|
Mỗi bộ
kinh có tên riêng và tên chung. Tên riêng th́
chỉ đặc biệt bộ kinh ấy có; tên chung là tên phổ
thông kinh nào cũng có.
Tên riêng là ǵ? Như tên "Phật thuyết A Di Đà"
chính là tên riêng, chỉ có bộ kinh này được gọi
thôi, c̣n những kinh khác th́ không. "Kinh" là
tên chung, tên chung này kinh nào cũng có.
"Chung" là chung của các kinh, "riêng" là chỉ
riêng của kinh này.
Không nên xem thường bộ kinh này, v́ là kinh
thường tụng vào buổi chiều trong chùa. Nhất là
kinh này lại là của Phật nói ra.
Có năm hạng người có thể nói kinh: 1/ Phật; 2/
Đệ tử Phật; 3/ Chư Thiên; 4/ Tiên; 5/ Hóa Nhân,
tức là người do Phật hay chư Thiên biến hóa ra.
Trừ kinh của Phật nói ra, kinh điển của bốn hạng
người kia nói phải qua sự ấn chứng của Phật mới
được gọi là kinh, nếu không th́ không thể gọi là
kinh được.
Kinh này là từ kim khẩu của Phật giảng nói lư vi
diệu, không cần phải thưa thỉnh. Các kinh điển
khác th́ phải có người thưa hỏi Phật mới nói ra.
Chỉ riêng kinh A Di Đà này là không có ai thưa
hỏi, Phật tự nói ra. Tại sao thế? V́ nghĩa lư
kinh này rất huyền diệu, trí huệ của hàng Thanh
văn không thể đạt đến được, tất cả hàng Bồ tát
cũng không thể hiểu rơ, cho nên không có nhân
duyên người thưa hỏi về pháp môn Tịnh độ. Chỉ v́
pháp môn này đáng được nói ra, cho nên Đức Phật
xem thấy căn cơ thành thục bèn tự nói kinh này.
Kinh này v́ thế rất trọng yếu trong Phật giáo.
Tại sao kinh này lại rất trọng yếu? Khi Phật
Pháp sắp diệt, diệt trước nhất là Kinh Lăng
Nghiêm, v́ tất cả Ma vương đều rất sợ chú Lăng
Nghiêm. Sau khi Kinh Lăng Nghiêm diệt, các kinh
khác lần lượt diệt theo. Lúc bấy giờ dù có giấy
đi nữa, nhưng trên giấy không có chữ. Sau cùng
chỉ c̣n Kinh A Di Đà lưu lại thế gian một trăm
năm để hóa độ vô lượng vô biên chúng sanh mà
thôi. Nhờ sáu chữ hồng danh Nam Mô A Di Đà Phật
mà rất nhiều người được độ, có đến số vô lượng
vô biên. Sau đó trong sáu chữ hồng danh lại mất
đi hai chữ "Nam mô", chỉ c̣n "A Di Đà Phật" lưu
lại một trăm năm nữa. Sau đó Phật pháp mới diệt
hẳn. Kinh này diệt sau cùng nên là kinh rất
trọng yếu trong Phật pháp.
Bây giờ giảng về tựa kinh. Tựa kinh này là "Phật
Thuyết A Di Đà Kinh."
"Phật" là ǵ? Phật là bậc đại giác, giác ngộ tất
cả pháp không có mảy may mê lầm. Phật là bậc
nghiệp hết t́nh không, nghiệp chướng đă hết,
t́nh cũng khô cạn. Phàm phu là kẻ nghiệp nặng
t́nh mê, đắm trước t́nh ái nên gọi là chúng sanh.
Phật có đủ ba giác ngộ nên là bậc đại giác. Ba
giác ngộ là:
1. Bản giác: Vốn đă là giác ngộ.
2. Thỉ giác: Mới giác ngộ.
3. Cứu cánh giác: Giác ngộ đến cực điểm.
Ba giác ngộ này có thể nói là: Tự giác, Giác tha,
Giác hạnh viên măn. Hàng phàm phu chúng ta là
bất giác, một ngày từ sáng đến tối tự cho là
thông minh, nhưng kỳ thực là kẻ ngu si không
biết ǵ cả. Cũng giống như người đánh bạc tự cho
ḿnh là thắng bạc, nhưng sự thực là thua. Tại
sao lại điên đảo như thế? Tại v́ quá mê lầm.
Biết rơ việc ấy sai mà vẫn cứ làm, đó là v́ quá
mê vậy. Càng mê càng lún sâu, càng lún sâu càng
mê thêm. Phải làm sao đây? Cần phải giác ngộ mới
được.
Phật cũng là một phần tử trong chúng sanh, cũng
là một chúng sanh, nhưng Ngài không mê. Ngài
giác ngộ, đó là tự giác. Người tự giác không
giống với phàm phu, cũng chính là người Nhị thừa:
Thanh văn, Duyên giác. Người Nhị thừa là bậc tự
ngộ, tự giác mà không giác tha, cho nên gọi là
Thanh văn thừa. Giác tha chính là Bồ tát. Bồ tát
không phải v́ chính ḿnh, không giống với hàng
Nhị thừa là bậc tự liễu ngộ, tự ḿnh giác ngộ
rồi không có phát tâm làm cho người khác cũng
giác ngộ. Bồ tát phát tâm không giống như thế,
Bồ tát phát tâm muốn làm lợi ích cho tất cả
chúng sanh mà không cần chúng sanh làm lợi ích
cho chính ḿnh. Đó là dùng phương pháp tự ḿnh
giác ngộ đem giáo hóa chúng sanh, khiến cho tất
cả chúng sanh cũng đều giác ngộ không c̣n mê mờ
nữa, đó là thực hành Bồ tát đạo. Người Nhị thừa
tu tứ diệu đế Khổ, Tập, Diệt, Đạo và mười hai
nhân duyên.
Thế nào là mười hai nhân duyên? Mười hai nhân
duyên là Vô minh duyên hành, Hành duyên
Thức,Thức duyên Danh Sắc, Danh sắc duyên Lục
nhập, Lục nhập duyên Xúc, Xúc duyên Thọ, Thọ
duyên ái, ái duyên Thủ, Thủ duyên Hữu, Hữu duyên
Sanh, Sanh duyên Lăo tử.
Mười hai nhân duyên này từ đâu mà có? Từ Vô minh
mà có. Nếu ta không có Vô minh th́ mười hai nhân
duyên này không thể phát sinh tác dụng được. Tại
v́ ta có Vô minh nên cái này kéo theo cái khác
mà có. Hàng Nhị thừa tu chính là những pháp này.
