|
2. TƯỜNG THÍCH
(Giải thích rơ 10 môn trên)
Trước từ Giáo khởi sở nhơn đến 10 là Biệt giải văn nghĩa.
GIÁO KHỞI SỞ NHƠN (phân ra làm hai phần)
1. Tổng: Giải rơ phần chung.
2. Biệt: Giải rơ phần riêng.
1. TỔNG
Chánh Văn: Trước nói rơ phần Tổng là chỉ v́ nhơn duyên
của một việc lớn mà
đức
Như Lai, Ngài phải xuất hiện ra thế giới này. Giáo pháp của Ngài
thuyết ra trong một đời, tóm chỗ đại ư: chỉ v́ muốn khai thị cái tri
kiến của Phật cho chúng sanh ngộ nhập. Nay kinh này cố ư chỉ ngay cho
chúng sanh: dùng tâm niệm Phật để vào chỗ tri kiến của Phật.
Chú Giải: "Đại sự nhân duyên" (52) là dẫn câu văn trong
kinh "Pháp Hoa". Kinh kia nói lư do đức Như Lai ra đời, bổn ư Ngài
muốn độ tất cả chúng sanh đều được thành Phật. V́ bất đắc dĩ mà Ngài
phải quyền biến nói ba thừa, đến sau căn cơ của các đệ tử thuần thục,
Ngài mới hội ba thừa qui về Nhứt Thật, mới vừa cái bổn ư của Ngài. Nên
biết: Từ nói kinh "Hoa Nghiêm" về sau, kinh "Pháp Hoa" về trước, trong
khoảng thời gian đó tuy Phật thuyết có nhiều pháp môn cao, thấp, không
đồng; nhưng đâu chẳng phải v́ một đại sự nhân duyên đây. Trừ ngoài một
đại sự ấy, lại không có một đại sự thứ hai nữa.
Nay kinh này nói: "Hễ nhứt tâm tŕ danh hiệu của Phật A Di Đà,
tức được bực bất thối chuyển". Đây là chỉ ngay tự tâm của phàm phu rốt
ráo được thành quả Phật. Nếu tin chắc như thế, cần ǵ phải trải qua ba
thừa để học, lâu xa nhiều kiếp để tu, mà chỉ không vượt ra ngoài một
niệm, mau chứng quả Bồ Đề, đâu không phải là
đại
sự hay sao?
2. BIỆT
Chánh Văn: Biệt là chuyên theo kinh này cũng có mười
nghĩa:
1. V́ ḷng đại bi thương xót chúng sanh, nên Phật nói kinh này
để làm cầu bến cho đời mạt pháp.
2. V́ trong vô lượng pháp môn riêng rút ra một phương tiện tối
thắng này.
3. V́ chê khổ khen vui để cho chúng phàm phu trong đường sanh tử
dấy ḷng ưa cơi vui, nhàm cơi khổ.
4. V́ giáo hóa dẫn dắt hàng nhị thừa chấp không chẳng tu Tịnh Độ.
5. V́ khuyên các người mới phát tâm hành Bồ Tát Đạo, nên gắng
tới niệm Phật, để được gần gũi Như Lai.
6. V́ thâu nạp hết căn lợi, độn thảy đều được độ thoát.
7. V́ hộ tŕ người tu hành nhiều chướng nạn, để khỏi bị sa đọa.
8. V́ chính chỉ ngay nơi cái tâm hữu niệm, đặng chứng vào cái lư
vô niệm.
9. V́ cách chỉ dạy rất khéo là nhơn cầu văng sanh mà thật ra là
ngộ quả "vô sanh".
10. V́ chỉ rơ đường tắt tu hành, lại đường tắt trong đường tắt
nữa.
Chú Giải: Với lời giải thích sẽ thấy văn sau mà mỗi bài
nổi lên có lớp lang liên tiếp, dụ như sợi dây chuyền tṛng kế nhau
luôn.
1. Bởi chúng sanh mê
đắm,
Phật v́ đó làm cầu bến.
2. Sở dĩ làm cầu bến được là v́ nhờ có phương tiện tối thắng.
3. Sao là phương tiện tối thắng? V́ có cái tài độ chúng phàm phu.
4. Không những chỉ độ chúng phàm phu mà cũng độ cả hàng nhị thừa
thánh nhơn nữa.
5. Chẳng những hàng nhị thừa mà cũng độ cả đến Bồ Tát kia.
6. Đâu những riêng độ trong loài người mà cũng phổ độ tất cả
chúng sanh ở các loài.
7. Chẳng những chỉ độ chúng sanh lúc b́nh thường, cũng độ cả
trong khi bị chướng nạn.
8. Tuy rằng độ sanh rộng lớn như thế, thật ra không ngoài một
niệm của chúng sanh đặng vào lư "Vô Niệm".
9. Đă nói hữu niệm đặng lư "Vô Niệm" th́ cũng ngay nơi văng sanh
đặng chứng quả "Vô Sanh".
10. V́ gồm suốt chín môn trước, để biết Pháp môn tŕ danh niệm
Phật đây là
đường
tắt (tŕ danh) trong đường tắt (các pháp niệm Phật).
Lại do v́ đường tắt trong đường tắt đây, mới có thể làm cầu, bến
cho đời mạt pháp.
Thế là trước, sau thứ lớp; đầu, cuối xoay vần, cho nên nói: "Cũng
như dây chuyền".
Chánh Văn: Một: V́ ḷng đại bi thương xót nên làm cầu,
bến cho chúng sanh đời Mạt Pháp là khi Phật thành đạo đă đương thời ác
trược, huống chi nhằm đời Mạt Pháp, chính ở vào thời kỳ đấu tranh kiên
cố, lần hồi thảng mảng (ṃn mỏi) sau lại càng sau, đều nhờ thần lực
kinh này cứu vớt chúng - sanh sau đẻ muộn ở đời rốt, kiếp tàn; như vậy,
đâu chẳng phải là ḷng từ bi cực điểm dự pḥng để pháp tế độ ư!
Chú Giải: Đă đương thời ác trược là thế giới này, đến khi
mà con người ai cũng sống c̣n chỉ có hai vạn tuổi, tức đă bắt đầu vào
cái thời kiếp trược. Thuở đức Thích Ca ra đời, người sống chỉ c̣n trăm
tuổi, đă là khá thương! V́ trải qua đời ác trược đă lâu lắm!
"Chính vào thời kỳ đấu tranh" là: Năm trăm năm trước nhứt, về
thời kỳ giải thoát kiên cố; dần dần mỗi số; năm trăm năm thứ nh́ là
thời kỳ tu Thiền định; 500 năm thứ ba, người thông thái học đạo; 500
thứ tư, dựng lập chùa tháp. Nay chính đương thời kỳ thứ năm là
đấu
tranh kiên cố (53) lại là
đáng
thương!
"Sau lại càng sau" là nhẫn đến khi mà thời kỳ pháp diệt hết, lại
càng đáng thương hơn nữa. Thế nên Phật nói kinh này, lược kể ḷng đại
bi có ba điều cảm khái chí mật thiết:
1. Thưở Phật c̣n tại thế, v́ rất thương chúng sanh trong số kiếp
ngũ trược ác thế này, nên Ngài nói pháp tŕ danh niệm Phật là pháp mà
chúng sanh lấy làm khó tin, đây là ḷng đại bi thương xót chúng sanh
lần thứ nhứt.
2. Sau khi Phật diệt độ về sau, kẻ tu hành phần đông là hạng
phước huệ càng ngày càng kém, tội chướng mỗi bữa một thêm nhiều, làm
ǵ mong thấy được Phật, nên Phật nói kinh này là
để
chúng sanh đời sau tuy không được thấy Phật và Phật đă diệt, nhưng
pháp tŕ danh niệm Phật vẫn c̣n; hễ ai có ḷng tín niệm, th́ chóng
khỏi đường sanh tử, được văng sanh thấy Phật Di Đà. Đây là ḷng đại bi
thương xót chúng sanh lần thứ hai.
3. Như trong kinh Đại Bổn nói: Sau Phật diệt độ khoảng lâu xa
đến cuối đời mạt pháp, các bổn kinh to dài ḍng, và
đạo
pháp khó tu, đều lần hồi tiêu diệt hết, v́ chúng sanh không đủ sức để
học tu kinh pháp ấy! Chỉ riêng c̣n một bổn kinh này ở đời độ sanh, đến
rốt sau mới diệt. Thế th́ đủ biết: lúc nước ngập nhẫy trời, c̣n có
thuyền từ cứu vớt, đ êm
khuya tăm tối hăy c̣n đuốc huệ sáng soi. Đây là ḷng đại bi thương xót
chúng sanh lần thứ ba vậy.
Ví như đấng cha lành lo nghĩ cho đoàn con dại, v́ ḷng thương vô
hạn, dành để lại nghề nuôi sống, có thể với chắt chít sâu xa, ḍng dơi
thừa sót, đến nỗi gia sản điêu tàn, thân h́nh bần khổ cũng c̣n chỗ nhờ
cậy. Nên nói ḷng từ bi rất tột, pḥng để pháp tế độ chúng sanh.
Chánh Văn: Hai: Đặc biệt là với vô lượng pháp môn đưa ra
một môn phương tiện tối thắng.
Vào đạo có nhiều môn vốn không lựa chọn, nhưng với chỗ đ èo
cao, đồng bằng, đường cong, nẻo thẳng th́ khó, dễ tự phân, nên ở trong
vô lượng pháp môn, chỉ có một môn niệm Phật là phương tiện tối thắng,
lược kể có bốn:
1. Phương tiện thứ nhất: Với kiếp không gặp Phật ra đời, song mà
thường được thấy Phật.
2. Phương tiện thứ hai: Dầu chưa đoạn hoặc nghiệp cũng được
thoát kiếp luân hồi.
3. Phương tiện thứ ba: Không nhọc công tu các hạnh khác mà
đặng
chứng pháp ba la mật.
4. Phương tiện thứ tư: Không phải trải qua nhiều kiếp mà chóng
được giải thoát.
