TẠNG THƯ PHẬT HỌC

 

 
KINH KIM CANG 
Dịch nghĩa và lược giải
(Trích Phật Học Phổ Thông)
Ḥa Thượng Thích Thiện Hoa
-o0o-
 
LỜI TỰA

Phật nói kinh Đại Bát Nhă, tại 4 chỗ, 16 hội, chép đến 600 quyển(1) mới hết (Nhị thập nhị niên Bát Nhă đàm). Tóm tắt bộ kinh lớn trên là "Kinh Kim Cang Bát Nhă Ba La Mật", gọi tắt là "Kinh Kim Cang". Kinh này rút lại trong một bài là "Ma Ha Bát Nhă Ba La Mật Đa Tâm Kinh", gọi tắt là "Tâm kinh", gồm 260 chữ. Rốt sau Phật dạy:" Ta không nói một chữ". 

Kinh Kim Cang Bát Nhă Ba La Mật, mở đầu, mà cũng là trọng tâm của kinh này, bằng hai câu hỏi của ông Tu Bồ Đề: 

"Vân hà ưng trụ?" 
"Vân hà hàng phục kỳ tâm?" 

Nghĩa là: 

"Làm sao hàng phục vọng tâm?" và 
"Làm sao an trụ chơn tâm?" 

toàn bộ kinh Kim Cang Bát Nhă, Phật chỉ giải đáp hai câu hỏi trên, tóm tắt lại chỉ trong một câu: 

"Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm" 

nghĩa là: "Đừng sanh vọng tâm trụ chấp một nơi nào". Đây là câu "tinh ba" của bộ kinh Kim Cang Bát Nhă, msà ngày xưa đức Lục Tổ Huệ Năng nhờ đó đă được tỏ ngộ. 

Phật dạy: "Đừng sang vọng tâm trụ chấp một nơi nào", tức là dạy: "Dùng trí huệ Kim Cang Bát Nhă, phá trừ rốt ráo (Ba la mật) các vô minh vọng chấp: ngă, pháp hay bốn tướng" (Ngă, Nhơn, Chúng sanh và Thọ giăi). 

Khi các vô minh phiền năo vọng chấp hết rồi th́ chơn tâm thanh tịnh hiện ra. Đó là từ bờ mê muội triền phược của chúng sanh mà sang bờ giác ngộ giải thoát của chư Phật, tức là: "đáo bỉ ngạn (đến bờ giác ngộ). 

Phật dạy: "Đừng sanh vọng tâm trụ chấp một nơi nào". Đó là phương pháp tu hành của Đại thừa đốn giáo, để "hàng phục vọng tâm" mà cũng là "an trụ chơn tâm" vậy. 

V́ phạm vi của bài tựa này có hạn và theo tŕnh độ tầm thường của tôi, nên tôi chỉ tŕnh bày sơ sài được một vài đặc diểm của kinh này thôi. Ngoài ra, không biết bao nhiêu nghĩa lư cao siêu mầu nhiệm c̣n bí ẩn trong kinh này; dù tôi có suốt đời, cũng không thể dùng trí phàm phu diễn tả hay lời nói phàm phu giải thích thấu đáo được ư nghĩa của Thánh hiền ! 

Xin quí vị hăy cố gắng đọc kỹ và tinh tấn tu hành để hiểu được nghĩa lư cao siêu của kinh này. 

Tôi dịch kinh này đến ba năm mới xong. Bắt đầu từ ngày 24 tháng 2 năm Qúi măo (19/3/1963) đến ngày mùng 10 tháng 7 năm Ất Tî (6/8/1965). V́ kinh đă khó, mà trong khi dịch lại găp nhiều duyên trở ngại: b́ hai năm Pháp nạn lận đận lao đao quá lao tâm khổ trí; đến khi Phật giáo thống nhất, lại Phật sự quá tràn ngập, rồi tiếp đến hai lần tôi vào dưỡng đường, nên công việc phải chậm trễ. 

Hôm nay, nhờ Tam bảo gia hộ, tôi đă dịch và lược giải xong kinh Kim Cang và Bát Nhă Tâm kinh, là bộ kinh thuộc khoá XII trong toàn bộ Phật học phổ thông, do tôi chủ trương biên soạn. Thế là tôi đă đóng hoàn thành cây thang giáo lư 12 nấc, mà tôi đă hoài bảo trên 25 năm nay(1). 

Được măn nguyện, tôi rất vui mừng và thành tâm đốt nén hương ḷng, cầu nguyện: 

Mặt trời Phật sáng thêm 
Xe chánh pháp chạy hoài 
Trên đền đáp bốn ơn 
Dưới cứu độ ba loài 
Thế giới được hoà b́nh 
Nhơn dân đều an lạc 
Đệ tử và chúng sanh 
Đều trọn thành đạo Phật. 

Mùa Hạ năm Ất Tî 1965 
Sa môm THÍCH THIỆN HOA 

Đề mục kinh có tám chữ: "Kim Cang Bát Nhă Ba la mật kinh"; gọi tắt là kinh Kim Cang" 

KINH: Kinh điển hay giáo lư, do Phật Phật hoặc Bồ Tát nói ra. Chữ "Kinh" có nhiều nghĩa, nhưng tóm lại có ba nghĩa như sau: 

1. Đường canh (nghĩa đen): Sợi chỉ xuôi trong tấm vải. Nhờ sợi chỉ xuôi xâu kết các sợi chỉ ngang, để làm thành một tấm vải. "Kinh" cũng có nghĩa là sự tổng hợp ghi chép lại các lời nói của Phật hoặc thánh hiền. 

2.Thường: Không thay đổi. Chơn lư của Phật không thay đổi; dù Phật quá khứ, hiện tại hay vị lai cũng đều nói chơn lư như vậy. 

3. Hợp (Khế): Kinh của Phật "hợp với chơn lư của vũ trụ" và " hợp với căn cơ tŕnh độ của chúng sanh". Cũng một bộ kinh, mà tuỳ theo tŕnh độ của mỗi người, kẻ hiểu cao, người hiểu thấp. Tuy sự hiểu ngộ có cao thấp không đồng, mà cứ như lư tu hành th́ đều được khỏi khổ luân hồi, không xót một người nào. Kinh Phật có những đặc điểm như thế, nên gọi là "Khế kinh" 

KIM CANG: Chữ "Cang", người Nam đọc là "cang", người Bắc đọc là "cương". Có hai nghĩa: 

1. Ngọc Kim cương: Thuộc về loại khoáng vật rất quí giá. Tánh nó rất cứng và rất bén, đă không bị các vật phá hoại, trái lại c̣n phá hoại các vật. 

2. Kim Cang: chất cứng rắn trong loại kim khí, tức là "thép", cũng thuộc về loại khoáng vật. Tánh nó cũng rất cứng bén, và cụng không bị các vật phá hoại, trái lại c̣n phá hoại các vật, như khoan sắt, đục đá v.v...dao búa nhờ có thép mới bén. 

Chất "cứng rắn" của "ngọc Kim cương" hay của "thép", đă saün có từ hồi nào đến giờ, không phải do rèn luyện mới có, hay nhờ các vật bên ngoài tạo thành. 

Phật dùng "ngọc kim cương" hay "chất thép cứng", để thí dụ "trí huệ Bát Nhă" rất quí báu và saün có trong mọi người (tức là tánh Phật sáng suốt của mỗi chúng sanh). 

Trí huệ Bát Nhă, không phải do tu mới có, hay nhờ các duyên bên ngoài luyện tập mới thành. Nó có saün trong mỗi chúng sanh từ vô thỉ đến nay. Dù ở địa vị phàm phu nó cũng không giảm, hay chúng quả Thánh nó cũng không thêm. Nó đă không bị các vô minh phiền năo tàn phá, trái lại c̣n phá tiêu tất cả vô minh phiền năo từ vô thỉ đến nay. Nó phá một cách rốt ráo và dễ dàng, nhu gió thổi mây bay, mặt trời chiếu sương mù tan. Bởi thế nr6n gọi là "Bát Nhă Ba La mật" Trí huệ rốt ráo. 

BÁT NHĂ: Dịch âm của chữ Phạn "Prajnà". V́ Trung hoa không có chữ dịch cho cân xứng nên chỉ dịch nguyên âm là "Bát Nhă". 

Bát Nhă có nhiều nghĩa sâu xa, nhưng tóm lại có sau nghĩa: 

1. Viễn ly: xa ĺa các vô minh, phiền năo vọng chấp; 

2. Minh: Sáng, không mờ tối 

3. Huệ: Sáng tỏ 

4. Thanh tịnh: trong sạch không nhiễm ô 

5. Trí: Thông suốt 

6. Trí huệ: Sáng tỏ thông suốt 

Bát Nhă có nhiều nghĩa như vậy, nếu lấy một nghĩa th́ không được đúng lắm, nên các nhà dịch chỉ để nguyên âm chữ Phạn (Bát Nhă). 

Tuy nhiên, trong 6 nghĩa trên đây, nếu đem so sánh và cân nhắc, th́ có thể dùng tạm nghĩa"trí huệ"; v́ nghĩa "trí huệ" có phần rơ ràng và xác đáng hơn hết. 

Nhưng cần phải chọn lọc thật kỹ, bỏ ra các thứ Trí huệ sau đây, mới đúng với nghĩa chữ "Bát Nhă": 

1. Trí huệ thế gian: Trong thế gian, những người học rộng thấy xa, thông minh lanh lợi, khôn khéo lịch duyệt, hay giỏi mọi phương diện, thiên hạ gọi đó là người "trí huệ". Nhưng trí huệ đó là trí huệ của thế tục phàm phu, chứ không phải là "trí huệ Bát Nhă". 

2. Trí huệ ngoại đạo: Chúng ngoại đạo tu thiền định (xem bài "Thiền định" trong bản đồ tu Phật) lâu ngày cũng có trí huệ, biết được quá khứ vị lai, thần thông biến hoá vô cùng, nhiều pháp kỳ lạ. Nhưng trí huệ đó là tà trí huệ, chứ không phải là "trí huệ Bát Nhă". 

3. trí huệ Nhị thừa: Hàng Thoinh văn và Duyên giác, do tu pháp Tứ đế và Thập Nhị Nhơn duyên mà đặng đạo quả. Các vị này đă khỏi sanh tử luân hồi, thần thông tự tại và có trí huệ biết được việc quá khứ, hiện tại và vị lai. Nhưng trí huệ đó thuộc về Tiểu thừa trí huệ, chỉ thấy về "ngă không chơn như"(thiên không), chớ chưa thấy được "pháp không chơn như", nên cũng không phải trí huệ Bát Nhă. 

Trừ ba loại trí huệ trên đây, duy chỉ có trí huệ Phật hay của Đại thừa Bồ Tát, mới phải là trí huệ Bát Nhă. 

Công dụng cũa trí huệ Bát Nhă, như mặt nhựt chiếu phá các mây mù vô minh vọng chấp: ngă, pháp, bốn tướng (ngă, nhơn, chúng sanh, thọ giả), có, không, chẳng phải có, chẳng phải không v.v...Bởi thế nên Trí huệ Bát Nhă chiếu soi các pháp, th́ pháp nào cũng bỏ h́nh tướng giả dối, mà hiện ra tướng chơn thật. Tướng chơn thật của các pháp đă hiện, tức là chơn tâm, chơn như hay chơn lư của vũ trụ hiện ra vậy. 

Trí huệ Bát Nhă, có công năng như chiếc thuyền đưa chúng sanh một cách rốt ráo, từ bên này bờ mê muội triền phược của phàm phu, đến bên kia bờ giác ngộ giải thoát của chư Phật, nên cổ nhơn cũng gọi là "thuyền Bát Nhă". 

Muốn phân biệt trí huệ Bát Nhă khác với trí huệ của phàm phu, ngoại đạo và Tiểu thừa, th́ chúng ta nên dịch nghĩa chữ "Bát Nhă" như sau: 

1. Trí huệ Phật 

2. Trí huệ rốt ráo (Bát Nhă Ba La mật) 

3. Trí huệ Bát Nhă (dùng cả chữ Phạn và chữ hán)

BA LA MẬT: "ba la mật" hoặc "ba la mật đa" là dịch âm của chữ Phạn "Paramita". Có hai nghĩa: 

1. Đáo bỉ ngạn: Đến bờ bên kia. Trí huệ Bát Nhă có công năng đưa chúng sanh từ bờ triền phược mê muội của phàm phu bêb này, mà qua đến bờ giác ngộ giải thoát của chư Phật bên kia, nên gọi là "Bát Nhă Ba la mật". 

2. Cứu kính viên măn: hoàn toàn rốt ráo. Theo tục ngữ ở Ấn Độ, phàm làm việc ǵ, khi đă được hoàn toàn viên măn, th́ gọi là "Ba la mật". Trí huệ Bát Nhă là loại trí huệ đă rốt ráo viên măn, nên gọi là "Bát Nhă Ba la mật". 

Tóm lại, "Kim Cang Bát Nhă Ba la mật kinh" là kinh nói về "Trí huệ Phật"(Bát Nhă), loại Trí huệ đă rốt ráo viên măn (ba la mật). Trí huệ này có công năng đưa hành giả từ bến mê muội triền phược của chúng sanh, sang bờ giác ngộ giải thoát của chư Phật (đáo bỉ ngạn). 

Trí huệ Phật (Bát Nhă) rất quư báu (như ngọc kim cương), vừa cứng rắn và sắc bén (như thép), có thể phá tiêu núi vô minh vọng chấp (ngă, pháp hay bốn tướng) và đốn tận gốc rừng phiền năo nghiệp chướng, từ vô lượng kiếp đến nay, mà không bị hư tổn; cũng như ngọc kim cương hay chất thép, có thể đục chẻ các loại rất cứng, như sắt, đá v.v...mà không bị hư hoại. 

*** 

Phật nói kinh "Đại Bát Nhă" tại 4 chỗ, 16 hội gồm 600 quyển, trong 22 năm mới xong (nhị thp nhị niên Bát Nhă đàm). Tóm tắt lại kinh Đại Bát Nhă là "kinh Kim cann Bát Nhă Ba la mật". 

NÓI VỀ DANH, TƯỚNG, THỂ, DỤNG VÀ TÔN CHÆ CỦA KINH NÀY: 

Danh: Kinh này lấy "thí dụ" (Kim Cang) và "pháp" (Bát Nhă Ba la mật) mà đặt tên.Tướng: Kinh này lấy "Đại thừa" làm giáo tướng. 

Thể: Kinh này lấy "Thật tướng" làm thể. 

Dụng: Công dụng của kinh này là phá các chấp tướng (Ngă, pháp) đoạn hết các vô minh mê hoặc. 

Tôn chỉ: Kinh này lấy "Vô trụ"(không trụ chấp nơi nào) làm tôn chỉ. 

KẾT LUẬN 

Mới đọc đến đề mục kinh, chúng ta đă thấy thích thú lắm rồi ! Đề mục kinh chỉ có tám chữ, mà đă nói lên được rơ ràng nội dung và tôn chỉ của kinh: Phật dạy tất cả chúng sanh đều saün có Trí huệ Bát Nhă (Trí huệ Phật) từ vô thỉ đến nay. Trí huệ Bát Nhă (Phật tánh sáng suốt hay khả năng thành Phật) rất là quư báu và cứng bén, như ngọc Kim cương hay chất thép. Trí huệ Bát Nhă có saün từ vô thỉ đến nay, đă không bị cái ǵ làm hư hoại; trái lại, c̣n phá tiêu núi Ngă tướng, Nhơn tướng, chúng sanh tướng và Thọ giả tướng, hay núi Ngă chấp, pháp chấp; nói tổng quát là phá các vô minh vọng chấp từ vô thỉ đến nay. Nó phá một cách hoàn toàn rốt ráo (Ba la mật) và dễ dàng, như mặt trời chiếu sương tan, gió thổi mây bay. 

Trí huệ Bát Nhă có công năng như chiếc thuyền, đưa hành giả từ bêb này bến vô minh mê muôi của chúng sanh, vượt qua khỏi sông mê bể khổ, đến bờ bên kia Giác ngộ giải thoát của chư Phật, tức là "Đáo bỉ ngạn" (Ba la mật). Bởi thế nên Cổ nhơn gọi là "Thuyền Bát Nhă". 

Chúng ta đă saün có "Trí huệ Bát Nhă" hay "Trí huệ Phật", th́ thế nào chúng ta cũng sẽ thành Phật. 

*** 

TÊN DỊCH GIẢ 

Đức Phật Thích ca Mâu ni nói kinh này tại tịnh xá của ông Trưởng giả Cấp Cô Độc trong vườn của Thái tử Kỳ Đà, ở nước Xá Vệ. 

Ngài A Nan kiết tập. Ngài Tam Tạng Pháp sư tên Cưu Ma La thập dịch từ văn Phạn (Ấn Độ) qua văn Trung hoa. 

TAM TẠNG PHÁP SƯ: Tam Tạng là ba kho tàng; v́ có công năng trùm chứa văn bghĩa của Phật pháp, nên gọi là "Tàng". 

1. Kinh tạng: chép những lời Phật dạy hoặc những lời của các vị Bồ Tát nói ra, khi đă được Phật chứng nhận. 

2. Luật tạng: chép những giới và luật (kỹ luật) trong 7 chúng (Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Sa di, sa di ni, Thức xoa và Ưu bà tắc, Ưu bà di). 

3. Luận tạng: chép những lời nghị luận chánh tà, phân biệt chơn vọng của các vị Bồ Tát và chư Tổ. 

Thầy giảng "kinh" th́ gọi là "Pháp sư" 

Thầy giảng "luật" th́ gọi là "Luật sư" 

Thầy giảng "luận" th́ gọi là "Luận sư" 

Ngài Cưu Ma La Thập, thông suốt cả ba tạng và giảng dạy cả Kinh, Luật, Luận, nên gọi Ngài là "Tam Tạng Pháp sư" (vị Pháp sư thông ba tạng). 

CƯU MA LA THẬP (Kumàralabdha): Tên của một vị Pháp sư có danh tiếng lỗi lạc ở Ấn Độ; bên Trung hoa dịch nghĩa là "Đồng Thọ", nghĩa là vị Pháp sư, tuổi tác th́ "đồng niên", mà tài đức lại "kỳ lăo" (thọ). 

Kinh này có nhiều bản dịch, nhưng bản dịch của Ngài Cưu Ma La Thập rất rơ ràng sáng suốt, nên được phổ biến nhiều hơn hết. 

*** 
  
 A. PHẦN TỰ 

(PHẦN MỞ ĐẦU KINH BÁT NHĂ) 

Tôi nghe như vầy: Một hôm, tại nước Xá Vệ, Phật và 1250 vị Đại Tỳ kheo, đều ở Tịnh xá Kỳ hoàn, trong vườn của ông Thái tử Kỳ Đà và ông Trưởng giả Cấp Cô Độc. 

Sắp đến giờ ngọ trai, Phật và chúng tăng đều đắp y, mang b́nh bát vào thành Xá Vệ, theo thứ lớp khất thực. 

Khất thực xong, Phât và chúng tăng đồng về Tịnh xá để thọ trai. Sau khi thọ trai xong, Phật xếp y, cất b́nh bát và rữa chân, rồi trải toạ cụ, ngồi yên tịnh. 

LƯỢC GIẢI 

Đây là những cử chỉ b́nh thường và rất đơn giản; nhưng đă tạo thành một bức tranh tuyệt diệu, nói lên được tinh thần "giải thoát vô trụ", để mở màn cho Phật nói kinh Bát Nhă. 

Chúng ta hăy định tâm, đọc kỹ lại một lần nữa, những câu sau này, th́ chúng ta sẽ thấy bộc lộ rơ ràng tinh thần Bát Nhă (giải thoát vô trụ). 

"Sắp đến giờ ngọ trai, Phật và chúng tăng  

"đều đắp y, mang b́nh bát vào thành 

"Xá Vệ, theo thứ lớp khất thực. 

"Khất thực xong, Phât và chúng tăng  

"đồng về Tịnh xá để thọ trai. Sau khi  

"thọ trai xong, Phật xếp y, cất b́nh  

"bát và rữa chân, rồi trải toạ cụ ngồi 

" yên tịnh. 

V́ ngộ được tánh "Bát Nhă giải thoát", trùm khắp trên muôn vật, nên Cổ nhơn có nói hai câu: 

Thanh thanh tuư trúc, tổng thị Chơn như 

Uất uất huỳnh hoa, vô phi Bát Nhă. 

Dịch nghĩa: 

Mướt mướt tre xanh, biểu lộ Chơn như. 

Mởn mởn hoa vàng, tŕnh bày Bát Nhă. 

Ngài Thái hư pháp sư giảng: 

"Phật nói kinh này để chỉ rơ trong mỗi chúng sanh đều saün đủ bản thể Kim Cang Bát Nhă. Cái diệu dụng của Kim Cang Bát Nhă là làm cho hành giả khi tu Lục độ vạn hạnh, mà không trụ chấp các tướng. 

Người ngộ đưỡc Kim Cang Bát Nhă rồi th́ đối với các pháp và mọi việc đều thông suốt vô ngại; những việc làm b́nh thường hằng ngày đều là Phật pháp, tạm b́nh thường đó cũng là Phật pháp cho đến đi, đứng, nằm, ngồi v.v...cũng đều là Phật pháp. Những việc thần thông biến hoá đều là diệu dụng vô thượng của chư phật đă đành, mà những nỗi mừng, vui, giận, ghét cũng là cái phương tiện hay khéo của phật pháp. 

Trái lại, nếu người chưa nhập được "Kim Cang Bát Nhă", dù có được thần thông biến hoá di sơn đảo hải đi nữa, th́ cũng là tà thuật của yêu ma ngoại đạo, dù có thiền định muôm năm, cũng chỉ hưởng phước quả hữu lậu của cơi nhơn, thiên mà thôi; một mai nghiệp báo hết rồi, vẫn trở lại thọ khổ luân hồi trong lục đạo. Quí vị nên chín chắn nghĩ xét ! 

Kinh Kim Cang Bát Nhă, trong mỗi người đều saün đủ và khắp cả pháp giới. Nó không ở trong, không ở ngoài, không ở chính giữa và cũng không rời trong ngoài và chính giữa; không thể nghĩ bàn và cũng không trụ chấp được. Nếu người bền chí tu hành lâu dài, th́ sẽ có ngày tự nhiên đốn ngộ. Trái lại, nếu người hướng ngoại t́m cầu, chấp rằng Phật có thần thông biến hoá v.v...phải có đủ như thế, mới phải là Phật. Những người chấp như thế, không thể phân biệt, giản trạch được thế nào là Phật pháp và thế nào là ngoại đạo. Than ôi ! nếu sai một hào ly, th́ cách xa ngàn dặm ! Quí vị phải cẩn thận, rất cẩn thận !" 

(KIM CANG GIẢNG LỤC) 

GIẢI DANH TỪ 

TÔI NGHE NHƯ VẦY: trong trí Độ Luận có chép: "Khi Đức Như Lai sắp nhập Niết bàn ông Ưu Ba Ly nói với A Nan rằng:_ Ông là người giưǵn "Pháp tạng" của Phật, ông phải bạch Phật những điều cần yếu về sau. 

Ông Ưu Ba Ly và A Nan cùng nhau đến bạch Phật bốn điều: 

1. Tất cả các kinh của Phật, mở đầu nên đề chữ ǵ? 

2. Phật nhập diệt rồi lấy ai làm thầy? 

3. Nương nơi đâu mà trụ? 

4. Xá lợi và y bát của Phật, phân như thế nào? 

Phật dạy: 

1. Mở đầu các kinh, hăy để "Như thị ngă văn" (tôi nghe như vầy). 

2. Ta nhập Niết bàn, các ông phải lấy "giới luật" làm thầy. 

3. Các ông phải trụ nơi pháp "Tứ niệm xứ" (quán thân bất tịnh, quán thọ thị khổ, quán tâm vô thường, quán pháp vô ngă). 

4. Xá lợi của ta chia làm ba phần (một phần thờ tại nhơn gian, một phần thờ trên các cơi trời, một phần thờ dưới Long cung) c̣n y và bát truyền lại cho ông Ma Ha Ca Diếp. 

TỲ KHEO: Tỳ kheo là dịch âm của tiếng Phạn, dịch nghĩa có ba: 

1. Khất sĩ: Là kẻ đi xin: trên xin giáo pháp của Phật để nuôi thân, dưới xin vật thức để nuôi thân. 

2. Phá ác: Phá trừ các việc tội ác. 

3. Bố ma: Làm khủng bố các ma. 

NGỌ TRAI: Phật độ cơm đúng giờ ngọ (12 giờ trưa) nên gọi là "ngọ trai". Những thực phẩm cúng dường chư Tăng, trong giờ ngọ, th́ gọi là "Trai Tăng" 

Y: Y phục của chư tăng, tức là áo Cà sa. Y phục của chư Tăng bằng vải, có nhiều loại: Không điều (mạn y), năm điều, bảy điều và chín điều v.v... 

B̀NH BÁT: Đồ đựng thức ăn của chư tăng, làm bằng sành v.v...lớn hay nhỏ tuỳ sức người dùng. 

TOẠ CỤ: Tấm vải để lót vải ngồi của Phật hoặc chư Tăng. 

PHẦN CHÁNH TÔN 

1. ÔNG TU BỔ ĐỀ HỎI PHẬT HAI CÂU QUAN TRỌNG 

Khi đó, ở trong đại chúng, ông Trưởng lăo Tu Bồ Đề đứng dậy, vén tay áo bên hữu, gối quỳ xuống, chắp tay cung kính và bạch Phật rằng: 

"Hy hữu thay Đức Thế Tôn ! Ngài thường nhớ nghĩ và bảo hộ các vị bt. Ngài rất hay khéo dạy bảo các vị Bồ Tát . 

Bạch Thế Tôn ! Nếu có người phát tâm Bồ Đề muốn cầu quả Phật, th́: 

Làm sao hàng phục vọng tâm ? 

Và làm sao an trụ chơn tâm ? 

LƯỢC GIẢI 

Đoạn này, ông Trưởng lăo Tu Bồ Đề hỏi Phật hai câu quan trọng, để mở đầu, phật nói kinh Bát Nhă. 

"Hàng phục vọng tâm" và "an trụ chơn tâm" là vấn đề khó nhất. Nhưng nếu người phát tâm Bồ Đề, mà không "hàng phục được vọng tâm" và "an trụ chơn tâm" th́ không bao giờ chứng đặng quả Phật. 

Vậy "làm sao hàng phục vọng tâm?" 

Và "làm sao an trụ chơn tâm?" 

Đó là điều quan trọng, mà ông Trưởng lăo Tu Bồ Đề, đă đại diện cho toàn thể đại chúng, đứng lên cung kính hỏi Phật. 

Lănh hội được diệu nghĩa của kinh này nên Ngài Xuyên Thiền sư có làm bài tụng rằng: 

Nguyên văn (dịch âm): 

Nễ hỷ ngă bất hỷ 

Quân bi ngă bất bi 

Nhạn tư phi hàn bắc 

Yến ức cựu sào qui 

Thu nguyệt xuân hoa vô hạn ư 

Cá trung chỉ hứa tự gia tri 

 

Dịch nghĩa

Người vui ta chẳng vui 

Người buồn ta chẳng buồn 

Nhạn bay về biển Bắc 

Yến nhớ ổ trời Nam 

Xuân hoa thu nguyệt vô cùng ư 

Lănh hội thế nào tự ḿnh thôi (biết) 

ĐẠI Ư 

Bài này diễn tả lư Bát Nhă vô trụ 

Hai câu đầu nói về "vô trụ vô chấp". Ba câu sau tả canhvật thiên nhiên, như nhạn bay về biển Bắc; chim yến nhớ tổ bay về phương Nam, mùa xuân đến trăm hoa đua nở, mùa thu th́ mặt trăng sáng tỏ. 