C̣n Bồ tát th́ vượt qua giai đoạn này, các Ngài
tu Lục độ vạn hạnh, như:
1. Bố thí độ tham lam: Nếu người muốn hết tham
lam th́ phải bố thí, bỏ không được cũng phải bỏ.
Không bỏ chính là tham lam nên bỏ không được.
Cho nên nói bố thí độ tham lam.
2. Tŕ giới độ hủy phạm.
3. Nhẫn nhục độ giận dữ: Nếu tánh t́nh hay giận,
th́ phải nên tu hạnh nhẫn nhục. Phàm gặp việc
phải nhẫn nại, không nên cả ngày giống như A tu
la, không nói được lời nào ḥa nhă, nói ra th́
mắt trợn trừng giống như mắt ḅ. Đó đều là cảnh
giới A tu la.
4. Tinh tấn độ giải đăi: Nếu giải đăi cần phải
tu tinh tấn để đẩy lùi giải đăi đi.
5. Thiền định độ tán loạn: Nếu ḿnh cứ vọng
tưởng lung tung th́ phải tu Thiền định. Nếu
không có vọng tưởng th́ tán loạn cũng không,
điều cần nhất là phải có trí huệ.
6. Trí huệ độ ngu si: Có trí huệ th́ không c̣n
ngu si nữa, nếu ngu si thời không có trí huệ.
Trước không có trí huệ, mà nay có trí huệ, chính
là độ ngu si đấy, như ánh sáng đẩy lùi bóng tối
vậy. ánh sáng là trí huệ, bóng tối là ngu si.
Bồ tát tu Lục độ vạn hạnh, tự giác giác tha,
khác với hàng Nhị thừa là chỗ này.
Giác măn chính là diệu giác, là Phật. Phật tự
giác, cũng giác tha, cho nên Phật là giác hạnh
viên măn. Phật nếu nói đầy đủ là Phật-đà-gia, v́
người Trung Quốc thích nói gọn cho nên gọi tắt
là Phật. Người Tây phương nói Buddha cũng là nói
tắt của Phật-đà-da. Có người lại nói: Thầy giảng
tới giảng lui về Phật nhưng tôi vẫn không biết
Phật là ai? Tôi xin nói cho bạn biết: Bạn chính
là Phật đó!
Hỏi: Sao tôi lại không biết?
- Bạn không biết đó chính là Phật. Nhưng Phật
của bạn không phải là Phật đă thành, mà là Phật
chưa thành.
Đến đây quư vị mới hiểu: A! Th́ ra Phật là người
phàm tu mà thành, vậy ai ai cũng có thể tu hành
thành Phật được. Là người nếu giác ngộ th́ chính
là Phật; trái lại th́ là chúng sanh.
Phật c̣n có Ba Thân, Bốn Trí, Năm Nhăn, Sáu
Thông. Chúng ta là chúng sanh, dù có tánh Phật,
đều có thể thành Phật, mà v́ chưa chứng được quả
Phật nên không có ba thân, bốn trí, năm nhăn,
sáu thông này. Phật là từ phàm phu tu hành đến
quả vị Phật mới có đầy đủ những thứ kể trên. Cho
nên có người nói: "Tôi đây chính là Phật", đó
thiệt là si mê quá mức! Chưa thành Phật mà lại
nói ta đây là Phật, rơ ràng là dối ḿnh dối
người. Thật là kẻ đại si mê trên thế gian. Tuy
mọi người đều có thể thành Phật, nhưng ai nấy
đều phải tu hành, có đủ Ba Thân, Bốn Trí mới có
thể thành Phật, chẳng phải chỉ có Năm Nhăn hoặc
một ít thần thông mà thành Phật được.
Ba Thân là:
1/ Pháp thân
2/ Báo thân
3/ Hóa thân
Bốn Trí là:
1/ Đại viên cảnh trí;
2/ Diệu quan sát trí;
3/ Thành sở tác trí;
4/ B́nh đẳng tánh trí.
Sáu thông là:
1. Thiên nhăn thông: Có thể thấy được tất cả
hành động của trời và người.
2. Thiên nhĩ thông: Có thể nghe được những tiếng
nói và thanh âm của người ở trên trời.
3. Tha tâm thông: Có thể biết được những ư tưởng
trong ḷng người khác.
4. Túc mạng thông: Chẳng phải chỉ biết hiện tại,
mà cả đến quá khứ cũng biết nốt.
5. Thần túc thông: (C̣n gọi : Thần cảnh thông)
Thứ thần thông này không thể nghĩ bàn, cảnh giới
rất vi diệu.
6. Lậu tận thông: Giống như là dưới đáy b́nh
nước có một lỗ hổng, nước đều từ lỗ hổng đó chảy
ra hết. Nay không c̣n chảy nữa, v́ lỗ hổng ấy đă
bị bịt kín, nên gọi là lậu tận.
Những ǵ là lậu tận? Tức là không có tâm dâm dục
th́ là không có lậu; không có tâm tham lam cũng
là không có lậu; không có tâm si cũng là không
có lậu. Tóm lại, tám vạn bốn ngàn những tập khí,
lỗi lầm đều không có, gọi là Vô lậu.
Năm nhăn là:
1/ Thiên nhăn
2/ Nhục nhăn
3/ Huệ nhăn
4/ Pháp nhăn
5/ Phật nhăn.
Có bài kệ nói về năm nhăn như thế này:
Thiên nhăn thông không ngại,
Nhục nhăn ngại không thông,
Pháp nhăn chỉ quán tục,
Huệ nhăn rơ chơn không,
Phật nhăn ngàn mặt nhật:
Chiếu khác, thể lại đồng.
1. "Thiên nhăn thông không ngại": Thiên nhăn
thông suốt không ngăn ngại, cho nên gọi là
"thông không ngại". Người ấy có thể nh́n thấy sự
việc trong tám vạn đại kiếp, nhưng không thể
thấy được ngoài tám vạn đại kiếp.
2. "Nhục nhăn ngại không thông": Nhục nhăn có
thể nh́n thấy cảnh tượng có chướng ngại. Trái
lại, Thiên nhăn có thể nh́n thấy cảnh tượng
không chướng ngại.
3. "Pháp nhăn chỉ quán tục": Pháp nhăn là quán
Tục đế, quán sát tất cả Tục đế ở thế gian, đạo
lư thế tục.
4. "Huệ nhăn rơ chơn không": Huệ nhăn c̣n kêu là
trí huệ, hay rơ rành Chơn không.