Chú Giải: Pháp môn là cái thể của đạo, nó kín nhiệm thậm
thâm, phải từ cửa mới bước vào được. Mà lập pháp môn không đồng v́ mỗi
căn cơ khác nhau nên nói vô lượng; khéo léo dắt dẫn khiến được nhập
môn, gọi là phương tiện. Mà nói chữ "Thắng" là phương tiện trong
phương tiện. Tức trong "Quán kinh" chỗ nói rằng khác đó là
đây.
"Nhiều môn" là: Có người hỏi rằng: Với những pháp môn khác đều
có thể vào đạo được, hà tất riêng tu môn niệm Phật mới được văng sanh?
Đáp: Các môn tuy nhiều nhưng có khó và dễ khác nhau, thế nên
không ngại chi với cái không lựa chọn mà có thể nói lựa chọn.
Hiểm đường đ èo
ải gập ghềnh khó đi. Khúc đường quanh quẹo khó đến là dụ các pháp môn
kia. Bằng thẳng th́ dễ đi, là dụ như pháp môn niệm Phật, ai cũng có
thể tu hành được. "Thẳng mau th́ dễ đến" là dụ tu pháp môn niệm Phật
mau vượt khỏi đường sanh tử. Như bà Vi Đề Hi xem khắp cả các cơi Phật
trong mười phương mà chỉ muốn nguyện sanh về thế giới Cực Lạc Phật A
Di Đà.
Thường được thấy Phật là trong "Khởi Tín Luận" đă chỉ rơ pháp "Chơn
Như Tam Muội" (54) và hai môn Chỉ (55), Quán rồi. Lại nói có người mới
học pháp quán nầy, tâm c̣n hèn nhát, cho rằng cơi Ta Bà không được
thường gặp Phật. Sợ tín tâm không vững; đức Như Lai có phương tiện rất
hay để nhiếp hộ tín tâm kia, bảo họ chuyên ḷng niệm Phật liền đặng
sanh về cơi Phật, thường được thấy Phật. Như trong tạng Kinh nói: "Chuyên
niệm đức Phật A Di Đà ở thế giới Cực Lạc Tây Phương, sẽ được văng sanh
không hề lui sụt", c̣n kinh A Di Đà
đây
nói: "Bảy ngày nhứt tâm chắc được Phật hiện trước mặt".
Cho nên biết rằng trên hội Linh Sơn, Phật Thích Ca đă nhập diệt,
c̣n hội Long Hoa th́ đức Di Lặc (56) chưa ra đời. Trong kỳ khoảng giữa
không có Phật ra đời mà vẫn được thấy Phật, đây là pháp phương tiện
tối thắng thứ nhất.
Được ra khỏi luân hồi là: do nơi vọng hoặc sanh hành nghiệp
(57), có nghiệp cảm thụ quả báo, rồi phải trôi lăn qua lại trong sáu
đường để chịu khổ măi không thôi. Y theo pháp khác tu hành, đến chứng
vọng hoặc hết, mới được thoát ly luân hồi. Nhưng mà trong thời kỳ tu
tập đó, với những nỗi đầu thai chuyển kiếp giữa thế gian cũng chưa
chắc giữ cho được khỏi cái khổ thăng trầm. Duy có pháp môn niệm Phật
đây, dầu c̣n mang nghiệp cũng được văng sanh. V́: một là do sức niệm
Phật của ḿnh, hai là nhờ thần lực cao cả của Phật bảo đảm, nhiếp thọ.
Một phen mà
được
sanh về nước kia liền vượt ra khỏi ngoài ba cơi, không c̣n bị luân hồi
trong sáu thú. Nên kinh nói: Chúng sanh niệm Phật, được sanh về đó rồi
đều chứng lên bực Bất Thối Chuyển. Đây là pháp phương tiện tối thắng
thứ hai.
Đặng pháp Ba La Mật là các vị phát tâm hành Bồ Tát đạo, có vị đă
trải qua trong hằng hà sa kiếp để tu pháp lục độ, vạn hạnh mà cũng
chưa hoàn toàn công hạnh được! Thế mà nay đây chỉ có nhứt tâm niệm
Phật: muôn việc trần tự nhiên dứt bỏ, tức là pháp "Bố Thí Ba La Mật".
Nhứt tâm niệm Phật, các việc ác tự dứt, tức là "Tŕ Giới Ba La Mật".
Nhứt tâm niệm Phật, ḷng được nhu ḥa mát dịu, tức là "Nhẫn Nhục Ba La
Mật". Nhứt tâm niệm Phật, vĩnh viễn không bị thối lui, đọa lạc, tức là
"Tinh Tấn Ba La Mật". Nhứt tâm niệm Phật, không sanh các vọng tưởng,
tức là "Thiền Định Ba La Mật". Nhứt tâm niệm Phật, chánh niệm rơ ràng,
tức là "Bát Nhă Ba La Mật". Suy xét cho cùng tột th́ không ra ngoài
nhứt tâm niệm Phật mà muôn hạnh được đầy đủ cả. Như trong kinh Đại Bổn,
ngài Pháp Tạng có phát nguyện rằng: "Khi ta thành Phật, chúng hữu t́nh
trong nước ta, nếu không được thần thông tự tại ba la mật th́ ta không
lănh lấy ngôi chánh giác làm chi". Đây là phương tiện tối thắng thứ ba.
"Chóng đặng giải thoát" là: Trong bộ "Trí Độ Luận" nói: Có các
vị Bồ Tát tự nhớ ḿnh thuở trước chê bai pháp Đại Bát Nhă nên đọa
trong ba đường dữ, rồi ra đi tu, đă trải qua nhiều kiếp. Tuy hành các
hạnh khác, nhưng không diệt được tội, sau gặp bạn tri thức dạy niệm
danh hiệu Phật A Di Đà mới tiêu được tội chướng siêu sanh Tịnh Độ. Lại
trong kinh "Thập Trụ", đoạn kết có nói: Khi ấy trong pháp hội có bốn
ức chúng Bồ Tát, tự biết ḿnh lắm đời về trước đă chết đây lại sanh
kia, liên miên không dứt, là bởi nguồn gốc do ḷng tham muốn; nghĩ thế
chán ngán, rồi muốn sanh về cơi nước nào không c̣n ḷng ham muốn. Phật
bảo: "Bên Tây phương cách đây vô số quốc độ có đức Phật hiệu là Vô
Lượng Thọ, dân chúng trong cơi kia rất thanh tịnh, không có ḷng: dâm,
giận, và ngu si, v́ hóa sanh bằng hoa sen, chớ không do cha mẹ sanh đẻ
như cơi này. Các ngươi hăy cầu sanh về cơi kia". Thế nên trong kinh "Đại
Bổn" nói: "Bồ Tát muốn làm cho chúng sanh kíp mau an trụ trong đạo quả
Vô Thượng Bồ Đề đây th́ cần phải phát triển cái nghị lực tinh tấn, để
nghe tu theo pháp môn này".
Nên biết rằng: Tu các pháp khác ví như con kiến ḅ lên núi; tu
môn niệm Phật này cũng như thuyền đi thuận nước, xuôi gió (58); thế sự
mau, chậm cách nhau như trời với vực. Bực cổ đức có nói: "Muốn tu chỉ
một đời được chứng quả th́ phải để tâm nơi pháp này". Đây là phương
tiện tối thắng thứ tư.
Chánh Văn: Ba: V́ chê khổ khen vui để cho chúng phàm phu
trong đường sanh tử, sanh ḷng ưa cơi vui nhàm cơi khổ.
Bởi các chúng sanh mê quên tự tánh, cam chịu luân hồi, đă từ
nhiều kiếp đến nay mà cũng chưa tỉnh ngộ nên đức Phật mới chỉ bày hai
cơi "Khổ", "Vui", mở lập hai môn "Chiết" và "Nhiếp", chê khổ khen vui,
khiến cho ưa vui, nhàm khổ, tâm Bồ Đề đă phát, tịnh nghiệp mới thành.
Chú Giải: Nếu cứ theo pháp môn b́nh đẳng mà luận th́ có
chi là sạch, có chi nhơ mà ḥng ưa, nhàm. Thế làm ǵ có lập ra hai môn
"Chiết" và "Nhiếp"? Nhưng, nay với chúng phàm phu c̣n ở trong sanh tử,
mê mất chơn tâm rượt theo cảnh trần, trải lâu chịu đủ cách luân hồi,
quay cuồng măi không biết bao lần lên xuống, đ ành
ḷng cam chịu, chưa từng có một niệm giác ngộ tấn tu để cầu nguyện
giải thoát. Nếu nay đă ngăn không giúp họ sự ưa vui, nhàm khổ mà lại
muốn cho họ giác ngộ ngay nơi tự tâm th́ có khác nào ếch ruộng, cá
giếng (59), đă không cho thêm nước mà lại trách nó sao chẳng trồi lên…
th́ càng thêm ch́m đắm, đối với sự trách có ích ǵ? V́ thế, nên chính
trong cái lẽ không khổ, không vui mà
đức
Phật chỉ rơ ra có cảnh khổ cơi vui, dùng pháp "chiết phục" để diệt trừ
mọi nỗi khổ, bày môn "nhiếp thọ" làm cho được an vui. "Chiết phục" là
khuyến khích chúng si mê, làm cho họ sanh nhàm ĺa; "nhiếp thọ" th́
nưng dỗ những chúng biếng trễ khiến họ sanh ḷng ưa muốn. Vậy sau
những chúng đă ở lâu trong cảnh khổ bùn śnh (ngũ dục) mới chê là cảnh
nhơ nhớp, vừa nghe cơi Phật thanh tịnh trang nghiêm mới phấn chấn cầu
sanh. Chừng đó mới biết rằng: Cơi nầy là
đống
lửa lớn, cơi kia là ao nước mát. Th́ lẽ tất nhiên là những chúng sanh
đă bị lửa phiền năo thiêu đốt từ lâu, nay há chẳng nên tránh cơi này
mà về cơi kia ru. Phương tiện độ sanh lẽ phải như thế, đă sanh về nước
kia thấy Phật nghe pháp, đặng Vô Sanh nhẫn mới ngộ bản tâm ḿnh đây,
xưa nay vốn b́nh đẳng.
