|
QUYỂN THỨ HAI
Đất Cổ Hàng chùa Vân Thê Sa Môn Chu Hoằng thuật lại.
Tổng Thích Danh Đề (phân ra làm hai phần)
1. Đề nghĩa: nghĩa của kinh này.
2. Dịch nhơn: người dịch ra chữ Tàu.
1. Đề Nghĩa
Như nghĩa tám môn trước đă kể bày, được biết đại ư trong một kinh rồi.
Bây giờ muốn giải thích lối văn, trước phải nói tổng đề, làm cho mạch
văn có lề liếp; nên kế đây tổng thích danh đề.
PHẬT THUYẾT A DI ĐÀ KINH
Sớ: Đề nghĩa có bốn: 1. Phật năng thuyết; 2. Chính đương
thuyết; 3. Phật bị thuyết; 4. Tổng kết tên ai thuyết.
Nghĩa là
đức
Phật Thích Ca Mâu Ni ở cơi này nói kinh này kể y báo, chánh báo trang
nghiêm, tín, nguyện được văng sanh về nước Phật A Di Đà ở cơi kia.
Tổng quát đại ư, lần lượt sẽ chia ra giải như sau đây:
Sao: "Tổng quát" là: Trước lược nêu toàn văn, để cho mạch
văn thông suốt, ư nghĩa đầy đủ, sau tuần tự mỗi mỗi giải riêng. Đầu đề
chỉ nói tên Phật, mà sau đây lại nói cả y báo, chánh báo v.v... là ǵ?
Trong Quán kinh dạy: "Nói Phật là
đủ,
cho nên nói Phật là gồm thâu tất cả".
Sớ: Lần lượt chia ra giải: Chữ "Phật" nói đủ theo tiếng
Phạn là: Phật Đà (bực đă giác ngộ), Tàu dịch là Giác Giả v́ đủ ba
nghĩa Giác; lại dịch: Trí Giả. Bởi v́ không chỗ nào mà ngài chẳng biết.
Lại chữ Phật là một hiệu trong mười hiệu (từ Như Lai, Ứng Cúng v.v...
cho đến Thế Tôn). Lại trong kinh Thập Địa nói: "Chữ Phật có mười nghĩa".
Tổ Thiên Thai Trí Giả nói: "Chữ Phật có sáu nghĩa"; c̣n kinh Hoa
Nghiêm nói: "Phật có đủ mười thân". Cho nên nói đức Phật là Trời trên
các hàng trời; Thánh trên các bực Thánh. Phàm chỗ nào nói riêng một
chữ Phật tức là chỉ ngay đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni vậy.
Sao: Chữ Phạn: nghĩa trong sạch. Đối với chữ Tàu nói Phạm
là nghĩa văn chất đều có đủ.
Chữ "Cụ" là Cụ Túc. Nói đủ theo tiếng Phạn (Brahma) th́ nói Phật
đ à
(Buddha). Nay không nói chữ "Đà" là bớt văn. Nếu dịch theo tiếng nước
Tàu th́ ta đọc là bực Giác, v́ đối với chúng sanh mê mà nói ngài là
Giác.Song Giác có ba nghĩa: 1. Tự giác khác với phàm phu. 2. Giác tha
khác với Nhị thừa. 3. Giác măn khác với Bồ Tát.
Ba giác đầy đủ nên nói Ngài là Tự, Tha, Giác măn.
Lại ly vọng tâm là Tự Giác; ly sắc trần là Giác Tha; ly cả hai:
vọng tâm, sắc trần, gọi là Giác Măn cũng là nghĩa tam giác. Lại nói là
Trí Giả; Trí tức là nghĩa Giác.
Câu "không chỗ nào mà Ngài chẳng biết" là trong Luận Trí Độ nói:
"Ngài biết tất cả chúng sanh và chẳng phải số chúng sanh, thường và vô
thường (1), v́ cái trí của Ngài không chỗ nào mà Ngài chẳng biết, nên
xưng tụng Ngài là ông "Đắc Nhứt Thế chủng trí", tức là nghĩa Giác măn....
Câu "Mười hiệu" là
đức
Thế Tôn đủ cả muôn đức, không thể nói cho hết. Nay chỉ lược nói từ
hiệu Như Lai cho đến hiệu Phật cộng có mười hiệu, mà Phật chính là một
hiệu trong mười hiệu. V́ có đủ mười đức đây, là chỗ tôn chủ của cả thế
gian và xuất thế gian nên gọi là Thế Tôn.
