CHÁNH TÔNG
1. MƯỜI GIỚI
TRỌNG
1. Nêu chung
Phật bảo các
Phật tử: “Có 10 giới trọng, nếu người thọ giới Bồ Tát mà không đọc
tụng giới này th́ chẳng phải Bồ Tát, chẳng phải đệ tử của Phật. Ta
nay cũng tụng như thế. Tất cả Bồ Tát đă học, tất cả Bồ Tát sẽ học,
tất cả Bồ Tát đang học, Ta đă nói sơ lược tướng trạng của giới Bồ
Tát rồi, cần nên học và hết ḷng kính trọng phụng tŕ.
Giải thích:
Giới vốn vô h́nh,
làm ǵ có tướng mạo. Nhưng Tŕ, Phạm là tướng mạo. Không tụng th́
gọi là Phạm, học th́ gọi là Tŕ. Nếu thọ giới mà không đọc tụng th́
làm sao biết được h́nh tướng ? Không biết h́nh tướng th́ không hiểu
Giá, Khai, không hiểu Giá, Khai nên tội lỗi từ đó mà sanh. Bởi vậy,
đầu tiên là khiến cho Phật tử phải học giới, tụng giới. Nếu không
học, không tụng th́ người này đánh mất tên gọi Đại thừa ngay trong
hiện tại, nên họ không phải là Bồ Tát. Quả vị cao tột là thành Phật
trong tương lai cũng mất, nên họ chẳng phải chủng tử Phật. Phật mà
vẫn c̣n tụng, cho nên tất cả Bồ Tát, cầu Đại Bồ đề trong quá khứ đă
học, Bồ Tát ở vị lai sẽ học. Hàng Bồ Tát sơ học trong hiện tại phải
nên tôn trọng, cung kính, chí tâm lănh thọ, phụng tŕ, đừng để lăng
quên dù chỉ trong chốc lát.
2. Nêu riêng
Giới thứ 1
SÁT SANH
Nếu Phật tử,
hoặc tự giết, hoặc bảo người giết, phương tiện giết, khen ngợi giết,
thấy giết vui theo, nhẫn đến dùng bùa chú để giết, nhân giết, duyên
giết, cách thức giết, nghiệp giết, nhẫn đến tất cả loài hữu t́nh có
mạng sống đều không được giết. Là Phật tử, lẽ ra phải khởi ḷng từ
bi, ḷng hiếu thuận, lập thệ cứu giúp tất cả chúng sanh, mà trái lại
phóng tâm giết hại chúng sanh, Bồ Tát này phạm tội Ba-la-di.
Giải thích:
Thanh văn nhàm chán
sanh tử, chỉ lo phần tự lợi bởi vậy Phật để giới Dâm đứng đầu. Bồ
Tát tâm luôn luôn nghĩ làm lợi ích giáo hóa chúng sanh, lấy từ bi
làm gốc. Tất cả chúng sanh đều có tâm tham sống sợ chết, nếu Bồ Tát
đoạn mạng họ th́ liền mất bổn nguyện từ bi, lại khiến họ sanh ḷng
buồn khổ oán hận không dứt, nhiều đời thù oán không thôi, v́ thế để
giới sát ở trước.
Trong Kinh Lăng
Nghiêm, Phật bảo A Nan: “Lục đạo chúng sanh trong các thế giới, nếu
không có tâm sát hại th́ không phải trôi theo sanh tử tương tục.
Ông tu Tam muội, cầu ra khỏi trần lao, nếu không dứt tâm sát th́
trần lao khó ra khỏi. Dù có nhiều trí tuệ và thiền định hiện tiền,
nhưng tâm sát sanh không dứt, ắt phải lạc vào Ma đạo.”
Phật dạy rất rơ việc
sát sanh. Những giới khinh cũng phải giữ ǵn cẩn mật, huống ǵ giới
trọng. Khi biết rơ không sát hại là giới của Bồ Tát, lấy việc lợi
sanh làm việc thiết yếu, cho nên đối với Bồ Tát giới, th́ giới Sát
đứng đầu. Phật tử không hành tŕ mà trái lại buông ḷng sát hại,
trong giới của Bồ Tát kết tội không hành tŕ. Phật bảo Phật tử là
nói với Bồ Tát, nghĩa là Phật tử đă thọ tŕ giới của Phật, phải y
giới tu hành, không nên coi thường trái bỏ lời Phật dạy. Tự giết là
tự ḿnh làm việc giết hại, chính là thân tâm đă phạm nghiệp sát.
Dạy người giết, tuy không đích thân giết mà khiến cho người khác
giết chính là tâm và khẩu tạo nghiệp sát. Hoặc không tự dạy cũng
không tự giết, mượn phương tiện thi thuyết khiến cho họ chết, đó gọi
là phương tiện giết, là ư đă tạo nghiệp sát. Khen ngợi giết, là
dùng lời lẽ khen ngợi khiến cho người khác phấn chấn hành động giết
hại, thích ư mà làm, đây cũng thuộc về khẩu nghiệp hành động tạo
nghiệp. Thấy người giết mà vui theo là thấy người khác làm việc sát
hại, tuy không dạy, không tán thán nhưng trong tâm có ư niệm vui
theo. Đây thuộc về ư nghiệp. Cho đến chú thuật giết, phương pháp
giết th́ rất nhiều, không cần nêu hết thêm phiền phức, nên chỉ nêu
đại lược thôi. Ở nước Tây Vức có ác chú, tụng thần chú ấy khiến cho
họ chết là cũng thuộc về tâm khẩu tạo ác.
Do trước đă nói rơ
tướng sát hại hoặc chỉ có nhơn giết, hoặc duyên giết không gây nên,
th́ không thành giết. Nếu hội đủ nhân giết, duyên giết mà trước khi
khởi niệm giết không có tâm tương tục, cũng không thành giết, cần đủ
ba sự kiện: Nhơn, Duyên và Phương tiện mới thành tựu nghiệp sát.