Chánh Văn: Bốn: V́ để giáo hóa dẫn dắt hàng nhị thừa chấp
không chẳng tu Tịnh Độ là bởi do hàng nhị thừa vừa chứng được lẽ "Ngă
không" liền sanh ḷng đắm trước (ưa thích), nghe nói đến việc làm cho
cơi Phật thanh tịnh là phải giáo hóa chúng sanh th́ ḷng họ không ham
muốn, nên nay khiến họ hồi bỏ tâm Tiểu Thừa, để hướng về Đại Thừa là
phát ư niệm Phật cầu nguyện văng sanh.
Chú Giải: Vừa chứng được lẽ "Ngă không" là hàng Tiểu Thừa
chỉ mới giác ngộ được trong thân ngũ uẩn không có cái Ngă làm chủ, chớ
chưa biết cả ngũ uẩn cũng là không nữa nên mới chấp cảnh là có, rồi
chỉ muốn tránh cảnh khổ ồn ào, trốn về cảnh vui vắng lặng. Nếu nghe
nói đến cảnh Tịnh Độ để cho chúng sanh niệm Phật sanh về bằng cách hóa
sanh th́ ḷng không ưa thích. Như các hàng Thinh Văn, không thấy được
thần lực Phật Lô Xá Na và không được dự vào đại hội của các vị Bồ Tát,
là v́ bổn ư họ không hoan nghinh về chỗ nói công đức thanh tịnh các
cơi Phật trong mười phương. Bực cổ đức nói: "Hàng Tiểu Thừa không nhận
cái lối nói có cơi Phật khác" (Di Đà). Bên Đại Thừa th́ nói có vô số
cơi Phật. Đức Thế Tôn gọi bậc Tiểu Thừa là hàng "độc thiện kỳ thân",
(60) cũng kêu là bọn "độn căn A La Hán". Cho nên Phật dạy họ quày tâm
đoạn diệt (61), tu hạnh Tịnh Độ, mới biết ḷng bi trí, sức hạnh nguyện
của Phật, Bồ Tát rộng lớn như thế, vô cùng như thế. Tâm không ngại
cảnh, cảnh chẳng ngại tâm, tất cả các pháp bổn tánh nó tự không, thành
thử trọn ngày độ sanh, nhưng trọn ngày không chấp độ. Thế mà những kẻ
chỉ riêng tu Thiền Định, không nguyện văng sanh, thật là lầm lắm vậy!
Chánh Văn: Năm: V́ khuyên các người mới phát tâm hành Bồ
Tát đạo nên gắng tu niệm Phật, để được gặp Như Lai là bởi bực mới phát
tâm hành Bồ Tát đạo (62), tâm Đại Thừa ấy mới kiến lập nhưng sức thắng
nhẫn chưa thành; cũng như chim con lông cánh c̣n yếu, chỉ nên chuyền
cành và
đứa
con bé thơ, cần phải gần bên mẹ; khi mà Bồ Tát đă vào hội chánh định
tụ gần gũi đức Thế Tôn, mới đặng nhẫn lực, chứng pháp "Vô Sanh" trọn
thành quả Phật.
Bấy giờ ngồi thuyền đại nguyện vào biển khổ độ sanh. Như trong
Trí Độ Luận đă nói: "Vả chăng tu Bồ Tát đă đến bực lục trụ mà c̣n thối
mất tâm Đại Thừa, nhiều kiếp làm Thinh Văn". Xem như "trứng cá", "bông
xoài" đủ làm gương soi rơ.
Nên biết pháp niệm Phật là cha của Bồ Tát v́ sanh đẻ ra pháp
thân; cho đến cả Thập Địa Bồ Tát trước sau chẳng ĺa pháp niệm Phật
th́ bực sơ tâm Bồ Tát đâu nên tự cho là
đủ,
mà không nguyện văng sanh ư?
Chú Giải: Bộ Trí Độ Luận nói: "Chúng cụ phược phàm phu
(63) dẫu có ḷng đại bi muốn sanh trong đời ác trược để cứu khổ cho
chúng sanh, thật là vô lư. V́ sao? V́ phiền năo quá mạnh, mà chưa được
sức nhẫn, tâm duyên theo cảnh sắc, thinh ràng buộc, phần ḿnh đă đọa
trong tam đồ, th́ đâu có thể cứu được người?"
Dầu cho được sanh trong loài người, nhưng đối với quả Phật cũng
khó đặng. V́ nhờ có tu phước đức bố thí, tŕ giới từ kiếp trước, nay
hoặc đặng làm vua, làm quan, bị cái phước giàu có bắt phải ham sướng
mê vui! Ví dầu có gặp thiện tri thức cũng không chịu tin theo. V́ ngu
mê phóng túng, tạo nhiều tội ác, do đây phải đọa lạc nữa.
Lại dụ như hai người đối với việc cứu kẻ bị đắm nước: một người
vội nhảy ngay xuống nước để cứu th́ cả hai bị ch́m luôn. Một người
biết dùng phương tiện: Đi lấy thuyền bè bơi ra cứu vớt, cả hai đều
khỏi nạn. Người mới phát tâm Bồ Tát muốn độ sanh cũng lại như thế. Cần
phải gần gũi Như Lai, được thuyền từ là pháp "Vô Sanh Nhẫn" rồi, mới
có thể vào biển khổ cứu độ chúng sanh, như người kia được thuyền, cứu
đặng nạn chết đắm.
Luận ấy nói: "Ví như đứa bé nếu mà ĺa mẹ th́ nó sẽ té xuống
hầm, xuống giếng, hoặc khát sữa phải chết. Lại như chim con lông cánh
c̣n yếu, chỉ nên nương cây chuyền cành, khi lông cánh đă cứng cáp rồi,
mới có thể bay liệng giữa hư không thung dung tự tại được".
Cũng như phàm phu chưa có sức nhẫn, chỉ nên chuyên niệm Phật A
Di Đà, cho được chánh định (tam muội). Lúc lâm chung được chánh niệm,
quyết định văng sanh, thấy Phật, đủ sức nhẫn rồi, trở lại trong cơi
này để cứu độ chúng sanh.
"Chánh định tụ" là
để
lựa riêng biệt với tà
định
và bất định. V́ phàm phu, tà ma, ngoại đạo nhứt định không có phần
đấy. Bực sơ phát tâm tu hạnh Bồ Tát, hoặc tấn lên Đại Thừa hay lui
xuống Tiểu Thừa cũng chưa nhất định. Nay được An Dưỡng của Phật A Di
Đà rồi, không luận phẩm vị cao thấp, đều đặng bực bất thối chuyển cả,
mới gọi là chánh định. "Chữ "Tụ" là nhóm, tức là một nhóm người chánh
định. Chính trong kinh nói: "Các người bực thượng thiện nhóm hội". V́
rằng đă vào trong hội này là
được
thấy Phật nghe pháp.
"Bồ Tát lục trụ c̣n lui mất tâm Đại Thừa" là: ông Thân Tử phát
tâm tu hạnh Bồ Tát, đă chứng được bực trụ thứ 6 (trong Thập Trụ) của
Biệt giáo; nhơn gặp lúc người Bà La Môn xin tṛng con mắt (64) nhẫn
không được, liền thối tâm Đại Thừa, luân hồi trong năm đường (65).
"Nhiều kiếp làm Thinh Văn" là có nhiều vị như ông Xá Lợi Phất
chẳng hạn, đă phát tâm từ đời Phật Đại Thông Trí Thắng, do nhẫn không
được nên phải lui sụt tâm Đại Thừa, đọa xuống hàng Thinh Văn nhiều
kiếp bằng số vi trần điểm đến nay.
Nên trong kinh nói: Bầy cá ṛng ṛng, bông xoài, Bồ Tát sơ phát
tâm; ba sự đây trong cái nhơn th́ nhiều, đến chừng kết quả chẳng c̣n
bao nhiêu. Dẫn lời đây để chỉ rơ bực sơ tâm Bồ Tát cần phải gần gũi
đức Như Lai đặng chỗ nương dựa vững vàng, để khỏi bị lui sụt vậy.
"Pháp niệm Phật là cha của Bồ Tát": Trong kinh Hoa Nghiêm quyển
thứ mười một nói: Ông Oai Quang đồng tử nhơn thấy tướng của đức Như
Lai mà
đặng
mười món mợi ích. Món đầu nói: Đặng pháp niệm Phật tam muội (66) gọi
là pháp môn "Vô Biên Hải Tạng". Lời sớ kinh ấy nói: "Pháp niệm Phật
tam muội là cha của Bồ Tát nên trước nhất nói đó". Bởi do Bồ Tát dùng
pháp phương tiện làm cha (67) mà pháp niệm Phật đây chính nhằm thật
sự, v́ đó là phương tiện; lại niệm Phật được thành Phật, v́ đó là hột
giống thân sanh (68).
"Thập Địa trước sau" là: Trong văn Thập Địa từ trước đến sau,
địa nào cũng nói tất cả việc ra làm, không rời pháp niệm Phật. Lại nói
bực "Viễn Hành" địa (69) Bồ Tát tuy biết tất cả cơi nước cũng như
không có mà hay dùng hạnh thanh tịnh nhiệm mầu, để trang nghiêm cơi
Phật (70). Trong kinh Như Lai Bất Tư Ngh́ Cảnh Giới nói: Ông Bồ Tát
đến lúc rơ biết chư Phật và tất cả pháp đều duy một tâm lượng th́ đặng
sức nhẫn tùy thuận (71), hoặc được vào bực Sơ Địa; đến khi bỏ thân
liền sanh vào thế giới "Diệu Hỉ" (72), hoặc sanh trong cơi Cực Lạc
thanh tịnh của Phật, nên ngài Long Thọ là do bực Sơ Địa (73) mới được
văng sanh. Ông Ma Ta Kiệt là do đắc pháp nhẫn mới được văng sanh. Chí
như đức Văn Thù, Phổ Hiền (74) v.v… cho đến hết thảy các vị đại Bồ Tát
đông lắm không thể kể xiết mà cũng đều phát nguyện văng sanh, huống
chi bực sơ tâm Bồ Tát mà không cầu văng sanh ư?