Bức tranh tuyệt diệu của vũ trụ bao la, vô cùng ư tứ, biểu lộ "Bát Nhă chơn như". Tự người ngộ lấy. 

*** 

2. PHẬT KHEN ÔNG TU BỔ ĐỀ VÀ HỨA SẼ KHAI THỊ

Phật dạy: "Tu Bồ Đề ! Lời ông vừa hỏi thật là quí lắm ! vậy ông hăy chăm chú nghe, ta sẽ v́ các ông chỉ dạy". 

Phật dạy tiếp: "Tu Bồ Đề ! Nếu có người phát tâm Bồ Đề, muốn cầu quả Phật, th́ như lời ta dạy đây mà "hàng phục vọng tâm" và "an trụ chơn tâm". 

LƯỢC GIẢI 

Nhờ ông Tu Bồ Đề thưa thỉnh, mà Phật nói kinh Bát Nhă, để chỉ dạy cho chúng sanh tỏ ngộ: Tực ḿnh có tánh "Bát Nhă" và phải tự trở về với tánh "Bát Nhă" của ḿnh; nên phật khen câu hỏi của ông Tu Bồ Đề thật là quí lắm ! 

Nhưng ngộ nhập được lư "Bát Nhă", không phải người vọng tâm loạn ư mà nhập được; phải người dọn ḿnh sạch sẽ, thành tâm định ư, mới lănh hội được, nên Phật dạy: "Phải chăm chú nghe". Và Phật hứa sẽ dạy phương pháp "hàng phục vọng tâm và an trụ chơn tâm" như sau. 

GIẢI DANH TỪ 

Tâm Bồ Đề: Bồ Đề là dịch âm tiếng Phạn, dịch nghĩa là "Giác" tức là giác ngộ. Tâm Bồ Đề là tâm giác ngộ, sáng suốt; nói dễ hiểu ho7n là "tâm Phật" (Phật cũng dịch là Giác) 

Người phát tâm Phật để cầu quả Phật, tâm Bồ Đề là "Nhơn Phật" quả Bồ Đề là "quả Phật". 

Tu Bồ Đề: Tên của một vị đệ tử phật. Trung hoa dịch có 3 nghĩa: 1. Thiện hiện (khéo thị hiện), 2. Thiện kiết (điềm lành), 3. Không sanh (ông ưa nhập "không định" và ngộ lư "chơn không" thứ nhứt). 

Ông Tu Bồ Đề, bên trong th́ ẩn hạnh bt, bên ngoài lại hiện tướng Thinh văn; địa vị cao, phước đức lớn, nên gọi là "Trưởng lăo". 

Thế tôn: "Phật là một đấng mà tất cả chúng sanh trong thế gian và xuất thế gian đều tôn kính. 

***
 

3. PHẬT DẠY bt ĐỘ SANH KHÔNG NÊN CHẤP TƯỚNG 

phật dạy: "Tu Bồ Đề ! các ông phải y như lời ta dạy đây, mà hàng phục vọng tâm của ḿnh. 

Tu Bồ Đề ! Các vị Đại Bồ Tát phải độ tất cả các loại chúng sanh (như loài sanh trứng, loài sanh con, loài sanh chỗ ẩm thấp, loài hoá sanh, loài có sắc, loài có tưởng, loài chẳng phải không tưởng v.v...)đều được nhập Niết bàn. Bồ Tát tuy độ vô lượng vô số chúng sanh như vậy, nhưng không thấy có một chúng sanh nào được độ. Tại sao vậy? Nếu Bồ Tát c̣n thấy có ḿnh độ và chúng sanh được độ, tức là Bồ Tát c̣n chấp bốn tướng (tướng ngă, tướng nhơn, tướng chúng sanh và tướng thọ giả) th́ không phải là Bồ Tát". 

LƯỢC GIẢI 

Đoạn này Phật dạy Bồ Tát độ sanh, phải dùng Trí huệ Bát Nhă, phá các vọng chấp ngă, nhơn v.v...đó là phương pháp "hàng phục vọng tâm". 

Bồ Tát muốn biết ḿnh c̣n phiền năo vọng chấp hay không, để diệt trừ, tất nhiên phải lao ḿnh vào phiền năo; nghĩa là phải nhập thế độ sanh, làm các Phật sự. 

Phật dạy Bồ Tát khi nhập thế độ sanh làm các Phật sự, luôn luôn phải dùng Trí huệ Bát Nhă phá trừ các chấp ngă, chấp pháp, không c̣n thấy bốn tướng (ngă nhơn v.v....)th́ phiền năo vọng chấp không sanh. Đó là phương pháp "hàng phục vọng tâm". 

Nếu Bồ Tát vừa khởi vọng chấp: "có ḿnh độ và người được độ v.v...", tức là Bồ Tát c̣n ngă, nhơn, bỉ, thử, th́ vô số phiền năo đua nhau nổi lên như sóng. Cổ nhơn nói: 

"Nhứt ba tài động, vạn ba tuỳ". 

Nghĩa là: Một lượng sóng vừa nhô lên, th́ trăm ngàn lượng sóng liền theo đó mà nổi lên. 

Nếu Bồ Tát c̣n vô minh phiền năo vọng chấp nổi lên, th́ không phải là Bồ Tát; v́ chưa nhập được Trí huệ Bát Nhă. 

Kinh Tứ thập nhị chương chép: 

"Giáo pháp của ta: "Niệm" mà không trụ chấp nơi niệm, mới thật là "Niệm". "Làm" mà không trụ chấp nơi làm, mới thật là "làm". "Nói" mà không trụ chấp nơi làm, mới thật là "nói". "Tu" mà không trụ chấp nơi làm, mới thật là "tu". "Chứng" mà không trụ chấp nơi làm, mới thật là "chứng". 

Đó là tôn chỉ "vô trụ tướng" của kinh Bát Nhă. 

GIẢI DANH TỪ 

Tất cả chúng sanh chia làm 9 loại: 

1. Loài sanh trứng (noăn sanh): như gà, vịt, chim, c̣ v.v... 

2. Loài sanh con (thai sanh): như người, trâu, ḅ v.v... 

3. Loài sanh nơi ẩm thấp (thấp sanh): như vi trùng, con oăn v.v... 

4. Loài hoá sanh (hoá sanh): như cỏ mục hoá sanh đơm đớm v.v... 

5. Loài có h́nh sắc(hữu sắc):như chúng sanh ở cơi Dục và cơi Sắc. 

6. Loài không h́nh sắc (vô sắc): như chúng sanh ở cơi Vô sắc v.v... 

7. Loài có tâm tưởng (hữu tưởng): như chúng sanh ở cơi trời hữu tưởng v.v... 

8. Loài không tâm tưởng (vô tưởng): như chúng sanh ở cơi vô tưởng. Chúng sanh ở cơi Dục, tu định vô tưởng, được sanh về cơi trời Vô tưởng, hưởng thọ 500 kiếp, rồi vẫn trở lại trong ṿng sanh tử luân hồi. 

9.Loài chẳng phải có tưởng và chẳng phải không tưởng (phi hữu tưởng, phi vô tưởng): như chúng sanh ở cơi trời phi phi tưởng xứ, trong cơi Vô sắc. Chúng sanh ở cơi này, đồng với hư không, không có thân thể và thế giới. Họ chỉ có định không có huệ, thọ đến tám vạn kiếp, rồi trở lại đoạ về chỗ không vong. 

BỐN TƯỚNG: Mỗi chúng sanh đều có bốn tướng: Như đối với người khác tự xưng "tôi" hay "ta", là "ngă tướng"; Ta có nhơn cách là "nhơn tướng"; Ta thuộc loài hữu t́nh, sanh vật là "chúng sanh tướng"; Ta có thân mạng, sống trong một thời gian là "thọ giả tướng". 

Tóm lại, phàm chấp một tướng, tất nhiên chấp đủ bốn tướng: 

_ Ngă tướng: chấp có "ta" 

_ Nhơn tướng: chấp có "loài người". 

_ Chúng sanh tướng: chấp có chúng sanh. 

_ Thọ giả tướng: chấp có mạng sống trong một thời gian 

NIẾT BÀN: Dịch âm của tiếng Phạn "Nirvana", dịch nghĩa là viên tịch: Viên măn vắng lặng. Niết bàn có bốn loại: 

1. Tánh tịnh Niết bàn. 

2. Vô trụ xứ Niết bàn. 

3. Hữu dư Niết bàn. 

4. Vô dư Niết bàn. 

(Xem đoạn Diệt đế trong quyển Tứ diệu đế). 

*** 

4. PHẬT DẠY BỔ TÁT BỐ THÍ KHÔNG NÊN CHẤP TƯỚNG

Phật dạy: "Tu Bồ Đề ! Bồ Tát khi tu pháp Bố thí, không nên trụ chấp các tướng; nghĩa là không nên trụ chấp tướng sáu trần là: sắc, thinh, hương, vị, xúc và pháp. Tại sao vậy? Nếu Bồ Tát bố thí mà không chấp tướng bố thí, th́ phước đức nhiều lắm, không thể nghĩ bàn". 

LƯỢC GIẢI 

Đoạn trên (đoạn 3), Phật dạy Bồ Tát khi độ sanh, phải dùng Trí huệ Bát Nhă phá trừ "ngă chấp", tức là không chấp bốn tướng: ngă, nhơn, chúng sanh và thọ giả. 

Đoạn này, Phật dạy Bồ Tát khi bố thí, cũng phải dùng Trí huệ Bát Nhă, phá trừ "pháp chấp"; nghĩa là không chấp tướng sáu trần: sắc, thinh, hương, vị, xúc và pháp. Đó là phương pháp "hàng phục vọng tâm".

Bồ Tát làm Phật sự, như hoá độ chúng sanh hay bố thí v.v...mà tâm c̣n chấp ngă chấp pháp, tất nhiên tâm c̣n phiền năo nhiễm ô mà làm các phật sự (phước thiện), th́ các Phật sự đó cũng biến thành nhiễm ô; cũng như đem đồ nhơ bẩn mà đựng vật tinh khiết, th́ vật tinh khiết trở thành nhơ bẩn, nên hành giả chỉ hưởng phước hữu lậu nhiễm ô; nghĩa là phước báu nhơn thiên ở thế gian, hưởng có thời hạn; như hư không bị cuộc hạn trong ly nhỏ. 

Trái lại, khi làm các Phật sự, như bố thí v.v...nếu Bồ Tát dùng Trí huệ Bát Nhă, phá trừ chấp ngă, chấp pháp; nghĩa là không chấp ḿnh là người bố thí, ban ơn (chấp ngă), kia là kẻ thọ thí, chịu ơn (chấp nhơn), đây là vật bố thí (chấp pháp), thí các phiền năo nhiễm ô không sanh, tâm được thanh tịnh. Tân thanh tịnh tức là tâm Phật hay tâm chơn như, rộng răi bao la, như mười phươnh hư không. Nếu đem tâm thanh tịnh mà bố thí, th́ hành giả được phước vô lậu thanh tịnh, rộng lớn như hư không, không cùng tận. Cũng như một giọt nước tuy nhỏ (bố thí ít), nhưng được hoà vào biển cả (tâm tinh) th́ cũng được biến khắp cả biển, rộng răi bao la. 

Bởi thế nên Phật dạy: Bồ Tát khi bố thí phải "tam luân không tịch", nghĩa là không thấy (chấp) có ḿnh ban ơn, kẻ chịu ơn và vật bố thí. Như thế mới gọi là "Bố thí Ba la mật" (Bố thí rốt ráo). 

5. BỐ THÍ KHÔNG CHẤP TƯỚNG PHƯỚC NHIỀU NHƯ MƯỜI PHƯƠNG HƯ KHÔNG[^] 

Phật hỏi: "Tu Bồ Đề ! Hư không ở phương Đông có thể nghĩ bàn được không?". Tu Bồ Đề thưa: "bạch Thế Tôn ! không thể nghĩ bàn được". 

Phật hỏi tiếp: "Hư không phương Tây, phương Nam, phương Bắc, phương trên, phương dưới và bốn gốc, có thể nghĩ bàn được không?" Tu Bồ Đề thưa: "Bạch thế tôn ! không thể nghĩ bàn được". 

"Phật dạy: "Tu Bồ Đề ! Bồ Tát bố thí, không trụ chấp các tướng, đặng phước đức cũng như mười phương hư không, nghĩa là nhiều lắm không thể nghĩ bàn". 

LƯỢC GIẢI 

Đoạn này tiếp theo đoạn trên (đoạn 4), Phật dùng mười phương hư không, để thí dụ phước đức của người bố thí không chấp tướng. 

Phật dạy, Bồ Tát không chấp tướng bố thí, hay nói cách khác là đúng như Trí huệ Bát Nhă mà làm việc bố thí, th́ được phước đức vô lậu thanh tịnh và nhiều như mười phương hư không, không có cùng tận. 

_Thế nào là phước hữu lậu nhiễm ô, có cùng tận? 

Và thế nào là phước vô lậu thanh tịnh, không cùng tận? 

Chúng tôi xin dẫn một thí dụ làm điển h́nh, để giải thích vấn đề này: 

Có hai gia đ́nh nghèo khó, đồng gặp một hoàn cảnh như nhau, trong nhà đều có tai nạn. Cả hai đều đến hai nhà khá giả để mượn triền. Một nhà khá giả có tâm tham, thủ lợi, nên khi đưa của ra đ̣i có lời. Nhà khá giả thứ hai có tâm từ bi, thương người nghèo khổ lại gặp tai nạn, nên cho mượn không, chẳng nghĩ đến việc cảm ơn hay tiền lời. 

Đúng kỳ hẹn, cà hai gia đ́nh tai nạn đều đem số tiền trả cho hai người khá giả. Người khá giả tham lợi, nhận thêm số tiền lời chi tiêu ít ngày hết. Thế là hai bên không c̣n ơn ích ǵ nhau nữa cả. Người khá giả thứ hai, v́ tâm nhơn từ giúp người không cầu danh lợi, nên được người khốn khó kia nhớ ơn và thương kinh măi măi. 

Đến khi nước nhà bị giặc giă, cả hai nhà khá giả đều tản cư. Gia đ́nh người tham lợi, t́m người giúp đỡ không ra; đến cậy anh vay tiền lúc trước cũng không được. Đây là dụ cho phước hữu lậu nhiễm ô (đem tân tham làm phước) có cùng tận. 

Trái lại, gia đ́ng người nhơn từ, được người nghèo khó thọ ơn trước kia, t́nh nguyện hy sinh giúp đỡ măi măi không tính tiền công. Đây là dụ cho phước vô lậu thanh tịnh (đem tâm từ bi làm phước) không cùng tận. 

Tóm lại, nếu hành giả đem tâm phiền năo nhiễm ô (tham, sân, si v.v...) mà làm các Phật sự, th́ chỉ hưởng phước ô trược hữu lậu của nhơn thiên, có cùng tận. 

Trái lại, nếu hành giả đem tâm thanh tịnh (từ bi, Trí huệ, không cầu danh lợi v.v...) mà làm các Phật sự, th́ hưởng phước vô lậu thanh tịnh của Phật, không cùng tận. 

*** 

6. PHẬT DẠY AN TRỤ CHƠN TÂM

Tóm lại, Phật dạy: "Tu Bồ Đề ! các vị Bồ Tát phải y như lời ta dạy đó mà an trụ chơn tâm". 

LƯỢC GIẢI 

Đoạn này Phật tóm kết lại hai đoạn trên, để trả lời câu hỏi của ông Tu Bồ Đề: "Làm sao an tru chơn tâm". 

Phật dạy: "Các vị Bồ Tát độ vô lượng vô biên chúng sanh đều được nhập Niết bàn, nhưng không thấy có một chúng sanh nào được độ"; và "Bồ Tát tu pháp bố thí, không nên trụ chấp các tướng như sắc, thinh, hương, vị, xúc và pháp", nghĩa là Bồ Tát không chấp ngă (khi độ sanh) không chấp pháp (khi bố thí); đó là phương pháp "hàng phục vọng tâm" mà cũng là "an trụ chơn tâm". 

Nếu Bồ Tát độ sanhvà làm các Phật sự, mà c̣n khởi vọng tâm, chấp nơi các tướng (ngă, nhơn v.v...) th́ các phiền năo tham, sân, si đua nhau nổi lên. Nếu tham, sân, si đă nổi th́ không sao khởi tạo nghiệp sanh tử luân hồi. 

Trái lại, nếu Bồ Tát độ sanh hay làm các Phật sự, mà không khởi vọng tâm, chấp các tướng ngă, pháp v.v...th́ các phiền năo không sanh. Phiền năo không sanh, th́ không tạo nghiệp. Nghiệp không tạo th́ không c̣n sanh tử luân hồi. 

Tóm lại, Phật dạy: "Đừng trụ chấp một nơi nào". Đó là phương pháp "hàng phục vọng tâm" và "an tru chơn tâm" của hàng Đại thừa Bồ Tát. 

Ngài Long Tế Hoà thượng ngộ được lư "vô trụ" của kinh Bát Nhă, nên có làm bài tụng rằng: 

 

Nguyên văn (dịch âm)

Tâm cảnh đốn tiêu dung 

Phương minh sắc dữ không 

Dục thức bổn lai thể 

Thanh sơn bạch vân trung 

 

Dịch nghĩa

Không c̣n chấp tâm và cảnh 

Mới ngộ được lư sắc, không 

Muốn biết bổn lai bản thể 

Ḱa, mây trắng với non xanh. 

ĐẠI Ư 

Muốn ngộ được lư "sắc tức thị không, không tức thị sắc", th́ phải trừ các vọng chấp ngă (tâm) và pháp (cảnh). Muốn biết bản thể Bát Nhă chơn không, xưa nay như thế nào, th́ cứ xem " Ḱa, mây trắng với non xanh". 

7. Không nên chấp: "Thấy thân tướng của Phật là thấy được Phật".
8. Người tin được kinh này, là do đă trồng căn lành từ nhiều kiếp.
9. Người thọ tŕ kinh náy được công đức vô lượng
10. Giáo pháp của Phật cũng như chiếc thuyền đưa người qua bể khổ
11. Phật phá cái chấp "Như Lai có thành Phật và thuyết pháp".
12. Phật pháp không có sai khác, do tŕnh độ của chúng sanh mà thấy có sai khác

7. KHÔNG NÊN CHẤP:"THẤY ĐƯỢC THÂN CỦA PHẬT LÀ THẤY ĐƯỢC PHẬT 

Phật hỏi: "Tu Bồ Đề ! Ông có thể cho thấy cái thân tướng của ta đây là thấy được Như Lai chăng?". 

Tu Bồ Đề thưa: "Bạch thế Tôn ! không thể cho thấy cái thân tướng của Ngài đó là thấy Như Lai. Tại sao vậy?_ V́ Như Lai nói: "Cái thân tướng này, không phải thật là thân tướng của Như Lai". 

Phật dạy tiếp: "Tu Bồ Đề ! Phàm cái ǵ có h́nh tướng đều là hư vọng. Nếu ông thấy các pháp (tướng) đều hư vọng, không thậ (phi tướng) tức là thấy được Như Lai (thật tướng các pháp). 

LƯỢC GIẢI 

Đoạn này, Phật dùng Trí huệ Bát Nhă phá trừ cái chấp: "Thấy sắc thân của Phật là thấy được Phật". Đây là lần thứ nhứt, nói về việc thấy Phật. 

Trên đường tu hành, phải có đủ cả Sự và Lư. Nhờ Sự tướng bên ngoài, mới ngộ được lư tánh bên trong; có ngộ Lư tánh bên trong, mới thấy rơ được Sự tướng bên ngoài. 

Người chấp Lư mà bỏ Sự, cũng như người chỉ kể suông đủ các thức ăn caso lương mỹ vị, nhưng bụng vẫn đói. Người mê Sự mà bỏ Lư, cũng như trẻ con mê bánh vẽ. 

Nhờ có tượng cốt giả, kinh giấy, tăng phàm v.v...là sự tướng bên ngoài, để giúp chúng ta nhớ lại t́m cầu Phật thiệt, Pháp thiệt và Tăng thiệt trong tự tâm của chúng ta. 

Nếu bác bỏ Sự tướng bên ngoài là hư giả (không thờ Phật, tụng kinh v.v...) mà chỉ chấp suông về phần Lư tánh bên trong (Phật tức tâm), th́ đức Phật nơi tâm ta cũng không làm sao biểu lộ ra được. 

Chư Tổ dạy: 

"Thật tế lư địa, bất thọ nhứt trần 

phật sự muôn trung, bất xả nhứt pháp". 

Nghĩa là: Về Phật tâm thanh tịnh, th́ không có một nảy trần. Nhưng về phần Sự tướng tu hành, th́ không thể bỏ qua một pháp nào. 

Trái lại, nếu chấp về Sự tướng (cầu Phật bên ngoài) mà không t́m Phật thiệt nơi tự tâm của ḿnh, th́ cũng không bao giờ thấy được Phật. Bởi thế nên phật dạy: 

"Nếu người chấp: "thấy sắc thân của ta cho là thấy được Phật, nghe tiếng nói Pháp của ta cho là nghe được tiếng Phật", th́ người đó đă đi lạc về đường tà, không bao giờ thấy được Phật". 

(KINH KIM CANG) 

Ngày xưa có hai vị Tỳ kheo, từ phương xa đến chiêm bái Phật. Đi đường xa hết nước, bị khát lâu ngày, vừa gặp ao nước có sinh trùng, một vị giữ giới không uống nên chết giữa đường; một vị uống nước được sống, đi đến ra mắt Phật. 

Phật quở rằng: "Ông Tỳ kheo giữ giới kia tuy chết, nhưng ông vẫn sống và đă thấy ta rồi. C̣n ông không giữ giới tuy sống, ở sát bên ta, nhưng thật ra ông đă chết và cách ta ngàn dặm". 

Tại sao, vị Tỳ kheo giữ giới bị chết giữa đường không thấy Phật, mà Phật lại cho "đă thấy được ta rồi"; trái lại, vị Tỳ kheo không giữ giới c̣n sống ở bên Phật thấy được Phật, mà Phật lại cho là "cách Phật ngàn dặm?". 

Cho biết, thấy cái sắc thân có 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp bên ngoài của Phật, chưa phải là thấy được phật; phải thấy "Phật tâm thanh tịnh" hay "pháp thân Phật" mới thật là thấy Phật. 

Song le, đa số chúng sanh, chỉ rong ruổi chạy theo giả tướng, t́m ohật bên ngoài, mà không biết xoay trở lại t́m đức Phật thiệt trong tâm của ḿnh. Bởi thế nên cổ nhơn quở: "Phật trong nhà không thờ, mà thờ đức Phật Thích Ca ngoài đường" là vậy. 

V́ phá cái mê lầm này, nên Tổ Đơn Hà đốt một vị Phật gỗ (Phật giả). Có người hỏi ngài: "đốt để làm ǵ?"._ Ngài trả lời: "đốt để t́m xa lợi" (t́m Phật thiệt). Ông chủ chùa thấy vậy sợ khủng khiếp, nên rụng hết râu mày; v́ huỷ kinh đốt Phật là tội rất nặng. 

V́ sự kiện này, nên cổ nhơn có lám bài kệ: 

Nguyên văn (dịch âm): 

Đơn Hà thiêu mộc Phật 

Viện chủ lạc tu mi 

Nhứt trường kỳ đặc sự 

Thiên hạ thiểu nhơn tri 

Dịch nghĩa: 

Tổ Đơn Hà đốt Phật gỗ 

Ngài viện chủ rụng râu mày 

Một trường hợp rất đặc biệt 

Trong thiên hạ ít người biết. 

Trọng tâm trong đoạn văn này là hai chữ "thấy Phật". Phật hỏi: "Ông có thể cho thấy cái thân tướng của ta đây là thấy được Như Lai chăng?"_ Ngài Tu Bồ Đề đáp: "Không thể cho thấy cái thân tướng của Phật là thấy Phật". 

Phật dạy tiếp: "Phàm cái ǵ có h́ng tướng đều là hư vọng", (phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng). Sắc thân của Phật do tứ đại giả hợp, có h́nh tướng nên cũng là hư vọng. Bởi thế nên thấy sắc thân của phật, chưa phải là thấy được Phật. 

Vậy th́ thấy cái ǵ mới thấy được Phật? 

Phật dạy tiếp: "Nếu ông thấy các pháp (tướng) đều là hư vọng, tức là thấy được Như Lai (thật tướng các pháp). 

Ngài thái Hư Pháp sư giảng: 

Đoạn này không những nói sắc thân của Phật là hư vọng, mà tất cả các h́nh tướng, như thế giới chúng sanh v.v...cũng đều hư vọng, như hoa trong gương, như trăng duới nước, không có chơn thật. Nếu người rơ thấu được các tướng đều hư vọng như vậy, tức là đă thấy được "pháp thân của Như Lai", tức là rơ thấu được "tướng chân thật của các pháp", cũng tức là "Trí huệ vô thượng", và cũng tức là "Kim Cang Bát Nhă diệu tâm". 

(KIM CANG GIẢNG LỤC) 

Tóm lại, đoạn kinh nầy, Phật dùng Trí huệ Kim Cang Bát Nhă, phá trừ vọng chấp: "Thấy sắc thân có 32 tướng tốt, và 80 vẻ đẹp bên ngoài của Phật, rồi chấp là thấy được Phật", mà quên xoay trở lại, tự t́m cấu đức Phật thiệt trong tự tâm của minh. 

8. NGƯỜI TIN ĐƯỢC KINH NÀY, DO ĐĂ TRỔNG CĂN LÀNH TỪ NHIỀU KIẾP

Ông Tu Bồ Đề hỏi Phật: "Bạch Thế Tôn ! chúng sanh nghe đến kinh này, chẳng biết có tin được không?". 

Phật dạy: "Tu Bồ Đề ! Ông chớ nên lo như vậy. Không những hiện tại mà cả vị lai đều có người nghe và tin được kinh này. Sau 500 năm, khi Như Lai nhập diệt, nếu có người xuất gia (tŕ giới) hoặc tại gia (tu phước) nghe đến kinh này, mà sanh ḷng tin thọ, th́ biết người này đă trồng căn lành (đă tu), không phải mới bốn năm đời Phật, mà đă nhiều kiếp tu hành, từ vô lượng vô số chư Phật đến nay 

LƯỢC GIẢI 

Ông Tu Bồ Đề hỏi Phật: "Không biết chúng sanh nghe đến kinh này, có tin được không?". Đây là lần thứ nhứt hỏi về việc tin thọ. 

Phật v́ những hàng Đại thừa Bồ Tát, nói kinh Kim Cang Bát Nhă, dạy các vị Bồ Tát, dùng Trí huệ Bát Nhă, phá trừ các vô minh vọng chấp ngă, pháp, để trở vềvới bản tâm thanh tịnh là tánh Bát Nhă chơn không, vô trụ vô tướng. 

Ông Tu Bồ Đề lo ngại cho chúng sanh căn cơ thấp kém, sợ e không hiểu và không tin, nên ông hỏi Phật: "Không biết chúng sanh nghe đến kinh này, có tin được không?". 