Nhơn sát, nghĩa là tất cả chúng sanh từ vô thủy đến nay, đầy đủ hạt
giống tham, sân, si, mười nhơn ác nghiệp, sơ tâm Bồ Tát Kiến tư các
hoặc, v.v... các phiền năo chướng chưa bỏ, tập khí sát sanh chưa dứt,
bỗng khởi một niệm hiện hành, nên gọi là nhơn sát. Duyên sát, nghĩa
là tâm ác giết người và súc vật, gây oan gia nhiều đời hội tụ làm
duyên. Phương pháp giết, nghĩa là dùng các phương tiện như : Dao,
trượng, lưới, ác chú, v.v...khiến cho họ mất mạng. Ba thứ nhơn,
duyên và phương pháp đầy đủ, mặc t́nh trở thành nghiệp sát để gây
nên tướng sát hại ở tương lai.
Do Bồ Tát nối tiếp
ḍng Phật, Thượng hoằng Hạ hóa, cầu đạo giải thoát, phải đem ḷng từ
bi, hành lục độ làm gốc, thế nên để giới Sát trước hết. Lại nữa,
chẳng những người mà tất cả thân mạng chúng sanh đều không được giết
hại, cho đến các loại nhỏ nhít như kiến, muỗi ṃng, lăng quăng có
mạng sống cũng không được giết. Các loài cây cỏ sanh trưởng cũng
không được gia hại, huống ǵ các sinh linh ư?
Hỏi: Bồ Tát độ khắp
tất cả kẻ oán, người thân, thấy giết đều ngăn, nhưng nếu cố giết tựa
hồ không có tâm từ...?
Đáp: V́ hàng Bồ Tát
xuất gia mà nói ngăn tất cả, như vị Quốc vương, Tể quan giết một
người cứu muôn người, hưng thiện diệt ác, chính là Đại bi tâm của
hàng Quyền thừa Bồ Tát, nên có giới Giá, giới Khai,... mà nói không
được vô cớ, nếu v́ tâm riêng tư, danh lợi mà giết th́ thành nghiệp
sát.
Những Bồ Tát này, là
nói rơ Phật tử đă tu đạo th́ khuyên họ nên hành tâm từ bi là tâm căn
bản của Bồ Tát, chính là tâm địa pháp môn, phải nên thường hằng an
trụ, không quên, đừng để mất, nên nói: “Bồ Tát thường khởi tâm an
trụ niệm từ bi.”
Hai chữ “thường trú”
xuyên suốt tâm hiếu thuận, dùng tâm từ bi thương chúng sanh cũng như
mẹ thương con đỏ, thường ban vui và cứu khổ nó. Dùng tâm hiếu thuận
kính mến chúng sanh như Cha mẹ, không dám trái bỏ mà luôn luôn để
tâm phụng sự, phương tiện cứu giúp tất cả chúng sanh. Bốn chữ
“phương tiện cứu hộ” đây chính là tâm từ bi. Trong tâm hiếu thuận
cứu hộ chúng sanh, thiện xảo học xứ, khiến cho tất cả chúng sanh
được an vui, xa ĺa tất cả đao trượng, mà ngược lại, phóng tâm khoái
ư giết hại họ là phạm tội sát sanh. Người tu Bồ Tát hạnh, nếu thấy
chúng sanh bị khổ, không có phương tiện cứu giúp họ, c̣n thấy khuyết
tâm từ bi, trái với bổn hạnh, nỡ nào lại phóng tâm khoái ư làm việc
tổn hại ấy. Khởi tâm như vậy là đoạn mất tâm từ bi của chính ḿnh,
nên phải kết tội. Đây là Bồ Tát phạm tội Ba-la-di, vĩnh viễn bỏ ra
ngoài biển Phật pháp.
Ba-la-di là tiếng
Phạn, Trung Hoa dịch là Cực ác, cũng gọi là Tội khí, nghĩa là Bồ
Tát phạm tội này rồi, măi măi bỏ ra ngoài biển Phật Pháp, không được
vào trong chúng thanh tịnh đồng yết ma thuyết giới, tất cả việc Tăng
đều không có phần, nên gọi là khí tội. Phải đọa vào đường ác, nên
nói cực ác.
Giới thứ 2
TRỘM CƯỚP
Là Phật tử,
không được tự ḿnh trộm cướp, bảo người trộm cướp, phương tiện trộm
cướp, cho đến dùng bùa chú để cướp, nhơn trộm cướp, duyên trộm cướp,
cách thức trộm cướp, cho đến dù vật của quỷ thần đă có chủ, hoặc của
giặc cướp; nhẫn đến một cây kim, một cọng cỏ, đều không được trộm
cướp. Là Phật tử, lẽ ra phải có ḷng từ bi, ḷng hiếu thuận thường
cứu giúp cho mọi người được phước, được vui, mà trái lại trộm cướp
tài vật của người, Phật tử này phạm tội Ba-la-di.
Giải thích:
Giới thứ hai nói về
tướng trộm cướp. Trộm nghĩa là người ta không cho mà cố ư trộm lấy,
đoạt lấy hoặc cưỡng đoạt lấy đều gọi là tội trộm. Như Kinh Lăng
Nghiêm chép: “Tâm trộm không trừ th́ trần lao không ra khỏi, dầu có
trí tuệ, thiền định, hiện tiền tâm trộm không dứt, quyết chắc phải
đọa vào tà đạo, nên Phật ngăn cấm.”
Nếu Phật tử - một
cây kim, một cọng cỏ, không được cố trộm lấy, đây thuộc về Nhiếp
luật Nghi giới. Bồ Tát - khiến cho người được phước, được vui, gọi
là Nhiếp thiện Pháp giới.
Trước đă nói “đoạn
ác sanh thiện”, chính là Nhiêu ích Hữu t́nh giới.
Tự ḿnh trộm cướp,
là đích thân tự tay trộm lấy tài vật của người, gọi là tự trộm.
Khiến cho người khác trộm gọi là dạy người ăn trộm hoặc cướp đoạt.
Giả như lập phương tiện khéo léo để lấy, khiến người kia tự nhiên
đem đến cho, gọi là phương tiện trộm cướp. Tụng niệm chú thuật tà
đạo, dùng huyễn thuật khiến tài vật của họ tự nhiên đem đến, ấy gọi
là bùa chú trộm cướp.