Ngài Vĩnh Minh nói: "Muốn gá thân nơi đ ài
sen để ĺa hẳn cái khổ bào thai nơi bụng mẹ, sanh về nước Cực Lạc là
quốc độ của chư Phật, đă đắc pháp thần thông du hí (75) th́ những
người ấy đều là
đă
hiểu rơ được tự tâm rồi, không vị nào mà không dạy chúng văng sanh".
Ngài Thiên Như nói: "Các ngươi nếu giác ngộ được tự tâm rồi th́
với việc văng sanh về Tịnh Độ dẫu sức mạnh bằng ngàn trâu, không thể
kéo lại được". Thế thời ông Sơ phát tâm Bồ Tát tuy là hiểu rơ, nhưng
c̣n cách Phật rất xa, nên chính phải cầu nguyện văng sanh không nên
trễ vậy.
Chánh Văn: Sáu: V́ thâu nhiếp cả các căn, lợi, độn cũng
đều thoát là bởi các pháp môn khác, có môn quá cao thời kẻ hạ cơ không
phần nhờ, có môn quá thấp thời không hợp với sức thượng căn, thế nên
đức Phật ban đầu nói kinh Hoa Nghiêm, các bậc tiểu căn như đui như
điếc. Ông Ưu Ba Ly đem trí như lửa đom đóm để xét, kết thêm tội cho
hai thầy bí sô. Chỉ có một pháp môn niệm Phật này, thượng cơ hay hạ
căn cũng được gồm thâu, v́ đều thích hợp; khá gọi rằng: Như vị thuốc A
Già chữa lành muôn chứng bệnh; ḷ lớn đúc thành ngàn món đồ; đâu không
phải là cửa từ bi mở rộng, pháp phổ độ không bỏ sót một căn cơ nào?
Chú Giải: "Như đui" là: Đức Như Lai lúc ở trong rừng Thệ
Đa (76) diễn nói kinh Đại Hoa Nghiêm, lúc ấy các bực thượng đức Thinh
Văn như các ông Thân Tử, Mục Kiền Liên v.v… lănh hội không nổi, dụ như
đui như điếc, không thấy không nghe chi cả (77) cho đến bực Tích Hạnh
Bồ Tát c̣n nói là phơi mang (78). Đấy rơ biết rằng v́ pháp môn cao,
đạo lư đại mà căn cơ th́ tiểu.
"Kết thêm tội" là: Trong kinh Tịnh Danh nói: Có hai thầy bí sô
phạm giới căn bản bằng trường hợp vô tâm, đến phát lồ sám hối; ông Ưu
Ba Ly y luật Tiểu Thừa để định tội làm cho hai ông chẳng giải đặng
ḷng nghi (79). Ông Tịnh Danh quở rằng: "Ngài Ưu Ba Ly! Ngài chớ đem
pháp thường làm nhiễu loạn tâm kia, chồng thêm tội cho hai thầy bí sô
ấy". Đức Vĩnh Gia (80) phê b́nh trí soi xét của ngài Ưu Ba Ly như lửa
đom đóm, rằng đă không khai ngộ chỗ mê lầm của hai ông, mà trở lại làm
tăng thêm nữa. Đây rơ biết rằng v́ pháp môn thấp mà căn cơ thâm, giáo
lư lại thiển.
Ngoài ra như đem pháp Bất Tịnh Quán lầm trao cho anh thợ rèn,
pháp Sổ Tức đem dạy cho người giữ mồ (81) không lợi ích chi cả. Chỗ
lập môn kia, đây (Đại Thừa, Tiểu Thừa) cũng lại đều khác; mà căn cơ có
cao, thấp, có lớn, nhỏ, thế nó không hợp hết được.
A Già Đà (83) là tên vị thuốc bên Tây Vức; chỉ một vị thuốc ấy,
có thể trị lành các chứng bệnh. Dụ như chỉ một pháp tŕ danh niệm Phật
mà rồi các bịnh: ngũ dục, tam độc, vô lượng phiền năo, cho đến những
bệnh cố chấp chênh lệch của Tiểu Thừa, ngoại đạo đều tiêu trừ tất cả.
"Ḷ lớn" là: Trong một ḷ lớn, hầm đúc muôn món đều thành đồ cả.
Dụ như: Chỉ một pháp tŕ danh niệm Phật, tùy theo căn cơ dầu lợi, dầu
độn, là hạnh tu của mỗi người, chớ cũng đều được văng sanh về trong
chín phẩm, đều đặng bực bất thối cả.
"Rộng lớn" là: Trong sách Châu Dịch, quẻ Kiền nói là Đại Sanh,
quẻ khôn nói là Quảng Sanh. Nay pháp môn tŕ danh niệm Phật không một
chúng sanh nào mà chẳng độ. Dụ như trời khắp che, đất khắp chở, đều
nuôi gồm chứa cả muôn loài. Ḷng chí từ không phân biệt lựa chọn nên
gọi là pháp "Phổ Môn".
Chánh Văn: Bảy: V́ hộ tŕ người tu hành nhiều chướng nạn
để khỏi bị sa đọa là: Bởi đời mạt pháp rồi nên người tu hành hay mắc
nhiều chướng nạn; nếu một phen thiếu chánh kiến liền sa ngă vào các
đường tà. Nhờ nguyện lực oai thần đức Phật kia gia hộ cho người tu, ở
trong hào quang cao cả che chở, khỏi bị ma sự quấy rối và Phật Ngài hộ
niệm cho măi đến lúc Đạo thành. Cho nên biết rằng hễ chánh niệm phân
minh, ma vương không quấy rối, ví như đồ h́nh con Bạch Trạch trừ quái,
gương báu dẹp yêu (yêu không trốn đặng) (84).
Chú Giải: "Đa chướng nạn" là ǵ? Người tu hành trong khi
ngồi thiền định, quán tưởng kích phát nên ngũ ấm nó hay sanh ma chướng
(85). Như trong kinh Lăng Nghiêm có chỉ 50 thứ ma. Có câu: "Không sanh
tâm tưởng Thánh, gọi là Thiện cảnh giới; bằng móng tâm tưởng Thánh
liền mắc vào bọn tà". Nên biết hễ tâm chánh kiến hơi kém th́ tà ma
lừng lên, đă không ích mà lại c̣n tổn hại, muốn tấn lên trở lại sa
xuống. Do đây, những kẻ căn cơ thấp kém không dám học đạo (tham
thiền).
Thế mà nay đây người niệm Phật sẽ nhờ đại nguyện, đại lực của
Phật nhiếp thọ, hộ tŕ cho. Oai thần của Phật không thể so lường,
không có thiên ma nào dám can phạm đến, dầu có ma sự sắp đến rồi th́
nó cũng tự tiêu diệt.
Lại trong kinh nói: "Người niệm Phật có hào quang của Phật soi
vào ḿnh, ánh sáng chung quanh cách bốn mươi dặm, nên ma không thể xâm
phạm được do v́ nhờ sức Phật A Di Đà và mười phương Phật thường hộ
niệm, măi từ ngày phát tâm, cho đến khi thành Đạo, từ trước đến sau
mỗi việc đều lành cả". Bởi do chánh niệm phân minh, dầu ma có đến cũng
dễ biết dễ trừ; chẳng phải sánh như hạng người đắm ưa ngồi tịnh, chấp
lấy cảnh không, trong tâm không tự chủ, gặp ma không biết, để đến nỗi
nhập tâm ấy vậy.
"Đồ h́nh Bạch Trạch" và "gương báu" là dùng hai dụ đây để rơ ư
rằng: Chẳng những chỉ nhờ sức hộ tŕ của chư Phật mà là cần nhờ sức
niệm của ḿnh nữa. Có con thần thú (chúa yêu) tên Bạch Trạch biết nói
tiếng người rơ được tánh t́nh muôn vật, các tà tinh hễ trông thấy bóng
nó liền trốn mất. Nên nói: Nhà nào có đồ h́nh Bạch Trạch, quyết không
có các loài yêu quái như vậy.
Lại con tinh trên núi, con quỉ ngoài đồng, chúng nó có thể biến
đủ thứ h́nh (86) để dối gạt mọi người, nhưng nó không thể biến hiện
hay là tàng h́nh trước gương báu được. Dụ như người niệm Phật: hễ
chánh niệm hiện tiền, trí huệ sáng suốt, tất cả thiên ma, tâm ma (87)
đều không dám khuấy phá được.
Chánh Văn: Tám: V́ chính chỉ ngay nơi cái tâm hữu niệm,
đặng chứng vào lư vô niệm là: Tâm vốn vô niệm mà có niệm th́ sai.
Nhưng v́ chúng sanh từ vô thỉ đến nay tập quán vọng tưởng quá ư lâu
đời, chưa dễ ǵ vội dứt liền đi được, nay dạy cho chúng niệm Phật,
chính như: Lấy thuốc độc nọ để giải thuốc độc kia và dùng binh ta để
đẩy lui binh địch; bệnh lành, giặc yên, cũng như thân hết bệnh, lại
không có thân mạnh nào khác; tức là: Nguyên kẻ giặc cướp chính là con
ruột của nhà ta.
Chú Giải: Trong Khởi Tín Luận nói: "Tâm vốn ly niệm" mà
khởi niệm lên để niệm Phật, đâu khỏi tự làm khuấy rối lại tâm ḿnh ư?
Trong Phật Tạng Kinh nói: "Không cảm giác không quán niệm gọi là: Niệm
Phật. Không nghĩ tưởng, không nói năng gọi là niệm Phật", mà khởi niệm
để niệm Phật, đâu không trở lại trái với tâm Phật? Nay đây bảo rằng:
Bặt các niệm giác quán (vọng niệm) là thiệt tướng niệm Phật, lư ấy rất
đúng. Song tâm tuy ly niệm, nhưng mà
đă
bị vô minh nhiễm ô tâm thể, vọng niệm nối chuyền như chứng bệnh bảy
năm (88), dân loạn lâu ngày nên gọi tập quán (thói quen). Nay muốn
gắng gượng dằn ép khiến cho nó lập tức yên tịnh th́ ra dứt động về
tịnh, càng dứt càng động. Dầu thô niệm tạm ngừng, nhưng tế niệm vẫn
c̣n tích tắc. Thế mà nhận cho là phải, đâu chẳng lầm lắm ư?