5. "Phật nhăn ngàn mặt nhật: Chiếu khác, thể lại
đồng": Phật nhăn không phải chỉ ở trên mặt Đức
Phật mới có, mà mỗi chúng ta đều có Phật nhăn,
chỉ có điều mở hay không mở mà thôi. Khi Phật
nhăn mở ra, khác nào ánh sáng ngàn mặt trời, có
thể chiếu soi vạn sự vạn vật, nhưng bản thể lại
là đồng nhau.
Phật có đủ Ba Thân, Bốn Trí , Năm Nhăn, sáu
thông; nếu ta nói ḿnh là Phật th́ phải đủ những
thứ trên mới có thể nói là thành Phật được, bằng
không chỉ là phàm phu. Nếu muốn làm người tốt
th́ không nên lừa người khác.
Phật Thích Ca Mâu Ni là Giáo chủ của thế giới Ta
Bà. Thế giới Cực Lạc mà Ngài nói đến có Giáo chủ
là Phật A Di Đà. Cơi nước ấy rất trang nghiêm,
mặt đất bằng vàng ṛng.
Thế nào gọi là thế giới Ta Bà? Ta Bà là tiếng „n
Độ, dịch sang tiếng Trung Quốc là Kham Nhẫn, có
nghĩa là thế giới Ta Bà khổ như thế, chúng sanh
cũng kham nhẫn thọ những khổ ấy. Thế giới Ta Bà
chính là thế giới mà chúng ta đang ở, có Đức
Thích Ca Mâu Ni Phật làm Giáo chủ. Thích Ca là
họ của Phật, Mâu Ni là tên của Phật, đều là
tiếng Phạn, dịch sang tiếng Trung Quốc là Năng
Nhân? Năng Nhân là ǵ? Là hay dùng ḷng nhân ái
thương người để giáo hóa chúng sanh, cũng chính
là ḷng từ bi. Từ hay cho vui, Bi hay cứu khổ,
dứt trừ nỗi khổ của chúng sanh mà ban cho họ
niềm an lạc.
Bi có ba thứ:
1. Ái kiến bi: Ḷng bi này phàm phu đều có đủ,
đó cũng là một thứ tâm đồng t́nh, gọi là Ái kiến
đồng t́nh. Sao gọi là Ái kiến bi? Những người
nào gần gũi ḿnh th́ ḿnh yêu mến họ, thương xót
họ; khi họ xa ḿnh hay là người xa lạ th́ không
yêu mến, không thương xót họ nữa. Những bạn bè
thân thích ḿnh đều có thể giúp đỡ họ, khi thấy
họ đau khổ th́ hết sức giúp đỡ họ, đó gọi là Ái
kiến bi. Nhưng khi họ ở xa, hoặc không liên can
ǵ đến ḿnh, khi họ đau khổ, ḿnh cũng bỏ mặc.
Tại sao thế? Tại v́ đối với họ ḿnh không có
ḷng yêu mến (Ái). Có yêu mến mới có thứ Bi này.
Hơn nữa, họ đồng loại với ḿnh, mới có thứ Ái
kiến bi này; nếu không đồng loại sẽ không có
ḷng Bi ấy. Như đối với súc sanh: ḅ, dê, gà,
ngỗng... ḿnh không những không có Ái kiến bi,
mà c̣n muốn ăn thịt nó, cướp lấy sinh mạng nó để
nuôi dưỡng sinh mạng của chính ḿnh, đó là v́
không có Ái kiến bi. May mắn nhân loại c̣n không
đến nỗi ăn thịt đồng loại của ḿnh. Tuy ăn ḅ,
dê, gà, ngỗng, cá... nhưng chưa có thói người ăn
thịt người, như vậy c̣n khá hơn là hổ, báo, sói
một tí. Nhưng hổ báo cũng không ăn thịt đồng
loại của nó. Nhân đó người không ăn thịt người
mà chỉ ăn thịt súc vật, chỉ v́ đối với súc vật
không có ḷng Ái kiến bi mà ra.
2. Pháp duyên bi: Ḷng bi này của hàng Nhị thừa.
Hàng Nhị thừa không chỉ có Ái kiến bi mà c̣n có
Pháp duyên bi. Họ quán tất cả pháp đều là từ
nhân duyên sinh. Nhưng nhân không có tánh, đương
thể tức không, tức là ngay nơi bản thân của nhân
duyên không có tự tánh nên "đương thể tức
không". Hàng Nhị thừa quán pháp "Duyên không" mà
sanh tâm Bi cho nên họ giáo hóa chúng sanh mà
không dính mắc ở tướng chúng sanh, v́ tất cả đều
là không. Đó là Pháp duyên bi của hàng Nhị thừa.
3. Đồng thể bi: Chư Phật, Bồ tát c̣n có một thứ
Bi nữa, tức là Đồng thể đại bi. Chư Phật, Bồ tát
cùng chúng sanh đồng thể, nhơn v́ Pháp thân của
Phật cùng khắp tất cả, tâm tánh của Phật cũng
cùng khắp tất cả, nên chúng sanh đều bao gồm ở
trong tâm tánh của Phật. Chúng ta là chúng sanh
trong tâm Phật. Phật là Phật trong tâm chúng
sanh. Tâm chúng sanh cùng tâm Phật đều là "dọc
cùng ba tế, ngang khắp mười phương" như nhau. V́
thế giữa Phật và chúng sanh là đồng thể, không
có sai khác. Đây là Đồng thể đại bi.
Năng Nhân của Phật Thích Ca Mâu Ni có đủ cả ba
thứ bi ở trên, nếu nói rộng ra th́ là vô lượng
vô biên. Mâu Ni là tên của Phật. Đây cũng là
tiếng Phạn, Trung Quốc dịch là Tịch Mặc. Tịch là
lặng lẽ không lay động. Mặc là miệng không nói
năng, chẳng những miệng không nói mà tâm cũng
không nghĩ, đó là cảnh giới không thể nghĩ bàn.
Cho nên Đức Phật Thích Ca Mâu Ni dù là nói pháp,
nhưng nói mà chưa từng nói; dù chưa nói pháp,
nhưng chưa nói mà đă nói. "Nói mà không nói,
không nói mà nói". Đó là tịch mặc, dù lặng lẽ
không động mà lại cảm thông; cảm thông nhưng vẫn
im lặng bất động. Đó là tên riêng của đức Thích
Ca Mâu Ni. Chỉ có Đức Phật này có tên đó. Đức
Phật khác th́ không gọi tên này, v́ đây là tên
riêng. Phật là tên chung. Hễ được thành Phật th́
đều gọi chung là Phật.