Nhơn trộm nghĩa là
vô thỉ huân tập chủng tử tham cướp đoạt là “nhơn”, hoặc là khởi ư
niệm trộm cướp. Duyên trộm nghĩa là các vật báu như vàng bạc hiện
tiền giúp cho thành tâm trộm là “duyên”. Cách thức trộm chính là
lập ra mưu kế để trộm tài vật của người. Nghiệp trộm nghĩa là nhơn,
duyên, cách thức, ba việc đều đủ, đi đến hành động thành tội trộm
cướp để gây nên cái nhơn ở tương lai, làm súc sanh hay nô bộc, đời
đời phải chịu khổ báo. Chẳng những tài vật của nhân dân không được
trộm lấy, cho đến tài vật của thần, tài vật, dụng cụ trong đ́nh miếu
thờ cúng, của giặc cướp đă có chủ, nghĩa là tài vật họ đă cướp trộm
được rồi, cũng không được trộm lấy.
Tất cả tài vật, là
mượn vật thường để nói đến vật báu. Nhất định không được trộm lấy,
nghĩa là không luận tài vật tốt hay xấu, quư hay tiện, cũng không
được cưỡng đoạt lấy, dù vật nhỏ như cây kim cọng cỏ, không cho không
được đoạt lấy. Nếu cố ư đoạt lấy là phạm tội trộm, nên nói: “Không
được cố ư trộm lấy” và khuyên Phật tử phải hành tŕ. Đă là Bồ Tát,
phải quán tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, cũng như Cha mẹ ḿnh,
thế nên phải sanh ḷng hiếu thuận, cúng dường như Phật, như Cha, như
Mẹ. Nếu trộm lấy tài vật của họ, chính là trộm của Phật vậy. Đáng
lẽ ra phải sinh ḷng từ bi cứu giúp họ, v́ đó là bổn hạnh tâm địa
của Bồ Tát. Tâm từ bi là phải ban vui, cứu khổ chúng sanh, phải
quán chúng sanh như con ḿnh, nỡ nào phóng tâm khiến cho họ phải khổ
đói lạnh ư? Nên Kinh ghi: “Sanh tâm từ bi thường phải giúp đỡ tất
cả chúng sanh”. Văn trước chép: “Thường đầy đủ tâm từ bi hiếu thuận
nên phải giúp đỡ tất cả mọi người, sanh phước trong thân họ, sanh
niềm vui trong tâm họ, mà trái lại trộm tài vật của họ, thật là vô
lư.” Thế nên kết giới không nên làm, nếu làm sẽ phạm tội Ba-la-di.
Giới thứ 3
DÂM DỤC
Nếu Phật tử tự
ḿnh dâm dục, nhẫn đến tất cả các phái, không được cố ư hành dâm.
Nhơn dâm dục, duyên dâm dục, cách thức dâm dục, nghiệp dâm dục, nhẫn
đến súc sanh, quỷ thần (trống hoặc mái, nam hoặc nữ) cho đến phi đạo
hành dâm. Là Phật tử phải sanh ḷng hiếu thuận, cứu độ tất cả chúng
sanh, đem pháp thanh tịnh cho mọi người mà trái lại khởi tâm hành
dâm với tất cả, không luận súc sanh quỷ thần, nhẫn đến cha mẹ anh em
trong lục thân mà hành dâm, đó là không có tâm từ bi, Phật tử này
phạm tội Ba-la-di.
Giải thích:
Dâm nghĩa là cùng
với khác phái thân tâm giao cấu, nhiễm ô tịnh hạnh. Đây chính là
cội gốc luân hồi trong ba cơi, sáu đường sanh tử, nên Khế Kinh chép:
“Dâm tâm không đoạn, vĩnh viễn không được ra khỏi cảnh khổ sanh tử
luân hồi, dù người ấy có trí tuệ, thiền định hiện tiền, nếu không
đoạn dứt tâm dâm ắt phải lạc vào đường ma, do đó Phật chế giới.”
Tự ḿnh hành dâm,
nghĩa là tự thân cùng khác phái gây cái nhơn trói buộc, dạy người
dâm dục cũng khiến cho họ bị trói buộc, nhẫn đến tất cả người khác
phái, không được cố tâm hành dâm, các đối tượng hành dâm rất nhiều
loại, nhưng chỉ nêu một vài sự việc thôi. Nhân dâm dục, măn nguyện
sở thích không phải đơn giản mà hội đủ căn cảnh đối tượng mới thành,
thành rồi đó là nhơn hội đủ duyên dâm dục và cách thức cả ba thành
nghiệp dâm.
Nhân dâm dục, nghĩa
là từ vô thủy tập khí tham dâm làm “nhân”. Duyên dâm dục, nam nữ
khác phái hội hợp giúp thành dâm. Cách thức dâm nghĩa là vỗ về xoa
nắn, khiến cho t́nh cảm ái nhiễm bộc phát. Do cả ba yếu tố nhơn,
duyên, cách thức ḥa hợp th́ tự nhiên thành nghiệp dâm. Thành
nghiệp ấy rồi, tất nhiên thân phận cảm nhận nỗi khổ sinh tử luân hồi
trong lục đạo, không sao tránh khỏi các báo quả khổ đau triền phược
trong tam giới, nhẫn đến phải cảm nhận thân phận hạ đẳng như các
loài súc sanh, cầm thú, trâu ḅ, chó, lợn, heo, dê, v.v... .Nên Phật
dạy chẳng những đối với khác phái, Phật tử không được dâm dục, mà
cho đến các loài chúng sanh hay phi chúng sanh hành dâm cũng đều
trái phép. Ngoài thê thiếp là chánh dâm, cũng không nên phi đạo
hành dâm.
Với Phật tử tại gia,
Phật chế không được lang chạ ngoại dâm, cũng không được phi đạo và
phi thời hành dâm. Riêng đối với đệ tử Phật xuất gia th́ hoàn toàn
tuyệt hẳn, không để tâm móng tưởng v́ móng tưởng dâm cũng là nhơn
của tội.