Nói Phật có mười nghĩa là: Đủ hai trí căn bản trí (2) và hậu đắc
trí (3), đoạn hai chướng phiền năo chướng (4) và sở tri chướng (5).
Giác chơn đế (6) và tục đế (7), đặng hai lợi: tự lợi và lợi tha. Và
hai ví dụ: Mộng giác và Hoa khai, hiệp làm mười nghĩa.
Chữ "Phật" có sáu nghĩa: Đầu tiên là lư tức Phật (nói tất cả
chúng sanh sẵn có Phật tánh), rốt sau là cứu cánh tức Phật (nói quả vị
Diệu Giác). Số là ban đầu th́ toàn giác, bị toàn mê chặng giữa. Giác
mà chưa thiệt Giác, rốt sau mới thiệt hoàn toàn không chỗ nào mà không
giác. Nay nói chữ Phật đây là chỉ ngay ông Phật cứu cánh toàn giác vậy
(8).
Phật có mười thân là: Thứ nhứt Chánh Giác Phật đến thứ mười Tùy
Nhạo Phật, rơ đủ trong phẩm Ly thế gian. Mười thân Phật đây, duy trong
kinh Hoa Nghiêm có nói (9).
Song tóm chỗ đại yếu, dầu mấy thân cũng chẳng ra ngoài nghĩa
Giác Măn, cho nên nói mười thân được viên măn, ngôi Chánh Giác mới
thành tựu, gọi là Viên Măn Phật.
"Trời trên các hàng trời" là: Trời có bốn cảnh giới: 1. Trời thế
gian: Các vị vua trong nước. 2. Trời sanh Thiên: Các Trời trong ba cơi:
Dục giới, Sắc giới, và Vô Sắc giới. 3. Trời Tịnh Thiên: Các thánh Tứ
quả: Bích Chi Phật. 4. Trời Nghĩa Thiên: Các thánh Thập Trụ Bồ Tát.
Với bốn trời nói trên đây, Phật đều siêu vượt hơn cả nên nói
Phật là Trời trên các hàng Trời.
"Thánh trên các hàng Thánh" là: Thanh Văn, Duyên Giác và Bồ Tát,
tuy đă chứng quả Thánh mà chưa hơn. Duy có Phật là quả cực điểm nên
nói: Phật và Thánh trên các hàng Thánh.
Tức đức Thích Ca là: Với đời quá khứ, đời vị lai, hăy nêu lên
ông Phật chi? Tức đức Thích Ca hiện ngồi chốn đạo tràng nên chỉ xưng
một ḿnh ngài v́ trong một cơi không hai vị Phật, dụ như: Đế vương
triều đại thời xưa, phải xưng gọi có một quốc hiệu, c̣n với nhà cầm
quyền thời nay th́ chỉ xưng gọi ngay là
đấng
Chí Tôn, cũng bởi cớ trong một nước không có hai vua, hay hai ông quốc
chủ.
Như vậy th́ đủ hiểu: Phàm chỗ nào nói một chữ Phật tức chỉ ngay
cho thái tử Tất Đạt Đa tu thành Phật hiệu Thích Ca là Phật thứ tư
trong Hiền kiếp (kiếp hiện tại) này vậy.
Sớ: Chữ (Thuyết) là
đẹp,
là vui đẹp trong ḷng, v́ bốn biện tài tuyên diễn từ 12 bộ kinh luôn
đến bốn món Tất Đàn đều là nghĩa thuyết cả.
Sao: "Vui đẹp trong ḷng" là ǵ? Bản nguyện độ sanh của
Phật nhằm cơ thuyết pháp vui đẹp trong ḷng. Như trong kinh Đại Bổn
nói: "Đức Thế Tôn muốn thuyết kinh này, trước khi nói, các căn đă ửng
đỏ, gương mặt vui tươi khác thường". Huống chi nay pháp tŕ danh niệm
Phật đây đă nhằm cơ mà thuyết, sự vui thích biết chừng nào.
Bốn pháp biện tài là: Nghĩa biện, Pháp biện, Từ biện và Nhạo
thuyết biện tài. Cả 4 món đều không ngần ngại nên nói là thuyết.
