọng tưởng che lấp.

Cứu cánh sau khi diệt khổ là Niết Bàn. Cảnh giới của không sanh không diệt, đă dập tắt ngọn lửa của dục vọng, thể nhập vào ánh sáng của chân tánh, đạt đến sự thanh tịnh an vui và tự tại.

Có 2 loại Niết Bàn:

– Hữu dư Niết Bàn: Người chứng đắc tuy đă trừ diệt được phiền năo nhưng chưa hoàn toàn viên măn, vẫn c̣n trở lại sanh tử 1 lần hoặc 7 lần nữa. Đây là quả vị hữu dư của chư Phật vừa chứng đạo, các bậc A La Hán trong Tứ quả Thanh Văn c̣n tại thế.

– Vô dư Niết Bàn: Người chứng đắc đă hoàn toàn giải thoát khỏi sanh tử, đă đoạn dứt tất cả mọi phiền năo và ngă chấp. Đây là quả vị vô dư của chư Phật và các bậc A La Hán đă nhập diệt.

Con đường để chấm dứt sự khổ là 37 phẩm trợ đạo. 37 phẩm trợ đạo bao gồm các pháp: Ngũ Căn, Ngũ Lực, Thất Bồ Đề Phần, Bát Chánh Đạo, Tứ Niệm Xứ, Tứ Chánh Cần, Tứ Như Ư Túc.

Pháp môn Niệm Phật Bát Nhă có công năng phá trừ 84.000 phiền năo, hủy diệt 108 ái dục, làm nền tảng vững chắc cho 37 phẩm trợ đạo, đó là con thuyền Bát Nhă đưa người niệm Phật đến cảnh giới Niết Bàn Tịnh Độ ở trong Tâm của người tu niệm, và có diệu lực thần thông vượt qua 10 tỷ cơi nước Phật, thẳng tới Tây phương Cực Lạc của đức Phật A Di Đà.

108 loại ái dục, tính theo sáu căn: mắt tai mũi lưỡi thân ư, mỗi căn bị trói buộc bởi 6 món phiền năo căn bản là tham, sân, si, mạn, nghi, tà kiến, qua 3 thời Quá khứ Hiện Tại Vị Lai, tất cả là 108 loại (6 x 6 x 3 = 108).

Thế nào là Tứ quả Thanh Văn? 

Thanh Văn là hàng đệ tử Tiểu thừa, đă chứng đắc đạo quả, đă đoạn dứt phiền năo và ngă chấp. Có 4 bậc Thanh Văn, gọi là Tứ quả Thanh Văn: 

– Tu Đà Hoàn (quả vị dự lưu): người nầy đă thể nhập vào gịng Thánh nhưng vẫn phải sanh tử 7 lần nữa ở cơi Ta Bà v́ c̣n bị chi phối rất nhiều bởi các phiền năo của Tư hoặc.

– Tư Đà Hàm (quả vị nhất lai): người nầy chỉ c̣n sanh tử 1 lần nữa ở cơi Ta Bà v́ đă trừ diệt được Kiến hoặc và ít nhiều phiền năo của Tư hoặc.

– A Na Hàm (quả vị bất lai): người nầy chẳng c̣n trở lại thế giới Ta Bà nữa v́ đă trừ diệt tất cả mọi phiền năo của Kiến hoặc và Tư hoặc ở cơi Dục.

– A La Hán (quả vị vô sinh): người nầy đă chứng đạo viên măn, đă liễu thoát sanh tử, đă trừ tuyệt tất cả mọi phiền năo của Kiến hoặc và Tư hoặc trong Tam giới.

Thế nào là Tam giới? 

Đó là 3 cơi: Dục giới, Sắc giới, Vô Sắc giới.

– cơi Dục: cảnh giới của dục vọng, đó là các cơi Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sanh, A Tu La, Người, và những cơi Trời Tứ Đại Thiên Vương, Đao Lợi, Dạ Ma, Đâu Suất, Hóa Lạc, Tha Hóa Tự Tại.

– cơi Sắc: cảnh giới phúc hạnh của Thiền, có sắc thể, được kiến lập trong hư không, của các bậc Phạm Thiên (các vị Trời đă dứt trừ mọi tham dục). 

– cơi Vô Sắc: cảnh giới vi diệu của Thiền, không có sắc thể, đó là cơi Tâm Thức, được xây dựng trong hư không, các vị ở cơi nầy có thọ mạng lâu dài nhất trong 3 cơi.

Theo tinh thần của bản kinh A Di Đà, Niết Bàn Cực Lạc của Phật A Di Đà là cơi sáng vĩnh hằng, miền an dưỡng thiêng liêng và kỳ diệu, nơi chốn của công đức trí huệ và đạo hạnh, ở ngoài tam giới, cách xa cơi trần gian 10 tỷ thế giới của chư Phật. Nếu nói về lư (thực tướng), Cực Lạc là cảnh giới thanh tịnh nhiệm mầu ở trong tâm của người niệm Phật, đó là tự tánh A Di Đà vô lượng quang vô lượng thọ. Khi người niệm Phật đạt được cảnh giới Nhất Tâm Bất Loạn, th́ Niết Bàn Cực Lạc ở ngay trên thế giới Ta Bà nầy.

Thế nào là Kiến hoặc?

Kiến hoặc là 10 món phiền năo do sự chấp trước vào thân và cảnh mà khởi sinh ra ư thức phân biệt sai lầm. 

Đấy là những phiền năo gắn liền với ư thức và chỉ phát khởi trên phương diện ư thức. Đó là tham,