Đại ư, Phật dạy: không những hiện tại ở đời Chánh pháp, có chúng sanh hiểu và tin được kinh này, mà vị lai, sau khi Phật nhập diệt 500 năm, trong đời Tượng pháp hoặc Mạt pháp, cũng có chúng sanh hiểu và tin được kinh này. Nhưng, những chúng sanh đời Tượng pháp hoặc Mạt pháp tin được kinh này, là do họ đă nhiều kiếp có tu hành, trồng căn lành từ vô lượng đức Phật về trước (như Ngài Huệ Năng chỉ nghe một câu "ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm" trong kinh này mà được tỏ ngộ), chứ không phải mới tu từ bốn năm đời đức Phật trở lại đây. 

9. NGƯỜI THỌ TR̀ KINH NẦY CÔNG ĐỨC VÔ LƯỢNG [^] 

Phật dạy tiếp: "Tu Bồ Đề ! Như Lai thấy rơ ràng và biết chắc chắn: Nếu có chúng sanh nào nghe đến kinh này, sanh tâm tin thọ, cho đến trong thời gian rất ngắn, chỉ nhứt niệm, th́ chúng sanh đó sẽ được phước đức vô lượng vô biên. 

Tại sao vậy"_ V́ chúng sanh này không c̣n chấp tướng ngă tướng nhơn, tướng chúng sanh, tướng thọ giả, tướng phải pháp và tướng không phai pháp". 

LƯỢC GIẢI 

Phật khuyên người tin và thật hành theo kinh này, sẽ được công đức vô lượng. Đây là lần khuyên thứ nhứt. 

Người có cái khiếu về âm nhạc, mới nhận được cái hay và ưa thích về âm nhạc. Người có cái khiếu về hội hoạ mới thấy được cái đẹp và ưa thích về hội hoạ. Người có cái khiếu về văn chương mới thấy cái hay và ưa thích về văn chương. 

Cũng thế, người có cái khiếu về Bát Nhă, hay nói theo danh từ Duy thức là "hạt giống Bát Nhă", mới hiểu và tin được kinh Bát Nhă. 

Người đă có hạt giống Bát Nhă, tất nhiên không c̣n chấp các tướng: ngă, nhơn, chúng sanh, thọ giả, tướng phải pháp (Phật pháp) và tướng không phải pháp (tà pháp). Người này đuợc nghe thêm kinh Bát Nhă làm cho hạt giống Bát Nhă của ḿnh được sanh trưởng, sẽ mau đặng quả Bồ Đề. Bởi thế nên phật dạy: " ta thấy rơ ràng và biết chắc chắn: chúng sanh nào nghe hiểu và tin được kinh này, th́ sẽ được phước đức vô lượng vô biên". 

10. GIÁO PHÁP CỦA PHẬT CŨNG NHƯ CHIẾC THUYỀN ĐƯA NGƯỜI QUA BỂ KHỒ

Phật dạy: "Nếu các ông c̣n chấp các tướng, hoặc chấp "tướng chánh pháp" hay chấp "tướng phi chánh pháp" th́ cũng đều bị dính mắc nơi bốn tướng: ngă, nhơn, chúng sanh và thọ giả. Bởi thế nên khôngđược chấp "tướng chánh pháp" hay chấp "tướng phhi chánh pháp". 

Cũng v́ lẽ đó, nên Như Lai thường dạy: "Các thầy Tỳ kheo phải biết: giáo pháp của ta cũng như chiếc đ̣, đưa người qua sông; các ông không nên trụ chấp nơi giáo pháp. 

"Chánh pháp" c̣n không nên trụ chấp huống chi là "phi pháp". 

LƯỢC GIẢI 

Đoạn này Phật dùng Trí huệ Bát Nhă, phá trừ cái chấp "chánh pháp" và chấp "phi chánh pháp". 

Phật dạy hành giả, không nên chấp một tướng ǵ cả; dù là "chánh pháp" (hay Phật pháp) cũng không được chấp. Nếu c̣n trụ chấp, bất luận một tướng ǵ, th́ cũng đếu bị mắc vào bốn tướng: ngă, nhơn, chúng sanh và thọ giả, hay nói gọn hơn là mắc vào tướng ngă, pháp. Nếu c̣n chấp ngă, pháp th́ phiền năo vọng chấp đua nhau sanh khởi. Phiền năo vọng chấp sanh khởi, th́ hành giả không thể hàng phục được vọng tâm và an trụ chơn tâm. 

Bởi thế nên Phật dạy:" Giáo pháp của Phật cũng như chiếc đ̣ đưa người qua sông". Khi đến bờ rồi hành giả phải bỏ chiếc đ̣, mà lên bờ. Trái lại, nếu hành giả cứ khư khư chấp giữ chiếc đ̣, th́ không bao giờ lên bờ được. Người tu hành cũng thế, phải bỏ cái "chấp", mới lên bờ giải thoát được. 

Trong kinh Viên giác chép:"Tất cả kinh giáo của Phật, cũng như ngón tay để chỉ mặt trăng. Người xem, phải nương ngón tay mới thấy được mặt trăng. Nhưng nếu chấp ngón tay (chỉ xem ngón tay) th́ không bao giờ thấy được mặt trăng". 

Tóm lại, Phật dạy:"chánh pháp" (Phật pháp) c̣n không nên chấp, huống chi là "phi pháp". 

*** 

Ngài Xuyên Thiền sư ngộ được lư vô trước của kinh Bát Nhă, nên làm bài kệ rằng: 

Nguyên văn (dịch âm): 

Đắc thọ phàn chi mạt túc kỳ 

Huiyền nhai tán thủ trượng phu nhi 

Thuỷ hàn dạ lănh ngư nan mích 

Lưu đắc không thuyền tải nguyệt qui. 

Dịch nghĩa: 

Niu nhánh chuyền cây chẳng phải tài 

Dốc đứng buông tay mới trượng phu 

Gió lạnh đêm khuya câu chẳng có 

Thuyền không chỉ chở bóng trăng thanh.

ĐẠI Ư 

Câu thứ nhứt, nói về tiệm tu, phải lần hồi, c̣n chấp trụ nơi danh tướng; cũng như người đi mà níu nhánh vịn cây, th́ không có ǵ hay cả. 

Câu thứ hai, nói về đốn tu, không trụ chấp các tướng; cũng như người đi lên dốc ngược, mà không níu vịn đâu hết, mới là bực đại tài. 

Câu thứ ba, nói về tâm cảnh đều vắng lặng, cũng như canh khuya thanh vắng, bầu trời yên lặng, mặt nước phẳng lặng như tờ, cá chim cũng đều lặng nghỉ, không hoạt động. 

Câu thứ tư, nói về khi các vọng chấp các tướng ngă, pháp đă hết, th́ chỉ c̣n ánh Trí huệ Bát Nhă chơn không; cũng như chiếc thuyền không (không chấp) chỉ chở bóng trăng thanh (Trí huệ Bát Nhă). 

11. PHẬT PHÁ CÁI CHẤP "NHƯ LAI CÓ THÀNH PHẬT VÀ THUYẾT PHÁP" 

phật hỏi ông Tu Bồ Đề:"Như Lai có thành Phật không? Và Như Lai có thuyết pháp không?". 

Tu Bồ Đề thưa:"Bạch Thế Tôn ! Như Lai không thành Phật và Như Lai cũng không thuyết pháp. Tại sao vậy? V́ pháp của Như Lai, không thể chấp thủ, nói năng không trúng, suy nghĩ chẳng nhằm, không phải chánh pháp, mà cũng không phải phi pháp. 

Như thế th́ làm sao, có cái ǵ quyết định là "thành Phật", và có cái ǵ quyết định là "nói pháp". 

LƯỢC GIẢI 

Đoạn này Phật dùng Trí huệ Bát Nhă phá trừ cái chấp "Như Lai thật có thành Phật, và thật có nói pháp". 

Trong Duy thức Tam thập tụng có chép: 

Hiện tiền lập thiểu vật 

Vị thị Duy thức tánh

Dĩ hữu sở đắc cố 

Phi thật trụ Duy thức 

Nghĩa là: nếu hành giả hiện tiền c̣n phần nào chấp ḿnh có chứng Duy thức tánh, th́ chưa phải thật chứng Duy thức tánh, v́ c̣n vọng chấp có "sở đắc" vậy. 

Nếu Như Lai có thành Phật, tất nhiên phải có chúng sanh chưa thành Phật, thế th́ bốn tướng: ngă, nhơn v.v....đua nhau sanh khởi. Nếu c̣n ngă, nhơn v.v...th́ không phải là Phật. 

Nếu Như Lai có nói pháp, tất nhiên phải có chúng sanh nghe pháp. Nếu c̣n có kẻ nói người nghe, tức nhiên c̣n nhơn, ngă, bỉ, thứ. Nếu c̣n ngă, nhơn th́ không phải là thuyết Phật pháp. Bởi thế, nên Phật thuyết pháp 49 năm, mà rốt cuộc Phật nói:"Ta không nói một chữ". 

Đức Lăo Tử nói:"Cái "đạo" mà có thể nói được, th́ không phải thật là đạo. Cái "tên? mà có thể kêu gọi được, th́ không phải thật là "tên" (Đạo khả đạo, phi thường đạo giả, danh khả danh, phi thường danh). 

Kinh chép:"Một hôm, ông Tu Bồ Đề ngồi yên lặng dưới gốc cây. Trời Đế Thích đến rưới hoa cúng dường. Ô ng Tu Bồ Đề hỏi:"Ai răi hoa và răi hoa để làm ǵ?". Trời Đế Thích thưa:"Ngài nói kinh Bát Nhă hay quá ! Con đến răi hoa cúng dường". Ông Tu Bồ Đề nói:"Ta không nói kinh Bát Nhă". Trời Đế Thích thưa:"Ngài không nói, con không nghe". 

Kết luận:"Không nói Bát Nhă và không nghe Bát Nhă", như thế mới thật là "nói Bát Nhă và nghe Bát Nhă". 

Ông Tu Bồ Đề đă hiểu:"Phật pháp" không thể nghĩ bàn, không thể chấp thủ, chẳng phải "có", chẳng phải "không", không phải "chánh pháp" và cũng không phải "phi chánh pháp"; nên bạch Phật rằng:"Như Lai không thành Phật và Như Lai cũng không thuyết pháp". 

Tóm lại, phải rời các vọng chấp, không c̣n dụng tâm suy nghĩ và lời nói luận bàn, mới thật là "thành Phật" và "thuyết pháp". 

12. PHẬT PHÁP KHÔNG CÓ SAI KHÁC, DO TR̀NH ĐỘ CỦA CHÚNG SANH MÀ THẤY CÓ SAI KHÁC

Ông Tu Bồ Đề bạch Phật:"Phật pháp đă như thế, tại sao lại có các quả thánh hiền cao thấp khác nhau?". Phật dạy:"V́ tŕnh độ của chúng sanh có sai khác, nên có các quả thánh hiền sai khác, chứ không phải Phật pháp (vô vi) có sai khác". 

LƯỢC GIẢI 

Đoạn nầy phá cái chấp "Phật pháp có sai khác". 

Đoạn trên đă nói:"Pháp của Như Lai, không thể chấp thủ, nói năng không trúng, suy nghĩ chẳng nhằm, không phải chánh pháp và cũng không phải phi pháp" . phật pháp đă cao siêu như vậy, vượt ra ngoài nói năng và suy nghĩ, tại sao lại có các quả thánh hiền cao thấp khác nhau? 

Phật giải thích:"V́ tŕnh độ của chúng sanh có sai khác, nên có các quả thánh hiền sai khác, chứ không phải Phật pháp có sai khác" 

Trong kinh thường thí dụ:"Như ba con thú qua sông". Nghĩa là Phật pháp như con sông, không cạn không sâu. Hành giả như ba con thú lội qua sông: Con Dê th́ lội ngập đầu (dụ cho Tiểu thừa); con Nai th́ lội ngập cổ (dụ cho Trung thừa); con Voi th́ lội ngập ống chân (dụ cho Đại thừa). 

*** 

Phật pháp cao siêu huyền diệu, không thể nói năng và luận bàn, nên Ngài Xuyên Thiền sư có làm bài tụng rằng: 

Nguyên văn (dịch âm): 

Hư không cảnh giới khởi tư lương 

Đại đạo thanh u lư cánh trường 

Đản đắc ngũ hồ phong nguyệt tại 

Xuân lai y cựu bách hoa hương. 

Dịch nghĩa: 

Hư không rộng răi lớn bao la 

Lư đạo lại càng quá thẩm xa 

Trăng, gió, nước hồ thường tự tại 

Chào xuân đua nở trăm ngh́n hoa. 

ĐẠI Ư 

Hư không đă rộng lớn bao la không thể nghĩ bàn, Phật pháp lại càng cao siêu huyền diệu rộng lớn hơn hư không. Cảnh vật thiên nhiên của vũ trụ, như trăng thanh gió mát, nước hồ phẳng lặng, xuân về trăm hoa đua nở v.v...đều nói lên tinh thần tự tại giải thoát của Phật pháp. 

Kinh chép:"Nhứt thế chư Pháp vô phi Phật pháp". Nghĩa là "Tất cả các pháp thế gian cũng đều là Phật pháp". Nếu mê th́ pháp thế gian, c̣n ngộ là Phật pháp. 

GIẢI DANH TỪ 

Chấp thủ: nắm giữ 

Chánh Pháp: Pháp chơn chánh 

Phi Pháp: Pháp không chơn chánh 

Vô vi: Pháp không bị tạo tác thi vi, không sanh diệt, tức là chơn như hay Phật tánh. 

13. Phật nói công đức tŕ kinh, nhiều hơn bố thí thất bảo. 
14. Bốn quả Thinh văn, không nên chấp ḿnh có chứng quả. 
15. Phật phá cái chấp "Như Lai có đắc pháp". 
16. Phật phá cái chấp "Bồ Tát thật có làm trang nghiêm cơi Phật". 
17. Phật dạy:"Đừng sanh vọng tâm trụ chấp một nơi nào". 
18. Phật phá cái chấp "Thân Phật cao lớn như núi Tu Di".
 

13. PHẬT NÓI CÔNG ĐỨC TR̀ KINH NÀY NHIỀU HƠN BỐ THÍ THẤT BẢO

Phật hỏi:"Tu Bồ Đề ! Nếu có người đựng đầy bảy báu trong đại thế giới (một ngh́n triệu thế giới nhỏ) đem bố thí (tài thí), th́ phước đức nhiều không?". Tu Bồ Đề thưa:" Bạch Thế Tôn ! Nhiều lắm". 

Phật dạy:" Tu Bồ Đề ! Nếu có người thọ tŕ đọc tụng kinh này, hoặc v́ người giảng nói trọn quyển hoặc nửa quyển, cho đến tối thiểu là bốn câu kệ, th́ công đức (pháp thí) của người này nhiều hơn người trước. Tại sao vậy? V́ tất cả Phật và Pháp đều từ kinh này mà ra". 

Phật dạy tiếp:" Tu Bồ Đề ! Gọi là "Phật, Pháp", thực ra cũng không phải "Phật, Pháp", chỉ tạm gọi là "Phật, Pháp". 

LƯỢC GIẢI 

Đây là lần thứ hai, Phật nói về công đức thọ tŕ đọc tụng kinh này, nhiều hơn người bố thí thất bảo. 

Đoạn nầy nên chia làm ba phần để giải thích. 

1. So sánh phước đức giữa tài thí và pháp thí 

Ngọc ngà châu báu là vật rất quư, đă ít có và khó kiếm, nên không ai có nhiều được. Nhưng nếu người nào có nhiều châu báu, đựng đầy một ngh́n triệu thế giới nhỏ (đại thế giới) đem ra bố thí, tất nhiên phước đức nhiều lắm. 

Nhưng, nếu có người thọ tŕ kinh này hoặc giảng nói cho người nghe, từ một quyển, nửa quyển, hoặc một tờ cho đến tối thiểu là bốn câu kệ, th́ công đức của người sau, lại nhiều hơn người trước. Tại sao vậy? V́ bố thí tiền tài, dù có nhiều bao nhiêu cũng chỉ giúp về phần vật chất, làm cho người giàu có sung sướng nhứt thời mà thôi. C̣n bố thí về giáo pháp là giúp về phần tinh thần, làm cho người hiểu biết giáo lư tu hành, thoát ly sanh tử luân hồi, kiến tánh thành Phật, rồi trở lại độ chúng sanh đều được giải thoát. Bởi thế nên bố thí pháp (tinh thần) tuy ít, nhưng phước đức nhiều hơn bố thí tài (vật chất). 

2. Phật và Pháp đều từ kinh này sanh. 

Kinh này là kinh "Kim Cang Bát Nhă", tức là kinh nói về "Trí huệ Phật". Trí huệ này phá núi vô minh phiền năo, nhưng không bị hư hoại, nên gọi là "Kim Cang". 

Nhờ Trí huệ Kim Cang Bát Nhă phá hết vô minh, nên mới minh tâm kiến tánh thành Phật, nên nói:"Kinh này sanh ra chư Phật". Và sau khi thành Phật rồi, cũng nhờ có Trí huệ Bát Nhă mới nói ra giáo pháp, nên nói "kinh này sanh ra Pháp". 

3. Phá cái chấp "thật có Phật, Pháp". 

Đúng theo "tánh Bát Nhă Chơn không", th́ nói năng không trúng, suy nghĩ chẳng nhằm, nên không có thể kêu gọi là ǵ được cả. Nhưng sở dĩ gọi "Phật, Pháp", là một danh từ, đặt ra để gọi tạm mà thôi; thật ra cũng không phải là "Phật, Pháp". Nếu c̣n chấp "thật có Phật, Pháp" th́ không đúng với "Tánh Bát Nhă chơn không", nên Phật dạy:" Gọi là Phật Pháp, thực ra cũng không phải Phật Pháp, chỉ tạm gọi là Phật Pháp". 

GIẢI DANH TỪ 

Bảy món báu: Vàng, bạc, ngọc lưu ly, ngọc xà cừ, ngọc mă năo, ngọc san hô và ngọc hổ phách. 

Đại thế giới: Tức là Đại thiên thế giới. Thế giới chúng ta ở đây là một thế giới nhỏ; 1.000 thế giới nhỏ, gọi là "Tiểu thiên thế giới"; 1.000 Tiểu thiên thế giới, gọi là "Trung thiên thế giới"; 1.000 Trung thiên thế giới, gọi là "Đại thiên thế giới". Một Đại thiên thế giới là một ngh́n triệu thế giới nhỏ. Thế giới Ta bà là một Đại thiên thế giới. 

Kệ: Một bài kệ là 4 câu, hoặc nhiều câu, như thơ tứ cú, bát cú v.v...ở nước ta. 

Thọ tŕ: Lănh thọ và hành tŕ. 

*** 

14. BỐN QUẢ THINH VĂN, KHÔNG NÊN CHẤP M̀NH CÓ CHỨNG QUẢ.

Phật hỏi:"Tu Bồ Đề ! Nếu vị Tu đà hoàn tự nghĩ rằng:"Tôi đă đặng quả Tu đà hoàn", nghĩ như thế có được không?" 

Tu Bồ Đề thưa:" Bạch Thế Tôn ! Không thể được. Tại sao vậy? _ Vị Tu đà hoàn, phải không c̣n có thấy ḿnh có chứng quả Tu đà hoàn (Tàu dịch Nhập lưu), thế mới thật là chứng quả Tu đà hoàn". 

Phật hỏi:" Tu Bồ Đề ! Nếu vị Tư đà hàm tự nghĩ rằng:"Tôi đă đặng quả Tư đà hàm"; nghĩ như thế có được không?". 

Tu Bồ Đề thưa:"Bạch Thế Tôn ! Không thể được. Tại sao vậy? _ Vị Tư đà hàm, phải không c̣n có thấy ḿnh có chứng quả Tư đà hàm (Tàu dịch Nhứt lai), thế mới thật là chứng quả Tư đà hàm". 

Phật hỏi:" Tu Bồ Đề ! Nếu vị A na hàm tự nghĩ rằng:"Tôi đă đặng quả A na hàm"; nghĩ như thế có đặng không?". 

Tu Bồ Đề thưa:"Bạch Thế Tôn ! Không thể được. Tại sao vậy? _ Vị A na hàm, phải không c̣n có thấy ḿnh có chứng quả A na hàm (Tàu dịch là Bất lai), thế mới thật là chứng quả A na hàm". 

Phật hỏi:" Tu Bồ Đề ! Nếu vị A la hán tự nghĩ rằng:"Tôi đă đặng quả A la hán"; nghĩ như vậy có đặng không?". 

Tu Bồ Đề thưa:"Bạch Thế Tôn ! Không thể được. Tại sao vậy? _ Vị A la hán, phải không c̣n có thấy ḿnh có chứng quả A la hán, thế mới thật là chứng quả A la hán. Nếu c̣n thấy ḿnh chứng quả A la hán tức là c̣n trụ chấp (dính mắc) về bốn tướng:ngă, nhơn, chúng sanh và tu hành giả, th́ không phải thật chứng A la hán. 

Bạch Thế Tôn ! Cũng như con đây, v́ con không c̣n chấp ḿnh có tu chứng, nên mới được Như Lai chứng nhận:"Tu Bồ Đề đă đặng pháp Tam muội vô tránh; Tu Bồ Đề là người ưa tu hạnh tịch tịnh (A lan na); Tu Bồ Đề là vị A la hán ly dục thứ nhứt. Trong chúng, Tu Bồ Đề là hơn hết". 

Bạch Thế Tôn ! Nếu con nghĩ (châp rằng:"Con đă đặng quả A la hán, con l;à vị A_la hán ly dục thứ nhứt v.v...th́ Đức Như Lai không chứng nhận và không khen ngợi con như vậy". 

LƯỢC GIẢI 

Đoạn này Phật dùng Trí huệ Bát Nhă, phá trừ cái chấp của bốn quả Thinh văn, tự thấy ḿnh có chứng quả. 

Trong kinh Tứ thập nhị chương có chép: 

"Tu vô tu tu, chứng vô chứng chứng v.v..." 

Nghĩa là: Tu mà không c̣n chấp ḿnh tu, thế mới thật là tu. Chứng quả, mà không chấp ḿnh chứng quả, thế mới thật là chứng quả v.v.... 

Nếu người tu chứng, đúng theo tinh thần của "Kim Cang Bát Nhă", nghĩa là không c̣n các vọng chấp ngă và pháp hay bốn tướng, th́ mới thật tu và thật chứng. 

Trái lại, nếu c̣n chấp ngă, pháp hay bốn tướng (ngă, nhơn v.v..) tức là không nhập được "Kim Cang Bát Nhă", th́ không phải thật tu và thật chứng. 

Bởi thế nên bốn quả Thinh văn, nếu c̣n tự thấy ḿnh có chứng quả Tu đà hoàn, Tư đà hàm, A na hàm, A la hán, tức là c̣n chấp ngă (ta chứng đặng) và chấp pháp (quả vị để chứng) th́ không nhập được "Kim Cang Bát Nhă", nên không phải là Tu đà hoàn, Tư đà hàm, A na hàm, A la hán. 

Ông Tu Bồ Đề, tự đem ḿnh ra làm thí dụ điển h́nh. Đại ư ông nói: Nếu ông chấp rằng:"Tôi đă đặng pháp Tam muội và đặng quả A la hán v.v..." tức nhiên ông c̣n chấp ngă (quả A la hán) chấp pháp ( Tam muội), chưa nhập được Kim Cang Bát Nhă, th́ Phật đâu có ấn chứng cho ông là vị A la hán ly dục thứ nhứt v.v.... 

Ngài Phó Đại sĩ nói bài tụng giải thích rằng: 

Nguyên văn (dịch âm): 

Vô sanh tức vô diệt 

Vô ngă phục vô nhơn 

Vĩnh trừ phiền năo chướng 

Trường từ hậu hữu thân 

Cảnh vong tâm diệc diệt 

Vô phục khởi tham sân 

Vô bi không hữu trí 

Hốt nhiên độc nhậm chơn. 

Dịch nghĩa: 

Không sanh cũng không diệt 

Không ngă cũng không nhơn 

Dứt trừ phiền năo chướng 

Không c̣n có thân sau 

Tâm cảnh đều vắng lặng 

Do đâu khởi tham sân 

Không bi cũng không trí 

Thế mới nhập Chơn như. 

ĐẠI Ư 

Nếu không c̣n các vọng chấp nhơn, ngă, sanh, diệt v.v...th́ các phiền năo không do đâu mà sanh ra. Phiền năo không sanh, tức không tạo nghiệp, nên không bị sanh tử luân hồi. V́ tâm và cảnh đă vắng lặng th́ do đâu khởi tâm, sân, si. Cho đến bi và trí cũng không chấp, nên chơn tâm hay chơn như tự hiện bày. 

Tóm lại, v́ không c̣n các vô minh vọng chấp: nhơn, ngă, tâm, cảnh, sanh, diệt v.v...nên mới chứng đặng chơn tâm thanh tịnh. Như thế mới thật tu và thật chứng. 

GIẢI DANH TỪ 

Tu đà hoàn: trong bốn quả Thanh văn của Tiểu thừa, Tu đà hoàn là quả Thánh nhỏ nhứt. Tu đà hoàn là dịch âm tiếng Phạn, Trung hoa dịch là "Dự lưu" hoặc "Nhập lưu", nghĩa là mới dự vào ḍng Thánh nhơn. 

Tu đà hàm: Quả Thánh thứ hai trong bốn quả Thinh văn. Trung hoa dịch âm của tiếng Phạn, dịch nghĩa là "Nhứt văng lai"; nghĩa là c̣n một lần qua cơi nhơn, thiên để tu hành đoạn hoặc, rồi mới chứng đặng quả A la hán. 

A na hàm: Quả Thánh thứ ba trong bốn quả. Trung hoa dịch âm tiếng Phạn, dịch nghĩa "Bất lai"; nghĩa là không c̣n trở lại thọ sanh trong Dục giới nữa. 

A la hán: Quả Thánh thứ tư trong bốn quả. Trung hoa dịch âm tiếng Phạn, nếu dịch nghĩa, có ba: 

a. Vô sanh: Không c̣n sanh trở lại ba cơi 

b. Sát tặc: Đă giết hết các giặc phiền năo. 

c. Ứng cúng: Xứng đáng cho nhơn thiên cúng dường. 

Do tu nhơn Tỳ kheo có 3 nghĩa, nên chứng quả A la hán cũng có 3 nghĩa: 

Nhơn Phá ác ..... Vô sanh Quả 

Tỳ kheo Bố ma ... Sát tặc A la hán 

Khất sĩ .... Ứng cúng 

TAM MUỘI: Trung hoa dịch âm tiếng Phạn, dịch nghĩa là "Chánh định". 

TAM MUỘI VÔ TRÁNH: Pháp chánh định hơn hết. 

A LAN NA: Trung hoa dịch âm tiếng Phạn, nghĩa là không ồn ào náo nhiệt, vắng vẻ thanh tịnh, giải thoát không bị trần luî. 

*** 

15. PHẬT PHÁ CÁI CHẤP "NHƯ LAI CÓ ĐẮC PHÁP". 

Phật hỏi:" Tu Bồ Đề ! Về quá khứ đối với trước Phật Nhiên Đăng, ta có đắc pháp không?". 

Tu Bồ Đề thưa:" Bạch Thế Tôn ! Đức Như Lai thật không có "đắc pháp" ǵ cả". 