Bộ Trung Luận nói: "Các đức Phật y hai Đế (Chơn đế và Tục đế) để
v́ chúng sanh thuyết pháp". Có trí: Từ (lời) không ngại, v́ lấy trí
thế gian để nói về sự sai biệt, có trí nhạo thuyết (thích nói) không
ngại v́ lấy trí đệ nhứt nghĩa để nói về sự hay khéo.
Trong đây không nói hai điều: Nghĩa biện và Pháp biện, là v́ nói
hai pháp sau này gồm luôn cả hai pháp trước. Bởi Từ biện và Nhạo
thuyết biện đă gồm nhiếp Nghĩa biện và Pháp biện rồi.
Mười hai bộ kinh (phần giáo) v.v... là pháp bị thuyết.
Chữ "Tất Đàn" hiệp cả tiếng Hoa và tiếng Phạm là Biến Thí. Đă
dùng bốn môn: Thế giới; Vị Nhơn; Đối Trị; và Đệ Nhứt Nghĩa làm bốn
điều lợi ích chúng sanh là: Hoan hỉ, sanh thiện, diệt ác và vào Đạo.
Mười hai bộ kinh với tất cả các pháp, tùy trường hợp mà thuyết
có vô lượng phương tiện. Song tóm tắt cũng chẳng ngoài: thế giới, luôn
bốn thuyết Tất Đàn làm cho người đặng hoan hỉ... bốn điều lợi ích mà
thôi. Xem cơ trao pháp, văn kia nhiều và rộng, lược nói không hết.
Sớ: Phật thuyết là: V́ lựa riêng giữa năm người thuyết.
Sao: Năm người là Phật (1), Bồ Tát (2), Trời (3), Tiên
(4), hóa nhơn (5). Năm người đây đều thuyết kinh được. Nhưng nay nói
rơ kinh nầy là vị chí thánh lập lời, chính lời kim khẩu của Ngài
thuyết, chẳng đồng với các hàng Bồ Tát c̣n ở khoản tu nhơn. Trời thuộc
loại phàm, Tiên xen với ngoại đạo, hóa nhơn chẳng phải thiệt người.
Dụ như lời chiếu của vị thiên tử đâu có đồng với hàng bá quan tể
tướng cùng lời các ông vua trong các nước nho nhỏ.
Sớ: A Di Đà là nêu rơ đức Phật ở cơi kia. Tiếng Phạm "A"
dịch "Vô". Tiếng Phạm Di Đà dịch "lượng". Nghĩa là, công đức của Ngài
không thể cùng tột. Cho nên nói rằng: Vô Lượng. Như trong kinh nói: "Thọ
mạng vô lượng, quang minh vô lượng" là trong những vô lượng, chỉ nói
vài việc, gồm các công đức kia vậy.
Sao: Vô lượng có hai nghĩa:
1. Đông nhiều không có số lượng.
2. Rộng lớn không có hạn lượng.
Lại có hai nghĩa:
A. Vô lượng là một trong 10 con số lớn (kinh Hoa Nghiêm có đủ).
B. Vô lượng là lại vô cùng tận.
Chỉ nói có vài việc là: Với vô lượng chẳng những thọ mạng và
quang minh mà thôi. Rơ như trong văn sau có biện.
Sớ: Chữ kinh. Tiếng Phạm nói Sutra (Tu Đa La), Tàu dịch:
"Khế kinh", có Thông và Biệt hai nghĩa. Chữ Khế cũng có hai nghĩa. Chữ
Kinh lại có nhiều nghĩa. Kinh tuy có nhiều nghĩa, nhưng chẳng ngoài
bốn nghĩa là: Quán, Nhiếp, Thường và Pháp.
Sao: Thông, Biệt là: Những giáo pháp bị Phật thuyết chung
kêu là: Tu Đa La, đó là nghĩa Thông. Nếu chia ra thời: Kinh là Tu Đa
La, Luật là Tỳ Nại Da, Luận là A Tỳ Đàm; đó là nghĩa Biệt.
Chữ "Khế", có hai nghĩa là: 1. Khế lư: Lời nói hợp với đạo lư.
2. Khế cơ: Giáo pháp hợp với căn cơ. Nay bỏ chữ Khế chỉ nói chữ Kinh
là bớt văn vậy.
Chữ "Kinh", lại có nhiều nghĩa là: Kinh Hoa Nghiêm, lời sớ dẫn
tạp tâm có năm nghĩa: 1. Xuất sanh; 2. Hiển thị; 3. Dũng tuyền; 4.