Phần giới kinh Phật
đă dạy ngăn tất cả ác, sau khuyến tu tất cả thiện và nghĩ đến ân
chúng sanh mà Bồ Tát phải sanh ḷng hiếu thuận với tất cả chúng sanh,
mới xứng đáng là Phật tử Bồ Tát. Không như kẻ vô trí, Bồ Tát phải
biết quán sát tất cả nam tử là cha ta, tất cả nữ nhân là mẹ ta,
không dám xâm phạm, nên nói: “Phải sanh ḷng hiếu thuận, cứu độ tất
cả chúng sanh, đem tịnh pháp ban cho họ, ḿnh và người, làm lợi cả
hai, nghĩa là đem pháp thanh tịnh của ḿnh mà chia xẻ cho người,
khiến cho họ đoạn dứt cội gốc sanh tử, cứu độ tất cả chúng sanh
thoát khỏi khổ trói buộc trong ba cơi.” Bồ Tát có ḷng từ bi dẫn
dắt chúng sanh , ban tịnh pháp cho người. Nếu Bồ Tát không sanh tâm
làm lợi ích chúng sanh như thế th́ chẳng phải Bồ Tát, ngược lại,
khởi tâm xấu hành dâm tất cả mọi người, không luận là súc sanh, cho
đến hành dâm với cha mẹ, anh em trong lục thân, khiến cho họ rơi vào
hầm hố ái dục, không có tâm từ bi, Bồ Tát như thế phạm tội Ba-la-di.
Giới thứ 4
VỌNG NGỮ
Nếu Phật tử,
tự ḿnh nói dối, dạy người nói dối, phương tiện nói dối, nhân nói
dối, duyên nói dối, cách thức nói dối, nghiệp nói dối, cho đến không
thấy nói thấy , thấy nói không thấy, thân và tâm nói dối. Bồ Tát
phải sanh tâm nói chánh ngữ, chánh kiến và cũng khiến cho tất cả
chúng sanh nói chánh ngữ, chánh kiến. Trái lại, nếu khiến cho mọi
người nói lời tà ngữ, tà kiến, tà nghiệp, Phật tử này phạm tội
Ba-la-di.
Giải thích:
Vọng ngữ nghĩa là
lời nói dối gạt, không thật, ngay cả vấn đề chưa được nói đă được,
chưa chứng nói đă chứng, chẳng phải là Thánh nhơn, tự nói ta là
Thánh nhơn, chẳng phải được pháp hơn người mà nói ta được pháp hơn
người, đây là lời dối gạt kẻ ngu, cũng là tự dối gạt ḿnh. Nếu xét
cho cùng, tâm đó là kẻ cầu thanh danh, tham lợi dưỡng, đó là ư đồ
hành vi bất thiện, tạo nghiệp luống dối.
Tự nói dối, là tự
ḿnh nói ta là Thánh nhơn, ta đă ngộ đạo, ta là tổ sư thứ mấy v.v...
Nên kinh ghi: “Tự ḿnh nói dối, dạy người nói dối. Hoặc dạy đệ tử,
hoặc khiến cho bạn bè truyền nói, giống như ta nói, nên nói dạy
người nói dối.” Phương tiện nói dối, là dùng lời xảo quyệt nói, hợp
với cơ nghi người nghe, tự nhiên họ tin. Nhơn nói dối chính là
chủng tử tham lam từ vô thủy đến nay dối gạt hư vọng, thói quen là “nhơn”.
Duyên nói dối là hiện tiền nói lời dối gạt, giúp cho thành “duyên”.
Cách thức nói dối là muốn cho kẻ ngu sanh ḷng tin cậy, ắt có phương
pháp đặt điều dối gạt nói. Nghiệp nói dối là do nhơn, duyên, cách
thức, ba việc hợp lại, hiển nhiên thành nghiệp, đọa địa ngục Vô gián.
Cho đến không thấy
nói thấy, thấy nói không thấy, v.v... chẳng những đại vọng không
được cố phạm, cho đến dối gạt không được sai phạm như không thấy nói
thấy, thấy nói không thấy, đều không được nói dối gạt. Không thấy
nói thấy, như chưa từng thấy người kia làm ác, v́ thuận theo ư người,
nói là tôi thấy. Thấy nói không thấy, như thật thấy người kia làm
tốt nhưng do tâm ganh tỵ, tật đố mà nói, tôi chưa thấy người kia làm
tốt bao giờ.
Thân và tâm nói dối,
nghĩa là trước không thấy nói thấy, v.v... đă thốt ra lời nói ở
miệng, miệng thuộc về thân, miệng không tự nói, do tâm kích động nói
ra. Như giới trước đă nói, chính là Nhiếp luật nghi giới. Sau
khuyên nên tu chính là Nhiếp thiện pháp giới, đă thốt ra lời nói
chân thật, chính là Nhiếp chúng sanh giới mà Bồ Tát thường sanh ḷng
từ bi cứu độ chúng sanh là Nhiêu ích chúng sanh.
Nếu là Bồ Tát, phàm
có nói ra lời ǵ, thường phải chánh ngữ, cũng khiến cho chúng sanh
phát ra lời nói chánh ngữ, chánh kiến. Chánh ngữ nghĩa là lời nói
chân thật, không tà bậy, thiên chấp, dối gạt người. Chánh kiến tức
là thấy một cách chính xác, không điên đảo, sai lệch. Nói lời chơn
chánh, th́ tầm nh́n và thấy cũng chân thật, do tự ḿnh đă nói lời
chân thật , không luống dối, mới khiến cho người khác đặt niềm tin
vào ḿnh, thế nên cần phải khiến cho tất cả chúng sanh cũng nói
chánh ngữ, chánh kiến, trở về quy y nơi Phật, làm người chơn chánh.
Nếu là Bồ Tát tự
ḿnh không có chánh ngữ, chánh kiến đă chẳng phải trí hạnh của Bồ
Tát, huống ǵ lại khiến cho tất cả chúng sanh khởi tâm tà ngữ, tà
kiến, tạo tà nghiệp, tội kia làm sao kể xiết. Thế nên nói Bồ Tát
phạm tội Ba-la-di. Chỉ trừ cứu người gặp nạn gấp, phương tiện quyền
xảo, tất cả làm lợi ích cho người, chẳng những không lỗi mà c̣n có
công đức.