Bây giờ giảng về chữ "Thuyết". Thế nào gọi là
thuyết? V́ sao cần phải thuyết? Về chiết tự, chữ
"Thuyết" là chữ Ngôn nằm bên chữ Đoái có hai
chấm trên là chữ nhơn nghĩa là người, chữ Khẩu ở
giữa nghĩa là miệng, c̣n chữ nhơn ở dưới là
người khác: Có nghĩa là một người nói chuyện với
một người khác. Nói những chuyện ǵ? Nói những
lời ḿnh muốn nói, những điều vui thích trong
ḷng, cũng chính là nói được những điều muốn nói
ḿnh sẽ vui thích. Trái lại, nếu nói không được
th́ sẽ không vui thích. Cũng chính là vui thích
v́ được nói ra những điều mà ḿnh đă từng ôm ấp
trong ḷng vậy.
Phật Thích Ca Mâu Ni cùng mười phương chư Phật
đều đă thành Phật, cho nên gọi các Ngài là bậc
Tiên giác, tức là những vị đă tỉnh thức trước
trong một giấc mộng dài. Người phàm phu th́ c̣n
ngủ say trong giấc mộng. Đức Phật chẳng những đă
giác ngộ mà c̣n là bậc Đại giác ngộ nữa; v́ thế
đối với Phật không điều ǵ là chẳng biết, không
điều ǵ là chẳng thấy; do Phật biết cho nên biết
tất cả, do Phật thấy cho nên thấy tất cả. Đức
Phật giác ngộ là do tự ḿnh tu hành mà được
Chánh quả, là người đă đi qua con đường ấy, rồi
đem phương pháp tu hành để chứng được quả vị mà
dạy lại cho tất cả chúng sanh khiến họ cũng
chứng được Phật quả Bồ đề hoàn toàn rốt ráo như
Ngài. Do đó Phật mới cần nói pháp cho chúng sanh
nghe. Đức Phật nói ǵ? Bây giờ Ngài đang nói về
Phật A Di Đà, tức là đang giảng Kinh A Di Đà.
"A Di Đà" là tiếng „n Độ, Trung Quốc dịch là Vô
Lượng Thọ, hoặc Vô Lượng Quang. Sao gọi là Vô
Lượng Thọ? Trong Kinh A Di Đà nói: "Đức Phật kia
thành Phật đến nay đă mười kiếp". Mười kiếp là
có số mực rơ ràng, v́ sao lại nói là Vô Lượng
Thọ? Vô Lượng Thọ là phước đức của Ngài, do
phước mà được sống lâu (Thọ), phước đức ấy vô
lượng nên thọ cũng vô lượng.
Sao gọi là Vô Lượng Quang?
Ánh sáng (Quang) này là ánh sáng của trí huệ.
Ánh sáng trí huệ của Ngài vô lượng nên gọi Ngài
là Vô Lượng Thọ, Vô Lượng Quang.
Đức Phật không phải chỉ có phước đức vô lượng,
mà thần thông biện tài, tướng hảo, đạo tâm tất
cả đều vô lượng; nói vô lượng tức là không có bờ
không có mé để tính được. Nói vô lượng tức là vô
biên, tức là không ở chỗ nào mà chỗ nào cũng có.
Vô lượng là từ "một" mà có, nên nói "Một là vô
lượng, vô lượng là một".
Có một vị giáo sư viết một quyển sách về số mục:
"Như thêm một ṿng tṛn vào sau số mục th́ số ấy
liền thêm lớn, càng thêm nhiều ṿng tṛn th́ số
càng lớn gấp nhiều lần. Nếu thêm ṿng tṛn khắp
cả thiên hạ th́ số mục sẽ lớn hơn không biết bao
nhiêu." Cho nên số mục là vô cùng vô tận vậy.
Thọ mạng, công đức, trí huệ, pháp lực của Phật A
Di Đà đều vô lượng vô biên, dù có thể vẽ không
biết bao nhiêu ṿng tṛn vào sau số mục th́ số
ấy liền thêm lớn, càng thêm nhiều ṿng tṛn th́
số càng lớn gấp nhiều lần. Nếu thêm ṿng tṛn
khắp cả thiên hạ th́ số mục sẽ lớn hơn không
biết bao nhiêu". Cho nên số mục là vô cùng vô
tận vậy.
Thọ mạng, công đức, trí huệ, pháp lực của Phật A
Di Đà đều vô lượng vô biên, dù có thể vẽ không
biết bao nhiêu ṿng tṛn cũng không thể tính
được. V́ là vô lượng nên không có số lượng, về
số học nó là không thể cùng tận (vô cực); ngay
nơi thái không, trong thái không c̣n có thái
không nữa, nên số mục vẫn là vô tận. Phước đức,
trí huệ của Phật A Di Đà đều vô lượng nên gọi là
Phật A Di Đà. Phật A Di Đà cùng Phật Thích Ca
Mâu Ni đều là từ con người tu hành mà thành Phật
chớ không phải là từ trên trời rơi xuống hoặc từ
dưới đất vọt lên. V́ thế kinh A Di Đà chiếu theo
sự phân loại của kinh Phật th́ được liệt vào
loại "quả nhân". V́ Phật A Di Đà là từ con người
(nhân) tu hành chứng thành (quả) Phật, cho nên
xếp kinh này vào loại "quả nhân".
Bây giờ đến chữ "Kinh". Tên chung, Kinh là Khế
kinh. Sao gọi là Khế kinh? "Khế" có nghĩa là
hợp, tức là trên th́ khế hợp với lư nhiệm mầu
của chư Phật, dưới th́ khế hợp với căn cơ của
chúng sanh, đó gọi là Kinh. Kinh có năm nghĩa:
1. Kinh là bản ư của pháp, là căn bổn của pháp,
nên nói Kinh là gốc của mọi pháp. Phật thông đạt
cội nguồn mọi pháp nên Ngài thuyết giáo. Do vậy
giáo là căn bổn của pháp, dùng phương pháp "Tứ
tất-đàn" để diễn đạt căn bổn của pháp. "Tất" là
cùng khắp, "Đàn" là bố thí, tức là bố thí cùng
khắp đến tất cả chúng sanh. Bốn thứ Tất-đàn là:
Thế gian tất-đàn: Nói pháp thế gian.
Đối trị tất-đàn: Đối trị, sửa đổi lỗi lầm của
chúng sanh.
Vị nhơn tất-đàn: V́ chúng sanh mà thuyết pháp.