LƯỢC GIẢI 

Đoạn này Phật dùng Trí huệ Bát Nhă phá trừ cái chấp "Như Lai thật có đắc pháp". 

Kinh chép:"Về quá khứ, vô lượng, vô số kiếp về trước, Đức Thích Ca đối trước Phật Nhiên Đăng, được Ngài truyền chánh pháp và thọ kư, tương lai sẽ được thành Phật, hiệu là Thích Ca Mâu Ni". 

Nhưng, nếu Như Lai c̣n chấp ḿnh có "đắc pháp và được thọ kư" tức là Như Lai c̣n chấp ngă (ta được) chấp pháp (đắc pháp) th́ không phải là Như Lai. Bởi thế nên ông Tu Bồ Đề thưa:"Bạch Thế Tôn ! Như Lai không có đắc pháp ǵ cả". 

V́ Như Lai không chấp ḿnh có "đắc pháp" và "thọ kư", nên không mắc vào bốn tướng ngă, nhơn v.v...được nhập Kim Cang Bát Nhă. Như thế mới thật là "đắc pháp" và "được thọ kư". 

*** 

16. PHẬT PHÁ CHẤP "BỔ TÁT THẬT CÓ LÀM TRANG NGHIÊM CƠI PHẬT".

Phật hỏi:" Tu Bồ Đề ! Bồ Tát có làm trang nghiêm cơi Phật không?" 

Tu Bồ Đề thưa:" Bạch Thế Tôn ! Bồ Tát không làm trang nghiêm cơi Phật. Tại sao vậy? Bồ Tát làm trang nghiêm cơi Phật, mà không thấy (chấp) ḿnh có trang nghiêm cơi Phật, như thế mới thật là trang nghiêm cơi Phật". 

LƯỢC GIẢI 

Đoạn này phật dùng Trí huệ Bát Nhă phá trừ cái chấp "Bồ Tát có làm trang nghiêm cơi Phật" 

Bồ Tát làm các Phật sự, giáo hoá chúng sanh, đó là trang nghiêm cơi Phật. Nhưng, nếu Bồ Tát c̣n chấp ḿnh có làm Phật sự, giáo hoá chúng sanh, th́ Bồ Tát c̣n tâm nhiễm ô vọng chấp ngă (ta giáo hoá) nhơn (người được giáo hoá). Đem tâm nhiễm ô vọng chấp mà làm "trang nghiêm cơi Phật", th́ cơi Phật thành nhiễm ô, không thể "trang nghiêm cơi Phật thanh tịnh" được. 

Trái lại, phải dùng tâm thanh tịnh (không c̣n các nhiễm ô vọng chấp, chấp ngă, chấp pháp v.v...) mà trang nghiêm cơi Phật, th́ cơi Phật mới thanh tịnh trang nghiêm được. 

Ngài Xuyên Thiền sư dạy: 

Nguyên văn (dịch âm): 

Chánh nhơn thuyết tà pháp, tà pháp tất qui chánh 

Tà nhơn thuyết Chánh pháp, chánh pháp tất qui tà 

Giang Bắc thành chỉ, Giang Nam quít. 

Xuân lai đô phóng nhứt ban hoa. 

Dịch nghĩa: 

Người chánh nói pháp tà, tà pháp trở về chánh 

Người tà nói pháp chánh, pháp chánh trở thành tà. 

Cũng một cây, nhưng ở Giang bắc th́ cây chỉ xát, Giang nam th́ thành cây quít. 

Xuân về đều trổ một thứ hoa. 

ĐẠI Ư 

Người đem tâm đời (danh, lợi, sân, si v.v...) mà làm việc Đạo (làm các phật sự) th́ việc Đạo biến thành việc đời. Trái lại, người đem tâm Đạo (từ bi, hỷ xả v.v...)mà làm việc đời (tiếp xúc làm việc với chúng sanh) th́ việc đời trở thành việc Đạo (tứ nhiếp pháp, ngũ minh v.v...) cũng như một thứ cây, nhưng nếu ở đất Giang Bắc th́ thành cây chỉ xát, trái đặc ruột và chua, ăn không được; c̣n ở đất Giang Nam th́ thành cây quít, trái ngọt. 

Dù việc chánh hay tà, việc đời hay đạo, đều có nhơn và có quả, chẳng qua tốt hay xấu mà thôi. Cũng như cây chỉ xát hay cây quít, Xuân về đều trổ một thứ hoa và một thứ trái; nhưng trái quít th́ ngọt, mà chỉ xát lại chua. 

*** 

17. PHẬT DẠY: "ĐỪNG SANH VỌNG TÂM TRỤ CHẤP MỘT NƠI NÀO" 

Phật dạy: "Tu Bồ Đề ! Các vị Đại Bồ Tát phải giữ tâm thanh tịnh, chớ nên sanh vọng tâm trụ chấp nơi sắc trần, thinh trần, hương trần, vị trần, xúc trần và pháp trần. Tóm lại, Bồ Tát đừng khởi vọng tâm trụ chấp một nơi nào cả" (Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm). 

LƯỢC GIẢI 

Hai đoạn trên phá cái chấp "Như Lai có đắc pháp" và "Bồ Tát có làm trang nghiêm cơi Phật". Đoạn này tóm lại, Bồ Tát phải giữ tâm thanh tịnh, không nên sanh vọng tâm trụ chấp một nơi nào cả. 

Tất cả sự vật trong vũ trụ, tuy vô cùng vô tận, nhưng không ngoài 18 giớilà 6 căn, 6 trần và 6 thức; căn và trần thuộc về vật chất, c̣n thức thuộc về tinh thần. 

Phật dạy các vị Bồ Tát, phải giữ tâm thanh tịnh, không nên sanh vọng tâm dính mắc (trụ chấp) nơi sắc trần, thinh trần, hương trần, vị trần, xúc trần và pháp trần v.v... 

Tóm lại, chỉ trong một câu, Phật dạy: "Đừng sanh vọng tâm dính mắc (trụ chấp) một nơi nào". 

Thuở xưa, ngài Huệ Năng vừa nghe phú ông tụng kinh Kim Cang Bát Nhă vừa đến câu: 

"Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm" 

Đừng khởi vọng tâm trụ chấp một nơi nào). 

Ngài liền tỏ ngộ lư Kim Cang Bát Nhă !...Ngài hân hoan ca ngợi: "Hay quá ! kinh Kim Cang Bát Nhă hay quá !"(1) 

"Đừng sanh vọng tâm trụ chấp một nơi nào", tức là "đừng sanh vọng tâm chấp ngă, chấp pháp v.v..." không chấp ngă, pháp th́ phiền năo không sanh. Phiền năo không sanh th́ tâm dược thanh tịnh, không tạo nghiệp sanh tử luân hồi. Đó là phương pháp tu của Đại thừa Đốn giáo, rất giản di và mau chóng, để hàng phục vọng tâm và an trụ chơn tâm. 

Sau khi đại ngộ lư kinh Bát Nhă, Tổ Huệ năng đă minh tâm kiến tánh, nên Ngài có dạy rằng: 

Nguyên văn (dịch âm): 

Hà kỳ tự tánh bổn tự thanh tịnh 

Hà kỳ tự tánh bổn bất sanh diệt 

Hà kỳ tự tánh bổn tự cụ túc 

Hà kỳ tự tánh bổn vô diêu động 

Hà kỳ tự tánh năng sanh vạn pháp 

Dịch nghĩa: 

Ai ngờ tâm ḿnh vốn tự thanh tịnh 

Ai ngờ tâm ḿnh vốn không sanh diệt 

Ai ngờ tâm ḿnh vốn tự đầy đủ 

Ai ngờ tâm ḿnh vốn không diêu động 

Ai ngờ tâm ḿnh hay sanh muôn pháp 

Đức Ngũ Tổ đến lúc tuổi già, muốn chọn người để truyền Tổ vị, nên Ngài truyền dạy trong chúng, mỗi người phải làm một bài kệ, để tŕnh bày sự tu chứng của ḿnh, nếu người nào tỏ ngộ được lư Đạo, ngài sẽ truyền Tổ vị, làm Tổ thứ Sáu. 

Ngài Thần Tú là bực Thượng toạ, tài đức siêu quần, làm kệ rất hay, nhưng v́ chưa tỏ ngộ được lư Kim Cang Bát Nhă, c̣n trụ chấp các tướng, có tu, có chứng v.v...nên bị Tổ Huệ Năng quở rằng: "C̣n đứng ngoài hàng rào". 

Bài kệ của Ngài Thần Tú: 

Nguyên văn (dịch nghĩa): 

Thân thị Bồ Đề thọ 

Tâm như minh cảnh đài 

Thời thời thường phất thức 

Vật sử nhá trần ai. 

Dịch nghĩa: 

Thân là cây Bồ Đề (có tướng) 

Tâm như đài gương sáng (có tướng) 

Mỗi giờ thường lau quét (có tu) 

Chớ cho dính bụi trần (có chứng) 

Tổ Huệ Năng, đă ngộ được lư Kim Cang Bát Nhă, không trụ chấp các tướng, nên được đức Ngũ Tổ truyền trao y bát và làm vị Tổ thứ sáu. 

Bài kệ của Tổ Huệ Năng: 

Nguyên văn (dịch nghĩa): 

Bồ Đề bổn vô thọ 

Tâm phi minh cảnh dài 

Bổn lai vô nhứt vật 

Hà xá nhá trần ai. 

Dịch nghĩa: 

Bồ Đề không phải cây (vô tướng) 

Chơn tâm không phải đài (vô tướng) 

Xưa nay không một vật (vô tướng) 

Chỗ nào dính bụi trần (vô tướng) 

*** 

18. PHẬT PHÁ CÁI CHẤP "THÂN PHẬT CAO LỚN NHƯ NÚI TU DI"

Phật hỏi: "Tu Bồ Đề !báo thân của Phật như núi Tu di. Vậy Báo thân của Phật có cao lớn không?". 

Ông Tu Bồ Đề thưa: "Bạch Thế Tôn ! Lớn lắm. Nhưng, Phật nói: "Không chấp thân cao lớn, mới thật là cao lớn". 

LƯỢC GIẢI 

Đoạn này Phật dùng Trí huệ Bát Nhă, phá trừ cái chấp "Báo thân Phật cao lớn". 

Từ trước đến đây, đă nhiều lần hỏi và đáp. V́ muốn phá các vọng chấp, để nhập với "Tánh Bát Nhă chơn không", cho nên Phật hỏi. Và cũng v́ muốn phá các vọng chấp, để nhập với "Tánh Bát Nhă chơn không" cho nên ông tu Bồ Đề đáp. Nếu chúng sanh chấp có, th́ Ngài nói không; chúng sanh chấp không, th́ Ngài nói có v.v...Dù nói có, nói không, nói lớn, nói nhỏ v.v...đều để phá các chấp của chúng sanh, đem về "Tánh Bát Nhă chơn không". 

Phật hỏi ông tu Bồ Đề: "Báo thân cùa Phật có cao lớn không?". 

Tu Bồ Đề đáp: "Báo thân của Phật cao lớn lắm". 

Nhưng sợ chúng sanh chấp "thân Phật cao lớn", nên ông Tu Bồ Đề liền dẫn lời Phật nói để phá chấp: "Phật nói không chấp thân cao lớn, mới thật là cao lớn". Nghĩa là: Phàm cái ǵ c̣n thấy nghe và suy nhgĩ được, th́ cái đó không phải tuyệt đối; phải siiêu thoát ra ngoài sự thấy nghe và suy nghĩ, mới là tuyệt đối. 

Đức Lăo tử nói: "Đạo mà có thể nói được, th́ không pghải là Đạo". 

Tóm lại, nếu c̣n "chấp thân cao lớn", tất nhiên c̣n chấp ngă và chấp pháp, th́ không nhập được Kim Cang Bát Nhă, nên chưa phải thân cao lớn. 

GIẢI DANH TỪ 

BÁO THÂN: Phật có 3 thân: 

1. Pháp thân: tức là Pháp tánh hay chơn tâm, không có h́nh tướng 

2. Báo thân: Thân do phước báo tu hành, trải qua 3 vô số kiếp mới được. Kinh chép: Báo thân của Phật lớn bằng núi Tu di; duy có bực Bồ Tát mới thấy được. 

3. Ứng thân hay Hoá thân: Phật tuỳ các loại chúng sanh mà ứng hiện hay hoá hiện ra mỗi thân, để tế độ 

19. Thọ tŕ kinh này phước đức vô lượng
20. Công đức của kinh Kim Cang Bát Nhă
21. Ông Tu Bồ Đề hỏi Phật tên kinh
22. Phật phá cái chấp "kinh Kim Cang Bát Nhă"
23. Phật phá cái chấp "Như Lai có thuyết pháp"
24. Phật phá cái chấp "thật có vi trần và thế giới
25. Phật phá cái chấp "thấy 32 tướng tốt của Phật là thấy Phật"
 

19. THỌ TR̀ KINH NÀY PHƯỚC ĐỨC VÔ LƯỢNG 

Phật hỏi: "Tu Bồ Đề ! Như trong sông hằng, có vô số cát, rồi lấy mổi một hạt cát, lại du cho một sông hằng. Vậy những số cát trong vô số sông Hằng đó, có nhiều không?". 

Tu Bồ Đề thưa: "Bạch Thế Tôn ! Nhiều lắm. Nếu chỉ tính nhũng sông hằng mà thôi, hăy c̣n nhiều vô số, huống chi là tính tất cả số cát, trong vô số sông Hằng". 

Phật hỏi tiếp: "Tu Bồ Đề ! Nếu có chúng sanh nào dùng 7 món báu, đựng đầy trong nhiều Đại Thế giới (một ngh́n triệu thế giới nhỏ) d8ể đem bố thí; số đại thế giới này cũng nhiều như số cát trong vô số sông Hằng, th́ chúng sanh đó phước đức nhiều khôn?". 

Tu Bồ Đề thưa: "Bạch Thế Tôn ! Nhiều lắm". 

Phật dạy: "Tu Bồ Đề ! ta nay thành Phật bảo ông: Nếu có người thọ tŕ đọc tụng hay giảng kinh này hoặc trọn quyển hay nữa quyển, cho đến tối thiểu, chừng bốn câu kệ, th́ phước đức của người này nhiều hơn người trước". 

LƯỢC GIẢI 

Đoạn này Phật nói công đức người thọ tŕ hoặc giảng dạy kinh này (thí pháp) nhiều hơn công đức người bố thí thấ bửu (thí tài) đựng đầy trong vô số Đại thế giới, nhiều như số cát trong vô số sông Hằng. Đây là lần thứ ba, Phật tán thán về công đức thọ tŕ kinh. 

Ngọc ngà châu báu, không ai có nhiều được. Nhưng nếu có người, có nhiều châu báu, đựng đầy trrong vô số đại thế giới, đem bố thí, th́ phước đức người này không thể nghĩ bàn. 

Nhưng nếu có người thọ tŕ hay giảng kinh này, hoặc trọn quyển hay nữa quyển, hoặc tối thiểu là bốn câu kệ, th́ công đức của người sau nhiều hơn người trước. 

V́ bố thí về châu báu, dầu nhiều đến đâu, cũng chỉ giúp cho người về phương diện vật chất, giàu sang, sung sướng nhứt thời mà thôi, chứ không thể đem hạnh phúc vĩnh viễn cho người được. 

C̣n người thọ tŕ hoặc giảng dạy kinh này, tuy ít và dễ làm, nhưng thuộc về pháp thí, giúp cho người về phương diện tinh thần, có ảnh hưởng sâu rộmng hơn. Ḿnh và người được trồng hạt giống Bát Nhă, một ngày sau, không sớm th́ chầy, thế nào cũng được nứt mộng nẩy chồi, đơm bông kết quả, sẽ được thành Phật, rồi hoá độ vô số chúng sanh cũng sẽ thành Phật. Bởi v́ người tŕ kinh và bố thí pháp, thuộc về phước vô lậu thanh tịnh, nên phước đức nhiều hơn người bố thí vật chất. 

Tóm tắt đoạn này, Ngài Phó Đại sĩ có làm bài tụng như sau: 

Nguyên văn (dịch âm): 

Bảo măn tam thiên giới 

Tê tŕ tác phước điền 

Duy thành hữu lậu nghiệp 

Chung bất ly nhơn thiên 

Tŕ kinh thủ tứ cú 

Dữ Phật tác lương duyên 

Dục nhập vô vi hải 

Tu thừa Bát Nhă thuyền 

Dịch nghĩa: 

Đựng báu đầy Đại thiên 

Bố thí trồng ruộng phước 

Chỉ thành nghiệp hữu lậu 

Hưởng phước cơi nhơn thiên 

Tŕ tụng bốn câu kệ 

Tạo duyên lành với Phật 

Muốn vào biển vô vi 

Phải nương thuyền Bát Nhă. 

ĐẠI Ư 

Bài tụng này nói, của báu đựng đầy Đại thế giới (một ngh́n triệu thế giới nhỏ) đem bố thí làm phước, hành giả chỉ hưởng phước hữu lậu của cơi nhơn thiên. Không bằng người tŕ tụng bốn câu kệ, để gieo duyên lành với Phật, đặng nương nhờ thuyền Bát Nhă, dạo chơi biển vô vi, hưởng phước vui vĩnh viễn. 

GIẢI DANH TỪ 

Sông Hằng:Tên một con sông bên Ấn Độ. Dài rộng và rất hiều cát. Mỗi khi Phật thuyết pháp, muốn chỉ cái ǵ nhiều klhông thể tính được, th́ Phật thí dụ "Như số cát sông Hằng (Hằng hà sa số) 

Đại thế giới:Nguyên văn chữ hán là "Tam thiên đại thế giới", gọi tắt là "Đại thế giới". 

Nhơn lên 3 lần ngàn, là một đại thế giới. Nghĩa là năm châu thế giới của chúng ta ở đây là một thế giới nhỏ; nhơn lên 1000 thế giới nhỏ, gọi là "Tiểu thiên thế giới", nhơn lên 1000 tiểu thiên thế giới, gọi là "Trung thiên thế giới"; nhơn lên 1000 trung thiên thế giới, gọi là "Đại thiên thế giới"; tức là một ngh́n triệu thế giới nhỏ, gọi là một "Đại thiên thế giới". Ngoài Thế giới Ta bà là "một Đại thiên thế giới". Ngoài thế giới Ta bà c̣n hằng hà sa số Đại thiên thế giới. 

*** 

20. CÔNG ĐỨC CỦA KINH KIM CANG BÁT NHĂ 

Phật dạy: "Tu Bồ Đề ! Những chỗ được giảng kinh này, hoặc trọn bộ hay nữa quyển, cho đến tối thiểu là bốn câu kệ, th́ chỗ đó cũng được chư thiên, người và thánh thần đến cúng dường và đều kinh trọng như chỗ chùa tháp của Phật". 

Phật dạy tiếp: "Tu Bồ Đề ! Nếu chỗ nào thờ kinh này, th́ chỗ đó có Phật và có các vị đệ tử tôn qui của Phật. Bởi thế nên người chí thành thọ tŕ đọc tụng kinh này, người ấy sẽ thành tựu Trí huệ Kim Cang Bát Nhă". 

LƯỢC GIẢI 

Đạon này tiếp theo đoạn trên, nói về công đức qui báu của kinh và khuyên người thọ tŕ kinh này. Đây là lần thứ tư. 

Đoạn trước (đoạn 13) Phật dạy: " ...tất cả Phật và pháp đều từ kinh này mà ra". Bởi thế nên chỗ giảng kinh này và chỗ thờ kinh này, th́ chỗ đó như chùa Phật hay tháp Phật, có Phật, có đệ tử tôn quí của Phật; thánh, thần, trời, người đều kinh trọng và cúng dường. 

V́ kinh này rất quư bau như vậy, nên người chí thành thọ tŕ kinh này sẽ được Trí huệ Phật (Kim Cang Bát Nhă). 

*** 

21. ÔNG Tu Bồ Đề HỎI PHẬT VỀ TÊN KINH 

Lúc bấy giờ ông Tu Bồ Đề hỏi Phật: "Bạch Thế Tôn ! Kinh này tên ǵ? Và tại sao chúng con phải phụng tŕ". 

Phật dạy: "Tu Bồ Đề ! Kinh này tên là "KIM CANG BÁT NHĂ Ba la mật"; V́ thế nên các ông phải phụng tŕ". 

LƯỢC GIẢI 

Đến đây, ông Tu Bồ Đề thỉnh Phật xác định tên kinh và giải thích, tại sao phải phụng tŕ? Phật trả lời: Kinh này tên "Kim Cang Bát Nhă Ba La Mật" (nghĩa đă giải ở đề mục kinh). V́ "Kim Cang Bát Nhă", nên các ông phải phụng tŕ. 

*** 

22. PHẬT PHÁ CÁI CHẤP VỀ KINH "KIM CANG BÁT NHĂ BA LA MẬT"

Phật dạy: "Tu Bồ Đề ! Như Lai nói Bát Nhă Ba La Mật, tức là không phải Bát Bát Nhă Ba La Mật, thế mới gọi là Bát Nhă Ba La Mật". 

LƯỢC GIẢI 

Đoạn này Phật dùng Trí huệ Bát Nhă phá trừ cái chấp về kinh "Kim Cang Bát Nhă Ba La Mật". Nếu hành giả c̣n vọng chấp "có kinh Bát Nhă và có ta phụng tŕ", tức là hành giả c̣n chấp ngă (ta phụng tŕ) và chấp pháp (kinh Bát Nhă) th́ không phải là kinh Bát Nhă và thọ tŕ Bát Nhă. Phải dẹp trừ hết các vọng chấp ngă, pháp v.v...mới phải thọ tŕ kinh Bát Nhă. 

Bởi thế nên, Phật vừa nói ra tên kinh, sợ chúng sanh chấp tên kinh, nên Phậtliền phá chấp: "Như Lai nói Bát Nhă Ba La Mật, không phải Bát Nhă Ba La Mật, thế mới thật là Bát Nhă Ba La Mật". 

23. PHẬT PHÁ CÁI CHẤP "NHƯ LAI CÓ THUYẾT PHÁP"

Phật hỏi: "Tu Bồ Đề ! Như Lai có thuyết pháp không?". Tu Bồ Đề thưa: "Bạch Thế Tôn ! Như Lai không có thuyết pháp". 

LƯỢC GIẢI 

Đây là lần thứ hai, Phật phá cái chấp:" Như Lai có thuyết pháp" (lần thứ nhứt ở đoạn 11). 

Tiếp theo đoạn trên, ông Tu Bồ Đề hỏi kinh này tên ǵ? _ Phật nói kinh này tên là "Kim Cang Bát Nhă Ba la mật". Sợ người chấp:"Như thế Phật co nói pháp Bát Nhă", nên tiếp đến đoạn nầy, Phật phá luôn cái chấp:"Phật có thuyết pháp. 

Nếu hành giả c̣n vọng chấp:"Phật có thuyết pháp", th́ không nhập được "Kim Cang Bát Nhă". V́ ông Tu Bồ Đề đă nhập được lư "Kim Cang Bát Nhă", nên ông trả lời:"Như Lai không có thuyết pháp". 

Muốn cho độc giả rơ thêm đoạn nầy, tôi xin nhắc lại lời giải thích ở đoạn trước thêm một lần nữa:Một hôm ông Tu Bồ Đề ngồi yên tịnh dưới gốc cây. Trời Đế Thích rưới hoa cúng dường. Ông Tu Bồ Đề hỏi:"Ai rưới hoa?". _ Trời Đế Thích thưa:"Ngài thuyết kinh Bát Nhă hay quá ! Con xin dâng hoa cúng dường". 

Ông Tu Bồ Đề nói:"Tôi không nói kinh Bát Nhă". Trời Đế Thích thưa:"Ngài không nói Bát Nhă, con không nghe Bát Nhă". 

Kết luận:"Không nói Bát Nhă và không nghe Bát Nhă", như thế mới thật là "nói Bát Nhă và nghe Bát Nhă". 

V́ ngộ được lư chơn không của kinh Bát Nhă, nên ngài Viên Ngộ Thiền sư có làm bài kệ rằng: 
 

Nguyên văn (dịch âm) 

Thập phương đồng tụ hội 
Cá cá học vô vi 
Thử thị tuyển Phật trường 
Tâm không cập đệ qui. 

Dịch nghĩa: 

Mười phương đồng tụ hội 
Người người học vô vi 
Đây là trường thi Phật 

"Tâm Không" mới được đậu. 

ĐẠI Ư 

Bài kệ này quan trọng nhứt là hai chữ "Tâm không". Nếu người nào tâm không c̣n các phiền năo vọng chấp ngă, pháp v.v...th́ người đó nhập được Kim Cang Bát Nhă, tức là đậu quả Phật. 

*** 

24. PHẬT PHÁ CÁI CHẤP "THẬT CÓ VI TRẦN VÀ THẾ GIỚI"

phật hỏi:" Tu Bồ Đề ! Những vi trần chứa trong đại thế giới (1 ngh́n triệu thế giới nhỏ) có nhiều không? ".Tu Bồ Đề thưa:" Bạch thế tôn nhiều lắm". 

Phật dạy: "Tu Bồ Đề ! Như Lai nói các vi trần, không phải thật vi trần. Như Lai nói thế giới, không phải thật thế giới, chỉ tạm gọi là thế giới:. 

LƯỢC GIẢI 

Đoạn này Phật dùng Trí huệ Bát Nhă phá trừ cái chấp "thật có vi trần và thật có thế giới". 

Phật đă day: "Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng"; nghĩa là: phàm cái ǵ có h́nh tướng, đều là hư dối không thật. Tất cả muôn vật trong vũ trụ, lớn như thế giới, nhỏ như vi trần, cũng đều là hư giả không thật. 

Do hiệp nhiều vi trần (bụi nhỏ) thành ra một vật lớn nhứt, rồi tạm đặt tên là thế giới. 

Trái lại, do vật lớn nhứt như thế giới, chẻ cho đến thật nhỏ, không c̣n chẻ được nữa, rồi tạm đặt tên là vi trần (bụi nhỏ). Vật thế giới hay vi trần, cùng các vật khác, đều do vọng thức của chúng sanh, phân biệt so đo (kể đạt phân biệt) rồi đặt tên như thế này hay như thế khác, chứ không có thật thể. 

Trong bộ Cu xá luận tung lược thích, về trang 210, có chépvề vi trần và thế giới, đại ư như sau: Từ vật lớn nhứt là thế giới, rồi chẻ nhỏ thế giới ra nhiều lần, cho đến thành hột bụi bay qua lại các kẻ hở (như mỗi buổi sáng, mặt trời chiếu vào các kẻ hở, chúng ta thấy rất nhiều bụi bay qua bay lại). Các thứ bụi nàygọi tên là: 

1. Khích du trần: Bụi bay qua các kẻ hở. 

2. Ngưu mao đầu trần: Hạt bụi nhỏ ở trên đầu lông con trâu. Bụi này do chẻ nhỏ bụi "khích du" mà thành. 

3. Dương mao đầu trần: Hạt bụi ở trên đầu lông con dê. Thứ bụi này do chẻ nhỏ bụi "Ngưu mao đầu" mà thành. 

4. Thố mao đầu trần: Hạt bụi ở trên đầu lông con thỏ. Thứ bụi này do chẻ nhỏ bụi "Ngưu mao đầu" mà thành. 

5. Thuỷ trần: Bụi rớt trong nước không ướt, v́ quá nhỏ. Thứ bụi này do chẻ nhỏ bụi "Thố mao đầu" mà thành. 

6. Kim trần: Bụi này có thể lọt qua những vàng khối hay sắt dầy hoặc kiếng dầy; do chẻ nhỏ bụi "Thủy trần" mà thành. 

7. Vi trần: Bụi nhỏ; do chẻ nhỏ bụi "Kim trần" mà thành. 

8. Cực vi trần: Bụi rất nhỏ. Hạt bụi này do chẻ nhỏ bụi "Vi trần" mà thành. 

9. Lân hư trần: Bụi gần mé hư không. Thứ bụi này nhỏ nhứt, không thể chẻ nhỏ nữa được, nếu chẻ nữa th́ thành hư không. Bụi này do chẻ bụi "Cực vi" mà thành. 