Giới thứ 5
BÁN RƯỢU
Nếu Phật tử tự
ḿnh bán rượu, dạy người bán rượu, nhân bán rượu, duyên bán rượu,
cách thức bán rượu, nghiệp bán rượu. Là Phật tử tất cả rượu không
được bán, v́ rượu là nhân duyên sanh ra các tội lỗi. Là Phật tử, lẽ
ra phải làm cho tất cả chúng sanh có trí tuệ sáng suốt mà trái lại
đem sự say mê điên đảo cho chúng sanh, Bồ Tát này phạm tội Ba-la-di.
Giải thích:
Bán rượu, nghĩa là
làm ra rượu bán cho người, đem rượu cho người, người bị hại không ít,
hay khiến cho người uống rượu, phần nhiều khởi tâm không tốt, làm
nước mất, nhà tan, tán thân mất mạng. Các thứ ác họa không ǵ không
tạo, đều do uống rượu mà ra, nên Phật chế giới ngăn cấm. Tự bán
rượu, nghĩa là tự ḿnh tham lợi mà mua bán đổi chác. Dạy người bán
rượu có hai nghĩa:
1. Dạy người bằng
lối tạo tác mua bán đổi chác.
2. Dùng vốn của
ḿnh chia cho họ chút phần lời.
Nhơn bán rượu, tâm
tham lợi từ vô thủy làm “nhơn”. Duyên bán rượu, nghĩa là gạo, mạch,
công nhân, đầy đủ các thứ, v.v... để trợ giúp cho thành rượu. Cách
thức bán rượu, ủ gây thành men rượu, đó là phương pháp. Nghiệp bán
rượu, do nhân, duyên, cách thứa ḥa hợp lại. Việc nấu rượu là
nghiệp, hễ gây ra th́ phải chịu quả báo vô trí, tối dốt, các khổ đời
sau. Nên nói tất cả rượu không được bán.
Từ những thứ rượu
bằng gạo, mạch cho đến trái nho, táo, dương mai cho đến các thứ trái
cây, v.v...tất cả đều không được tạo . Sở dĩ nói như thế, v́ tất cả
rượu đều là nhân duyên gây tất cả nghiệp tội, nên Tứ Phần Luật ghi:
“Rượu có ba mươi sáu lỗi, trước hết bất hiếu với Cha mẹ, không kính
Tam bảo, chết rơi vào cảnh băng giá, đọa địa ngục thiêu đốt.” Lại
nữa, Trí Độ Luận ghi: “Uống rượu có 35 lỗi, trước hết hiện đời đói
khát, đời sau không có trí tuệ, thân tâm tối dốt, thật là thuốc độc
ở thế gian, ác liệt hơn chất đá độc và lông chim chẫm.”
Xưa có một vị Ưu bà
tắc, do uống ly rượu mà các giới đều phá. Nên nói: “Nhơn duyên tạo
tội do rượu mà ra”, như trước đă nói:”Dứt tất cả ác để rơ chánh hạnh
Phật tử đă hành, chính là tu tất cả thiện” trong đó nói rơ đoạn ác
tu thiện là Nhiêu ích chúng sanh giới mà Bồ Tát hạnh phải khiến cho
chúng sanh có trí tuệ sáng suốt, trái lại phạm tội.
Minh đạt là trí tuệ
chiếu soi thấu rơ nghĩa lư, Bồ Tát nương vào trí tuệ, dùng đại trí
tuệ quang minh, tự giác, giác tha đem hết phương tiện quyền xảo,
khai hóa chúng sanh, phải khiến cho họ mỗi mỗi đều phát sanh trí tuệ
sẵn có của ḿnh, đối với các sự lư tự nhiên thông đạt. Nếu không
làm được như thế th́ mất phương tiện hạnh của Bồ Tát, huống ǵ tự
ḿnh đem rượu bán cho người, khiến cho chúng sanh phát sanh tâm điên
đảo ư? , nên kết lỗi và nói “Đây là Bồ Tát phạm tội Ba-la-di.”
Giới thứ 6
RAO NÓI LỖI
CỦA BỐN CHÚNG
Nếu Phật tử tự
ḿnh rao nói tội lỗi của Bồ Tát xuất gia, Bồ Tát tại gia, Tỳ kheo,
Tỳ kheo ni, hoặc bảo người rao nói những tội lỗi ấy, nhơn rao nói
tội lỗi, duyên rao nói tội lỗi, cách thức rao nói tội lỗi, nghiệp
rao nói tội lỗi. Là Phật tử, lẽ ra khi nghe những kẻ ác, hàng Nhị
thừa, ngoại đạo nói những lời phi pháp, trái luật trong Phật pháp,
phải có ḷng từ bi luôn luôn giáo hóa những kẻ ác ấy, khiến cho họ
có tín tâm lành đối với Đại thừa mà trái lại Phật tử lại tự ḿnh rao
nói những điều không tốt trong Phật pháp, Phật tử này phạm tội
Ba-la-di.
Giải thích:
Nói lỗi là một h́nh
thức hủy báng. Có hai cách:
1. Chánh lư mà đem
ra để luận bàn thị phi
2. Phi lư mà
luận bàn so sánh.
Đây đều là phi lư
luận bàn.
Nói lỗi của bốn
chúng, chính là luận bàn, dị nghị chúng xuất gia là Tỳ kheo, Tỳ kheo
ni và Bồ Tát. Ḿnh đă là Bồ Tát, là bạn đồng hành với nhau, người
khác không lỗi th́ không nên phỉ báng chê bai. Giả sử họ có lỗi,
ḿnh phải dùng tâm từ bi khuyên dụ họ, khiến cho họ biết lỗi để cải
đổi, sám hối đó mới là việc then chốt cần yếu nhất, lẽ đâu lại đi
nói lỗi của bạn đồng tu cho người ngoài biết ư? Nếu thế th́ tự ḿnh
hủy nhục pháp môn của ḿnh, khiến cho Thánh đạo không được thạnh
hành, tội này không phải nhẹ, nên Phật ngăn cấm.
Tự ḿnh nói, nghĩa
là lỗi phỉ báng phát xuất từ miệng ḿnh.