Thằng mặc; 5. Kiết man.
Luận Phật Địa nói có 2 nghĩa: 1. Quán xuyến; 2.Nhiếp tŕ.
Phương đây (Tàu) có bốn nghĩa: 1. Thường; 2. Pháp; 3. Cảnh; 4.
Điển, cho nên nói có nhiều nghĩa.
Câu "Không ngoài bốn nghĩa" là chỉ cho bốn chữ Quán, Nhiếp,
Thường và Pháp. Bởi v́ chữ kinh, bên Tây Vức dịch là Tuyến (sợi chỉ).
Tuyến có nghĩa là Quán Tŕ. Quán là xâu xỏ, những giáo lư bị thuyết.
Tŕ là: Thâu giữ những chúng sanh được giáo hóa khỏi đọa. Hai nghĩa
đây gồm đủ năm nghĩa: Xuất sanh, Hiển thị v.v... nói trên. Nhưng kinh
điển phương này (Tàu) cũng kêu là Kinh. Kinh là nghĩa Tuyến. Song nước
Tàu không quư chữ Tuyến nên chỉ nhận chữ Kinh lại thêm chữ Khế. Thường:
Xưa cho vậy là
đúng
đắn. Lại chữ "Thường" là: Xưa nay không đổi. Chữ Pháp là: Gần xa đồng
tôn. Chữ "Thường" là: Lâu mà vẫn tuân hành theo, có nghĩa chung nói,
tức là Cảnh (con đường).
Chữ "Pháp" là: Pháp tắc chơn chánh có nghĩa nhứt định, tức kêu
là Điển (khuôn mẫu). Cũng có hai nghĩa: Thường và Pháp đây gồm đủ hết
bốn nghĩa kia (Thường, Pháp, Cảnh, Điển). Thế thời cơi kia (Ấn Độ) nói
Quán và Nhiếp cũng như phương này (Tàu) gọi Thường và Pháp; hiệp chung
lại mà nói: "Ở trong bốn chữ, đều đủ nghĩa Kinh vậy".
Sớ: Lại chữ "kinh" c̣n có hai nghĩa Thông và Biệt. Một
chữ "Kinh" gọi là Thông (chung). C̣n năm chữ "Phật Thuyết A Di Đà" gọi
là Biệt (riêng). Chí như Giáo, Hành và Lư, Thông và Biệt cũng thế. Ba
chữ đây (Giáo, Hành, Lư) tức phối với ba đức (Pháp thân, Bát Nhă, Giải
thoát) viên dung cụ túc. Như Ngài Thiên Thai nói: "Vừa nghe đầu đề tên
kinh, công đức đă vô lượng". Bằng phối với ba đại, thời Phật là thể
đại, Vô Lượng Thọ là tướng đại, Vô Lượng Quang là dụng đại như trong
phần giáo đă nói.
Sao: Giáo, Hành, Lư là gốc do nơi Lư mà lập Giáo; y nơi
Giáo để tu hành, nhờ tu hành mà rơ được Lư. Các kinh đều đủ cả ba:
Giáo, Hành, Lư, nên gọi là "thông" (chung). Bằng chuyên chỉ riêng kinh
này th́ hai chữ: "Phật thuyết" là Giáo. Bốn chữ "chấp tŕ danh hiệu"
là Hành. Ba chữ: "A Di Đà" là Lư. Theo đây khác với trên nên gọi kinh
này là "Biệt" (riêng).
Phối với ba đức là. 1. Lư tức là Pháp thân; 2. Giáo tức là Bát
Nhă; 3. Hành tức là Giải Thoát.
Lại Lư thông cả Hành và Giáo th́ Pháp thân tức là Bát Nhă và
Giải Thoát, cho đến hành thông cả Lư và Giáo, hay theo Giáo thông cả
Lư và Hành chẳng hạn. Nói một tức là ba; so trên nên biết.
Thể, Tướng và Dụng: Chữ Thể là Tổng Thể, nghĩa là nói Phật th́
đủ biết, cho nên lấy chữ "Phật" làm thể.
Chữ Tướng là trong Thể sẵn đủ các Tướng. Thể vô tận, Tướng cũng
vô tận, cho nên lấy ba chữ "Vô Lượng Thọ" làm Tướng.