Đệ nhất nghĩa tất-đàn: Ban truyền giáo lư rốt
ráo (đệ nhất nghĩa) cho tất cả chúng sanh.
Nói cho cùng, th́ pháp vốn không thể diễn bày,
nhưng v́ hành Bốn Loại Bố Thí Pháp bốn Tất-đàn
ghi trên nên Đức Phật có thể diễn đạt pháp. V́
vậy, chữ Kinh có nghĩa là Căn Bản Pháp
2. Kinh là nghĩa pháp vi diệu: Pháp vi diệu là
pháp rất vi tế, v́ tất cả đạo lư huyền diệu sâu
xa đều ở trong Kinh. Nếu không nói ra th́ không
ai biết. Cho nên Kinh là phát huy đạo lư vi
diệu.
3. Kinh có nghĩa là suối nguồn: Như nước suối từ
trong đất tuôn vọt lên khỏi mặt đất không ngớt,
những giáo lư từ các Kinh bản tuôn trào như nước
suối. Cho nên ví Kinh dụ như suối nguồn.
4. Kinh có nghĩa là chừng mực: Xưa nay thợ mộc
hoặc thợ đá, lấy dây mực làm chuẩn. Từ trong hộp
mực kéo ra sợi dây mực rồi khảy dây mực một cái,
mực trên dây in lên gỗ hoặc đá, liền có một
đường thẳng hiện ra. Kinh giống như vậy và cũng
tương tự như com-pa và thước vuông dùng để hướng
dẫn người.
5. Kinh có nghĩa là kết tràng: Các thứ hoa kết
thành một tràng hoa. Giáo lư được liên kết với
nhau trong Kinh điển cũng như vậy.
Ngoài ra Kinh c̣n có nghĩa là "Quán xuyến" hay
xâu kết với nhau, tức là bao nhiêu ư nghĩa chủ
yếu Phật dạy được xâu kết lại trong Kinh. Lại có
nghĩa "Nhiếp tŕ", tức Kinh điển nhiếp tŕ chúng
sanh được giáo hóa. Lại nữa, Kinh là "phương
pháp"; từ xưa đến nay ai nấy đều dùng phương
pháp này để tu hành, cho nên gọi Kinh là một thứ
phương pháp. Kinh c̣n có nghĩa là "thường" v́
Kinh là thường hằng không biến đổi, một chữ cũng
không thể bớt đi hay thêm vào được, thiên ma
ngoại đạo cũng không thể phá hoại được. Kinh là
thẳng tắt, là con đường của người tu hành, bất
cứ ai đi bất cứ đâu đều phải nương theo đường ấy
mà đi; ví như muốn đến New York cần phải đi về
hướng Đông, nếu đi thẳng qua hướng Tây th́ không
thể nào đến được. Đồng với lư này, muốn thành
Phật ắt phải tiến theo con đuờng thành Phật, nếu
không th́ dù đi tới đi lui cũng không cách ǵ
đến quả vị Phật được. Kinh là một thứ điển tịch,
sách vở, cẩm nang tiêu chuẩn để dựa vào mà tu
hành. Có Kinh giải thích pháp thế gian (thế sự).
Kinh là một bộ đại tự điển, bất cứ đạo lư nào
cũng đều có thể t́m thấy trong bộ Đại tự điển
này, bất cứ chữ nào không hiểu rơ cũng có thể
t́m thấy ở đây. Kinh c̣n là hơi thở chân chánh
cần thiết của mỗi con người; nếu người không thở
nữa, tức gần đến cơi chết. Kinh là không khí
chơn chánh trong hư không, học kinh tức là hớp
một hơi không khí tươi mát, không ai có thể tách
rời không khí tươi mát được. "Tôi không học Phật
pháp và kinh Phật, th́ sẽ thở không được không
khí này ư?" -Nếu như không khí thường có trong
hư không, ḿnh học hoặc không học th́ không khí
vẫn thường có đó. Vả lại, giữa người và người
thường có sự giao lưu trao đổi không khí với
nhau. Người học Phật hít vào không khí tươi mát
mà cùng với người khác có sự quan hệ liên đới
lẫn nhau, khiến cho người kia cũng gián tiếp
nhận được ảnh hưởng. Ngoài ra, Kinh cũng là món
ăn tinh thần, lúc đương sầu muộn hoặc có điều
không vừa ư, tụng một biến Kinh th́ tinh thần sẽ
sảng khoái ngay, sầu muộn tiêu tan cả, mà tâm
t́nh thơ thới, thông đạt vô ngại.
Kinh là tên chung. A Di Đà là tên riêng. Tên
riêng là tên chỉ Kinh này có, mà kinh khác th́
không. Kinh Phật là tài sản của Phật để lại
nhiều vô lượng vô biên, nhưng nói chung không
ngoài bảy loại. Kinh cũng là một loại tên.
Như Ấn Độ có bốn loại giai cấp không đồng, mỗi
loại đều có tên gọi đặc biệt, như các gịng họ
Bà la môn, Sát đế lợi, Thủ đà la, Chiên đà la;
nhân loại cũng có nhiều giống: vàng, trắng, đỏ,
đen... Kinh có thể chia làm bảy loại lập đề như
sau:
1. Chỉ lập đề theo người: Chỉ lấy người làm tên
Kinh, như "Phật thuyết A Di Đà Kinh". Phật là
người, A Di Đà cũng là người, người chứng quả
nói về người chứng quả. Cho nên xếp vào loại chỉ
nói về người. Đây là dùng hai vị chứng quả làm
tên Kinh.
2. Chỉ lập đề theo pháp: Chỉ lấy pháp làm tên
Kinh, như "Niết Bàn Kinh". Niết bàn là pháp bất
sanh bất diệt, dùng pháp này để biểu thị cho tên
Kinh.
3. Chỉ lập đề theo dụ: Chỉ dùng tỷ dụ để thuyết
minh chơn lư vi diệu của Kinh. Nếu nói thẳng th́
không cách ǵ để hiểu rơ bèn dùng tỷ dụ để
thuyết minh th́ mới hiểu được, như "Phạm Vơng
Kinh". Phạm vơng là màng lưới của Đại Phạm Thiên
Vương. Lưới dệt bằng thứ vật chất rất quư trọng.