Bốn chúng xuất gia
và tại gia, chính là người phát tâm Đại thừa, đă lănh thọ giới pháp
Đại thừa nên gọi là Bồ Tát. Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, riêng chỉ cho hai
chúng xuất gia là những người tuy thọ giới Thanh văn nhưng bên trong
ẩn hạnh Bồ Tát.
Dạy người nói tội
lỗi của người khác, có hai h́nh thức:
1. V́ ḿnh có tâm
oán hận riêng tư, muốn hạ nhục người ấy nên sai người khác phô bày
những lỗi lầm của người kia để thích ư thỏa ḷng.
2. Người kia
nghe sanh tâm buồn rầu, khiến phải sân hận.
Rao nói tội lỗi của
người, nghĩa là bảo người này phạm tội ǵ đó hoặc nặng hay nhẹ, để
cho người khác phải khinh khi. Mặc dầu chỉ nói lỗi một người, nhưng
thật ra là đă xúc phạm đến tứ chúng mà không biết, phạm tội ngũ
nghịch, căn cứ vào lời ấy mà định nên nói là tội lỗi, v́ tứ chúng là
người hoằng dương và trụ tŕ Tam bảo.
Là Phật tử chẳng
những không được tự ḿnh rao nói tội lỗi của người khác mà cũng
không được dạy người khác nói lỗi. Đă là Phật tử phải luôn luôn
khéo giữ ruộng phước, ấy là chánh hạnh của Bồ Tát.
Nhơn rao nói tội lỗi,
nghĩa là từ vô thủy đến nay tập khí ác khẩu là “nhơn”. Duyên rao
nói tội lỗi, nghĩa là người kia bị chút thành tích không tốt, lấy
chút cớ ấy để rao bày điểm xấu của người gọi là “duyên”. Cách thức
rao nói tội lỗi, nghĩa là bộc lộ tâm địa bất thiện, vẽ rắn thêm chân,
thêm bớt nhiều điều của người bằng cách này cách khác, mục đích làm
cho ai nghe nói cũng tin. Nghiệp rao nói tội lỗi, hợp bởi ba việc
trên là nhơn, duyên, cách thức đầy đủ tạo thành câu chuyện hay sự
việc nói ra, phô bày lỗi xấu của người. Bốn sự kiện này kết thành
nghiệp báo đời sau phải chịu cảnh khổ địa ngục cắt lưỡi. Như giới
trước đă nói, dứt tất cả điều ác, tu tất cả điều lành. Đoạn ác tu
thiện là Nhiếp chúng sanh giới.
Bồ Tát nghe kẻ ác và
ngoại đạo là bọn ác độc tà kiến, v́ đoạt mất huệ mạng của Phật,
khiến cho chúng sanh phải rơi vào ba đường ác nên gọi là kẻ ác.
Hàng Nhị thừa cũng là kẻ ác, v́ không phát tâm nối huệ mạng Phật,
cũng gọi là ác. Hơn nữa, kẻ ác hay nói những điều phi pháp, phi
luật. Trong Phật pháp, v́ hàng Nhị thừa không thấu rơ cảnh giới
nghịch hạnh của Bồ Tát, hoặc thuận hay nghịch đều là diệu dụng của
Bồ Tát trong Phật pháp, do đó họ thấy Bồ Tát làm nghịch hạnh mà cho
rằng phi pháp, phi luật. Nên Bồ Tát nghe lời ác này sanh tâm từ bi
thương xót chúng sanh, giáo hóa họ, khiến cho họ cải ác tùng thiện,
bỏ tà quy chánh, đối với hàng Nhị thừa th́ xả tiểu hướng đại, ngỏ
hầu làm hột giống chánh đạo ngày càng thêm lớn. Nếu không khai hóa
được như thế th́ ḷng từ của Bồ Tát chưa được dung thông, Bồ Tát lẽ
đâu tự ḿnh rao nói tội lỗi của người ư? Nên cuối cùng nói: “Bồ
Tát này phạm tội Ba-la-di.”
Giới thứ 7
TỰ KHEN M̀NH
CHÊ NGƯỜI
Nếu Phật tử tự
khen ḿnh chê người, cũng như bảo người khác khen ḿnh chê người,
nhơn chê người, duyên chê người, cách thức chê người, nghiệp chê
người. Là Phật tử lẽ ra phải chịu thay những sự khinh chê khổ nhục
cho tất cả chúng sanh, ḿnh nhận lấy việc xấu, nhường cho người việc
tốt. Nếu Phật tử phô trương tài đức của ḿnh mà che giấu điều hay
tốt của người, làm cho người bị khinh chê, Phật tử phạm tội Ba-la-di.
Giải thích:
Đưa công đức của
ḿnh lên gọi là tự tán thán khen ngợi. Chê bai lỗi xấu của người
khác gọi là hủy nhục. Phô bày tốt, che cái xấu cho người, không hại
cả ḿnh và người, đó chính là bổn hạnh lợi sanh của Đại sĩ. Khen
ḿnh chê người, lợi ḿnh tổn người, chẳng phải tâm từ bi của Bồ Tát.
Tự khen ḿnh chê
người là đưa ta lên và d́m người xuống, đủ hai lỗi này là phạm trọng
tội.
Dạy người có hai
cách:
1. Dạy người khen
ḿnh chê người, hoặc hiện tướng, hoặc sai khiến đem thơ đến.
2. Dạy người kia
tự tán thán đức hạnh của ḿnh, khinh hủy người khác.
Trước khi khởi tâm
khen ngợi tán thán, tâm đó là nhân, tâm tương tục giúp thành duyên,
dùng các thứ phương tiện khéo léo là cách thức, người đối diện nhận
hiểu là nghiệp. Trong bốn câu này, chỉ đơn cử việc hủy báng người
khác, không nói tự khen ngợi ḿnh, v́ lược bớt văn từ.
Lại tự khinh hủy
người khác và khen ngợi ḿnh, đem điều hay tốt về ḿnh, khiến người
khác phải chịu nhục, đó là ác tâm nặng nề về một mặt, nên nêu tội
nặng bao gồm tội nhẹ. Ngược lại, người chịu thay người khác th́
không làm cho họ phải chịu nhục, dẫn việc xấu xoay về ḿnh, quyết
không nên tự khen ḿnh.