Rồi trở lại, từ vọng tâm nhỏ như "Lân hư trần" 

Tích tụ 7 Lân hư trần thành một "Cực vi trần" 

....7 cực vi trần thành một "Vi trần" 

....7 Vi trần thành một "Kim trần" 

....7 Kim trần thành một "Thuỷ trần" 

....7 Thuỷ trần thành một "Thố mao đầu trần" 

....7 Thố mao đầu trần thành một "Dương mao đầu trần" 

....7 Dương mao đầu trần thành một "Ngưu mao đầu trần" 

....7 Ngưu mao đầu trần thành một "Khích du trần" 

Cứ tích tụ măi măi như vậy, thành những vật nhỏ, đến vật lớn, cho đến vật lớn nhứt là "thế giới". 

Tóm lại, chứa nhiều vi trần thành thế giới; chẻ nhỏ thế giới thành ra vi trần. V́ trần và thế giới đều do sự đối đăi lớn với nhỏ, mà đặt ra cái tên để kêu gọi, chớ không có cái ǵ là chơn thật. 

Ngài Phó Đại sĩ làm bài tụng, nói về vi trần và thế giới. 
 

Nguyên văn (dịch âm): 

Tích trần thành thế giới 
Chiết giới tác vi trần 
Giới dụ nhơn thiên quả 
Trần vi hữu lậu nhơn 
Trần nhơn, nhơn bất thật 
Giới quả, quả phi nhơn 
Quả nhơn tri thị quyển 
Tiêu diêu tự tại nhơn 
Vọng kế nhơn thành chấp 
Mê thằng vị thị xà 
Tâm nghi sanh ám quỉ 
Nhăn bịnh kiến không hoa 
Nhứt cảnh tuy vô dị 
Tam nhơn năi kiến sai 
Liễu tư danh bất thật 
Trường ngự bạch ngưu xa. 

Dịch nghĩa: 

Chứa trần thành thế giới 
Chẻ giới hoá vi trần 
Giới dụ quả nhơn thiên 
Trần là nhơn hữu lậu 
Trần nhơn, nhơn không thật 
Giới quả, quả chẳng chơn 
Biết quả, nhơn đều huyễn 
Được tự tại tiêu diêu 
Vọng thấy dây thành rắn 
Chấp mê bởi tại tâm 
Tâm sợ nên ma hiện 
Mắt nhậm thấy đốn hoa 
Một cảnh không sai khác 
người thấy chẳng đồng 
Ai biết đó là huyễn 
Tức là bực Đại giác. 

ĐẠI Ư HAI BÀI TỤNG 

Bài tụng thứ nhứt nói: chứa vi trần thành thế giới, chẻ thế giới thành vi trần. Thế giới là dụ cho quả nhơn thiên, vi trần là dụ cho nhơn hữu lậu. Nhơn vi trần đă không thật, nên quả thế giới cũng hư vọng. Nếu người biết được nhơn quả đều như huyễn, th́ sẽ được tiêu diêu tự tại. 

Tiếp đến bài tụng thứ hai, đại ư nói: V́ tánh "Biến kế sở chấp", nên chấp sợi dây là con rắn, ban đêm thấy bóng tối cho là ma; cũng như v́ con mắt bị nhặm, nên thấy có hoa đốm giữa hư không. Cũng một cảnh không sai khác, nhưng ba người (biến kế sở chấp, y tha khởi và viên thành thật) thấy chẳng đồng. Nếu người được giác ngộ như Phật, mới biết đó là giả danh không thật. 

*** 

25. PHẬT PHÁ CÁI CHẤP: "THẤY 32 TƯỚNG TỐT CỦA PHẬT LÀ THẤY PHẬT" 

Phật hỏi: "Tu Bồ Đề ! Ông có thể cho thấy 32 tướng tốt của Như Lai là thấy được Như Lai không?". 

Tu Bồ Đề thưa: "bạch Thế Tôn ! Không thể được. Tại sao vậy? V́ đức Như Lai nói 32 tướng tốt, chỉ giả gọi 32 tướng tốt". 

LƯỢC GIẢI 

Đoạn trên (24) Phật dùng Trí huệ Bát Nhă phá chấp về y báo (chấp pháp) là vi trần và thế giới. Đoạn này Phật lại dùng Trí huệ Bát Nhă phá chấp về chánh báo (chấp ngă); nghĩa là chấp "thấy 32 tướng tốt của Phật là thấy được Phật". Đây ;là lần thứ hai (lần thứ nhứt ở đoạn thứ 7) Phật phá chấp về thấy Phật. 

Nếu c̣n hấp "thấy 32 tướng tốt của Phật là thấy được Phật", tức là c̣n chấp ngă (ta thấy) chấp nhơn (Phật) v.v...th́ không nhập được Kim Cang Bát Nhă, nên không thấy được Phật thiệt. 

Ngài Phó Đại sĩ làm bài tụng, nói về việc phá các vọng chấp ngă, nhơn,năng, sở v.v... 

Nguyên văn (dịch âm) 

Tảo trừ tâm ư địa 
Danh vi Tịnh độ nhơn 
Vô luận phước dữ trí 
Quang thả ly tham sân 
Trang nghiêm tuyệt năng sở 
Vô ngă diệc vô nhơn 
Đoạn, thường cu bất nhiễm 
Tần thoát xuất hồng trần 

Dịch nghĩa 

Quét sạch đất tâm ư 
Đó là nhơn tịnh độ 
Không cần tu phước huệ 
Miễn bỏ được tham sân 
Trang nghiêm không năng sở 
Không ngă cũng không nhơn 
Đoạn, thường đều chẳng nhiễm 
Siêu xuất cơi hồng trần 

ĐẠI Ư HAI BÀI TỤNG 

Không cần tu phước huệ hay phương pháp nào khác, chỉ quét sạch tham, sân, si v.v...ở trong tâm địa của ḿnh, đó là nhơn để văng sanh về Tịnh độ. 

Dẹp trừ cái vọng chấp: năng, sở, nhơn, ngă, đoạn, thường v.v...th́ được siêu thoát cơi hồng trần, đó là trrang nghiêm cơi Phật. 

GIẢI DANH TỪ 

32 Tướng tốt: Phật có 32 tướng tốt 

1. Dưới bàn chân no tṛn 
2. Dưới bàn chân có cả ngàn khu ốc 
3. tay chân mềm dịu 
4. Ngón chân có màn như chân nhạn 
5. Ngón tay ngón chân no tṛn 
6. Gót xứng với bàn chân 
7. bàn chân xứng với gót 
8. Hai chân tṛn vót như hai chân nai 
9. Tay dài tḥng tới đầu gối 
10. Âm tướng qui tàng 
11. Chân lộng ửng màu xanh tía 
12. Tóc lông đều xoay qua phía mặt 
13. Da trơn min không dính dơ 
14. Màu da sắc vàng 
15. Tay chân vai cổ, bảy chỗ đều đủ 
16. Cổ tṛn lạ thường 
17. hai cái nách no đủ 
18. Dung nghi đoan chánh 
19. Thân tướng trang nghiêm 
20. H́nh thể xứng nhau 
21. Oai dung như sư tử 
22. Chói hào quang mỗi phía một lần 
23. hàm răng bốn mươi cái khít và bằng 
24. Bốn răng cấm trắng và bén 
25. Trong miệng có mùi thơm 
26. Lưỡi dài che đặng cả cái mặt 
27. Tiếng nói diệu dàng đủ giọng 
28. Lông nheo như ngưu vương 
29. Con mắt có quần đỏ 
30. Mặt như trăng tṛn 
31. Chổ gian mi có lông trắng 
32. Trên đầu lồi thịt lên, như đầu tóc 

26. PHẬT NÓI CÔNG ĐỨC THỌ TR̀ KINH KIM CANG BÁT NHĂ

Phật day: "Tu Bồ Đề !nếu có người tự đem thân mạng ḿnh, nhiều như cát sông Hằng để bố thí, th́ người đó phước đức nhiều lắm. Nhưng nếu có người thọ tŕ đoạc tụng hay giảng dạy kinh này, trọn quyển hay nửa quyển, cho đến tối thiểu là bốn câu kệ, th́ phước đức người này nhiều hơn người trước". 

LƯỢC GIẢI 

Kinh này rất quư báu và lợi ích vô cùng, nên phật đă nhiều lần tán thán công đức, khuyên người thọ tŕ và giảng dạy cho người. Từ trước đến đây đă năm lần nói về công đức của kinh này. 

Đoạn trước (19) nói, người dùng ngoại tài là 7 món báu, nhiều như số cát sông hằng đem bố thí, phước đức của người này tuy nhiều, nhưng không bằng người thọ tŕ và giảng dạy kinh Kim Cang Bát Nhă phước đức lại nhiều hơn. 

Đoạn này nói, người đem nội tài là thân mạng của ḿnh ra bố thí; chỉ bố thí một thân mạng phước đức đă nhiều và ít ai làm được, huống chi là bố thí thân mạng của ḿnh nhiều như số cát sông Hằng, th́ phước đức biết là bao nhiêu ! 

Nhưng nếu co ùngười thọ tŕ đọc tụng hoặc giảng dạy kinh này từ một quyển hay nữa quyển cho đến tối thiểu là bốn câu kệ, th́ người này phước đức nhiều hơn người trước. 

Bố thí thân mạng, tuy ít người làm được, nhưng phước đức vẫn c̣n ở trong ṿng hữu vi và hữu lậu. Người thọ tŕ đọc tụng hoặc giảng dạy kinh này, th́ ḿnh và người đều được ngộ nhập "Kim Cang Bát Nhă" và sẽ được thành Phật; rồi trở lại hoá độ vô số chúng sanh, nên phước đức của người này, thuộc về vô lậu vô vi, nhiều hơn người trước. 

Nói về công đức thọ tŕ kinh này, 

Ngài Trí Giả Đại sư có làm bài tụng: 
 

Nguyên văn (dịch âm): 

Hằng sa số thậm đa 
Sa số cánh nan lương 
Cử sa tề thất bảo 
Năng tŕ bố thí tương 
Hữu tướng giai vi huyễn 
Đồ ngôn Trí huệ cường 
Nhược luận tứ cú đệ 
Thử phước mạt vi tường 

Dịch nghĩa: 

Kể sông Hằng đă quá 
Số cát lại nhiệu hơn 
Chứa báu nhiều như thế 
Thí tài số biết bao 
Chấp mê theo giả tướng 
Dẫu đặng phước huệ cao 
Sánh với bốn câu kệ 
Phước kia có chút nào 

ĐẠI Ư BÀI TỤNG 

Chỉ đếm sông Hằng đă không hết, huống chi là đếm số cát trong vô số sông Hằng. Người đem của báu nhiều bằng số cát trong vô số sông Hằng ra bố thí, phước đức tuy nhiều, nhưng thuộc hữu vi, hữu lậu. 

Không bằng người thọ tŕ hoặc giảng dạy kinh này chừng bốn câu, th́ phước đức nhiều hơn người trước. 

*** 

27. ÔNG TU BỔ ĐỀ BÙI NGÙI CẢM ĐỘNG RƠI NƯỚC MẮT 

Sau khi thấy Phật nhiều lần ân cần, nhắc nhở khuyên dạy, ông Tu Bồ Đề nghe hiểu được nghĩa lư thâm thuư của kinh này, nên lúc bấy giờ, ông cảm động bùi ngùi và sa nước mắt !... 

Ông Tu Bồ Đề bạch Phật rằng: "Bạch Thế Tôn ! Con tuy đặng huệ nhăn đă lâu, nhưng từng được nghe Phật nói kinh điển, nghĩa lư cao siêu huyền diệu, quí hoá như thế này !". 

LƯỢC GIẢI 

Chúng ta mỗi khi bị xúc cảm một việc ǵ quá mạnh, hoặc buồn hay vui, đều có rưng nước mắt. Ông Tu Bồ Đề v́ thấy Phật đă nhiều lần ân cần nhắc nhở thọ tŕ và khuyên dạy những nghĩa lư thâm thuư cao siêu của kinh này, mà từ hồi nào đến giờ ông chưa từng được nghe, nên ông cảm động rơi nước mắt. 

*** 

28. NGƯỜI NGHE KINH NÀY SANH L̉NG TIN NGƯỜI ẤY ĐẶNG CÔNG ĐỨC THỨ NHỨT

Ông Tu Bồ Đề thưa Phật: "Bạch Thế Tôn ! nếu có người nghe kinh này, sanh ḷng tin trong sạch, ngộ được thật tướng (tánh Bát Nhă) th́ người ấy sẽ đặng thành tựu công đức hy hữu thứ nhứt. 

Bạch Thế Tôn ! Như Lai nói "thật tướng" tức là không phải "thật tướng", chỉ tạm gọi là "thật tướng". 

LƯỢC GIẢI 

Đoạn này ông Tu Bồ Đề nói: người nghe kinh này mà ngộ được "thật tướng Bát Nhă", th́ người ấy đặng công đức hi hữu. Và ông phá luôn cái chấp "thật tướng". 

Người có cai khiếu (theo Duy thức học gọi là hạt giống) âm nhạc, nghe âm nhạc mới biết hay. Người có cái khiếu thi thơ, nghe thi tjhơ mới biết thích. Cũng thế, người c1 cái khiếu hay hạt giống Bát Nhă, nghe đến kinh Bát Nhă mới sanh ḷng tin và ngộ nhập được "Thật tướng Bát Nhă". Bởi thế nên người này công đức vô lượng. 

Vừa nói đến "thật tướng", ông Tu Bồ Đề sợ người chấp "thật tướng", nên ông liền phá luôn cái chấp ấy, bằng cách dẫn lời Phật dạy: "Như Lai nói thật tướng, tức là không phải thật tướng, chỉ tạm gọi là thật tướng". 

GIẢI DANH TỪ 

THẬT TƯỚNG. Phật nói: "Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng", phàm cái ǵ có h́nh tướng đều là hư vọng). 

Vậy th́ cái không h́nh tướng mới là chơn thật. Kinh chép: "Vô tướng chi tướng, cố danh thật tướng", (cái tướng mà không có h́nh tướng mới gọi là thật tướng). 

Căn cứ theo lời giải thích này, th́ "thật tướng" là không c̣n các vọng tướng và vọng chấp, tức là "Bát Nhă chơn không". 

*** 

29. NGƯỜI CÓ HẠT GIỐNG BÁT NHĂ MỚI TIN VÀ HIỂU ĐƯỢC KINH NÀY 

Ông Tu Bồ Đề thưa: "Bạch Thế Tôn ! Hiện nay con nghe đặng kinh này, hiểu được, tin được và thọ tŕ, chẳng lấy làm khó. Khi Đức Như Lai nhật diệt, 500 năm về sau, nếu có người nghe kinh này, mà được hiểu ngộ, tin theo và thọ tŕ, th́ người đó mới là hy hữu ! 

Tại sao vậy? V́ người này không c̣n chấp bốn tướng: ngă, nhơn, chúng sanh và thọ giả. 

Bạch thế Tôn ! Nói bốn tướng, không phải thật có bốn tướng, chỉ giả gọi bốn tướng là ngă, nhơn, chúng sanh và thọ giả. Tại sao vậy?_ V́ phảo xa ĺa tất cả các chấp tướng, mới gọi là chư Phật". 

LƯỢC GIẢI 

Đoạn này tiếp với đoạn văn trên, nói người có hạt giống Trí huệ Bát Nhă, phá trừ được bốn tướng, mới tin và hiểu được kinh này. 

Khi Phật c̣n tại thế, chúng sanh căn tánh Đại thừa rất nhiều, nên nghe kinh này hiểu và tin không khó. Đến sau khi Phật nhập diệt, chúng sanh căn tánh Đại thừa rất ít, nên nghe hiểu và tin được kinh này rất khó. V́ người nghe phải không c̣n chấp bốn tướng: ngă, nhơn, chúng sanh và thọ giả, mới hiểu được kinh Kim Cang Bát Nhă này. 

Nói đến bốn tướng, ông Tu Bồ Đề sợ người chấp thật có bốn tướng, nên ông liền bác rắng: "Nói bốn tướng, không phải thật có bốn tướng, chỉ giả gọi bốn tướng mà thôi". 

Kết luận, ông nói rằng: "Phải rời tất cả các vọng chấp, vọng tướng, ngộ nhập Kim Cang Bát Nhă, mới gọi là chư Phật". 

*** 

Ngài Cảo Thiền sư, ngộ được câu: "Ĺa tất cả các vọng chấp, mới là chư Phật", nên có làm hai bài tụng rằng: 

Nguyên văn (dịch âm): 

Thân khẩu ư thanh tịnh 
Thị danh Phật xuất thế 
Thân khẩu ư bất tịnh 
Thị danh Phật diệt độ 
Tức tâm thị Phật vô dư Pháp 
Mê giả đa ư tâm ngoại cầu 
Nhứt niệm quách nhiên qui bổn tế 
Hoàn như tẩy khước thượng thuyền đầu 

Dịch nghĩa: 

Thân, khẩu ư thanh tịnh 
Đó là Phật xuất thế. 
Thân, khẩu ư bất tịnh 
Đó là Phật nhập diệt. 
Tức tâm là Phật, Phật tại tâm 
Kẻ mê rong ruổi, ngoại tâm cầu 
Nhứt niệm giác ngộ về đến Phật 
Dễ như rửa chân bước lên thuyền. 

ĐẠI Ư HAI BÀI TỤNG 

Ba nghiệp: Thân, miệng và ư đều thanh tịnh, đó là Phật xuất thế. Trái lại, ba nghiệp không thanh tịnh tức là Phật nhập diệt. Phật tức tâm, tâm tức Phật. Người mê muội không biết, lại t́m Phật ngoài tâm. Nếu trong nhứt niệm mà tâm giác ngộ th́ tức thành Phật; rất dễ như người rửa chân bước lên thuyền. 

30. PHẬT XÁC NHẬN LỜI NÓI CỦA ÔNG TU BỔ ĐỀ LÀ PHẢI 

Phật dạy: "Tu Bồ Đề ! Đúng như vậy. Nếu có người nghe kinh này mà không nghi ngờ hay kinh sợ, th́ người này rất là hy hữu". 

LƯỢC GIẢI 

Đoạn này vẫn c̣n tiếp với hai đoạn văn trên, Phật xác nhận lời nói của ông Tu Bồ Đề là phải: Người có hạt giống Kim Cang Bát Nhă, không chấp các tướng mới hiểu và tin được kinh này 

*** 

31. PHẬT PHÁ CÁI CHẤP: "BÁT NHĂ LÀ ĐỆ NHỨT BA LA MẬT" 

Phật dạy: "Tu Bồ Đề ! Như Lai nói Bát Nhă là đệ nhứt Ba la mật, không phải Bát Nhă là đệ nhứt Ba la mật, thế mới thật Bát Nhă là đệ nhứt Ba la mật". 

LƯỢC GIẢI 

Đoạn này Phật phá cái chấp "Bát Nhă là pháp Ba la mật thứ nhứt". Đây là lần thứ hai, Phật phá cái chấp Bát Nhă Ba la mật (lần thứ nhứt ở đoạn 22). 

Trong 6 pháp Lục độ, tức là 6 pháp Ba la mật, th́ Trí huệ Bát Nhă là bao trùm tất cả, nên Phật nói: "Bát Nhă là đệ nhứt Ba la mật" 

Nhưng, nếu người c̣n chấp ḿnh đặng "Bát Nhă là đệ nhứt Ba la mật"(chấp pháp) th́ không phải thật đặng "Bát Nhă là đệ nhứt Ba la mật" nữa, v́ c̣n chấp ngă (minh đặng) chấp pháp (Ba la mật). Bởi thế nên Phật dạy tiếp: "Không c̣n thấy (chấp) ḿnh đặng Bát Nhă là đệ nhứt Ba la mật, th́ mới thật đặng Bát Nhă là đệ nhứt Ba la mật". 

GIẢI DANH TỪ 

Bát Nhă: (đă giải ở trước, đề mục kinh) 

Ba la mật: (đă giải ở trước, đề mục kinh) 

*** 

32. PHẬT PHÁ CÁI CHẤP "NHẪN NHỤC BA LA MẬT"

Phật dạy: "Tu Bồ Đề ! Như Lai nói người Nhẫn nhục Ba la mật (rốt ráo) mà không thấy ḿnh Nhẫn nhục Ba la mật, như thế mới thật là Nhẫn nhục Ba la mật". 

LƯỢC GIẢI 

Đoạn này Phật phá cái chấp "Người tu Nhẫn nhục Ba la mật, mà c̣n chấp ḿnh đặng Nhẫn nhục Ba la mật". 

Nếu hành giả tu hạnh nhẫn nhục rốt ráo (Ba la mật) mà c̣n chấp minh tu hạnh nhẫn nhục rốt ráo, tức nhiên hành giả c̣n chấp chơn (người làm nhục) chấp ngă (ta bị nhục) th́ chưa phải là nhẫn nhục rốt ráo. Hành giả phải ĺa tất cả vọng chấp: nhơn, ngă, bỉ, thử v.v...nhập Kim Cang Bát Nhă, mà tu pháp nhẫn nhục th́ pháp nhẫn nhục đó mới hoàn toàn rốt ráo, gọi là nhẫn nhục Ba la mật. 

*** 

33. PHẬT NÓI TIỀN THÂN NGÀI LÀ MỘT VỊ TIÊN NHƠN TU HẠNH NHẪN NHỤC BA LA MẬT

Phật dạy: "Tu Bồ Đề ! về quá khứ, ta làm vị Tiên nhơn tu hạnh nhẫn nhục đến 500 đời. Bị vua Ca Lợi cắt xẻo thân thể từng đoạn, nhưng ta không sân hận; V́ ta không c̣n chấp bốn tướng: ngă, nhơn, chúng sanh và thọ giả". 

LƯỢC GIẢI 

Đoạn này tiếp theo đoạn trên (32) nói về việc tu hạnh nhẫn nhục Ba la mật. Muốn giải thích rơ ràng: thế nào là "nhẫn nhục rốt ráo" (nhẫn nhục Ba la mật), Phật dẫn bằng chứng điển h́nh, là tiền thân Ngài làm vị Tiên nhơn tu hạnh Nhẫn nhục. Bị vua Ca Lợi cắt xẻi thân thể ra từng mảnh, nhưng Ngài không hề sân hận. V́ ngài không c̣n chấp bốn tướng: ngă, nhơn v.v...nên mới đặng nhẫn nhục rốt ráo (nhẫn nhục Ba la mật). 

Sách chép, một hôm vua Ca Lợi dẫn cung phi mỹ nữ lên núi để yến tiệc. Sau buổi yến tiệc say sưa, vua nằm nghỉ, các cung phi lén vua đi dạo núi. 

Qua một đồi khác, thấy một vị Tiên nhơn ngồi tu dưới một gốc cây đại thọ, các cung phi rủ nhau đến chiêm bái. 

Sau khi thức dậy, không thấ cung phi, vua liền đi t́m. Đến một đồi núi, thấy các cung phi đang ngồi xoay quanh hỏi đạo vị Tiên nhơn dưới một gốc cây cổ thụ, vua tức giận hỏi: 

Người là ai mà dám quyến rủ cung phi mỹ nữ của ta? 

Tôi là Tiên nhơn tu hạnh Nhẫn nhục rốt ráo. 

Có thật không? 

Thật, tôi tu Nhẫn nhục rốt ráo (Ba la mật). Vua liền rút gươm xẻo mũi, lóc tai, chặt tay v.v...vị Tiên nhơn, mà không thấy vị Tiên nhơn có chút ǵ phản ứng hay sân hận v.v... 

Sau cơn nóng giận, vua hối hận và hỏi: 

Có lẽ v́ thế lực của nhà Vua nên Tiên nhơn Nhẫn nhục, không dám chống lại, chứ trong tâm làm sao khỏi buồn giận? 

Tiên nhơn thề rằng: Nếu tôi không thiệt tu Nhẫn nhục rốt ráo, trong tâm c̣n chút giận hờn, th́ tôi chết luôn theo với tay chân bị cắt xẻo; trái lại, nếu tôi thật tu Nhẫn nhục rốt ráo, tâm không sân hận th́ tay chân của tôi bị cắt, đều hoàn y nguyên trở lại như xưa. 

Lời thệ của Tiên nhơn vừa dứt th́ mũi, tai, thân thể của Tiên nhơn đều hoàn lại như trước. Vua hết sức ăn năn sám hối tội lỗi của ḿnh và thỉnh cầu Tiên nhơn tha thư.ù 

Tiên nhơn đă không hờn giận, lại c̣n phát nguyện: "sau khi đắc đạo ta sẽ độ người trước". 

*** 

34. BỔ TÁT PHÁT TÂM BỔ ĐỀ PHẢI XA L̀A TẤT CẢ CÁC VỌNG CHẤP 

Phật dạy: "Tu Bồ Đề ! Bồ Tát phát tâm Bồ Đề, phải xa ĺa tất cả các chấp tướng. Bồ Tát không nên sanh tâm trụ chấp nơi sắc trần, thinh trần, hương trần, vị trần, xúc trần và pháp trần v.v... 

Nói tóm lại, Bồ Tát đừng sanh vọng tâm trụ chấp một nơi nào cả. Nếu Bồ Tát tân c̣n trụ chấp một nơi nào, th́ không phải thật an trụ chơn tâm". 

LƯỢC GIẢI 

Đây là lần thứ hai (lần thứ nhứt ở đoạn 17), Phật dạy các vị Bồ Tát đừng sanh vọng tâm trụ chấp một nơi nào. 

Tâm Bồ Đề là tâm Phật (xem đoạn 2). Bồ Tát phát tâm Bồ Đề, phải xa ĺa tất cả các vô minh vọng chấp: Không chấp ngă, chấp nhơn, chấp chúng sanh, thọ giả, không chấp sáu căn, sáu trần và sáu thức v.v...Nói chung là không chấp ngă, chấp pháp. 

Khi các vọng chấp hết rồi, th́ tâm Bồ Đề hay tánh Bát Nhă v.v...hiện ra. Đó là "Hàng phục vọng tâm và an trụ chơn tâm". 

Nếu tâm c̣n có chỗ trụ chấp, tức là tâm c̣n vọng động; tâm c̣n vọng động th́ trụ nơi điên đảo, chứ không phải an trụ chơn tâm hay tánh Bát Nhă. Bởi thế nên Phật dạy: "Nếu Bồ Tát tâm c̣n trụ chấp một nơi nào th́ không phải thật an trụ chơn tâm. 

Ngài Xuyên Thiền sư làm bài tụng, nói về việc không trụ chấp nơi sắc, thinh, hương, v.v... 