Chỗ đặc biệt của mạng lưới này là trên mỗi mắt
lưới đều có kết một hạt bảo châu. Những hạt bảo
châu ấy đều là Dạ minh châu sáng chói hơn đèn
điện. Mỗi hạt bảo châu lại chiếu soi một hạt bảo
châu khác, mỗi ánh sáng chiếu vào nhau, mỗi mắt
lưới thông nhau, ánh sáng chói lẫn nhau nhưng
không xung đột nhau. Ánh sáng ấy không ganh ghét
một ánh sáng cùng chiếu như ḿnh. Không phải là
chỉ cho tự ḿnh phát sáng mà không cho người
khác phát sáng. Giữa người với người, có lúc có
thể bất đồng ư kiến; nhưng giữa ánh sáng và ánh
sáng th́ không có xung đột và đối nghịch nhau.
Kinh này dùng lưới Phạm thiên làm tỷ dụ. Mỗi
điều giới luật trong Kinh cũng như một hạt bảo
châu phát ra ánh sáng vậy. Người xuất gia quy y
Tam Bảo giữ giới thanh tịnh, đối cảnh không động
tâm, có thể vượt ngoài sự vật mà được thanh
tịnh, giống như lưới báu của Đại Phạm Thiên
Vương vậy.
4. Lập đề theo người và pháp: Như "Văn Thù Vấn
Bát Nhă Kinh". Ngài Văn Thù là bậc đại trí,
người thông minh nhất trong hàng Bồ tát. Chỉ có
vị Bồ tát thông minh nhất mới có thể hỏi được
pháp Bát Nhă trí huệ to lớn nhất mà thôi.
5. Lập đề theo người và dụ: Như "Như Lai Sư Tử
Hống Kinh". Như Lai nói pháp như Sư tử rống. Sư
tử là vua trong loài thú, một khi nó rống lên
th́ trăm thú đều sợ hăi, cho nên nói rằng:
Sư tử rống lên, nói vô úy
Trăm thú nghe đến đều nát óc
Hương tượng chạy trốn mất uy phong
Trời rồng lắng nghe sanh mừng rỡ.
Hương tượng dù thuộc loài thú lớn, nhưng nghe
Pháp vương nói pháp cũng phải cụp đuôi trốn
chạy, mất cả uy phong thường nhật. Trời rồng bát
bộ nghe pháp này lặng yên, hoan hỷ tán thán,
sanh tâm mừng vui.
6. Lập đề theo pháp và dụ: Như "Diệu Pháp Liên
Hoa Kinh". Diệu pháp là pháp, Liên hoa là tỷ dụ,
cho nên nói là theo pháp và dụ.
7. Lập đề với đủ cả người, pháp và dụ: Như "Đại
Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh". Đại phương
quảng là diệu pháp để thành Phật, Phật là người
chứng quả, Hoa Nghiêm là tỷ dụ: Có Nhân hoa vạn
hạnh, tức có quả đức vô thượng trang nghiêm. Tên
kinh này đầy đủ cả người, pháp và dụ.
Phật thuyết A Di Đà Kinh, Phật tức là Phật Thích
Ca Mâu Ni, mà Kinh A Di Đà là Kinh được Phật nói
ra. Nhưng v́ chúng sanh không biết có Phật A Di
Đà phát nguyện nhiếp thọ chúng sanh, cho nên kim
khẩu Đức Phật Thích Ca Mâu Ni nói ra là không
thưa thỉnh mà tự nói (vô vấn tự thuyết).
Toàn bộ Kinh tạng của Phật giáo cộng chung có
mười hai bộ:
1. Bộ Trường hàng: Giữa một bản Kinh không có
ngắt đoạn cho nên gọi là Trường hàng.
2. Bộ Trùng Tụng: Lập lại ư nghĩa đă nói trong
Kinh; nói lập lại văn Kinh Trường hàng để dễ ghi
nhớ.
3. Bộ thọ kư: Trong Kinh điển đề cập đến việc
Đức Phật trước thọ kư cho Đức Phật sau, ví như
nói: "Ông ở kiếp nào đó sẽ được thành Phật tên
là ǵ? Thọ mạng bao lâu? Chúng sanh giáo hóa
được nhiều ít? — trước quốc độ nào?..." đều là
dự báo trước, đó gọi là Thọ kư.
4. Độ nhơn duyên: Do các thứ nhơn duyên mà nói
các thứ pháp.
5. Bộ Thí dụ: Dùng một sự vật nào đó, tỷ dụ cho
một sự vật nào đó để thuyết minh chỗ nhiệm mầu
của Phật Pháp.
6. Bộ Bổn sự: Hoặc Đức Phật Thích Ca Mâu Ni tự
thuật việc tiền thân, hoặc thuật lại những sự
tích tiền thân của một vị Phật hay một vị Bồ tát
nào đó.
7. Bộ Bổn sanh: Nói về sự tích đời này của Phật
Thích Ca Mâu Ni, hoặc việc đời này của một vị Bồ
tát nào đó.
8. Bộ Phương quảng: Phương là bốn phương, Quảng
là rộng khắp, biểu thị pháp được nói ra rất tinh
vi rộng lớn.
9. Bộ Vị tằng hữu: Những điều này là từ trước
đến nay chưa từng nói ra hay bây giờ mới nói.
10. Bộ Bất vấn tự thuyết: Như Kinh A-Di-Đà, do
v́ bộ Kinh này rất trọng yếu, tất cả hàng Thanh
văn không thể hiểu được, cho đến các vị Bồ tát
cũng chưa có thể đạt đến cảnh giới này, nhơn đó
Đức Phật tự phóng ra ánh sáng chấn động cơi nước
để nói ra bộ Kinh này.
Thông thường người ta cho rằng pháp môn Niệm
Phật là của mấy bà già, người có trí th́ không
cần đến, đây là ư nghĩ rất sai lầm. Nếu ḿnh
không Niệm Phật th́ ḿnh luôn luôn vọng tưởng,
hết tưởng Đông tưởng Tây đến tưởng Nam tưởng
Bắc, tạp niệm lăng xăng, dục niệm khởi lung
tung, có dùng được ǵ đâu? Niệm Phật có thể trừ
được những vọng tưởng này. Có một khắc niệm Phật
th́ có một khắc không vọng tưởng, cho đến từ
sáng đến tối niệm niệm không ĺa Phật, th́ ngày
ấy không vọng tưởng. Vọng tưởng không nổi lên
tức là Diệu pháp, cho nên niệm Phật có thể đối
trị được các thứ bịnh như vọng tưởng, tán loạn,
tham sân si...
Một câu Di Đà: vạn pháp vương
Năm thời, tám giáo phán tinh tường
Hành nhơn chỉ việc chuyên tŕ niệm
Sẽ nhập Tịch Quang bất động thường.