Dương là tán thán
khen ngợi. Ẩn là ẩn khuất, tự đưa ḿnh lên, sợ ḿnh không hơn người.
D́m điều hay tốt của người sợ người hơn ḿnh, chỉ biết lợi ḿnh,
không đếm xỉa người khác bị hại là chẳng phải Đại sĩ. Đem điều xấu
đổ về ḿnh, đưa điều tốt đẹp của người lên đó là “thiện tâm”
Tự ḿnh chê bai
người khác chính là nghiệp dẫn dắt nên mắc tội nặng. Nếu bị dắt dẫn
vào đường tà rồi trở về chánh đạo, chê Nhị thừa, khiến họ trở về
Nhứt thừa, tuy lỗi giống như là chê bai mà thực ra tâm là Đại từ bi,
đây chính là tâm từ bi hoằng hóa thương xót chúng sanh, đại nguyện
kiến lập pháp tràng, đâu được dụng tâm chấp nhơn, ngă, bỉ, thử, hơn,
thua mà luận bàn, đồng ḷng mà nói ư?
Kinh Tŕ Địa chép:
“Khinh khi ngoại đạo mà khen ngợi Phật pháp, nếu dùng phương tiện để
điều phục họ, chưa tin khiến cho tin, đă tin khiến cho tăng trưởng
th́ không phạm.”
Giới thứ 8
BỎN XẺN THÊM
MẮNG ĐUỔI
Nếu Phật tử tự
ḿnh bỏn xẻn, nhơn bỏn xẻn, duyên bỏn xẻn, cách thức bỏn xẻn, nghiệp
bỏn xẻn. Nếu là Bồ Tát, thấy tất cả người bần cùng nghèo khổ đến
xin, theo sự cần dùng của họ mà cấp cho tất cả. Trái lại, Bồ Tát
lại dùng ác tâm, sân tâm, nhẫn đến không cho một tiền, một cây kim,
một cọng cỏ, có người đến cầu hỏi giáo pháp, chẳng nói một kệ, một
câu mà trái lại c̣n mắng nhiếc hủy nhục, Bồ Tát này phạm tội
Ba-la-di.
Giải thích:
Người đến xin thí
tài, thí pháp mà không cho gọi là bỏn xẻn (nhơn bỏn xẻn, duyên bỏn
xẻn, cách thức bỏn xẻn). Sân hận mắng nhiếc hủy nhục gọi là gia hại,
như thế trái với đạo từ bi, trái với hoài băo lợi sanh của Bồ Tát.
Bồ Tát thực hành bố
thí Ba-la-mật, không lựa kẻ thân người sơ. Nếu người đến cầu xin bố
thí pháp hay tiền của, Bồ Tát đều cho, đâu phân biệt tốt hay xấu.
Nếu họ đến xin, không có tâm bố thí mà lại thêm đánh đuổi quở mắng
là rất trái với giới hạnh của Bồ Tát.
Tự ḿnh bỏn xẻn,
hoặc miệng nói, hoặc hiện tướng bỏn xẻn, hoặc ẩn tránh không cho tài
pháp, hoặc nói không có, tay cầm gậy xua đuổi, hoặc dùng lời ác mắng
nhiếc. Dạy người bỏn xẻn, là hoặc dạy người khác cất giấu tiền của
không cho, hoặc dạy người gia hại mắng nhiếc. Khi mới khởi tâm như
thế là nhơn, tiếp theo trợ giúp cho bỏn xẻn là duyên. Dùng mọi
phương tiện khéo léo thực hiện việc bỏn xẻn là cách thức bỏn xẻn.
Người đối diện hiểu rơ lời nói trên đó, thành tựu việc bỏn xẻn là
nghiệp bỏn xẻn. Bốn câu này, không nói thêm lời hủy mắng đánh đuổi.
Trước do tâm bỏn xẻn, sau thêm đánh đuổi hủy nhục, nếu không bỏn xẻn
mà chỉ hủy nhục là thuộc về phạm khinh tội (tội nhẹ).
Kinh Ưu Ba Ly Vấn
Phật chép: “Đă ở trong căn bản tội, sao c̣n gọi là nặng? Phật dạy:
Trụ trong giới Đại thừa Bồ Tát, như phạm hằng hà sa số tội tham,
cùng với một tội sân. So sánh trong hai tội này, sân thuộc về tội
nặng v́ hiện sân giận xa ĺa chúng sanh, hiện tham ái hộ chúng sanh,
th́ không bị phiền năo.” Đối với Bồ Tát, không có các sự lo sợ tai
ương hoạnh tử, nên Học Luận chép: “Sân là bổn tánh của đại tội,
không sanh phương tiện thương xót, hành động sân giận, chẳng những
không lợi ích mà c̣n trưởng dưỡng phiền năo, giảm mất tâm bi mẫn
chúng sanh, ấy là lỗi rất lớn.”
Giới này nói về bỏn
xẻn keo kiệt, đă tiếc của lại c̣n thêm đánh mắng hủy nhục. Nếu
nghèo mà hay làm việc bố thí th́ không có các lỗi sân, hận, hủy nhục.
Kinh Chánh Pháp Niệm Xứ chép: “Nếu trước thiếu phần suy nghĩ về ḿnh,
rồi sau không bố thí, đọa vào loài quỷ đói. Nói mà không cho th́
đọa vào địa ngục.” Tất cả là chỉ Tăng tục, nam nữ.
Nghèo khốn cùng khổ
có hai loại:
1. Thân nghèo đói
khổ, cần tiền của nên thí cho tài vật.
2. Tâm nghèo khổ,
cần pháp thí th́ nên thí cho món ăn tinh thần pháp thí, nên nói tùy
theo sự cần dùng, tất cả đều cung cấp cho.
Kinh Quyết Định Tỳ
Ni chép: “Bồ Tát tại gia nên thực hành hai pháp thí:
1. Tài thí
2. Pháp thí
C̣n Bồ Tát xuất gia
nên thực hành bốn cách thí:
1. Thí cho giấy
2. Thí cho mực
3. Thí cho viết
4. Thí cho pháp.”
(V́ người xuất gia
không có tiền của th́ cho giấy, mực, viết, pháp, chút ít dễ làm,
khiến cho thành tựu được kinh sách, cũng gọi là thí pháp.)