Đă c̣n địa vị phàm phu, chưa có thể dứt vọng lự, quên duyên trần
(89), đâu không ngay nơi duyên lự ấy để tấn tu, cho nên dùng tâm niệm
Phật để tấn công vọng niệm: Niệm một tiếng Phật đă cải đổi được trăm
ngàn muôn ức các tạp niệm kia vậy. Huống chi vọng từ chơn khởi, như
sóng do nước sanh; tức niệm tức không, rơ ràng bày nguyên bản thể vô
niệm. Không phải ngoài vọng niệm mà riêng đặng quả Bồ Đề. Nên nói muôn
pháp luống dối, chỉ là nhứt tâm, nếu ngộ được lư nhất tâm, th́ mắt ngó
đâu cũng đều là Bồ Đề cả.
Dụ như thân bệnh, khi lành rồi gọi đó là thân mạnh, dân loạn yên
rồi gọi đó là lương dân. Nếu bỏ vọng niệm để riêng t́m chơn tâm th́
khác nào thầy thuốc làm chết thân người bệnh rồi mới trị lành bệnh, và
nhà chánh trị toan giết cả nước rồi mới an ninh cho dân; đâu có lẽ vậy
ru?
Chánh Văn: Chín: V́ cách chỉ dạy rất khéo là nhơn cầu
văng sanh mà thiệt ra là ngộ lư vô sanh, bực Thất Địa Bồ Tát vừa gọi
là
đắc
cái hiện tướng vô sanh nhẫn, bực Bát Địa mới đặng lư vô sanh. Nếu muốn
diệt gấp sự hữu sanh để cầu lư vô sanh, càng cầu càng xa. Nay phải
dùng pháp cầu sanh Tịnh Độ mới ngộ được lư vô sanh, vào chỗ có mà
được
chỗ không, tức nơi phàm thành bực thánh, khá gọi rằng : "Lời hay thấu
đạo lư, thuốc quư đổi xác tiên".
Chú Giải: "Vừa hiện tướng" là như trong kinh Hoa Nghiêm
nói: "Mười địa, địa nào cũng đều có nói rằng đặng vô sanh; nhưng chánh
thức là về bực Bát Địa mới thiệt đặng, c̣n Thất Địa chỉ nói là tịnh vô
lượng, thân, khẩu, ư mới đặng Vô Sanh Pháp Nhẫn quang minh".
Lời sớ giải thích văn trên của kinh ấy lại nói: Bát Địa Bồ Tát
mới chính thức đặng vô sanh pháp nhẫn. Chứ đối với "vô sanh pháp nhẫn"
của kinh kia th́ ở đây bực Thất Địa Bồ Tát là mới được cái minh tướng
của "Pháp nhẫn" nó hiện tiền, chứ thực ra là chưa thiệt đặng. Như lời
sớ trong Quán Kinh nói: "Vô sanh tức thuộc bực Sơ Trụ", ư lược đồng
như đây. Nhẫn đến Bát Địa, ĺa tất cả những điều phân biệt của tâm ư
và ư thức, mới gọi là thiệt được bực vô sanh pháp nhẫn. Vậy nên biết:
Với quả vô sanh nhẫn, bực Thánh như Thất Địa c̣n khó được, huống chi
là chúng phàm ư?
"Càng xa" là: Nhàm chán sự sanh sống là khổ, vội muốn kíp diệt
cái có sanh sống đó để về nơi cái không sanh, nhưng cái diệt đó nó
không phải chơn diệt th́ chỉ thêm hoài công nhọc nhằn, rốt rồi thành
ra trôi lăn trở lại. Tỷ như cái định nghiệp làm trâu chưa hết, dầu phá
cho hư cái xe nọ… chủ lại sắm nữa, lời xưa đă dụ rơ thế.
Kinh này nói: Chuyên ḷng niệm Phật, phát nguyện văng sanh, đă
sanh về nước kia rồi, hoa nở thấy Phật, tự biết được bổn tâm của ḿnh
vốn là không sanh th́ dầu có phương tiện cầu sanh cũng chả ngại ǵ?
Nên có câu: "Tưng bừng cầu sanh, mà không hề trái với lư vô sanh; trọn
ngày nguyện sanh mà tâm vẫn chưa từng sanh", thế mới gọi là thiệt được
quả vô sanh.
Do nơi hữu sanh mà tỏ được lư vô sanh nên nói vào chỗ có mà
đặng
chỗ không; có sanh là thuộc về phàm phu, nhưng nhờ có sanh mới chứng
đặng quả vô sanh, nên nói: Tức nơi phàm thành được Thánh. Tới đường về
nhà, tiềm siêu mật độ (ai đi nấy đến bằng một cách ngầm kín), khó nghĩ
khó bàn, nên nói: "Lời hay thấu lư đạo"; bỗng chốc đổi dời, như từ nơi
đất bằng, bay lên cảnh tiên, người thường dân trở thành người sang cả,
nên nói: "Thuốc quí đổi xác tiên". Thế mà bỏ lời hay (lời Phật dạy
niệm Phật), chấp lấy lời huống, bỏ thuốc tiên mà uống lấy thuốc độc,
há chẳng đáng thương lắm ru?
Chánh Văn: Mười: V́ chỉ rơ đường tắt tu hành, lại là
đường
tắt trong đường tắt. Đây có hai nghĩa: Nghĩa thứ nhứt là các môn học
đạo, muôn dặm xa xôi; c̣n niệm Phật văng sanh, xưa kêu là
đường
tắt. Song, một pháp niệm Phật lại có nhiều môn. Nay pháp tŕ danh đây
thiệt là trong đường tắt, tắt mà càng tắt. Ví như: Chim hạc tung ḿnh,
đâu kịp đại bàng cất cánh, ngựa Kư ruổi vó, đâu bằng rồng chúa vươn
bay; không gấp không đi mà mau, mà
đến,
là tắt trong đường tắt vậy.
Chú Giải: Hai nghĩa ấy: 1) So sánh với nhiều môn Tịnh
nghiệp. 2) Là lựa kinh Tiểu Bổn, để riêng biệt với kinh Đại Bổn giữa
Bổn Bộ, nên nói "đường tắt trong đường tắt". Đường tắt là ǵ? Tức là
con đường ngắn đi băng ngang mau đến, gọi là "tắt". Đường ngắn là ví
dụ pháp môn niệm Phật, sức làm rất dễ dàng; mau đến là ví dụ niệm Phật
công thành rất mau chóng.
Ngài Thiện Đạo đại sư có làm bài kệ nói: "Duy có đường tắt tu
hành là chỉ niệm A Di Đà Phật, thế thôi". Nên nói: Tu các môn khác,
gọi là: "Dọc ra ba cơi", c̣n niệm Phật cầu văng sanh, kêu là "ngang ra
ba cơi". Dụ như con kiến hay con mọt chẳng hạn, ở trong cây tre, đục
bề dọc th́ phải trải qua từng mắt, từng lóng khó thông, đục bề ngang
th́ một lỗ thấu phủng ra ngoài liền. Thế đem các môn tu khác so với
môn tu niệm Phật này th́ pháp môn niệm Phật rất là mau kết quả hơn
cũng như thế.
Song pháp môn niệm Phật lại c̣n chia ra làm nhiều môn như trong
văn sau sẽ giải: Từ thật tướng niệm Phật, có bốn môn, cho đến muôn
hạnh hồi hướng v.v…
Với tánh "Pháp Thật Tướng", dầu rằng mỗi người sẵn có, nhưng v́
chúng sanh phần nhiều bị nghiệp chướng quá nặng, số người tỏ ngộ được
tánh Phật ấy th́ chỉ phần ít, nên sau đây kể ra vài môn như tu pháp
niệm Phật bằng cách "quán tượng Phật", đến lúc cất tượng đi, hoặc khi
chẳng có tượng trước mắt th́ lại không thấy cái nhơn tu ấy, thành ra
gián đoạn. Tu pháp niệm Phật bằng cách "quán tưởng" th́ tâm thô cảnh
tế, diệu quán khó thành. Tu pháp niệm Phật bằng cách làm muôn hạnh th́
sự làm quá ư bề bộn, chi cho khỏi nặng đâu sa đấy.
Duy có một pháp niệm Phật bằng cách tŕ danh đây là tiện lợi
thẳng tắt. Hễ niệm Phật được nối luôn liền được văng sanh. Cổ đức đă
nói: "Miễn được thấy Phật A Di Đà, lo ǵ không tỏ ngộ Tánh Phật Thật
Tướng". Thế là không mong cầu ông "Phật Thật Tướng" mà ông "Phật Thật
Tướng" hiện bày rơ rệt nên pháp môn niệm Phật là
đường
tắt của pháp tu hành, mà pháp tŕ danh lại là
đường
tắt trong pháp niệm Phật vậy.
Chim hạc liệng đă hơn chim thường mà
đâu
bằng chim đại bàng một phen cất cánh; ngựa Kư ruổi dong tuy hay hơn
ngựa khác nhưng đâu kịp rồng bay. Hai vật trên đều dụ pháp niệm Phật,
hai vật dưới đều dụ pháp tŕ danh niệm Phật vậy.
"Chẳng mau chẳng đi" là trong kinh Dịch, lời Hệ Từ nói: "Lư của
kinh Dịch, không suy nghĩ, không tạo làm, là cái lẽ vắng lặng, không
lay động. Hễ có cảm là liền thông suốt cả trong thiên hạ, nếu chẳng
phải bực chí thần trong thiên hạ th́ ai mà dự biết việc đây? Duy có
bực chí thần mà thôi, v́ bực Chí Thần không gấp mà mau chóng và không
đi mà
đến
liền". Ư nói gấp rồi mới mau, đi rồi mới đến là cái vật tầm thường.