Bài kệ này tôi viết hồi năm mười bảy tuổi. Niệm
Phật có thể dứt hết cuồng tâm, cho nên Kinh này
là cảnh giới cao nhất, Bồ tát đều không thể thưa
hỏi được, v́ họ không biết được chỗ vi diệu của
niệm Phật cho nên Đức Phật không đợi thưa hỏi mà
tự nói ra pháp môn vi diệu này. Thế th́ tự hỏi
mà nói có phải là pháp môn vi diệu hay không?
-Đúng thế, đều là pháp môn vi diệu thậm thâm cả!
11. Bộ Cô khởi: Cũng gọi là Phúng tụng. Trong
một bộ Kinh, đó là những bài kệ đứng riêng một
ḿnh, không liên quan ǵ đến kinh văn trước hay
sau cả, hoặc nói ra riêng rẽ về đạo lư, như Kinh
Kim Cang.
12. Bộ Luận nghị: Nghiên cứu luận nghị về nghĩa
lư của một loại Phật pháp.
Có bài kệ về mười hai bộ trên như sau:
Trường hàng, Trùng tụng và Thọ kư,
Cô khởi, Vô vấn mà tự thuyết,
Nhơn duyên, Thí dụ với Bổn sự,
Bổn sanh, Phương quảng, Vị tằng hữu,
Luận nghị cộng thành mười hai bộ.
Bổn ư Kinh này là dạy người ta niệm Phật A Di
Đà. Tại sao phải niệm Phật A Di Đà? Tại v́ Đức
Phật A Di Đà có nhơn duyên rất lớn đối với tất
cả chúng sanh trong mười phương. Phật A Di Đà
khi c̣n ở địa vị hành giả (trước lúc thành Phật,
khi ở nhơn địa tu hành, Ngài tên là Tỳ-kheo Pháp
Tạng), Ngài từng phát bốn mươi tám lời nguyện
lớn, mỗi một nguyện đều muốn độ chúng sanh thành
Phật, và phát nguyện lớn như thế này: "Tất cả
chúng sanh trong mười phương, sau khi tôi thành
Phật, nếu ai thường niệm danh hiệu tôi th́ đều
có thể thành Phật. Những người ấy nếu không
thành Phật đạo th́ tôi cũng không thành Phật".
Như Bồ tát Quán Thế Âm đă nói trong Kinh Đại Bi
Tâm Đà La Ni: "Bạch Thế Tôn! Nếu các chúng sanh
tŕ tụng thần chú Đại Bi mà rơi vào ba đường ác
th́ con thề không thành Chánh giác. Người tŕ
tụng thần chú Đại Bi, nếu không được vô lượng
Tam-muội biện tài th́ con thề không thành Chánh
giác. Người tŕ tụng thần chú Đại Bi mà ở trong
đời hiện tại tất cả những điều mong cầu nếu
không toại nguyện th́ không phải là Đại Bi Tâm
Đà La Ni vậy".
Đức Phật A Di Đà do ḷng Đại từ bi, Đại nguyện
lực, như nam châm hút sắt, nhiếp thọ hết tất cả
chúng sanh trong mười phương vào trong cơi nước
Tịnh độ của Ngài, nếu một chúng sanh nào chưa
được nhiếp thọ th́ Phật A Di Đà cũng nguyện
không thành Phật. Pháp môn niệm Phật là: "Ba căn
khắp độ, lợi độn gồm thâu". Hễ ai xưng niệm danh
hiệu của Phật th́ đều có thể thành Phật. Ba căn
là chỉ ba thiện căn thượng, trung và hạ. Không
luận là người thiện căn lanh lợi, b́nh thường,
cho đến ngu si, chỉ cần thường niệm Phật đều có
thể văng sanh về thế giới Cực Lạc ở phương Tây,
hóa sanh trong hoa sen, không có các khổ, chỉ
thọ những điều vui, ở trong hoa sen thác sanh
làm người, chớ chẳng phải như ở nhơn gian từ
thai mẹ mà sanh ra.
Có người nói: "Niệm Phật chắc có thể thành Phật
hay không? Tôi không tin. Làm sao mà dễ dàng như
vậy?" Niệm Phật mà có thể thành Phật là do nhờ
sức đại nguyện của Phật A Di Đà mà được, chớ nói
rằng không tin. Phật A Di Đà trước kia đă đoan
chắc rằng: "Sau khi ta thành Phật, chỉ cần các
vị niệm danh hiệu của ta các vị cũng thành
Phật". Cho nên người niệm Phật đều có thể thành
Phật. Niệm Phật cũng là trồng thiện căn đấy.
Truớc đây có một ông già khoảng chừng hơn chín
mươi tuổi, già đến độ đi không muốn nổi, không
biết ngày nào sẽ chết, cho nên muốn xuất gia sớm
một tí, v́ cho rằng xuất gia rất dễ dàng, hễ
muốn xuất gia là xuất gia được ngay. Khi ông đến
tịnh xá Kỳ Hoàn, th́ nhằm lúc Phật đi phó trai
vắng. Lúc ấy, đệ tử Phật có rất nhiều vị đă
chứng quả A-la-hán, bèn dùng Thiên nhăn quan sát
nhơn duyên của ông lăo này th́ biết rằng ông ta
trong tám vạn đại kiếp chưa từng gieo trồng chút
căn lành nào cả, nên không cho ông xuất gia. V́
thế có câu:
Chớ bảo xuất gia là dễ được,
Phải do nhiều kiếp trồng căn lành.
Chớ cho xuất gia là rất dễ dàng, v́ việc ấy
không đơn giản đâu. Ông lăo ấy xin xuất gia, bị
cự tuyệt, trong ḷng không vui: "Tôi cho xuất
gia rất dễ dàng, té ra lại khó thế ư?" V́ thế
tâm ư buồn bực, muốn nhảy xuống sông Hằng chết
quách, may nhờ Đức Phật ở xa níu lại và hỏi
nguyên do. Ông lăo đáp:
-Tôi sống cũng không ích ǵ, Phật không có ở
nhà, đệ tử Phật lại không cho tôi xuất gia, muốn
đi làm mướn cũng không ai kêu, chi bằng chết
quách cho xong! (Bấy giờ nhứt định là không có
trợ cấp dưỡng lăo, nếu có chắc ông lăo này không
muốn tự sát đâu).
Phật nói an ủi ông rằng: "Ông không cần phải
nhảy xuống sông làm chi, ta sẽ thâu ông làm đồ
đệ".
Ông lăo hỏi: "Ông là ai mà có quyền ấy?"