Nguyên văn (dịch âm) 

Kiến sắc phi can sắc 
Văn thinh bất thị thinh 
Sắc thinh vô ngại xứ 
Thân đáo pháp vương thành 

Dịch nghĩa: 

Thấy sắc không mê sắc 
Nghe tiếng chẳng nhiễm tiếng 
Sắc tiếng đều không ngại 
Mới đến pháp vương thành 

ĐẠI Ư BÀI TỤNG 

Trong khi sáu giác quan tiếp xúc với sáu trần cảnh, mà không khởi vọng niệm phân biệt, nhiễm ô mê hoặc(trụ chấp) nơi trần cảnh, th́ hành giả sẽ được vào cảnh giới Phật (thành pháp vương). 

***

35. PHẬT DẠY BỔ TÁT BỐ THÍ HAY LÀM CÁC VIỆC LỢI ÍCH CHÚNG SANH ĐỀU KHÔNG NÊN CHẤP TƯỚNG

Phật dạy: "Tu Bồ Đề ! Bồ Tát khi bố thí hay làm các việc lợi ích cho tất cả chúng sanh, không nên sanh tâm trụ chấp các tướng (ḿnh bố thí, người thọ thí, vật bố thí) 

Tu Bồ Đề ! Như Lai nói các tướng không phải thật (các pháp) chỉ giả gọi các tướng. Như Lai nói chúng sanh, không phải thật chúng sanh, chỉ giả gọi chúng sanh". 

LƯỢC GIẢI 

Đây là lần thứ hai (lần thứ nhứt về đoạn 4), Phật dạy các vị Bồ Tát bố thí hay làm các việc lợi ích chúng sanh, đều không nên chấp tướng (xem đoạn 4 ở trước). 

Hành giả khi làm lợi ích các chúng sanh, mà tâm c̣n trụ chấp các tướng, nghiă là c̣n thấy ḿnh bố thí, người thọ thí và vật bố thí, tất nhiên hành giả c̣n chấp ngă (mính, người) chấp pháp (vật bố thí), th́ hành giả chỉ được phước hữu lậu nhiễm ô, nên không phải là bố thí Ba la mật (bố thí rốt ráo). 

Bởi thế nên Phật dạy, các vị Bồ Tát, khi bố thí hay làm lợi ích cho các chúng sanh, phải nhập Kim Cang Bát Nhă mà làm; nghĩa là không có chấp các tướng: ngă, nhơn, chúng sanh, thọ giả th́ được phước đức vô lậu thanh tịnh. Bố thí như vậy, mới phải là bố thí Ba la mật (bố thí rốt ráo). 

Đoạn trước nói về Nhẫn nhục, đoạn này nói về bố thí. Muốn giúp cho qui vị Phật tử hiểu thêm và để thật hành, thế nào là "Nhẫn nhục rốt ráo" và thế nào là "bố thí rốt ráo", chúng tôi xin nói thêm một thí dụ như sau. 

Hành giả muốn đặng Nhẫn nhục Ba la mật hay bố thí Ba la mật, th́ phải quán chúng sanh và ḿnh đồng một bản thể, mới không thấy ta có bố thí và chúng sanh thọ thí hay người làm nhục và ta thọ nhục. 

Thí dụ như tay mặt với tay trái, đồng thấy chung một thân, nên khi tay mặt lỡ làm tổn thương tay trí, (đóng đinh trợt tay) tay trái không giận. V́ tay trái tự nhận ḿnh cùng với tay mặt đồng một thân, nên tay trái không thấy dó tay mặt làm nhục và ḿnh bị nhục. Nhẫn nhục như thế mới là Nhẫn nhục rốt ráo (nhẫn nhục Ba la mật). 

Trái lại, tay mặt lo lấy bông g̣n và thuốc để băng cho tay trái, nhưng nó không kiêu hảnh, v́ tay mặt cũng tự nhận ḿnh cùng với tay trái đồng một thân, nên nó không thấy ḿnh (tay mặt)là người ban ơn và tay trái là kẻ thọ ơn. Bố thí như thế, mới là bố thí rốt ráo (Bố thí Ba la mật). 

*** 

36. NHƯ LAI NÓI THẬT, KHÔNG NÓI DỐI

Phật dạy: "Tu Bồ Đề ! Như Lai nói thật, nói chơn chánh, không nói dối, không nói sai khác. Như Lai có đắc pháp, nhưng pháp ấy không thật không hư". 

LƯỢC GIẢI 

Đến thời Bát Nhă, th́ Phật phá hất các vọng chấp từ lâu của chúng sanh, để chúng sanh tiến lên một bực cao hơn nữa. V́ thế nên phần lư thuyết cũng như phần tinh thần của thời kinh Bát Nhă, rất lạ lùng hơn các thời thuyết pháp khác. 

Sợ chúng sanh nghi ngờ lời Phật nói không chơn thật, khi nói vầy, khi nói khác, thya đổi không chừng, nên Phật gọi ông Tu Bồ Đề dạy rằng: "Như Lai nói thật, nói chơn chánh, không nói dối, không nói sai khác". 

Đức Như Lai được đạo Bồ Đề, nhưng nếu chấp đạo Bồ Đề này là hư hay thật th́ không phải là Bồ Đề. V́ thế nên Phật dạy: "Như Lai có đắc pháp, nhưng pháp ấy không thật không hư". 

*** 

37. TRỤ TƯỚNG BỐ THÍ NHƯ VÀO NHÀ TỐI, VÔ TƯỚNG BỐ THÍ NHƯ ĐI BAN NGÀY

Phật dạy: "Tu Bồ Đề ! Nếu Bồ Tát bố thí mà tâm c̣n trụ chấp nơi pháp bố thí, th́ như người vào nhà tối, không thấy ǵ cả. Trái lại, nếu Bồ Tát bố thí mà tâm không trụ chấp nơi pháp bố thí, th́ cũng như người có mắt sáng tỏ, lại nhờ ánh sángcủa mặt nhựt chíêu soi, được thấy tất cả mọi vật". 

LƯỢC GIẢI 

Đây là lần thấy thứ ba (lần thứ nhứt và hai ở đoạn 4 và 35), Phật dạy Bồ Tát bố thí không nên chấp tướng bố thí. 

Người bố thí, nếu c̣n chấp tướng, nghĩa là c̣n thấy ta là người ban ơn, kia là kẻ thọ ơn, đó là vật bố thí, th́ bị mây vô minh ngă, pháp che mờ Trí huệ Bát Nhă, nên Phật thí dụ: "như người đi vào nhà tối không thấy ǵ cả". 

Trái lại, nếu bố thí mà không chấp tướng, trong kinh gọi là "tam luân không tịch"; nghĩa là không thấy ḿnh bố thí, (ban ơn) người thọ thí (thọ ơn) và vật bố thí (xem thí du tay mặt bó tay trái ở đoạn 35) th́ mây vô minh ngă, pháp đều hết, nên mặt trời Trí huệ Bát Nhă hiện ra, chiếu soi khắp tất cả pháp. Bởi thế nên Phật nói: "Như người có mắt sáng tỏ, lại nhờ ánh sáng của mặt nhựt chiếu soi, được thấy mọi vật".

38. NGƯỜI THỌ TR̀ KINH NÀY CÔNG ĐỨC VÔ LƯỢNG 

Phật dạy: "Tu Bồ Đề ! Như Lai dùng Trí huệ Phật, thấy rơ ràng và biết chắc chắn: đời sau nếu có người phát tâm thọ tŕ đọc tụng kinh này, người ấy sẽ thành tựu công đức vô lượng vô biên". 

LƯỢC GIẢI 

Đầy là lần thứ 6, Phật khuyến khích về công đức thọ tŕ kinh này. 

Kinh này nghĩa lư cao siêu khác thường, quá tầm hiểu biết của người, sợ người không hiểu và không tin th́ sẽ mất lợi ích lớn, nên Phật dạy: "Như Lai dùng Trí huệ Phật, thấy biết rơ ràng và chắc chắn: sau này nếu có người thọ tŕ đọc tung kinh này, sẽ được công đức vô lượng". 

Người hiểu biết được nghĩa lư và thọ tŕ kinh này, người ấy sẽ ngộ được kinh Kim Cang Bát Nhă, tức là đă trồng hạt giống Bồ Đề, tất nhiên sẽ đặng quả Bồ Đề nên Phật nói: "được công đức vô lượng". 

*** 

39. CÔNG ĐỨC KINH NÀY VÔ LƯỢNG VÔ BIÊN KHÔNG THỂ NGHĨ BÀN

Phật dạy: "Tu Bồ Đề ! Nếu có người nào, một ngày ba lần: Sớm mai, đem thân ḿnh nhiều như số cát sông Hằng để bố thí; Trưa, đem thân ḿnh nhiều như số cát sông Hằng để bố thí; Chiều, cũng đem thân ḿnh nhiều như số cát sông Hằng để bố thí. Bố th́ như vậy cho đến vô lượngtrăm ngàn muôn ức kiếp, phước đức của người này vô lượng vô biên. 

Nếu có người nghe kinh này, tin hiểu không nghi ngờ, th́ người này phước đức nhiều hơn người trước. Chỉ tin mà thôi c̣n được phước đức như vậy, huống chi là thọ tŕ đọc tụng, hoặc phiên dịch hay giảng dạy cho người. Tóm lại, công đức của kinh này vô lượng vô biên không thể nghĩ bàn". 

LƯỢC GIẢI 

Đây là lần thứ 7, Phật tán thán công đức của kinh này không thể nghĩ bàn. Người đem một thân ḿnh bố thí đă khó, huống chi là nhiều thân. Nhưng, giả sử có người đem nhiều thân ḿnh ra bố thí, mỗi ngày ba lần, sớm mai, trưa và chiều đều bố thí vô lượng vô số thân ḿnh, cho đến nhiều ngày, nhiều tháng, nhiều năm và nhiều kiếp đều bố thí như vậy, th́ phước đức người này biết là bao nhiêu. 

Nhưng, nếu có người nghe kinh này, chỉ sanh ḷng tin, không nghi ngờ, th́ phước đức c̣n nhiều hơn người trước, huống chi thọ tŕ đọc tụng hoặc giảng dạy cho người khác. 

Tại sao vậy?_ V́ người tin được kinh này là người đă ươm trồng hạt giống Kim Cang Bát Nhă; thọ tŕ đọc tụng là huân tưởng hạt giống Bát Nhă; giảng dạy cho người là làm cho người huân sanh hạt giống Bát Nhă. Hạt giống Bát Nhă đă sanh trưởng th́ thế nào cũng được thành Phật. Bởi thế nên nguời tin thọ hoặc giảng dạy kinh này, phước đức nhiều hơn người bố thí thân mạng. 

Tóm tắt đoạn này, Ngài Xuyên Thiền sư có làm bài tụng rằng: 

 

Nguyên văn (dịch âm): 

Sơ tâm hâu phát thí tân đồng 
Công đức vô biên toán mạc cùng 
Tranh tợ tín tâm tâm bất lập 
Nhứt quyền đă phá thái hư không, 

Dịch nghĩa: 

Sớm trưa bố thí phát tâm đồng 
Công đức vô biên tính chẳng cùng 
Đâu bằng tính tâm không trụ chấp 
Một tay đánh phá cơi hư không. 

ĐẠI Ư BÀI TỤNG 

Đây là lần thứ 8, Phật tán thán công đức người thọ tŕ kinh này sẽ đặng quả Bồ Đề của Phật . 

Phật v́ những hàng Đại thừa Bồ Tát và những người phát tâm Tối thượng thừa cầu quả Phật, mà nói kinh này. Bởi thế nên những người chịu nghe và tin theo kinh này, hoặc thọ tŕ đọc tụng hay giảng dạy cho người nghe, tất nhiên người ấy đă có căn tánh (hạt giống) Đại thừa hay Tối thượng thừa, nên đặng công đức vô lượng vô biên và sẽ thành Phật. 

Trái lại, những người căn tánh Tiểu thừa, bị g̣ bó trong cái khung bốn tướng, tư tưởng không hợp với giáo lư Đại thừa, nên không bao giờ họ lănh hội được kinh Đại thừa và tu hành theo Đại thừa hoặc giảng dạy cho người. 

*** 

41. CHỖ PHỤNG THỜ KINH NÀY CŨNG ĐƯỢC NHƠN THIÊN VÀ THÁNH THẦN CÚNG DƯỜNG 

Phật dạy: "Tu Bồ Đề ! Chỗ nào phụng thờ kinh này, th́ chổ ấy như có chùa tháp của Phật; tất cả trời người, thánh thần đều cung kính lễ bái, dâng hoa cúng dường hoặc di nhiễu". 

LƯỢC GIẢI 

Đây là lần thứ 9, Phật tán thán công đức Kinh Kim Cang Bát Nhă Ba La Mật. 

Trong đoạn thứ 13, Phật dạy:"Tất cả Phật và Pháp đ62u từ kinh này sanh ra". V́ kinh này rất quư báu như vậy, nên trong đoạn 20 và đoạn này (41) đều nói, chỗ thờ kinh này, cũng được trời, người, thần thánh xem như chùa Phật hay tháp Phật, đều đến cung king lễ bái cúng dường, hoặc đi kinh hành (đi xung quanh chỗ thờ kinh). 

*** 

42. NGƯỜI THỌ TR̀ KINH NÀY MÀ BỊ NGƯỜI KHINH KHI LÀ DO TỘI CHƯỚNG ĐỜI TRƯỚC CỦA HỌ RẤT NẶNG NỀ.

Phật dạy:" Tu Bồ Đề ! Nếu người tho tŕ đọc tụng kinh này, mà bị người khing khi, th́ người này do tội chướng đời trước rất nặng nề c̣n thừa lại, đáng lẽ phải đoạ vào ác đạo; nhưng nay chỉ bị người khinh khi, nhưng tội chướng đời trước bị tiêu diệt và họ sẽ mau đặng quả Bồ Đề". 

LƯỢC GIẢI 

Đây là lần thứ 10, Phật tán thán công đức Kinh Kim Cang Bát Nhă. 

Kinh này công đức vô biên và rất quư báu như thế, nên người thọ tŕ kinh này lẽ ra phải được sự cung kính tôn trọng. Nhưng trái lại, bị người khing khi, th́ biết người này do tội chướng đời trước nặng nề c̣n thừa lại, đáng lẽ phải bị đoạ vào ác đạo. Nhờ công đức thọ tŕ kinh này, nên họ bị quả báo rất nhẹ, là chỉ bị người khinh khi. Từ đây các tội chướng đời trước tiêu diệt và họ sẽ đặng thành quả Phật. 

Tóm tắt đoạn này, Ngài Trương Vô Tận có làm bài tụng: 

 

Nguyên văn (dịch âm): 

Tứ tự diêm hương khứ phục hoàn 

Thánh phàm chỉ tại sát na gian 

Tiền nhơn tội nghiệp kim nhơn tiện 

Đáo khước tiền nhơn tội nghiệp sơn. 

Dịch nghĩa: 

Bốn mùa lạnh nóng măi trôi qua 

Phàm thánh không ngoài một sát na 

Tội nghiệp tiền thân nay phải chịu 

Chịu rồi mới hết nghiệp oan gia. 

ĐẠI Ư BÀI TỤNG 

Bốn mùa nóng lạnh, ngày thánh trôi qua là sự tuần hoàn của vũ trụ. Chứng thánh hay đoạ phàm, chỉ ở trong sát na mê hay ngộ. Kiếp trước làm tội ác nên kiếp này phải trả, bị người khinh khi. Trả xong nghiệp chướng oan gia mới được tự tại giải thoát. 

*** 

43. NGƯỜI THỌ TR̀ KINH NÀY CÔNG ĐỨC NHIỀU HƠN PHẬT THÍCH CA CÚNG DƯỜNG VÔ SỐ CHƯ PHẬT

Phật dạy:" Tu Bồ Đề ! Ta nhớ trong quá khứ, về vô lượng vô số kiếp, trước thời Phật Nhiên Đăng, ta cúng dường và phụng thờ tám trăm bốn ngàn muôn ức vô số chư Phật. Nhưng về sau này, nếu có người thọ tŕ đọc tụng kinh này, th́ công đức của người này so với công đức của ta cúng dường phụng thờ vô số chư Phật trước kia, công đức của ta không bằng một phần trăm, một phần ngàn, một phần vạn, một phần ức của người này; cho đến dùng toán số hay thí dụ cũng không thể tính toán hay thí dụ được công đức của người thọ tŕ kinh này". 

LƯỢC GIẢI 

Đây là lần thứ 11, Phật tán thán công đức Kinh Kim Cang Bát Nhă. 

Cúng Phật thuộc về tu phước, dù nhiều bao nhiêu, cũng thuộc về phước hữu vi. 

Người thọ tŕ kinh này, sẽ tỏ ngộ được lư Bát Nhă và sẽ mau đặng đạo quả Bồ Đề. Sau khi thành đạo, họ sẽ trở lại hoá độ vô số chúng sanh đều được giải thoát, th́ công đức làm sao thí dụ được hay tính toán cho hết. Bởi thế nên Phật nói:"Công đức của người thọ tŕ kinh này nhiều hơn công đức của Phật cúng dường vô số chư Phật về quá khứ". 

*** 

44. KINH NÀY NGHĨA LƯ KHÔNG THỂ NGHĨ BÀN NÊN PHƯỚC BÁO CỦA NGƯỜI THỌ TR̀ KINH NÀY CŨNG KHÔNG THỂ NGHĨ BÀN 

Phật dạy:" Nếu ta nói hết công đức của người thọ tŕ đọc tụng kinh này, sợ e người nghe, tâm sanh cuồng loạn, hoặc nghi ngờ không tin. 

Tóm lại, kinh này nghĩa lư vô biên, không thể suy nghĩ và luận bàn, nên phước báu của người thọ tŕ kinh này cũng không thể suy nghĩ và luận bàn". 

LƯỢC GIẢI 

Đây là lần thứ 12, Phật tóm lại, tán thán nghĩa lư của kinh này vô biên, nên công đức của người thọ tŕ kinh này, cũng không thể nghĩ bàn. 

Từ trước đến đây đă 12 lần, Phật so sánh, khuyến khích và tán dương công đức của người thọ tŕ kinh này. Nếu nói hết lời, Phật e người nghe rối trí, hoặc nghi ngờ không tin. Nếu người hiểu được nghĩa lư cao thâm của kinh này, không thể nghĩ bàn, th́ họ sẽ tin công đức phước báu của người thọ tŕ kinh này, cũng không thể nghĩ bàn. 

*** 

45. ĐÂY LÀ LẦN THỨ HAI, ÔNG TU BỔ ĐỀ HỎI LẠI PHẬT HAI CÂU QUAN TRỌNG

Khi ấy, ông Tu Bồ Đề bạch Phật:"Bạch Thế Tôn ! nếu có người phát tâm Bồ Đề, th́ làm sao hàng phục vọng tâm và làm sao an trụ chơn tâm?" 

Phật dạy:" Tu Bồ Đề ! nếu có người phát tâm Bồ Đề, th́ phải dụng tâm như vầy: Ta hoá độ tất cả chúng sanh, nhưng không thấy có ḿnh độ và chúng sanh được độ. Tại sao vậy? Nếu Bồ Tát c̣n thấy ḿnh độ và chúng sanh được độ, th́ Bồ Tát c̣n tướng ngă, nhơn, tướng chúng sanh và tướng thọ giả, tức nhiên không phải là Bồ Tát. 

Tu Bồ Đề ! Thật không có một pháp ǵ gọi là phát tâm Bồ Đề". 

LƯỢC GIẢI 

Đây là lần thứ hai (lần thứ nhứt ở đoạn 1), ông Tu Bồ Đề hỏi Phật "Làm sao hàng phục vọng tâm? Và làm sao an trụ chơn tâm?". 

Đại ư Phật dạy:" Nguời phát tâm Bồ Đề ra làm các Phật sụ, lợi ích tất cả chúng sanh, không nên chấp ngă, pháp hay bốn tướng: ngă, nhơn, chúng sanh và thọ giả. Nếu không chấp ngă pháp hay bốn tướng th́ sóng phiền năo vọng niệm không sanh. Nếu sóng phiền năo vọng niệm không sanh th́ biển chơn tâm tự yên tịnh. Đó là phương pháp "hàng phục vọng tâm" mà cũng là "an trụ chơn tâm". 

Nếu Bồ Tát làm Phật sự, hoá độ chúng sanh, mà c̣n thấy có ḿnh hoá độ (ngă) và người được độ (nhơn) th́ Bồ Tát chưa nhập được Kim Cang Bát Nhă, v́ c̣n chấp bốn tướng:ngă, nhơn v.v...nên không phải là Bồ Tát. 

Nói đến "Tâm Bồ Đề", sợ có người trụ chấp tâm Bồ Đề, nên Phật liền phá chấp:" Thật không có một pháp ǵ gọi là phát tâm Bồ Đề". 

Ngộ được lư vô trụ của kinh Kim Cang Bát Nhă, Ngài Trường Sa có làm bài kệ như sau: 

 

Nguyên văn (dịch âm): 

Bách xích can đầu bất động nhơn 
Tuy nhiên đắc nhập vị vi chơn 
Bách xích can đầu tu tấn bộ 
Thập phương thế giới hiện toàn thân. 

Dịch nghĩa: 

Đầu sào trăm thước đứng vững trân 
Tuy ngộ nhưng chưa đúng lư chơn 
Đầu sào trăm thước thêm một bước 
Mười phương thế giới hiện toàn thân. 

ĐẠI Ư BÀI KỆ 

Hai câu đầu là nói, người tu hành dầu cao siêu đến đâu, nhưng nếu c̣n chấp một tí nào, th́ cũng chưa phải là thật tu, thật chứng, cũng như người đứng trên đầu sào trăm thước, tuy cao, nhưng chưa thoát ly được đầu sào. 

Hai câu sau là nói, hành giả phải rời tất cả vọng chấp ngă, pháp mới nhập được pháp giới tánh (chơn tâm hay Bát Nhă); lúc bấy giờ thân ḿnh hiện khắp cả mười phương pháp giới; cũng như chim đă bỏ đầu sào trăm thước, thung dung tự tại bay đi trong cơi thái hư. 

*** 

46. PHẬT PHÁ CÁI CHẤP "NHƯ LAI CÓ ĐẮC PHÁP VỚI PHẬT NHIÊN ĐĂNG

Phật hỏi: " Tu Bồ Đề ! Về quá khứ, Như Lai có đắc pháp Bồ Đề với Phật Nhiên Đăng không ?" 

Tu Bồ Đề thưa: "Bạch Thế Tôn !Như Lai không có đắc pháp Bồ Đề với phậ Nhiên Đăng:. 

Phật dạy: "Đúng như vậy, Như Lai không có đắc pháp ǵ cả. Nếu Như Lai có đắc pháp th́ Phật Nhiên Đăng không thọ kư cho ta rằng: về sau, ông sẽ thành Phật hiệu là Thích ca Mâu Ni". 

Phật dạy tiếp: "Tu Bồ Đề ! Có người nói: "Như Lai đặmng quả Bồ Đề ". Thật ra, Như Lai là bản thể như như của các pháp, nên Như Lai không đặng pháp ǵ cả. 

Tu Bồ Đề ! Như Lai đặng đạo Bồ Đề, không phải hư, không phải thật". 

LƯỢC GIẢI 

Đây là lần thứ hai (lần thứ nhứt ở đoạn 15) phật dùng Trí huệ Kim Cang Bát Nhă, phá cái chất "Phật có đắc pháp". Đúng theo thinh thần kinh Kim Cang Bát Nhă, th́ phải phá trừ hết các mây vô minh vọng chấp nhơn, ngă v.v...lúc bấy giờ mặt trời Bát Nhă chơn không (chơn như hay Phật tánh) mới hiện. 

Bởi thế nên Phật tuy đắc pháp Bồ Đề, nhưng không thấy ḿnh có đắc (vô ngă) và pháp Bồ Đề (vô pháp) đă đắc, nên mới được Phật nhiên Đăng thọ kư. 

Nếu Như Lai c̣n thấy ḿnh có đắc pháp Bồ Đề, tức nhiên Như Lai c̣n chấp ngă (ḿnh đặng) và chấp pháp (pháp Bồ Đề), chưa nhập được Kim Cang Bát Nhă, th́ đâu được Cổ Phật Nhiên Đăng chứng nhận cho: "Về sau ông sẽ thành Phật hiệu là Thích Ca Mâu Ni". 

Chúng sanh chấp "Như Lai đặng quả Bồ Đề", v́ chúng sanh chưa hiểu hai chữ "Như Lai". Phật giải thích:"Như Lai là bản thể như như của các pháp"; đă là như như, nên không có đặng pháp ǵ cả. 

Phật dạy tiếp:" Như Lai đặng đạo Bồ Đề, không phải hư, không phải thật". Nếu đạo Bồ Đề mà c̣n có hư hay là thật, th́ không phải Bồ Đề. Đến chỗ này th́ dùng lời nói luận bàn không trúng, đem ư thức suy nghĩ phân biệt cũng chẳng nhằm. Đây là lần thứ ba, Phật phá cái chấp "Như Lai đặng đạo Bồ Đề" (lần thứ nhứt và thứ hai ở về đoạn 15 và 36). 

Ngộ được lư "Phật tuy đă thành Phật, nhưng không thấy ḿnh được thành Phật", nên ngài Phật Quốc Thiền sư có làm bài kệ như sau: 

Nguyên văn (dịch âm): 

Tâm tâm tức Phật, Phật tâm tâm 
Phật Phật tâm tâm, tức Phật tâm 
Tâm Phật ngộ lai vô nhứt vật 
Tướng quân chỉ khát vọng mai lâm. 

Dịch nghĩa: 

Tâm tâm tức phật, phật tức tâm 
Phật phật tức tâm, tâm tức Phật 
Tâm, Phật ngộ rồi không chi cả 
Nói me đỡ khát vạn quân binh. 

ĐẠI Ư BÀI KỆ 

Người mê, chấp tâm và Phật riêng khác. Kẻ hiểu lại nói: Phật tức tâm, tâm tức Phật. Người tỏ ngộ rồi không c̣n thấy có Phật và tâm. V́ cảm hoá chúng sanh nên mới đặt ra có danh từ tâm và Phật để kêu gọi. Cũng như v́ muốn cho vạn quân đỡ khát nước, nên vị Chỉ huy mới phương tiện nói "gần đến rừng me". 

GIẢI DANH TỪ 

Thọ kư: Truyền trao và kư nhận. 

*** 

47. PHẬT NÓI:" TẤT CẢ CÁC PHÁP ĐỀU LÀ PHẬT PHÁP"

Phật dạy:" Tu Bồ Đề ! Như Lai nói:" Tất cả các pháp đều là Phật pháp". Tu Bồ Đề ! Như Lai nói các pháp thật ra không phải các pháp, chỉ giả gọi "các pháp"; cũng như thân Phật cao lớn, Như Lai nói không phải thân Phật cao lớn, chỉ giả gọi "thân Phật cao lớn". 

LƯỢC GIẢI 

Đoạn này Phật phá cái chấp "các pháp và thân Phật". Kinh chép:" Pháp thân Phật biến khắp tất cả; cảnh giới của Phật ở gọi là Thường tịch quang?. Bởi thế nên nói "tất cả các pháp đều là Phật pháp". 

Chúng ta bị mây vô minh che khuất trăng Bát Nhă, nên chỉ thấy các pháp ngă, nhơn v..v.. chư Phật và Bồ Tát đă giác ngộ , phá tan mây vô minh, trăng Bát Nhă được sáng tỏ, nên chỉ thấy toàn là Phật pháp. 