Chữ Dụng là trong Thể phát sanh Dụng. Thể chiếu tới đâu Dụng
cũng chiếu tới đó, cho nên lấy ba chữ "Vô Lượng Quang" làm Dụng, hoặc
Thông hoặc Biệt cũng so như trên.
Sớ: Các kinh lập danh đề, phần nhiều lấy cả ba món Nhân,
Pháp và Dụ. Hoặc có kinh dùng một, hoặc có kinh dùng hai. Kinh này
riêng dùng một Nhân (người). Người lại có hai, v́ người chứng quả
trong hai cơi, thiệt ra thời cả ba: Nhân, Pháp và Dụ đều dung thông.
Sao: Một hai là như kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm
đầy đủ cả ba: Nhân, Pháp và Dụ. Kinh Đại Phương Tiện Phật Báo Ân có
Nhân và Pháp, không Dụ. Kinh Diệu Pháp Liên Hoa có Pháp, Dụ mà không
Nhân. Kinh Bồ Tát Anh Lạc có Nhân, Dụ mà không Pháp. Kinh Đại Bát Nhă
có Pháp mà không Nhân, Dụ. Kinh Phạm Vơng có Dụ mà không Nhân và Pháp.
Nay kinh này đây chỉ có Nhân mà không Pháp và Dụ. Các kinh khác đều so
theo đây, sẽ rơ.
Người chứng quả trong hai cơi là Bồ Tát tại Nhân, Như Lai tại
Quả, nên Phật gọi là quả nhân. Nay đức Phật Thích Ca ở phương này (Ta
Bà) giới thiệu Phật A Di Đà ở nước kia (Cực Lạc).
"Dung thông" là v́ nói một tức ba. Như kinh Di Đà này mặc dầu
riêng thuộc một nhân. Nhưng có Nhân mới nói Pháp, có Nhân mới lập Dụ.
Tuy rằng lời thiên, nhưng nghĩa viên, chung đồng lẫn suốt lư cố nhiên
như vậy.
Sớ: Nguyên kinh nầy tên là "Xưng Tán Bất Khả Tư Ngh́ Công
Đức Nhứt Thế Chư Phật Sở Hộ Niệm". Nay, ngài La Thập cải đính lại có
hai nghĩa: 1. Phật nhiếp vô tận nghĩa cố. 2. Bỉ Phật nhơn sở nhạo văn
cố.
Sao: "Nhiếp vô tận" là như văn trước nói Phật là
đủ,
thời tất cả công đức đều từ Phật mà ra, v́ Phật là bất khả tư ngh́.
Lại Di Đà là vạn đức hồng danh, tất cả chúng sanh trong mười phương ba
đời đều ưa thích. Trên từ chư Phật đều tán thán, dưới đến ngạ quỉ súc
sanh cũng đều ham mộ quy y; chính là bất tư ngh́ công đức.
Sớ: Sớ sao là ǵ? Lời sớ để giải nghĩa kinh; lời sao để
giải lại nghĩa của lời sớ cho dễ hiểu.
Sao: "Sớ": Xưa nói có hai nghĩa: Riêng bày và ghi nhớ.
Nay nói nghĩa kinh đây được rơ bày mà khuất ẩn, ghi nhớ mà chẳng sót
và quên. "Sao" xưa nói có hai: Tóm lấy và biên chép. Tóm lấy thời
riêng bày chỗ thiết yếu. Biên chép tức ghi nhớ cho rơ ràng. Chữ "kư"
là trông mong. Phàm nghĩa kinh khó hiểu, nhờ lời sớ giải thông. Lời sớ
khó hiểu, nhờ lời sao nói ra rành mạch, trông mong mỗi người hiểu rơ
nghĩa kinh!
Sớ: Xứng lư thời tự tánh Giác là nghĩa chữ "Phật". Tự
tánh giác vô lượng là nghĩa "A Di Đà". Tự Bổn, Thỉ đều giác là nghĩa
hai người chứng quả trong hai cơi. Tự tánh thể giác khắp soi là nghĩa
thuyết kinh, sau cũng lệ theo đây.
Sao: Xứng lư là do tức sự tức lư, chỗ gọi rằng gồm thâu
muôn loài, tức là nhứt tâm, thời y báo, chánh báo đâu chẳng phải tự
tánh? Lại tức lư là sự y nơi lư mà thành. Như kinh Tịnh Danh nói: "Tùy
kỳ tâm tịnh, tắc Phật độ tịnh". Nay kinh này nói: "Nhứt tâm bất loạn"
tức tự tánh Di Đà, duy tâm Tịnh Độ, là tông chỉ trong bộ kinh này, nói
tóm hiệp với lư, nên gọi là xứng lư.