-Ta là Phật Thích Ca Mâu Ni đây, ta thâu ông làm
đồ đệ, đệ tử của ta sẽ không phản đối đâu.
Ông lăo nghe nói bèn gạt lệ vui mừng theo Phật
trở về và xuống tóc thọ giới. Sau khi nghe Phật
khai thị, ông liền chứng được Sơ quả.
Tại sao ông có thể chứng được Sơ quả? - Tại v́
trước kia ông muốn chết mà bây giờ cái chết ấy
được khắc phục. Do lúc đầu chưa thỏa ư nguyện
xuất gia mà khởi lên ư niệm nhảy xuống sông tự
sát, c̣n bây giờ ông ta được xuất gia, không cần
phải nhảy xuống sông nữa, cũng kể như là ḿnh đă
chết rồi th́ c̣n có cái ǵ bỏ không được nữa?
Ngay lúc đó được đại tự tại mà chứng Sơ quả.
Điều này làm cho các vị đại A-la-hán nghi ngờ:
"Không có thiện căn làm sao có thể chứng quả
được?" Các Ngài bèn đảnh lễ chân Phật thưa hỏi
về lư do này. Phật nói: "A-la-hán các ông chỉ có
thể thấy được trong ṿng tám vạn đại kiếp ông
lăo này không có thiện căn, nhưng những việc
ngoài tám vạn đại kiếp các ông không thấy được.
Ông lăo này trước tám vạn đại kiếp là một vị
tiều phu, một hôm lên núi đốn củi, gặp một con
cọp, bèn lật đật trèo lên cây trốn, con cọp này
chạy rất nhanh, nhưng ông ta leo lên cây cũng
không đến nỗi chậm, tưởng rằng sau khi trèo lên
cây sẽ thoát nạn. Nào ngờ con cọp này rất thông
minh, nó bắt đầu lấy hàm răng cạp lên thân cây,
thân cây dầu lớn, nhưng cọp ta có hàm răng rất
sắc, cạp bên này một miếng, cạp bên kia một
miếng, chẳng mấy chốc cạp đến một nữa thân cây.
Người tiều phu ấy sợ mất cả hồn vía, thấy tánh
mạng ḿnh như ngàn cân treo sợi tóc, đột nhiên
nhớ đến Phật, bèn cất tiếng niệm lớn: "Nam mô
Phật!" Tiếng niệm Phật lớn ấy làm cho cọp ta sợ
quá cúp đuôi chạy mất. Nhưng người tiều phu ấy
qua việc đó rồi không c̣n nhớ đến niệm Phật nữa,
trong tám vạn đại kiếp lại cũng không có gieo
trồng căn lành nào, nhưng nhơn lành đă gieo
trồng từ trước đến nay đă thành thục, cho nên
được gặp Phật mà có thể xuất gia thành đạo quả.
Đây chính là nhơn duyên xuất gia của ông lăo
này, do đó có thể biết xuất gia không phải là
việc tùy tiện. Có một số người thường nói: "Tôi
muốn xuất gia!" Nhưng những người nói lời này
vẫn c̣n tại gia, đó chính là căn lành của họ
chưa thành thục. Hôm nay có một Tỳ-kheo ni đến
đây, cô ta xuất gia ở Malaka (Mă Lai), lại thọ
giới ở Nhật Bản, cứ nghe cô ta nói là thọ mười
sáu giới, mười tám giới. Nhưng tôi cũng không
biết đó là giới ǵ? Về sau cô ta thâu nhận hơn
một trăm nam đồ đệ. Theo quy củ của Đại ṭng lâm
ở Trung Quốc th́ nam phái chỉ quy y với nam sư
phụ, chớ không thể kính nữ phái làm thầy. Hiện
tại tôi có năm vị Tỳ-kheo và Tỳ-kheo ni quốc
tịch Mỹ sắp thọ giới Cụ túc, nhưng tôi chưa quan
sát được trong tám vạn đại kiếp họ có căn lành
hay không? Sau khi qua một phen khảo sát, tôi
mới cho họ thọ giới Cụ túc. Tôi chỉ thấy họ đă
sửa đổi rất nhiều tập khí vặt vănh, họ không c̣n
hút thuốc, uống rượu, dùng thuốc kích thích; tuy
nhiên, sau khi quy y, họ vẫn phạm giới hút
thuốc, rồi lại sửa đổi, cho nên tạm thời cho họ
có một cơ hội cải hóa. Thời hạn ít nhất phải là
một năm để theo dơi. Xưa nay vị Thầy thâu nhận
đệ tử phải theo dơi đệ tử ḿnh ba năm, đệ tử
phải học hỏi với Thầy ba năm, cộng tất cả là sáu
năm, rồi mới cho là hợp cách xuất gia. Nhưng bây
giờ là thời đại nguyên tử, một năm cũng đủ rồi.
Có người hỏi: "Năm vị xuất gia này trong tám vạn
đại kiếp có gieo trồng căn lành hay không?" -
Bọn họ trong một năm tụng chú Đại Bi, niệm Phật,
bái sám... đă gieo trồng rất nhiều căn lành rồi,
là nhơn thành Phật trong tương lai, nên hứa cho
họ xuất gia. Sở dĩ người đă gieo trồng căn lành
cần phải trân trọng giữ ǵn cho thật kỹ, chớ cho
mất mát. Đừng nên giống như hành vi không đúng
pháp của vị Tỳ-kheo ni đă nói ở trên.
Sau đây xin nói về năm lớp huyền nghĩa của tông
Thiên Thai:
1. Thích danh: Biết được tên mới có thể theo tên
nghĩ đến nghĩa, rồi theo đó mà hiểu rơ về đạo lư
của nó. Cho nên học Kinh, trước hết phải biết
tên của Kinh. Như người ta đều phải có tên, nhơn
đó người ta mới có tên gọi khác nhau, có người
kêu là Trương Tam, có người kê Lư Tứ ...
2. Hiển thể: Sau khi biết tên, lại cần phải biết
thân h́nh người ấy ra sao, gầy béo cao thấp thế
nào ? Nếu không nhận biết th́ khác nào biết được
tên người và h́nh dáng, mà chỉ thấy lưng chớ
không thấy được mặt của người ấy, cho nên trước
phải hiển bày về Thể.
3. Minh tông: Rơ được bản thể th́ phải rơ về
tông tích. Nếu không rơ về tông tích th́ không
thể rơ nghĩa lư, như người có chức nghiệp ǵ.
4. Luận dụng: Dụng là lợi dụng. |