Thể xủ quẻ cỏ thi là vẫn vắng lặng, không suy nghĩ, không tạo
làm, nhưng hễ có cảm liền thông, thế mới gọi "không gấp mà mau, không
đi mà
đến";
có cái hay mầu nhiệm hơn muôn vật nên gọi "chí thần". Dẫn lời kinh
Dịch đây để chỉ rơ: Các pháp môn niệm Phật tuy đồng nói văng sanh,
nhưng v́ sức tu hơi khó hơn và thời gian cũng lâu hơn, thế là tỷ phải
đi gấp mới đến, mới mau được. Tu pháp tŕ danh niệm Phật này th́ không
kể năm, tháng, không luận nhiều công, miễn niệm làm sao chỉ trong bảy
ngày cho được nhứt tâm, liền sanh về nước kia. Chả biết sao mà lẽ thần
diệu hay đến tột bực như thế này!
Nên lời Sao trong Phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện có nói: "Trong Đại
Tạng có trên cả mấy bổn, hoặc kinh, hoặc luận cũng đều nói cái tu nhân
niệm Phật". Song đều dạy phải siêng tu, chứa công bồi đức cho nhiều,
mới được văng sanh. Kinh này chỉ dạy tŕ danh hiệu được nhứt tâm, liền
lên bực bất thối, đâu không phải tắt mà lại tắt sao?
Chánh Văn: Nghĩa thứ nh́ là trong Vô Lượng Thọ kể nhiều y
báo, chánh báo, chép đủ các phép tu tŕ. Nay kinh Di Đà
đây
chọn chỗ giản tiện, bỏ chỗ phiền phức, lấy chỗ tóm tắt, bao gồm chỗ
sâu rộng, không nói chi khác, chỉ dạy pháp tŕ danh, miễn sao niệm
được nhứt tâm là liền sanh nước Cực Lạc. Nên nói: "Giản dị càng giản
dị, nhiệm mầu càng nhiệm mầu, đường tắt trong đường tắt vậy".
Chú Giải: Với kinh Vô Lượng Thọ sẽ thấy rơ trong hai môn
Bộ Loại và Dịch Thích; bởi đối với kinh này nên người đời kêu kinh kia
là Đại Bổn, v́ bộ tuy đồng nhưng rộng hẹp có khác nhau. Kinh kia v́
người ưa rộng, Phật nói rộng; kinh này v́ người ưa hẹp, Phật nói hẹp.
Nhưng lời tuy tóm tắt mà lư rất rơ ràng, sự dầu đơn sơ mà công được
bội thắng. Như trong kinh Đại Bổn rộng luận việc làm các điều phước
thiện, c̣n kinh này chỉ nói hễ chấp tŕ danh hiệu tức là
đa
phước đa thiện. Kinh Đại Bổn c̣n phân ba bực mà kinh này nói, hễ được
sanh về nước kia đều được bực bất thối chuyển nơi quả Bồ Đề. Thế nên
pháp tŕ danh niệm Phật chẳng những là chỗ thiết yếu trong các pháp
môn niệm Phật, mà chính là chỗ rất thiết yếu trong bộ kinh Di Đà nầy.
Nên nói: Pháp trong các pháp thậm thâm vi diệu, pháp nhiệm mầu trong
các pháp nhiệm mầu, đường tắt trong những con đường tắt ấy vậy.
Chánh Văn: Như trên trong khoa Biệt nói mười nghĩa, lại
lấy chín nghĩa trước là Thông (chung), một nghĩa sau là Biệt (riêng).
Gồm luôn cả nghĩa của phần Tổng văn trước để làm sở nhơn lập giáo của
kinh này.
Chú Giải: Thông là: Những kinh chung cùng nói rơ về pháp
môn Tịnh Độ, đều v́ đồng một nhơn đây. Biệt là: Riêng chỉ nói rơ về
kinh này, chú trọng pháp tŕ danh, do v́ dùng pháp tŕ danh làm nguyên
nhân. Tổng là: Tức như văn trước, tóm nói rơ tất cả các kinh, đều v́
một đại sự làm nguyên nhân.
C̣n nói về cái ư mà Phật Thích Ca. Ngài nói ra kinh này là cốt
v́: 1) Để dạy chúng sanh niệm Phật; 2) Để dạy chúng sanh tŕ danh niệm
Phật; 3) Để dạy chúng sanh niệm Phật bằng cách tŕ danh mà
được
vào tri kiến của Phật, cho rơ nhứt tâm bất loạn, đây là một đại sự mà
thôi; vậy nên đây hiệp lại ba cốt yếu trên để làm chỗ sở nhơn lập giáo
của bộ kinh này.
TẠNG GIÁO ĐẲNG NHIẾP (phân ra làm ba phần):
1. Tạng Nhiếp: Kinh này thuộc về tạng nào?
2. Giáo Nhiếp: Kinh này thuộc về giáo nào?
3. Phần Nhiếp: Kinh này thuộc về phần nào?
1. TẠNG NHIẾP
Chánh Văn: Đă biết Phật nói kinh nầy có nguyên nhân như
thế; nhưng chưa biết kinh đây đối trong Phần Tạng Giáo nó thuộc về
đâu?
Nói về Tạng có hai: 1. Tam Tạng; 2. Nhị Tạng.
Trước nói: 1. Tam Tạng là:
A) Tạng Tu Đa La.
B) Tạng Tỳ Nại Da.
C) Tạng A Tỳ Đạt Ma.
Nay kinh đây (Di Đà) thuộc về Tạng Tu Đa La. Bởi các kinh cũng
đều có thân thuộc lẫn nhau, nhưng kinh Di Đà
đây
không phải như các kinh kia.
Chú Giải: Tiếng Phạm nói: Tu Đa La. Tàu dịch: Khế Kinh,
tức là tạng Kinh, sẽ giải thấy trong đề mục văn sau. Tỳ Nại Da, Tàu
dịch là "Điều Phục", tức là tạng Luật. A Tỳ Đạt Ma, Tàu dịch là: "Đối
Pháp", tức là tạng Luận.
Hai tạng trên đều có nhiều nghĩa, ở đây không cần lắm nên không
dẫn giải. Thuộc về Tu Đa La là ở trong ba tạng: Kinh, Luật, Luận, mà
kinh Di Đà
đây
thuộc về tạng Kinh.
"Lẫn thuộc nhau" là như kinh Hoa Nghiêm thuộc về tạng Kinh mà
gồm cả tạng Luật và Luận, v́ trong các phẩm Thập Tạng nói rơ về việc
Giới Luật; c̣n các phẩm Vấn Minh nói rơ về Luận Nghị. Kinh Phạm Vơng
thuộc về tạng Luật mà gồm cả tạng Kinh, v́ phần trên của phẩm Tâm Địa
rộng nói ngôi bực của các vị Bồ Tát. C̣n kinh khác so theo đây nên
biết.
Kinh đây đă chẳng gồm giới luật lại cũng không kiêm luận nghị,
v́ từ đầu chí cuối, chuyên nói về pháp môn niệm Phật, cầu sanh Tịnh
Độ, nên nói kinh đây, không phải như các kinh kia.
CHÁNH VĂN: Nhị Tạng là:
A) Bồ Tát tạng.
B) Thinh văn tạng.
Nay kinh Di Đà
đây
thuộc về Bồ Tát tạng; các kinh cũng có lẫn thuộc nhau, nhưng kinh đây
không phải như các kinh kia.
Chú Giải: Tạng Bồ Tát và Tạng Thinh Văn sẽ thấy rơ trong
phần "Thích Văn" sau có giải. Tạng mà phân làm hai là do v́ tạng Kinh
có Đại Thừa, Tiểu Thừa nên phân ra làm hai hạng để thâu thuộc, đó là
pháp. Nếu ước về người th́ có ba bực (tam thừa), cũng phải phân ra ba
tạng. V́ bực người Duyên Giác phần nhiều chẳng nương nơi kinh giáo nên
gồm trong bực người Thinh Văn, cho nên chỉ có hai tạng.
Nay thuộc về Bồ Tát tạng là v́ kinh đây diễn nói pháp Đại Thừa,
như: y báo, chánh báo đều trang nghiêm, tín, nguyện văng sanh v.v...
tất cả đều là hạnh tự lợi, lợi tha, là bổn phận của Bồ Tát, để giáo
hóa chúng sanh, làm cho cơi Phật được thanh tịnh.
"Lẫn thuộc" là như kinh Hoa Nghiêm thuộc về tạng Bồ Tát, cũng
gồm cả Thinh Văn tạng, v́ kinh kia bao hàm tất cả các bực. Kinh Di Đà
đây
bực nhị thừa chẳng đặng văng sanh (cơi Tịnh Độ) nên nói "không phải
như các kinh kia".
Có người hỏi: Thế sao trong văn kinh nói: Đức Phật Di Đà kia có
chúng đệ tử Thinh Văn?
Đáp: Đây chỉ tạm có, chớ rốt th́ không, đến sau trong phần Thích
Văn sẽ biện rành.
Lại hỏi: Chán bỏ cảnh khổ, t́m về cảnh vui, dường như riêng về
phần tự lợi, đâu phải hạnh Bồ Tát?
Đáp: Cầu sanh về Tịnh Độ chính là
để
thấy Phật nghe pháp, đặng vô sanh nhẫn rồi, trở lại cơi này cứu khổ
chúng sanh; ấy là hành hạnh Bồ Tát, chớ không phải cái đạo của Thinh
Văn như trong bộ Thập Nghi Luận ngài Thiên Thai đă nói.
2. GIÁO NHIẾP
Chánh Văn: Giáo là y theo Ngài Hiền Thủ định phân giáo
pháp có năm phần là: Tiểu, Thỉ, Chung, Đốn và Viên. Nay kinh Di Đà
đây
thuộc về Đốn Giáo, mà cũng gồm cả hai giáo trước là Chung và Viên.