Vừa nói đến "các pháp", sợ chúng sanh chấp "các pháp? mà không ngộ được tánh Bát Nhă chơn không, nên Phật liền phá:" Như Lai nói "các pháp" thật ra không phải "các pháp", chỉ giả gọi là "các pháp". Cũng như thân Phật, thật ra không phải thân Phật, chỉ giả gọi thân Phật". 

48. PHẬT PHÁ CÁI CHẤP "BỔ TÁT CÓ ĐỘ SANH"

Phật dạy:" Tu Bồ Đề ! nếu Bồ Tát c̣n chấp ḿnh hoá độ vô số chúng sanh th́ không phải là Bồ Tát. Tại sao vậy ? v́ thật ra không có một pháp ǵ gọi là Bồ Tát. Bởi thế nên Phật nói:"Tất cả các pháp không ngă, không nhơn, không chúng sanh và không thọ giả". 

LƯỢC GIẢI 

Đoạn này Phật dùng Trí huệ Bát Nhă phá trừ cái chấp "thật có Bồ Tát, thật có độ sanh" và Phật dạy:" Các pháp đều giả, không có bốn tướng". 

Đúng theo tinh thần kinh Bát Nhă, th́ pháp nào hay việc làm nào của Bồ Tát, hợp với tánh Bát Nhă chơn không, th́ pháp đó hay việc làm đó mới là thật. 

Nếu Bồ Tát c̣n chấp có ḿnh độ sanh tức là Bồ Tát c̣n nhơn (người được độ) ngă (ḿnh độ) v.v...th́ không hợp với tinh thần Bát Nhă, nên không phải là Bồ Tát. Đây là lần thứ hai (lần thứ nhứt ở đoạn 3) Phật phá cái chấp "Bồ Tát có độ sanh". 

V́ Bồ Tát hợp với tánh Bát Nhă chơn không, nên Phật dạy:" Không có một pháp ǵ gọi là Bồ Tát". Cũng v́ các pháp hợp với tánh Bát Nhă chơn không, nên Phật dạy:" Tất cả các pháp đều không ngă, không nhơn, không chúng sanh và không thọ giả". 

*** 

49. PHẬT PHÁ CÁI CHẤP "BỔ TÁT CÓ LÀM TRANG NGHIÊM CƠI PHẬT" 

Phật dạy:" Tu Bồ Đề ! Nếu Bồ Tát chấp rằng:" Ta làm trang nghiêm cơi Phật", th́ không phải là Bồ Tát. Tại sao vậy? Như Lai nói:" Bồ Tát làm trang nghiêm cơi Phật, mà không chấp ḿnh có làm trang nghiêm cơi Phật, mới thật là trang nghiêm cơi Phật. 

Tóm lại, nếu Bồ Tát không c̣n chấp ngă chấp pháp, Như Lai mới gọi là "thật Bồ Tát". 

LƯỢC GIẢI 

Đoạn này Phật dạy: Bồ Tát không c̣n chấp ngă, chấp pháp, phải hợp với tánh Bát Nhă chơn không, mới phải thật là Bồ Tát và mới phải là trang nghiêm cơi Phật. Đây là lần thứ hai (lần thứ nhứt, xem đoạn 16) Phật phá cái chấp "Bồ Tát có trang nghiêm cơi Phật". 

Bồ Tát làm trang nghiêm cơi Phật, mà không chấp minh có làm trang nghiêm, như thế mới thật là trang nghiêm cơi Phật. Trái lại, nếu Bồ Tát chấp ḿnh có làm trang nghiêm cơi Phật, tức là Bồ Tát c̣n chấp ngă (ta làm) chấp pháp (cơi Phật), không hợp với tinh thần Bát Nhă, th́ không phải là trang nghiêm và cũng không phải là Bồ Tát. 

Tóm lại, Phật dạy:" Nếu Bồ Tát nhập vào Bát Nhă chơn không, không c̣n các vọng chấp ngă, pháp, th́ Như Lai mới gọi là thật "Bồ Tát?. 

Ngài Xuyên Thiền sư làm bài tụng tóm tắt lại ư nghĩa trên, như sau: 

Nguyên văn (dịch âm): 

Tá bà sam tử bái bà môn 
Lễ số châu truyền dĩ thập phần 
Trúc ảnh tảo dai, trần bất động 
Nguyệt luân xuyên hải thuỷ vô ngần. 

Dịch nghĩa: 

Mượn áo tràng bà để lạy bà 
Lễ rồi, áo trả lại cho bà 
Bóng trúc quét sân, trần chẳng động 
Vừng trăng xuyên biển, nước không xao. 

ĐẠI Ư BÀI TỤNG 

Bài kệ này nói về lư "vô trụ vô tướng? của kinh Bát Nhă, Bồ Tát làm trang nghiêm cơi Phật; cũng như người mượn áo tràng của bà để lạy bà. Nhưng Bồ Tát không chấp có trang nghiêm cơi Phật; như người lạy rồi trả áo, không c̣n giữ lại vết tích ǵ cả. 

Bồ Tát độ sanh hay làm các Phật sự mà không thấy có ḿnh độ và chúng sanh được độ v.v...cũng như bóng trúc quét bụi, tia sáng của vừng trăng xuyên biển; bụi trần không động mà nước cũng không dợn. 

*** 

50. PHẬT CÓ ĐỦ NĂM LOẠI CON MẮT

Phật hỏi:" Tu Bồ Đề ! Như Lai có nhục nhăn không? " Tu Bồ Đề thưa:" Bạch thế Tôn ! Như Lai có nhục nhăn". 

"Tu Bồ Đề ! Như Lai có thiên nhăn không?" 
"Bạch Thế tôn ! Như Lai có thiên nhăn ". 
" Tu Bồ Đề ! Như Lai có Huệ nhăn không?" 
"Bạch Thế tôn ! Như Lai có Huệ nhăn ". 
" Tu Bồ Đề ! Như Lai có Pháp nhăn không?" 
"Bạch Thế tôn ! Như Lai có Pháp nhăn ". 
" Tu Bồ Đề ! Như Lai có Phật nhăn không?" 
"Bạch Thế tôn ! Như Lai có Phật nhăn ". 

LƯỢC GIẢI 

Đoạn này phá cái chấp "Phật và Bồ Tát không thấy chi hết". 

Mục đích của kinh Bát Nhă là phải phá hết các vọng chấp, th́ chơn tâm hay Phật tánh (Bát Nhă) mới hiện. Bởi thế nên, chấp "có" đă bị bác, mà chấp "không" cũng bị bác. 

Từ trước đến đây, Phật đă nhiều lần phá về chấp có. Như nói:"Bồ Tát phải không thấy có ḿnh độ sanh, không thấy có chúng sanh được độ. Bồ Tát không thấy ḿnh làm trang nghiêm và không thấy cơi Phật được trang nghiêm v.v..." 

Sợ người chấp:" ...như thế th́ chư Phật và Bồ Tát không thấy chi hết", nên đến đoạn này, Phật mới hỏi ông Tu Bồ Đề:" Như Lai có năm món nhăn không?" . Ông Tu Bồ Đề thưa:"Như Lai có đủ năm món nhăn"; nghĩa là có đủ năm loại con mắt, nên Như Lai thấy tất cả. 

GIẢI DANH TỪ 

1. Nhục nhăn: Con mắt thịt cùa phàm phu, chỉ thấy trong phạm vi nhỏ hẹp; nếu bị vật ǵ che ngăn th́ không thấy. 

2. Thiên nhăn: Con mắt của chư thiên, do tu thiền định hoặc sanh lên các cơi trời, mới được con mắt này. Thiên nhăn thấy được xa và thấu suốt tất cả, không bị vật ǵ làm chướng ngại. 

3. Hụê nhăn: Con mắt Trí huệ. Huệ nhăn chỉ thấy "ngă không"; nghĩa là chúng sanh không thật, chỉ do ngũ uẩn và tứ đại hoà hợp. Hàng Thinh văn và Duyên giác mới có Huệ nhăn. 

4. Pháp nhăn: Con mắt thấy suốt tất cả các pháp. Bồ Tát đặng pháp nhăn, thất "ngă pháp", đều không; nghĩa là Bồ Tát không những rơ thấu ngă, nhơn, chúng sanh và thọ giả đều không, mà cũng rơ thấu tất cả các pháp đều không thật, chỉ do các duyên hoà hợp sanh. 

5. Phật nhăn: Con mắt Phật. Phật thấy biết tất cả các pháp trong thế gian và xuất thế gian. Phật thấy hoàn toàn viên măn, dù hằng sa thế giới, vô lượng chúng sanh. Phật cũng đều thấy và biết tất cả. 

Tóm lại, Phật có đủ 5 con mắt; Bồ Tát có 4 con mắt; Nhị thừa c̣n 3; phàm phu chỉ một; chư thiên có 1 hoặc 2. 

Cổ nhơn làm bài tụng nói về ngũ nhăn như sau: 

Dịch âm (nguyên văn): 

Thiên nhăn thông phi ngại 
Nhục nhăn ngại phi thông 
Pháp nhăn phi quán tục 
Huệ nhăn liễu trí thông 
Phật nhăn như thiên nhựt 
Chiếu dị thể hoàn đồng. 

Dịch nghĩa: 

Mắt Trời thấy thông suốt 
Mắt Thịt thấy có ngại 
Mắt Pháp thấy pháp không 
Mắt Huệ thấy ngă không 
Mắt Phật thất tất cả 
Muôn pháp đồng nhứt thể. 

*** 

51. PHẬT THẤY BIẾT HẾT TÂM NIỆM CỦA CÁC CHÚNG SANH, TRONG HẰNG SA THẾ GIỚI

Phật hỏi: "Tu Bồ Đề ! Cát ỏ trong song hằng, Như Lai có gọi là cát không?". 

Tu Bồ Đề thưa: "Bạch Thế Tôn ! Như Lai cũng gọi là cát". 

Phật hỏi: "Như một sông Hằng có vô số cát, rồi lấy mỗi một hạt cát,để thí dụ một song Hằng, th́ có vô số sông Hằng. Trong vô số sông hằng, mỗi một sông Hằng lại có vô số cát nữa, rồi đem vô số hạt cát trong vô số sông Hằng đó, lại thí dụ nữa, mỗi một hạt cát là một hạt cát của Phật (Đại thế giới). Như thế, thế giới của Phật có nhiều không?". 

Tu Bồ Đề thưa: "Bạch Thế Tôn nhiều lắm". 

Phật dạy: "Tu Bồ Đề ! Tất cả chúng sanh ở trong vô số thế giới như vậy, có bao nhiêu tâm niệm, Như Lai đều thấy biết tất cả". 

Phật dạy tiếp: "Tu Bồ Đề ! Như Lai nói tâm, không phải thật có tâm, chỉ giả gọi là "tâm". Tại sao vậy?_ V́ tâm quá khứ t́m không được, tâm hiện tại t́m không được, tâm vị lai cũng t́m không được". 

LƯỢC GIẢI 

Đoạn nay tiếp với đoạn trên (50), Như Lai có 5 con mắt, nên Như Lai thấy biếtvô cùng thế giới và vộ tận chúng sanh. 

Trong vô số thế giới, mỗi thế giới có vô số chúng sanh, mỗi chúng sanh có bao nhiêu tâm niệm, Như Lai đều thấy biết tất cả. 

Vừa nói đến "tâm", sợ chúng sanh vọng chấp "có tâm" mà không nhhập được Kim Cang Bát Nhă, nên Phật liền phá: "Như Lai nói "tâm" không phải thật có tâm, chỉ giả gọi là "tâm". 

Phật giải thích thêm: V́ tâm quá khứ đă diệt, tâm vi lai chưa đến, tâm hiện tại không dừng trụ, nên trong ba đời t́m tâm không thể được. 

Thuở xưa, Ngài Huệ Khả (Nhị Tổ) đến cầu Tổ Đạt Ma (Sư Tổ) về pháp an tâm (xen "bản đồ tu Phật" tập 4). 

Tổ Đạt ma hỏi: "Ông đến đây để làm ǵ?". 

Ngài Huệ Khả thưa: "Bạch Tổ Sư ! Con đến đây để cầu pháp an tâm". 

Tổ Đạt Ma hỏi:" Quá khứ tâm bất đắc, hiện tại tâm bất khả đắc, vị lai tâm bất khả đắc, vậy ông muốn an cái tâm nào?". 

Ngài huệ Khả thưa: "Trong ba thời (quá khứ, hiện tại và vị lai) con t́m tâm đều không thể được". 

Tổ Đạt Ma dạy: "ta đă an tâm cho ông rồi". Ngài huệ Khả liền tỏ ngộ. 

Ngài Xuyên Thiền sư có làm bài kệ nói về ba tâm 

Nguyên văn (dịch âm): 

Tam tế cầu tâm, tâm bất biến 

Luỡng nhăn y nhiên đối lưỡng nhăn 

Bất tu di kiếm khắc chu tầm 

Tuyết tuyệt phong hoa thường kiến diện 

Dịch nghĩa: 

Hai mắt trơ trơ chỉ ngó chăm 

T́m măi ba đời chẳng thấy tâm 

Tuyết nguyệt phong ba thường đối diện 

Kiếm rơi hà tất khắc khe tầm 

LƯỢC GIẢI VÀ ĐẠI Ư 

Thuở xưa, có người đi thuyền làm rơi cây kiếm dưới sông. Người ấy liền lấy dao khắc be thuyền, để chờ thuyền đậu nghỉ sẽ t́m. Đến khi thuyền đậu, người ấy xuống sông ṃ hoài không được kiếm. Anh ta thắc mắc: "Cây kiếm mới rớt, tôi khắc thuyền làm dấu ngay chỗ này, sao t́m hoài không được". 

Người trí thấy vậy bảo:"Anh dại quá ! Kiếm rớt hồi năy, th́ anh phải t́m ngay chỗ hồi năy và tại chỗ đó; chớ đợi đến bây giờ, đă khác chỗ rồi, th́ làm sao t́m được". 

Cũng thế, người tu hành phải trực ngộ bản tâm ḿnh. Nếu c̣n móng tâm để t́m tâm ở đâu đâu, th́ không bao giờ t́m được; v́ tâm quá khứ đă diệt, tâm hiện tại không dừng, tâm vị lai chưa đến. 

Tóm lại, đại ư bài tụng: 

Những cảnh vật thiên nhiên, như tuyết trong, trăng sáng, gió mát, hoa tươi ở trước mắt, d8èu biểu lộ bản thể chơn tâm thường trú. Hành giả phải tức nơi muôn vật đó mà trực ngộ bản tâm ḿnh, cần ǵ phải t́m đâu xa. Nếu hành giả không trực ngộ, mà cứ lo t́m tâm quá khứ, hiện tại và vị lai, th́ cũng như người khắc dấu lên thuyền để ṃ kiếm, không bao giờ ṃ được. 

*** 

52. PHẬT PHÁ CÁI CHẤP "PHƯỚC ĐỨC NHIỀU"

Phật dạy: "Tu Bồ Đề ! Nếu có người dùng 7 món báu, đựng đầy trong một Đại thế giới (một ngh́n triệu thế giới nhỏ) đem bố thí, người này được phước đức không?". 

Tu Bồ Đề thưa: "nếu chấp phước đức này thật có, th́ Như Lai nói phước đức này không nhiều. Không chấp phước đức nhiều, Như Lai mới nói "đặng nhiều phước đức". 

LƯỢC GIẢI 

Nếu đem tân chấp tướng mà làm việc phước đức, th́ phước đức đó thành hữu vi hữu lậu; dầu có nhiều bao nhiêu cũng có ngày cùng tận. Trái lại, nếu đem tâm vô tướng (không cầu danh, cầu lợi, không chấp nhơn, chấp ngă v.v...) mà làm việc phước đức, th́ phước dức này thuộc về vộ lậu thanh tịnh, hợp với tánh Bát Nhă chơn không (chơn tâm) dù làm ít, nhưng phước đức vô cùng tận. 

Thuở xưa, Tổ Đạt Ma đến Trung Hoa truyền đạo. Vua Lương Vơ Đế đem việc bố thí làm phước, đúc chuông, tạo tượng và lập 72 cảnh chùa v.v...để hỏi Tổ Đạt Ma. Trong câu hỏi có tánh cánh khoe khoang chấp tướng. 

Vua hỏi: "Trẫm lập 72 cảnh chùa, đúc chuông, tạo tượng, tu kiều, bồi lộ v.v...phước đức có nhiều không?". 

Trả lới đúng theo tinh thần "vô trụ, vô tướng" của kinh Bát Nhă, Tổ Đạt Ma nói: "Không có phước đức". Vua Lương Vơ Đế v́ tŕnh độ quá kém, không hiểu được lời của Tổ dạy, nên nghi rằng không phải Tổ, lại đem dâng thuốc độc cho Tổ Đạt Ma uống ...(xem quyển "Tổ Đạt Ma", do Hương Đạo xuất bản). 

Ngài Xuyên Thiền sư tả về cảnh: khi các mây vô minh vọng chấp hết, th́ mặt trăng Trí huệ Bát Nhă hiện ra, bằng hai câu như sau: 
 

Nguyên văn (dịch âm):

Vô hạn dă tâm phong quyển tận 
Nhứt luân cô nguyệt chiếu thiên tâm 

Dịch nghĩa: 

Gió cuốn mây đen về biển cả 
Một vừng trăng sáng giữa trời không 

*** 

53. PHẬT PHÁ CÁI CHẤP "THẤY SẮC THÂN VÀ TƯỚNG TỐT CỦA PHẬT LÀ THẤY PHẬT"

Phật hỏi: "Tu Bồ Đề ! ông có thể cho thấy sắc thân của ta đây là thấy được Phật không?". 

Tu Bồ Đề thưa: "Bạch Thế Tôn ! Không thể cho thấy sắc thân của Phật là thấy được Phật. Tai sao vậy? V́ Như Lai nói sắc thân, không phải thật sắc thân, chỉ giả gọi là sắc thân". 

Phật hỏi tiếp: "Tu Bồ Đề ! ông có thể cho thấy các tướng tốt (32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp) của ta đây là thấy được Phật không?". 

Tu Bồ Đề thưa: "Bạch Thế Tôn ! không thể cho thấy các tướng tốt của Phật là thấy được Phật. Tại sao vậy? V́ Như Lai ní các tướng tốt, không phải thật tướng tốt, chỉ giả gọi là tướng tốt". 

LƯỢC GIẢI 

Đoạn này Phật dùng Trí huệ Kim Cang Bát Nhă phá trừ cái chấp: "Thấy sắc thân và tướng hảo của Phật lá thấy được Phật". Đây là lầ thứ ba (lần thứ nhứt và nh́ ở đoạn 7 và 25) Phật phá cái chấp về việc thấy Phật. 

Kinh Kim Cang, Phật dạy: "Phàm sở hữu tướng, giai thị hư vọng" (phàm cái ǵ có h́nh tướng đều là hư dối). 

Sắc thân của Phật,do bốn đại hoà hợp giả tạo ra thân tướng, nên thân tướng của Phật cũng hư vọng không thật, chỉ giả gọi là thân Phật. 

Rồi từ trên thân tướng, do bốn đại giả tạo, lại sanh ra nhiều tướng, những tướng ấy cũng hư vọng không thật, chỉ giả gọi là 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp. 

Đến lúc hoàn thành nhiệm vụ độ sanh, Phật thâu thần nhập diệt, xả thân tướng tứ đại để vào cơi Niết bàn, th́ xác thân và 32 tướng tốt, do tứ đại giả hợp của Phật cũng thao luật "sanh, trụ, dị, diệt" mà biến đổi. Lúc bấy giờ không c̣n cái ǵ để gọi là sắc thân và tướng tốt. 

Bởi thế nên Phật dạy: "Không phải sắc thân, chỉ giả gọi sắc thân; không phải tướng tốt, chỉ giả gọi là tướng tốt". V́ thế nên ông Tu Bồ Đề thưa: "Không thể cho thấy sắc thân hay thấy tướng tốt của Phật mà cho là thấy được Phật". 

*** 

54. PHẬT PHÁ CÁI CHẤP "NHƯ LAI CÓ THUYẾT PHÁP"

Phật dạy: "Tu Bồ Đề ! Ông chớ nên nghĩ rằng: "Như Lai có thuyết pháp". Tại sao vậy? Nếu người nào không hiểu lời của Phật dạy, lại nói rằng: "Như Lai có thuyết pháp", th́ người ấy khinh báng Phật". 

Tu Bồ Đề ! Như Lai nói: "Thuyết pháp, tức là không có pháp ǵ có thể nói được, mới gọi là thuyết pháp". 

LƯỢC GIẢI 

Đoạn này Phật dùng Trí huệ Kim Cang Bát Nhă phá trừ cái chấp "Như Lai có thuyết pháp". Đây là lần thứ 3, Phật phá cái chấp về "Như Lai có thuyết pháp" (lần thứ nhứt ở đoạn 11 và 23) 

Nếu người nào chấp: "Phật có thuyết pháp", th́ người đó c̣n chấp ngă (Phật) và chấp pháp (thuyết pháp). Đem tâm vọng chấp ngă pháp cuả phàm phu mà suy nghĩ luận bàn đến chánh pháp của Phật, th́ chánh pháp của Phật, trở thành vọng chấp của phàm phu. Ngài Xuyên Thiền sư nói: "Tà nhơn thuyết chánh pháp, chánh pháp tức qui tà" (người tà nói pháp chánh, pháp chánh trở thành tà). Bởi thế nên Phật nói: "người đó khinh báng Phật ". V́ họ không nhập được "lư Kim Cang Bát Nhă", nên Phật nói: "Họ không hiểu được lời của Phật dạy". 

Đức Lăo Tử nói: "Đạo mà có thể nói được, th́ không phải thật là Đạo (Đạo khả đạo, phi thường đạo)". Cũng đồng một ư này, Đức Phật dạy: "Không có pháp ǵ có thể nói được, mới gọi là thuyết pháp". 

Phật nói bài kệ như sau: 

Nguyên văn (diịch âm): 

Thị tùng thành đạo hậu 
Chung chí Bạt đề hà 
Ư thị nhị trung gian 
Vị thường thuyết nhứt tự 

Dịch nghĩa: 

Từ khi mới thành đạo 
Đến lúc nhập Niết bàn 
Trong khoảng thời gian ấy 
Ta không nói một chữ. 

ĐẠI Ư BÀI KỆ 

Bài kệ này, nói về lư kinh Bát Nhă. Cổ nhơn dạy: "vô thuyết vô văn chơn Bát Nhă", (không nói Bát Nhă và không nghe Bát Nhă, mới thật là nói Bát Nhă và nghe Bát Nhă), (xin độc giả xem lại đoạn giải 11 và 23). 

*** 

55. PHẬT PHÁ CÁI CHẤP "THẬT CÓ CHÚNG SANH"

Khi đó, ông Tu Bồ Đề thưa Phật: "Bạch Thế Tôn ! Đời sau, nếu có chúng sanh nào nghe đến kinh Bát Nhă, không biết họ có thể tin được không?". Phật dạy: "Tu Bồ Đề ! Chúng kia, không phải chúng sanh, cũng không phải phi chúng sanh. Tại sao vậy? Như Lai nói chúng sanh, thật không phải chúng sanh, chỉ giả gọi là chúng sanh". 

LƯỢC GIẢI 

Đoạn này Phật dùng Trí huệ Kim Cang Bát Nhă phá cái chấp "thật có chúng sanh". Trong tánh Bát Nhă chơn không th́ ngă và pháp đều không, bốn tướng chẳng c̣n. 

Bốn tướng đă không, ngă chấp chẳng c̣n, th́ đâu có ǵ là chúng sanh hay phi chúng sanh. Đă không phải chúng sanh hay phi chúng sanh, th́ có ǵ là tin hay không tin. Đúng theo tinh thần kinh Bát Nhă, nếu c̣n phân biệt vọng chấp, th́ không phải là thật. Bởi thế nên Phật dạy tiếp: "Như Lai nói chúng sanh, không phải thật chúng sanh, chỉ giả gọi là chúng sanh". 

Ngài Phó Đại sĩ làm bài tụng, để tóm tắt lại đoạn này, như sau: 

  

Nguyên văn (dịch âm):

Chúng sanh dữ thọ giả 
Uẩn thượng lập hư danh 
Như qui mao bất thật 
Tợ thố giác vô h́nh 

Dịch nghĩa: 

Ngă, nhơn, chúng sanh và thọ giả 
Trên năm uẩn chỉ có giả danh 
Như lông rùa không có thậ thể 
Tợ như sừng thỏ chẳng có h́nh. 

ĐẠI Ư BÀI TỤNG 

Tất cả các pháp trên năm uẩn như ngă, nhơn, chúng sanh và thọ giả v.v...đều không thật có, như lông rùa, sừng thỏ, chỉ có giả sanh mà thôi. 

56. PHẬT PHÁ CÁI CHẤP "NHƯ LAI ĐẶNG ĐẠO QUẢ VÔ THƯỢNG BỔ ĐỀ

Ông Tu Bồ Đề bạch Phật: "Bạch Thế tôn ! Như Lai có chứng đặng đạo quả Vô thượng Bồ Đề không? Phật dạy: "Tu Bồ Đề ! Như Lai không có một tí ǵ gọi là đặng đạo quă Vô thượng Bồ Đề". 

LƯỢC GIẢI 

Đoạn này Phật dùng Trí huệ Kim Cang Bát Nhă phá trừ cái chấp "Phật có đặng Đạo quả Bồ Đề". Đây là lần thứ 4 (lần thứ nhứt, hai và ba ở đoạn 15, 36, và 46). 

Trong Duy thức Tam thập tụng có chép: " Nếu hành giả hiện tiền c̣n phần nào thấy ḿnh có chứng Duy thức tánh, th́ chưa phải thật chứng Duy thức tánh, v́ c̣n chấp "có sở đắc" vậy". 

Đồng một ư với đoạn kinh này, nếu c̣n chấp "ḿnh đặng đạo quả Vô thượng Bồ Đề", tức là c̣n bốn tướng: ngă, nhơn, chúng sanh và thọ giả th́ không phải thật chứng đạo vô thượng Bồ Đề. 

Hành giả phải ngộ nhập Kim Cang Bát Nhă, xa ĺa các vọng chấp, không c̣n thấy ḿnh chứng (không ngă) và đạo quả Bồ Đề để chứng (không pháp) th́ mới thật là chứng đạo vô thượng Bồ Đề. Bởi thế nên Phật dạy: "Như Lai không có một tí ǵ gọi là đặng đạo vô thượng Bồ Đề". 

*** 

57. PHÁP NÀY B̀NH ĐẲNG KHÔNG CÓ CAO THẤP

Phật dạy: "Tu Bồ Đề ! Pháp này b́nh đẳng không có cao thấp, không ngă, không nhơn, không chúng sanh và không thọ giả, tạm gọi là đạo vô thượng Bồ Đề. 

Tu Bồ Đề ! Do tu tất cả pháp lành mà đặng đạo vô thượng Bồ Đề, Như Lai nói pháp lành, không phải pháp lành, mới gọi là pháp lành". 

LƯỢC GIẢI 

Đoạn này Phật nói "pháp này b́nh đẳng, không có cao thấp", và phá cái chấp "pháp lành". 

Hành giả c̣n chấp "ta tu pháp lành" tức là c̣n chấp ngă (ta tu) chấp pháp (pháp lành). Nếu đem tâm chấp ngă chấp pháp mà tu pháp lành, th́ pháp lành ấy thuộc về hữu vi hữu lậu, không phải là pháp lành cứu cánh. 