Chữ Giác là nghĩa tổng. Trong thể chữ Giác rộng lớn thênh thang
vô cùng tận là nghĩa biết Bổn, Thỉ có hai nghĩa. Luận theo trước sau
mà nói: Thời Phật A Di Đà là cổ Phật, đức Thích Ca là Phật mới thành,
thế th́ Phật kia là Bổn, Phật đây là Thỉ; tức tự tánh bản lai sẵn có
Phật là "Bổn', bị vô minh che lấp nay mới phá hoặc chứng trí là 'Thỉ'.
Luận về nhơn quả mà nói: Thời Phật đây (Thích Ca) dạy bảo văng sanh
mới được thấy Phật A Di Đà, là
đây
Bổn kia Thỉ, tức là tự tánh sẵn có trí thành Phật là Bổn. Y nơi Bổn
trí mà t́m Phật trí mới đặng thành Phật là Bổn, Thỉ lẫn Thông, thường
giác bất muội, sáng cả trời, chói soi cả đất, xưa suốt nay, thường nói
kinh trăm ngàn muôn ức pháp hội, như vậy.
Hỏi: Lời sớ sao kinh này chính là phát huy công đức tŕ danh,
khắp khuyên mỗi người cầu sanh về cơi kia, thế sao cứ mỗi mỗi tiêu qui
về tự tánh, thế là phương pháp tŕ danh trở thành lời cực tắc (quá
cao), rơ ràng Tịnh Độ là tâm, hà tất bỏ đây nguyện về kia làm ǵ?
Đáp: Đây chính là trùm cả hai căn, phá cả hai hoặc như trong bài
tự trước đă rơ. Bởi do độn căn chấp nơi sự tướng mà cho là
đủ.
Xem kinh này khiến cho họ biết 'sự' c̣n có 'lư', chớ chấp sự mà bỏ lư.
Người lợi căn chuộng lư tánh mà chấp không, xem kinh này khiến cho họ
biết lư c̣n ở trong sự, chớ nên bỏ sự chỉ t́m lư.
Lại kinh này vốn v́ mượn hai chữ danh hiệu của Phật kia để chỉ
rơ tự tâm của ḿnh, cũng đồng ư với kinh Thập Lục quán. Thời những
người muốn ngộ tâm ḿnh, chính phải niệm Phật cầu văng sanh.
Lại, vị Bồ Tát c̣n phải gần Phật như trong khoa Giáo Khởi trước
đă nói. Thế thời người đă ngộ tâm ḿnh, cũng chính phải niệm Phật cầu
sanh, có chi phải nghi vậy?
Lại, kinh Duy Ma nói: "Tuy biết cơi nước của chư Phật cùng với
chúng sanh là không, v́ nhơn duyên giả có, nhưng thường tu Tịnh Độ và
giáo hóa chúng sanh" cho nên lo là lo với tâm ḿnh mà ḿnh chẳng ngộ
vậy thôi. Nếu tâm ḿnh mà ḿnh đă tỏ ngộ rồi thời không có một Pháp
nào ra ngoài tự tâm. Bấy giờ tức tâm là cảnh, tức cảnh là tâm, văng
sanh về Tịnh Độ, ra mắt Phật Di Đà, đă chẳng ngại chi với duy tâm, mà
cũng không hệ ǵ với tự tánh!
Lại hỏi: Người xưa nói kinh Hoa Nghiêm là kinh cực giáo tối
thượng thừa, đều có thể tu theo phép quán hạnh để rơ các pháp môn th́
chẳng nói chi; c̣n từ kinh Phương Đẳng sắp xuống (trong Tiểu Thừa)
cũng bảo tu pháp quán hạnh làm sao được?
Cổ đức đáp: Các kinh liễu nghĩa (Đại Thừa) cùng kinh bất liễu
nghĩa (Tiểu Thừa) cũng đều là liễu nghĩa cả v́ chỉ có một cái tâm mà
thôi.
Căn cứ theo đây, thời bực viên cơ đối với các kinh giáo, kinh
giáo nào mà chẳng viên; những bậc đă nhận được lư tâm khi gặp sự th́
sự ǵ chẳng đúng lư? |