Chú Giải: Năm giáo là:
1. Tiểu Thừa giáo: Nói pháp chỉ chuyên nói "Nhơn Không", (91)
dầu có luận nói "Pháp Không" chút ít, nhưng cũng chẳng mấy rơ ràng; v́
y nơi lục thức, tam độc để thành lập cái căn bổn Nhiễm, Tịnh, (92) nên
chưa tột thấu nguồn gốc của "Pháp Không" (93).
2. Đại Thừa Thỉ Giáo: Do thời thứ hai chỉ nói "Pháp Không", thời
thứ ba nói cả ba thừa, nhưng không hứa "định tánh Xiển Đề" (94) được
thành Phật, là lời thuyết pháp chưa tột chỗ cực điểm của bực Đại thừa,
nên gọi là Thỉ Giáo. Trong đó có người thành Phật, có người không
thành Phật, nên lại gọi là: Phần giáo. Với chỗ nói th́ phần nhiều nói
về Pháp tướng, ít luận đến pháp tánh. Dầu có nói tánh, cũng c̣n là con
số tướng. Bởi y nơi tám thức sanh diệt để kiến lập ra các nghĩa loại
có nguyên nhơn: Sanh tử và Niết Bàn.
3. Đại Thừa Chung giáo: Do chỉ ra lư diệu hữu của Trung Đạo nên
nói "định tánh xiển đề" đều sẽ thành Phật, mới nói tột chỗ cực điểm
của Đại Thừa, nên gọi là Chung giáo. V́ đúng với thật lư nên lại gọi
là Thật giáo. Với chỗ nói th́ phần nhiều luận về pháp tánh, ít luận
đến pháp tướng. Dầu có nói đến "tướng" đi nữa, nhưng cũng hội về
"tánh". Bởi căn cứ nơi Như Lai Tạng tánh nó tùy theo vọng duyên của
tám thức để thành lập ra các nghĩa.
4. Đốn giáo: Giáo này hoàn toàn không nói đến pháp tướng chỉ nói
ṛng về Chơn Tánh, hễ là nhứt niệm bất sanh tức gọi là Phật chứ không
trải qua thứ lớp từng bực ǵ nữa.
5. Viên giáo: Giáo này thống nhứt cả bốn giáo trước, Sự, Lư hoàn
toàn trọn vẹn. Bởi lập trường lư luận như thế này: Pháp giới nhiều vô
cùng tận, biển tánh trọn vẹn hợp ḥa, không ngăn ngại nhau; với nhơn
duyên sanh khởi v́ một tức tất cả; tất cả tức một, tướng tức tánh,
tánh tức tướng, tánh tướng nhiếp lẫn nhau. Như cái lưới ngọc (95) của
trời Phạm Vương mỗi ảnh chiếu trùng nhau, thay nhau làm chủ quan,
khách quan bằng cách nhiều đến vô cùng vô tận.
Năm giáo nói trên rơ như trong lời Huyền Đàm kinh Hoa Nghiêm; ở
đây sợ nhiều không dẫn.
Kinh này thuộc về "Đốn Giáo". Trong môn nghĩa lư sau có giải.
Cũng gồm cả trước sau hai giáo là trước thông Chung giáo bởi do
tất cả chúng sanh niệm Phật dù là
định
tánh Xiển Đề đều sẽ làm Phật.
Sau gồm "Viên giáo" là cũng trong môn nghĩa lư có giải.
3. PHẦN NHIẾP
Chánh Văn: Phần là mười hai phần giáo như phần Tu Đa La,
phần Kỳ Dạ v.v... Nay kinh này thuộc về hai phần Tu Đa La và Ưu Đà Na.
Chú Giải: Phần là từng phần, bởi v́ nhất đại thời giáo
của Phật có chia ra từng phần, đều có chỗ sở thuộc.
"Kỳ dạ" Tàu dịch "trùng tụng". Ưu Đà Na Tàu dịch "Vô vấn tự
thuyết" trong 12 bộ, đây sợ nhiều, không dẫn (96). Nói thuộc hai phần:
1. Thuộc phần "Tu Đa La" v́ là Khế kinh. 2. Thuộc phần "Ưu Đà Na" v́
là không đợi ai thưa thỉnh mà
đức
Phật ngài tự kêu ông Thân Tử và chúng hội nói cho nghe.
NGHĨA LƯ THÂM QUẢNG (phân ra làm ba phần):
1. Nhiếp đốn (Gồm cả Đốn giáo)
2. Phần viên (Gồm một phần Viên giáo).
3. Bàng thông (Lan rộng các giáo).
1. NHIẾP ĐỐN
Chánh Văn: Đă biết rằng kinh này thuộc về Đốn giáo và có
ít phần thuộc về Viên giáo; chứ chưa biết nghĩa lư hoàn toàn như thế
nào.
Trước nói kinh này thuộc về Đốn giáo đó, số là bảo: Pháp tŕ
danh liền được văng sanh, mau siêu, chóng chứng, v́ không quanh co
(lâu dài, chậm trễ) nên kinh Di Đà chính thuộc Đốn giáo.
Chú Giải: Chính thuộc nghĩa "Đốn" là: V́ tất cả kẻ phàm
muốn chứng lên bực thánh, sự đó rất khó lắm! V́ đường đạo lư quá xa.
Nay chỉ có một pháp tŕ danh liền đặng văng sanh, đă văng sanh rồi,
tức th́ đặng bực "Bất Thối". Khá gọi rằng: Đời chỉ trọn thành, một đời
đặng xong. Ví như đem ngôi báu trao ngay cho kẻ thường dân, chẳng trải
qua gia cấp và cũng không phải như lối ṿng vo của Tiệm giáo th́ đâu
sánh kịp, nên gọi kinh này thuộc về nghĩa "Đốn".
Chánh Văn: Hoặc có người hỏi thắc mắc rằng: Kinh này Đốn
giáo là tâm không sanh một niệm ǵ hết, tức gọi là Phật. Như năm pháp,
ba tự tánh đều không tám thức, hai món vô ngă đều trừ. Thế mà nay Pháp
tŕ danh niệm Phật đây th́ lại có niệm; đă có niệm, thế nào gọi là
"đốn" được?
Đáp: Do nhứt tâm bất loạn, chính gọi là vô niệm; nếu c̣n có
niệm, chẳng gọi là nhứt tâm, nhưng đă được nhứt tâm rồi th́ pháp nào
là pháp chẳng vắng lặng?
Chú Giải: Năm pháp là: 1. Danh; 2. Tướng; 3. Vọng tưởng;
4. Chánh trí; 5. Như như (97).
Ba tự tánh là: 1. Danh tướng là tánh biến kế chấp, 2. Vọng tưởng
là tánh duyên tha khởi. 3. Chánh trí như như là tánh viên thành thật
(98).
Bát thức là: A Lại Da, Mạt Na và sáu thức (nhăn, nhĩ, tỷ, thiệt,
thân, ư) hiệp thành tám thức.
Hai vô ngă là nhơn vô ngă và pháp vô ngă (99).
Sắp về trước, cũng đều thuộc vào trong năm pháp cả. Rơ thấy
trong kinh Lăng Già và các kinh, đều không, đều trừ. Cả năm pháp ấy có
chỗ gọi rằng: Thân Phật là vô vi (không h́nh tướng) không mắc vào các
con số, gọi là Phật Thân. Một niệm không sanh, tức gọi là Tâm Phật; ấy
là tôn chỉ của "Đốn Giáo". Nay nói niệm Phật thời niệm hiệu Phật thuộc
về Danh, c̣n đối thân Phật thuộc về tướng, nhớ niệm Phật kia thuộc về
vọng tưởng. Dầu cho tịnh niệm nối nhau, được vào pháp "Tam Ma Địa"
(chánh định) đi nữa, nhưng cũng c̣n thuộc về danh từ "Chánh Trí Như
Như".
Vả lại phân biệt là Phật, thuộc về thức t́nh. Năng niệm là Tâm,
sở niệm là Cảnh, thuộc về Nhơn và Pháp; thế c̣n chưa trừ được tướng
hữu ngă, huống là với tướng vô ngă, lẽ nào trừ được ư?
Chỗ không, chỗ trừ của Đốn Giáo kinh này đều có cả. Do v́ chỗ có
niệm cho nên họ thắc mắc là chưa phải "Đốn"; chớ đây chính bảo là vô
niệm kia mà! Bởi do nhứt tâm bất loạn thời chẳng chấp có tâm để niệm,
chẳng chấp không tâm để niệm, chẳng chấp cái tâm bằng cũng có cũng
không để niệm, và chẳng chấp cái tâm bằng chẳng phải có chẳng phải
không để niệm. Vậy thử hỏi: ĺa bốn câu ấy ra, lại có ǵ là niệm? Thế
th́ tuy gọi rằng niệm Phật, chớ vẫn niệm mà vô niệm vậy. Niệm mà vô
niệm, thế mới gọi là nhứt tâm. Cái tâm như thế tâm nó cũng không tâm
nữa kia, chỉ cưỡng kêu là Nhứt, chứ thật ra tướng Nhứt cũng c̣n không,
đâu t́m được những con số mà người bảo: 5, 3, 8, 2. Thế thời lư nhứt
tâm bất loạn đây, chẳng khác nào "nhứt niệm bất sanh" đâu nên nói kinh
này chẳng phải là "Đốn"?
2. PHẦN VIÊN
Chánh Văn: Một phần thuộc Viên giáo là lập trường của
Viên giáo, v́ trong bốn món pháp giới, ba món trước chung lẫn cả các
giáo, một món sau riêng thuộc về Viên giáo. Nay kinh này: Viên giáo
toàn nhiếp, nó có một phần nhiếp thuộc về Viên giáo. Bởi v́ nó chỉ có
ít phần Viên giáo nên gọi thuộc "Phần Viên".
Chú Giải: Bốn pháp giới là: 1. Sự pháp giới; 2. Lư pháp
giới; 3. Sự lư vô ngại pháp giới. Với ba pháp giới này các kinh đều
có; 4. Sự sự vô ngại pháp giới (100) đây, th́ đặc biệt nhứt là riêng
một kinh Hoa Nghiêm có thôi, nên gọi là "Nhứt thừa Biệt giáo". Sự và
Lư vô ngại th́ đồng với "Đốn" và "Chung". C̣n sự sự vô ngại th́ chẳng
đồng hai giáo kia (Đốn và Chung) v́ riêng ngoài nhứt thừa trong "đồng
giáo" kia nên gọi là "Biệt" (riêng) chớ không phải là "Biệt giáo"
trong bốn giáo: Tạng, Thông, Biệt, Viên (101).