Hành giả phải dùng Trí huệ Kim Cang Bát Nhă, phá trừ các chấp ngă, chấp pháp mà tu các pháp lành, th́ các pháp lành ấy mới hợp với Bát Nhă chơn không, thuộc về vô lậu thanh tịnh, mới phải lá pháp lành rốt ráo. Bởi thế nên Phật dạy: "Như Lai nói các pháp lành, không phải pháp lành, mới gọi là pháp lành". 

Hành giả nhập Kim Cang Bát Nhă, phá trừ các vọng chấp mà tu các pháp lành th́ sẽ chứng được đạo vô thượng Bồ Đề. Đạo này không ngă, không nhơn, không chúng sanh, không thọ giả, nên Phật nói: "Pháp này b́nh đẳng, không có cao thấp". 

Cổ nhơn có làm một bài tụng, nói về cảnh giới khi ngă và pháp đều hết, như sau: 

Nguyên văn (dịch âm): 

Vơ tiền chỉ kiến hoa gian điệp 
Vơ hậu toàn vô điệp để hoa 
Hoa điệp phân phân quá tường khứ 
Bất tri xuân sắc lạc thi gia 

 

Dịch nghĩa:

Trước mưa chỉ thấy hoa cùng bướm 
Mưa rồi chẳng thấy bướm với hoa 
Hoa rụng bướm bay qua khỏi vách 
Vậy ai đă hưởng thú xuân này 

ĐẠI Ư BÀI TỤNG 

Đây là lần thứ 13, Phật tán thán công đức không thể nghĩ bàn của người thọ tŕ và truyền bá kinh này. 

Bố thí 7 báu tuy quí, nhưng chỉ giúp cho người về vật chất, giàu có sung sướng trong một đời mà thôi. Phước đức tuy nhiều, nhưng thuộc về hữu vi hữu lậu. 

Người thọ tŕ hay giảng dạy kinh Kim Cang Bát Nhă, sẽ được lợi ích về phần tinh thần, ḿnh và người đều sẽ tỏ ngộ lư Bát Nhă và sẽ thành Phật, rồi tự độ và độ tha, lợi ích muôn đời, nên mặc dù thọ tŕ rất ít, nhưng phước đức vẫn nhiều hơn người trước. Phước này thuộc về vô lậu thanh tịnh, nên không thể tính lường hay thí dụ được. 

*** 

59. PHẬT PHÁ CÁI CHẤP "NHƯ LAI CÓ ĐỘ CHÚNG SANH"

Phật dạy: "Tu Bồ Đề ! Ông chớ lầm tưởng: Như Lai nghĩ rằng: "Ta độ chúng sanh". Tại sao vậy? Nếu Như Lai có nghĩ: "Ta độ chúng sanh", th́ Như Lai c̣n chấp bốn tướng: ngă, nhơn, chúng sanh và thọ giả, tức nhiên không phải Như Lai. Bởi thế nên, Như Lai thật không có độ chúng sanh nào cả. 

Tu Bồ Đề ! Như Lai nói "ta", thật ra không có "ta"; nhưng chúng phàm phu lại chấo có ta. Tu Bồ Đề ! Như Lai nói phàm phu, không phải phàm phu, chỉ giả gọi là phàm phu".

LƯỢC GIẢI 

Đoạn này Phật dùng Trí huệ Bát Nhă phá cái chấp "Phật có độ chúng sanh". 

Nếu c̣n thấy "ta độ chúng", tức là c̣n vọng chấp ngă (ta) nhơn (chúng sanh) th́ không nhập được Kim Cang Bát Nhă, nên không phải là Phật . 

V́ Như Lai đă nhập Kim Cang Bát Nhă, không c̣n các vọng chấp ngă, nhơn, v.v...nên Như Lai không thấy "thật có độ sanh". 

V́ phá trừ nghi vấn: Phật đă không chấp bốn tướng, tai sao c̣n nói "ta"? nên Phật dạy tiếp: "Như Lai nói "ta", nhưng thật ra không có cái "ta", do chúng phàm phu vọng chấp là ta". 

Nói đến phàm phu, sợ chúng sanh chấp "thật có phàm phu", nên Phật liền phá: "Như Lai nói phàm phu, không phải thật phàm phu, chỉ gizả gọi là phàm phu". 

60. THẤY 32 TƯỚNG TỐT CỦA PHẬT CHƯA PHẢI LÀ THẤY ĐƯỢC PHẬT

Phật dạy: "Tu Bồ Đề ! Ông có thể cho thấy 32 tướng tốt của ta đây, là thấy được Phật không?". 

Tu Bồ Đề thưa: "Bạch Thế Tôn ! Đúng như vậy, thấy 32 tướng tốt của Phật là thấy được Phật". Phật dạy: "Ông hiểu lầm rồi ! nếu thấy 32 tướng tốt của ta đây, mà cho là thấy được Phật, th́ Vua Chuyển Luân Thánh Vương cũng có đủ 32 tướng tốt như ta, vậy vua Chuyển Luân Thánh Vương cũng là Phật hay sao?". 

Tu Bồ Đề thưa: "Bạch Thế Tôn ! Con hiểu ư Phật rồi, không thể cho thấy 32 tướng tốt của Phật là thấy được Phật". 

LƯỢC GIẢI 

Đoạn này Phật dùng Trí huệ Bát Nhă phá cái chấp: "thấy sắc thân của Phật là thấy được Phật". Đây là lần thứ 4 (lần 1, 2, 3 ở đoạn 7, 25, 3) nói về viễc thấy Phật . 

Muốn rơ thêm đoạn này, tôi xin nhắc lại một lần nữa: 

Thuở xưa, có hai vị Tỳ kheo, từ phương xa đến yết kiến Phật. Đi nữa đường, một vị v́ sợ phạm giới, không uống nước có sinh trùng, nên bị khát chết. Một vị kia nhờ uống nước được sống, đến yết kiến Phật. 

Phật quở: "Ông Tỳ kheo kia giữ giới, không uống nước tuy chết, nhưng ông đă thấy ta trước rồi. C̣n ông không giữ giới, tuy sống đến yết kiến ta, nhưng ông lại cách ta ngàn dặm !". 

Vậy th́, thấy Phật là thấy cái ǵ? Không thể cho thấy sắc thân có 32 tướng tốt của Phật, mà cho là thấy được Phật. Bởi thế nên Phật nói: "Nếu thấy 32 tướng tốt của Phật là thấy đượ Phật, th́ vua Chuyển Luân Thánh Vương cũng có đủ 32 tướng tốt như Phật, vậy th́ vua Chuyển Luân Thánh Vương cũng là Phật hay sao?". 

Tóm lại, theo tinh thần Bát Nhă, phải xa ĺa tất cả các vô minh vọng chấp, th́ chơn tâm hay Phật tánh mói hiện. Đó mới là thật thấy Phật. 

Ngộ được nghĩa lư uyên thâm của đoạn này, nên Cổ nhơn có làm bài tụng như sau: 

Nguyên văn (dịch âm) 

Phật tức tâm hề tâm tức Phật 
Tâm Phật tùng lai giai vọng vật 
Nhược tri vô Phật phục vô tâm 
Thỉ thị chơn như pháp thân Phật 

Dịch nghĩa: 

Phật tức là tâm, tâm tức Phật 
Tâm Phật cả hai đều vọng vật 
Người ngộ vô tâm và vô Phật 
Liền chứn chơn như pháp thân Phật 

ĐẠI Ư BÀI TỤNG 

Phật tức tậm, tâm tức Phật. Tâm và Phật chỉ là hai danh từ để gọi mà thôi, chớ không có cái ǵ chơn thật. Nếu người diệt trừ các vô minh vọng chấp, ngộ được lư Phật và tâm đều không, th́ người ấy sẽ chứmng đặng chơn như hay Pháp thân Phật. 

*** 

61.PHẬT NÓI BÀI KỆ PHÁ CÁI CHẤP "THẤY PHẬT BẰNG SẮC TƯỚNG, NGHE PHẬT BẰNG ÂM THANH"

Khi đó, đức Thế Tôn nói tiếp bài kệ rằng: 

Nếu thấy ta bằng sắc tướng 
Nghe ta bằng âm thanh 
Người này đi đường tà 
Không thấy được Như Lai. 

LƯỢC GIẢI 

Bài kệ này tóm lại đoạn trên, Phật dùng Trí huệ Bát Nhă phá cái chấp "thấy Phật qua sắ tướng của Phật " và "nghe Phật qua âm thanh của Phật ". 

Đoạn trên đă giải nếu chấp sắc thân có 32 tướng tốt của Phật là Phật, th́ vua Chyển Luân Thánh Vương cũng có đủ 32 tướng tốt như Phật, vậy vua Chuyển Luân Thánh Vương cũng là Phật hay sao? 

Nếu chấp tiếng nói thanh thao vi diệu của Phật là tiếng Phật, th́ tiếng chim Ca Lăng Tần Già, cũng thanh thao vi diệu như tiếp Phật, vậy tiếng chim Ca Lăng Tần Già cũng là tiếng Phật hay sao? 

Tóm lại, phải phá trừ các vô minh vọng chấp, nhập Kim Cang Bát Nhă, mới thật thấy và nghe được Phật. Trái lại, nếu c̣n vô minh vọng chấp, chấp sắc tướng hay âm thanh của Phật, không nhập được Kim Cang Bát Nhă, th́ không bao giờ thấy được Phật. Bởi thế nên Phật quở: "Người này đi đường tà (vọng), không bao giờ thấy được Như Lai". 

62. PHẬT PHÁ CÁI CHẤP "KHÔNG" (TỨC LÀ CHẤP ĐOẠN DIỆT)

Phật dạy: "Tu Bồ Đề ! Ông chớ nên nghĩ rằng: "Như Lai không thừa nhận thân tướng ,tốt đẹp này là thân Phật". Tại sao vậy? _ Nếu người phát tâm Bồ Đề mà nghĩ như vậy, th́ mắc về cái chấp "đoạn diệt". Tu Bồ Đề ! Người phát tâm Bồ Đề, đối với các pháp, không nên chấp "đoạn diệt" (chấp không). 

LƯỢC GIẢI 

Đoạn này Phật dùng Trí huệ Bát Nhă phá cái chấp "sắc thân đủ 32 tướng tốt của Phật không phải là Phật". 

Đúng theo tinh thần kinh Bát Nhă, th́ phá hết các chấp: ngă, pháp hữu, vô v.v...lúc bấy giờ chơn tâm, Phật tánh hay Bát Nhă v.v...mới hiện. 

Bởi thế nên "chấp sắc thân đầy đủ tướng tốt của Phật là Phật", đă bị Phật quở là "lạc vào đường tà, không thấy được Phật"; mà "chấp sắc thân đầy đủ tướng tốt của Phật, không phải là Phật", cũng bị Phật quở là "chấp đoạn diệt" nghĩa là "chấp không", thuộc về "đoạn kiến ngoại đạo". 

Chấp "có" (chấp thường) chấp "không"(chấp đoạn) cũng đều là vọng chấp cả, không thể chứng đặng Đạo Bồ Đề. Bởi thế nên Phật dạy: "Người phát tâm Bồ Đề, đối với các pháp, không nên chấp đoạn diệt". 

Kinh chép: 

Nhược nhơn dục thức Phật cảnh giới 
Đương tịnh kỳ ư như hư không 

Dịch nghĩa: 

Nếu người muốn biết cảnh giới Phật 
Tâm phải thanh tịnh như hư không 

ĐẠI Ư 

Người muốn nhập cảnh giới Phật hay chứng đạo Bồ Đề, th́ phải xa ĺa các vọng chấp: có, không, đoạn, thường v.v...giữ tâm ư thanh tịnh như hư không 

*** 

63. NGƯỜI NGỘ "TẤT CẢ CÁC PHÁP KHÔNG THẬT", PHƯỚC ĐỨC NHIỀU HƠN NGƯỜI BỐ THÍ VÔ SỐ BẢY BÁU

Phật day: "Tu Bồ Đề ! Nếu các vị Bồ Tát dùng 7 món báu, đựng đầy trong hằng sa thế giới, đem bố thí; và có vị Bồ Tát ngộ "tất cả pháp không thật" (nhứt thế pháp vô ngă) và chứng đặng "pháp không" (pháp nhẫn) th́ công đức của vị Bồ Tát sau này, nhiều hơn vị Bồ Tát trước. Tại sao vậy? V́ vị Bồ Tát sau này không lănh thọ phước đức". 

Tu Bồ Đề bạch Phật: "Bạch Thế tôn ! Tại sao Bồ Tát không lăng thọ phước đức". Phật dạy: "Tu Bồ Đề ! Bồ Tát làm các việc phước đức, nhưng không tham trước, nên nói Bồ Tát không lănh thọ phước đức 

LƯỢC GIẢI 

Đoạn này có Bồ Tát nhập Kim Cang Bát Nhă chứng được "các pháp vô ngă" (vô sanh pháp nhẫn) nên làm các việc phước đức, mà không tham trước, không mong cầu về ḿnh, không chấp tướng phước đức, nên phước đức nhiều hơn vị Bồ Tát bố thí bảy món báu đựng đầy trong hằng sa thế giới. 

Người đem tâm vọng chấp ngă, pháp của phàm phu, mà làm các việc phước đức, dù phước đức ấy có nhiều đến dâu, cũng thuộc về hữu vi hữu lậu của thế gian phàm phu mà thôi. 

Trái lại, nếu người đem tâm thanh tịnh, không chấp ngă, chấp pháp, hợp với tánh Bát Nhă chơn không, mà l;àm việc phước đức, không tham cầu phước đức riêng về phần ḿnh, th́ người này mặc dù làm rất ít, mà phước đức nhiều vô tận; v́ phước đức này thuộc về vô lậu thanh tịnh. 

Giải thích đoạn này. Ngài Trí Giả Đại sư làm bài tụng: 

Nguyên văn (dịch âm) 

Tam thiên đại thế giới 
Thất bảo măn kỳ chung 
Hữu nhơn tŕ bố thí 
Đắc phước giả như phong 
Du thắng xan tham giả 
Vị đắc đạt chơ tông 
Chung tu tứ cú kệ 
Tri giác chứng toàn không 

Dịch nghĩa: 

Cả đại thiên thế giới 
Đựng đầy bảy món báu 
Bố thí để cầu phước 
Đặng phước cũng như gió 
C̣n hơn người bỏn xẻn 
Chưa hiểu nghĩa chơn thật 
Tŕ tụng bốn câu kệ 
Mới ngộ được lư không 

ĐẠI Ư BÀI TỤNG 

Người đem bảy báu đựng đầy một ngh́n triệu thế giới nhỏ, để bố thí, được phước đức tuy nhiều, nhưng không lâu dài, như gió thổi qua; không bằng người tỏ ngộ lư chơn không của kinh Bát Nhă, sẽ đặng phước vô lậu thanh tịnh. 

GIẢI DANH TỪ 

"PHÁP KHÔNG" (hay PHÁP NHẪN): bản thề chơn như thanh tịnh; nhưng v́ mây ngă pháp che mờ. Hành giả tu hành phá trừ được ngă chấp (ngă không) th́ một phần chơn như hiện ra, nên gọi là "ngă không chơn như"; phá trừ pháp chấp (pháp không) th́ một phần nữa chơn như hiện ra, nên gọi là "pháp không chơn như". 

Chứng được lư ngă không (sanh không) và pháp không, th́ gọi là "nhị không chơn như" tức là đặng "vô sanh pháp nhẫn", (chứng đặng ngă pháp đều không). 

64. PHẬT PHÁ CÁI CHẤP "NHƯ LAI CŨNG CÓ ĐI, ĐỨNG, NẰM, NGỔI"

Phật dạy:" Tu Bồ Đề ! Nếu có người chấp:Như Lai cũng tới, lui, nằm, ngồi v.v...th́ người đó không hiểu nghĩa Như Lai. 

Tu Bồ Đề ! Như Lai nghĩa là không từ đâu đến và cũng không đi về đâu, nên gọi là Như Lai". 

LƯỢC GIẢI 

Đoạn này Phật dùng Trí huệ Bát Nhă phá cái chấp "Như Lai cũng đi, đứng, nằm, ngồi v.v..." 

Pháp thân của Phật như như bất động, không khứ không lai, không sanh không diệt. Phật chứng được pháp thân này, nên gọi là Như Lai. 

*** 

65. PHẬT PHÁ CÁI CHẤP "THẬT CÓ VI TRẦN VÀ THẾ GIỚI"

Phật dạy:" Tu Bồ Đề ! Nếu có người chẻ nhỏ Đại thiên thế giới (một ngh́n triệu thế giới nhỏ) thành vi trần. Vậy số vi tr6àn này nhiều không?" 

Tu Bồ Đề thưa: "Bạch Thế Tôn ! Nhiều lắm". 

Phật dạy: "Tu Bồ Đề ! Như Lai nói các vi trần, không phải thật vi trần, chỉ giả gọi là vi trần. Nếu các vi trần thật có, th́ Như Lai không gọi là vi trần (chỉ gọi cái tướng, do chẻ nhỏ thế giới mà thành). 

Tu Bồ Đề ! Như Lai nói thế giới, không phải thật thế giới, chỉ giả gọi thế giới. Nếu thế giới thật có, thi Như Lai không gọi là thế giới, mà chỉ gọi là cái tướng của tổng hợp của nhiều vi trần. 

Tu Bồ Đề ! Như Lai nói cái tướng tổng hợp (thế giới) không phải tướng tổng hợp, chỉ giả gọi là tướng tổng hợp. 

Tu Bồ Đề ! chúng phàm phu v́ không biết đó là một cái tướng tổng hợp của nhiều vi trần, nên chấp là thật có thế giới, rồi sanh tâm tham lam luyến ái v.v...". 

LƯỢC GIẢI 

Đoạn này Phật dùng Trí huệ Bát Nhă phá cái chấp "thật có vi trần và thế giới". Đây là lần thứ hai (lần thứ nhứt ở đoạn 24) Phật phá cái chấp vi trần và thế giới. 

Chẻ vật lớn nhứt như thế giới, chẻ cho đến lúc không c̣n chẻ được nữa, th́ tạm gọi đó là "vi trần" (bụi nhỏ). Rồi tổng hợp rất nhiều vi trần , đến mức cùng tột mà tạm thành. Cả hai vi trần và thế giới đều không thật thể, chỉ có giả danh mà thôi. 

Tóm lại, tất cả muôn sự muôn vật trong vũ trụ, lớn như thế giới, nhỏ như vi trần, đều không thật thể, chỉ có giả danh mà thôi. Chúng sanh không biết, vọng chấp là thật, nên gặp cảnh thuận th́ sanh tâm tham lam; c̣n gặp cảnh nghịch th́ sân, si v.v...rồi tạo ra các nghiệp sanh tử luân hồi, từ đời này đến kiếp nọ, không biết bao giờ cùng tận. 

Bởi thế nên Phật thuyế kinh Kim Cang Bát Nhă, mục đích để phá các vô minh vọng chấp thật ngă. Lhi mây vô minh vọng chấp hết rồi, th́ trăng Phật tánh (Trí huệ Bát Nhă) hiện ra, chiếu khắp cả mười phương thế giới. 

*** 

66. PHẬT PHÁ CHẤP NGĂ

Phật dạy: "Tu Bồ Đề ! Nếu có người nói: "Phật cũng có ngă tướng, nhơn tướng, chúng sanh tướng và thọ giả tướng". Vậy, người này có hiểu được nghĩa của Như Lai nói không ?". 

Tu Bồ Đề thưa: "Bạch Thế Tôn ! Người này không hiểu được nghĩa của Như Lai nói. Tại sao vậy? V́ Như Lai nói bốn tướng: ngă, nhơn, chúng sanh và thọ giả, nhưng không phải thật có bốn tướng, chỉ giả gọi bốn tướng ngả, nhơn, chúng sanh và thọ giả mà thôi". 

LƯỢC GIẢI 

Đoạn này Phật dùng Trí huệ Kim Cang Bát Nhă phá trứ cái "ngă chấp". 

Có người chấp: "Nếu không có "ngă", tại sao Phật cũng nói có bốn tướng: ngă, nhơn, chúng sanh và thọ giả? "_ V́ chúng sanh chấp bốn tướng thật có, nên Phật cũng nói cái tên bốn tướng, để giải thích cho chúng sanh biết bốn tướng đó là giả, chứ không phải Phật chấp thật có bốn tướng như chúng sanh. Bởi thế nên Phật day: "Như Lai nói bốn tướng, nhưng không phải thật có bốn tướng, chỉ giả gọi bốn tướng". 

*** 

67. PHẬT PHÁ CHẤP PHÁP

Phật dạy: "Tu Bồ Đề ! Người phát tâm Bồ Đề chẳng nên chấp các pháp thật có, mà phải thấy các pháp là giả, biết các pháp là giả, hiểu các pháp là giả và tin các pháp là giả 

Tu Bồ Đề ! Như Lai nói "các pháp" không thật có "các pháp", chỉ giả gọi là "các pháp" 

LƯỢC GIẢI 

Đoạn này Phật dùng Trí huệ Kim Cang 

Bát Nhă, phá trừ cái chấp pháp 

Chúng sanh v́ chấp thật có ta (ngă) nên suốt đời, chỉ lo cho ta ăn ngon, lo cho ta mặc đẹp, lo nhà cửa cho ta, lo tiền cho ta tiêu dùng, lo cho ta có dsanh vọng, quyền tước v.v...làm việc ǵ cũng v́ ta. Rồi cái ǵ hợp với ta th́ sanh tâm tham lam luyến ái, cái ǵ nghịch với ta thi sân, si, tật đố v.v...tạo đủ điều tội lỗi. 

Không ngờ cái "ta"chẳng thật, do các duyên hoà hợp giả tạo. Khi các duyên tan ră rồi, th́ có cái ǵ gọi là "ta". 

Ngoài sự chấp "ta", chúng sanh c̣n chấp "pháp"; nghĩa là chấp muôn sự muôn vật thật có. V́ chất sự vật thật có vcà lâu dài, nên chúng sanh cả đời chịu khổ sở, vất vả để t́m cầu. Được rồi tham cầu nữa, không biết bao giờ đủ; không được th́ sân hận, tạo không biết bao nhiêu tội lỗi. Do đó mà bị sanh tử luân hồi, không biết bao giờ cùng tận. 

Không ngờ các pháp cũng đều hư giả, không thật, như bể cả biến làm ruộng dâu, ruộng dâu hoá làm bể cả, có cái ǵ chơn thật và trường tồn. Bởi thế nên Phật dạy: "Người phát tâm Bồ Đề, không nên chấp các pháp thật có, m phải thấy các pháp là giả, hiểu các pháp là giả, và tin các pháp là giả". 

Hành giả thấy biết và tin các pháp là giả, mới ngăn chận được vọng tưởng tham, sân, si v.v...và mới trở về với chơn tâm thanh tịnh của ḿnh. 

Cũng v́ thế, nên toàn bộ kinh Kim Cang Bát Nhă, đều nhắm mục đích dả phá các vọng chấp ngă, pháp để chúng sanh trở về với bản tâm thanh tịnh hay Phật tánh sáng suốt của ḿnh. 

Đó là phương pháp "hàng phục vọng tâm mà cũng là để an trụ chơn tâm". 

*** 

68. PHẬT TÁN THÁN CÔNG ĐỨC THỌ TR̀ KINH KIM CANG BÁT NHĂ

Phật dạy: "Tu Bồ Đề ! nếu có người dùng 7 món báu, đựng đầy vô lượng vô số thế giới đem bố thí. Và, nếu có người phát tâm Bồ Đề thọ tŕ đọc tụng hoặc giảng dạy kinh này, trọn quyển hay nữa quyển, cho đến tối thiểu là bốn câu kệ, th́ phước đức của người này nhiều hơn người trước. 

Tại sao người thọ tŕ đọc tụng kinh này, phước đức nhiều hơn người trước? V́ người này chẳng chấp thủ các tướng (ngă, chấp), nhập được thể tánh Kim Cang, như như bất động vậy". 

LƯỢC GIẢI 

Đoạn này Phật tán thán công đức người thọ tŕ kinh này, nhiều hơn người bố thí vô số thất bảo. Đây là lần thứ 14, phật nói về công đức tŕ kinh. 

Người thọ tŕ kinh này, sẽ phá trừ hết các vọng chấp ngă, pháp hay bốn tướng, ngộ nhập được Kim Cang Bát Nhă là tánh như như bất động và sẽ thành Phật, rồi trở lại giáo hoá vô lượng vô số chúng sanh đều được giải thoát, nên phước đức nhiều hơn người bố thí bảy báu 

*** 

69. PHẬT NÓI BÀI KỆ: QUÁN CÁC PHÁP HỮU VI ĐỀU HƯ GIẢ

Dịch âm (nguyên văn): 

Nhứt thế hữu vi pháp 
Như mộng, huyễn, bào, ảnh 
Như lộ diệc như điển 
Ưng tác như thị quán. 

Dịch nghĩa: 

Phải quán như thế này: 
Tất cả pháp hữu vi 
Như mộng, huyễn, bọt, bóng 
Như sương, như điển chớp 

LƯỢC GIẢI 

Phật kết thúc thời kinh Bát Nhă bằng một bài kệ, quán các pháp hữu vi đều giả, để hàng phục vọng tâm và an trụ chơn tâm. 

Hành giả phải luôn luôn quán tất cả các pháp trong vũ trụ đều hư giả, như chiêm bao, như vật huyễn thuật, như bọt nước, như bóng tối, như sương mai và điện chớp. 

Khi hành giả đă đi sâu vào pháp quán giả; nghĩa là thấy một cách chắc chắn "các pháp đều hư giả" như sáu món hư huyễn trên, th́ hành giả không c̣n khởi vọng tâm chấp thủ ngă pháp hay bốn tướng. 

Khi các vô minh vọng chấp không c̣n th́ chơn tâm thanh tịnh hiện ra, hay nói cách khác là tánh Kim Cang Bát Nhă như như bất động hiện ra. Lúc bấy giờ, hành giả liền chứng được quả Bồ Đề, không cần phải gian lao khổ hạnh, nhiều kiếp tu hành hay phải t́m đâu xa lạ. 

Tóm lại, đây là một phương pháp tu mau chóng, đặc biệt của kinh Kim Cang Bát Nhă, để "hàng phục vọng tâm và an trụ chơn tâm". 

*** 

PHẦN LƯU THÔNG

PHẦN TRUYỀN BÁ LƯU THÔNG 

Khi Phật nói kinh này rồi, ông Trưởng lăo Tu Bồ Đề, các vị Tỳ kheo, Tỳ kheo Ni, thiện nam, tín nữ, trời, người và thần A Tu La, đều tin thọ và jhoan hỷ vâng làm. 

LƯỢC GIẢI 

Theo thông lệ, th́ tất cả các kinh của Phật đều chia làm ba phần: Phần Tự (phần mở đề), phần Chánh tôn (phần chánh đề) và phần Lưu thông (phần truyênbá lưu thông). 

Đoạn này là phần Lưu thông, nói về các thính giả, sau khi nghe Phật nói kinh Kim Cang Bát Nhă rồi, tất cả đều lănh thọ tin theo và hoan hỷ vâng làm. 

Dịch xong, ngày 10 7 Ất Tî 

(Nhằm ngày 6 8 1965)

 

     
 

Trở lại

 
   
   
   

 

Xin gởi bài mới và ư kiến đóng góp về Tạng Thư Phật Học qua địa chỉ email:

tangthuphathoc@gmail.com