Nay kinh Di Đà
đây
có một phần thuộc Viên giáo là do kinh Hoa Nghiêm th́ hoàn toàn là
Viên giáo; c̣n kinh Di Đà
đây
chỉ có ít phần thuộc Viên giáo. Đối với phần ít ấy, xin sơ lược kể nói
ra có 10 nghĩa:
1. Kinh Hoa Nghiêm nói: cả trong khí giới, từ mảy bụi, mảy lông
đến một vật hữu h́nh, vô h́nh đều diễn nói pháp âm mầu diệu. Kinh Di
Đà nói: Nước, chim, cây, rừng đều rao pháp "Ngũ căn", "Ngũ lực", "Thất
giác chi", Bát thánh đạo" các pháp môn (sẽ rơ ở sau).
2. Kinh Hoa Nghiêm nói: Trong mảy vi trần đủ cả mười phương pháp
giới huy hoàng vô tận. Đây th́ như trong kinh Di Đà Đại Bổn nói: Với
trong một cây "Bảo Thọ", thấy 10 phương cơi Phật như bóng trong gương.
3. Kinh Hoa Nghiêm nói: Chẳng hề cử động ra khỏi chốn Tịch Diệt
đạo tràng mà
đă
đi khắp pháp giới, nên nói thể tướng vẫn yên lặng như xưa, vốn không
hành động chút ǵ sai khác, thế mà các pháp giới nhiều như số vô đẳng
vô lượng, đều đă đi khắp tất cả. Đây th́ như trong kinh Di Đà Đại Bổn
nói: Đức Phật Di Đà vẫn thường ở tại cảnh Tây phương Tịnh Độ, mà cũng
có ở khắp cả cơi trong mười phương.
4. Kinh Hoa Nghiêm nói lời ví dụ rằng: "Cây thuốc chúa" (102)
nếu ai thấy cây ấy, mắt được thanh tịnh, cho đến nhĩ, tỷ, thiệt, thân,
ư, cả sáu căn không căn nào mà chẳng thanh tịnh. Chúng sanh thấy Phật
cũng lại như thế, là do thấy đức Phật Viên Giác, (103) nghe pháp Phổ
Môn nhờ thần lực, sáu căn mới được thanh tịnh vậy.
Kinh Di Đà nói: Đức Phật A Di Đà ngồi nơi cây Bảo Thọ đạo tràng.
Với cây báu ấy kẻ thấy, người nghe, sáu căn đều được thanh tịnh.
5. Kinh Hoa Nghiêm nói: Chúng sanh trong tám nạn (104) đều siêu
lên bực Thập Địa, kinh Di Đà nói: Các chúng sanh trong địa ngục, ngạ
quỷ súc sanh, hễ có niệm Phật đều được văng sanh.
6. Kinh Hoa Nghiêm nói: Một tức tất cả nên đức Như Lai có thể
đối với một thân, để hiện ra nhiều đầu bằng số vi trần ở trong nhiều
cơi Phật bằng số bất khả thuyết. Trong mỗi một cái đầu, hiện ra vô số
lưỡi. Trong mỗi mỗi lưỡi thốt ra vô số tiếng tăm, cho đến nào văn, tự,
câu, nghĩa đầy cả pháp giới. Kinh Di Đà thời như trong Đại Bổn nói:
Nước Cực Lạc kia có vô lượng hoa báu, trong mỗi đóa hoa phóng ra ba
mươi sáu ức na do tha trăm ngàn ánh quang minh; trong mỗi quang minh
hiện ra 36 ức na do tha trăm ngàn thân Phật, khắp v́ mười phương chúng
sanh để thuyết tất cả pháp.
7. Kinh Hoa Nghiêm nói: Đức Lô Xá Na, Đức Thích Ca đều hiện ra
hai tướng: Thắng Ứng thân và Liệt Ứng thân (105). Đây th́ như trong
Quán Kinh nói: Đức Phật A Di Đà hiện thân cao lớn bằng số 60 muôn ức
na do tha hằng hà sa do tuần, mà lại thấy thân Liệt Ứng bằng một
trượng sáu thước trên ao bát công đức thủy (sẽ giải rơ ở sau).
8. Kinh Hoa Nghiêm nói: Đức Lô Xá Na Phật làm giáo chủ. Đây thời
như Ngài Thanh Lương nói: Đức Phật A Di Đà tức là
đức
Bổn Sư Lô Xá Na.
9. Kinh Hoa Nghiêm nói: Kinh Hoa Nghiêm là kinh "Đại Bất Tư
Ngh́" c̣n kinh Tịnh Danh và các kinh là "Tiểu Bất Tư Ngh́", mà kinh Di
Đà th́ lại là kinh "Bất khả Tư Ngh́ Công Đức" vậy thôi, chứ chả phân
là Tiểu hay Đại ǵ!
10. Lập trường của kinh Hoa Nghiêm là nói: Chính nơi tâm phàm
phu để thành ngay trí bất động của chư Phật. Kinh Di Đà
đây
nói: Không ngoài pháp niệm Phật bằng cách xưng danh mà
được
Phật hiện tiền. Thế thời kinh Di Đà bằng bực với kinh Tịnh Danh và các
kinh... đồng một loại với kinh Hoa Nghiêm.
V́ Viên giáo trọn thâu kinh này (Di Đà). Kinh nầy một phần thuộc
Viên giáo, bởi do nghĩa có ít phần thuộc Viên giáo, nên mới gọi là
"Phần Viên".
3. BÀNG THÔNG (phân ra làm hai phần):
1. Quán kinh.
2. Chư kinh.
QUÁN KINH
Chánh Văn: Trước nói kinh này thông đồng với kinh Thập
Lục Quán đó là bởi có người chấp rằng 16 pháp quán gọi là Định Thiện,
với chấp tŕ danh hiệu gọi là Tán Thiện. Nay v́ lẽ thông đồng mà nói,
th́ trong đây có hai nghĩa: 1. Tổng 2. Biệt.
Trước nói Tổng là Kinh Thập Lục Quán cả 16 pháp diệu quán, đều
chủ về lư nhứt tâm. Kinh Di Đà
đây
trọng về lư nhứt tâm, chính hiệp với ư kinh kia. V́ kinh kia nhứt tâm
tác quán, kinh này nhứt tâm xưng danh; thế đâu đặng với cả hai đồng
qui về LƯ NHỨT TÂM mà lại tán dương kinh kia, dằn ép kinh này. Rơ như
trong lời Sớ ngài Tịnh Giác đă nói...
Chú Giải: "Bàng thông" là không phân biệt Đốn giáo hay
Viên giáo, chỉ lấy nghĩa lư thông đồng nhau giữa các kinh Đại Thừa mà
thôi. Do v́ kinh Thập Lục Quán là kinh chuyên môn nói về Tịnh Độ nên
dẫn để nói trước.
"Định Thiện, Tán Thiện" là: Ngài Cô Sơn phân phán ra cho 16 pháp
quán là Định Thiện. Đối với kinh đây, pháp tŕ danh cho là Tán Thiện
(106), chứ đây bảo rằng: "Nhứt tâm bất loạn" có sự, có lư, chính nơi
"Sự nhứt tâm" đă chẳng phải hoàn toàn Tán Thiện thay, huống chi là "Lư
nhứt".
"Chính hợp với ư kia" là kinh kia dạy tu 3 pháp quán như vầy:
Tâm quán không tức không, quán giả tức giả, quán trung tức trung, vượt
hẳn lớp lang thế là
đắc
"tam quán nhứt tâm". Kinh Di Đà này dạy tu niệm Phật bằng cách "chấp
tŕ danh hiệu" đến khi đặng cái "Nhứt tâm bất loạn" th́ cả năng tŕ,
sở tŕ đều không thể có, đó gọi là "Không quán". Chính đương lúc không
mà năng, sở rơ ràng, đó gọi là "giả quán". Chẳng phải giả, chẳng phải
không mà thường không, thường giả, bất khả tư ngh́, đó gọi là Trung
Đạo quán. Bởi v́ riêng giữ một danh hiệu Phật để niệm liền được nhứt
tâm; đă nhứt tâm th́ có ǵ thứ lớp! Đây chính là nghĩa ba quán viên
tu. Thế thời kinh kia dùng nhứt tâm quán tưởng làm tôn, kinh đây dùng
nhứt tâm tŕ niệm làm chủ, v́ Quán tức là niệm, niệm tức là quán. Vậy
hai kinh chỗ nói đă đồng nhứt tâm, sao riêng với kinh này chê là Tán
Thiện!
Cho nên pháp môn này tên là pháp "Niệm Phật tam muội", cũng tên
là "Nhứt Hạnh tam muội", cũng tên là "Chư Phật Hiện Tiền tam muội",
cũng tên là "Bát Nhă tam muội", cũng tên là "Phổ Đẳng tam muội". Nói
"Tam Muội" nghĩa là Chánh Định. Kinh Di Đà này đă thông đồng với nhiều
pháp tam muội như thế sao dám chê là Tán Thiện? Nói cho đúng lư: Tu
quán tưởng nếu chẳng đặng nhứt tâm th́ pháp quán ấy cũng thành là Tán;
tu tŕ danh nếu được nhứt tâm, pháp tŕ danh ấy tức thành là Định.
Đừng tính ở quán tưởng hay tŕ danh mà chỉ tính ở chỗ đặng nhứt tâm
cùng không nhứt tâm mà thôi.
Như lời sớ của ngài Tịnh Giác nói: "Đối với Quán kinh, ngài Trí
Giả đại sư cho ba món tịnh nghiệp (107) thuộc về Tán Thiện, 16 pháp
diệu quán thuộc về Định Thiện"; chớ chưa nghe ngài chê pháp tŕ danh |