Bồ Tát đắc nhẫn thực
hành 3 cách bố thí:
1. Ngôi Vua
2. Xả thí vợ con
3. Xả thí da
thịt, xương cốt.
Phàm phu Bồ tát tùy
sức tùy nghi thí cho. Nếu gặp người không nên thí pháp hoặc họ căn
tánh ám độn, hạ liệt chẳng phải pháp khí, hoặc nghe pháp quá sâu xa,
ngược lại sanh tâm hủy báng, hoặc người nữ đến cầu pháp mà không có
nam tử thân nhân ở bên, thời không nên v́ họ nói, cũng không nên thí
tài, có khi thí tiền tài không được phước, nhẫn đến c̣n hại thân
mạng, th́ không nên thí cho.
Kinh Tŕ Địa chép:
“V́ sao Bồ Tát dùng chút căn lành, được vô lượng kết quả? V́ Bồ Tát
dạy chúng sanh có căn cơ hạ liệt, dùng chút ít tài vật gieo xuống
phước điền, nhẫn đến chỉ thí một sợi bún nhỏ cho súc sanh. Thí rồi
hồi hướng đạo Vô thượng Bồ đề, nhờ dùng sức hồi hướng, nên được kết
quả vô lượng.”
Cho đến ... , là
luận về tiền tài theo số nhiều, cho đến rất nhỏ như cây kim, ngọn cỏ.
Đây muốn nói, người không có tiền của, không thể tùy ư thí. Luận về
pháp, th́ nói rộng ra, cho đến rất ít, chỉ nói một câu hay một hạt
bụi nhỏ, đây ư nói ít biết không nghe, nên không thể nói rộng được.
Nếu thật không có pháp sở đắc, mà nói dối, nói xằng, nói bậy khiến
cho người bị mê lầm, mắc tội không phải nhẹ. Nếu có mà không bố thí
cho người lại thêm xua đuổi mắng chửi nhục mạ, thời gây cả hai tội
bỏn xẻn và hủy nhục, đây chính là “nghiệp chủ” nên mắc tội nặng.
Không phạm nghĩa là
thấy người kia do bị quở trách và mắng nhiếc nên hối lỗi, nhờ sự
chiết phục ấy mà sửa lỗi, tự không có ác tâm, sân tâm, tùy theo căn
cơ được lợi ích, chính là diệu dụng cơ nghi của bậc Đại sĩ. Nên
Kinh Tŕ Địa chép: “ Nếu biết Pháp mà không nói khiến họ được điều
phục, nếu biết người trước không hay kính trọng, nếu oai nghi không
tề chỉnh hoặc căn cơ họ ám độn, nghe diệu pháp thâm sâu, sanh ḷng
lo sợ, hoặc biết họ nghe rồi tăng trưởng tâm tà kiến, hoặc nghe chê
bai thối thất, hoặc nghe rồi nói lại cho người ác, phá hoại chánh
pháp, như vậy không nói th́ không phạm.”
Giới thứ 9
GIẬN HỜN
KHÔNG CHỊU SÁM HỐI
Nếu Phật tử tự
ḿnh sân giận, dạy người sân giận, nhơn sân giận, duyên sân giận,
cách thức sân giận, nghiệp sân giận. Bồ Tát đáng lẽ ra phải gieo
căn lành cho tất cả chúng sanh không gây gỗ, thường có ḷng từ bi,
ḷng hiếu thuận mà trái lại đối với tất cả chúng sanh, nhẫn đến
chẳng phải chúng sanh, đem lời ác mạ nhục, c̣n thêm dùng tay chân
dao gậy để đánh đập mà vẫn chưa hả dạ, cho đến khi họ đến cầu xin
sám hối tạ tội nhưng vẫn c̣n chưa hả giận, Phật tử này phạm tội
Ba-la-di.
Giải thích:
Tâm sân giận hoặc
người xúc phạm đến ḿnh, hoặc ḿnh xúc phạm đến người, người kia
biết lỗi, thành tâm cầu xin sám hối mà Bồ Tát trong ḷng ôm sự sân
hận, ngoài hiện tướng không giận nhưng trong ḷng buồn rầu khổ năo
là trái với hạnh Bồ Tát.
Tự ḿnh sân, là để
trong ḷng sự giận dữ, ngoài phát ra thân khẩu nghiệp. Bắt đầu mống
tâm khởi sân là nhơn. Tâm sân hận ư niệm không dứt tạo thành duyên
sân. Dùng các cách đánh đập mắng nhiếc là phương pháp hay cách thức
sân, tạo thành nghiệp sân. Kinh Hoa Nghiêm chép: “Một niệm sân tâm
khởi, trăm vạn cửa chướng mở” (Nhứt niệm sân tâm khởi, bá vạn chướng
môn khai). Phải biết một niệm mới manh nha c̣n vậy, huống ǵ các
duyên sân tâm tương tục mà không thành nghiệp sân sao? Nghiệp thành
rồi th́ tai ương sa đọa, ch́m đắm, lôi kéo, oán thù kết nối muôn đời,
hết đời này sang đời khác không hết, thật đáng thương thay!
Tất cả chúng sanh
tâm địa vốn thiện, do bị chướng ngại vô minh phiền năo ngăn che, bậc
Đại sĩ phải dùng ḷng từ bi khiến cho chúng sanh phát khởi căn lành
từ bi của ḿnh để xả bỏ vô minh phiền năo chướng, th́ không có việc
đấu tranh, huống ǵ tự ḿnh không chịu cho họ sám hối tạ tội để phát
khởi sự tranh căi ư? Bồ Tát phải luôn nhớ đến tất cả chúng sanh,
như con đỏ của ḿnh, nhẫn chịu sự hủy nhục, đó là tâm từ bi của ḿnh.
Thường quán tất cả chúng sanh như cha mẹ, đâu nỡ ngỗ nghịch với họ,
ấy là tâm hiếu thuận. Bậc Đại sĩ làm cho chúng sanh phát khởi tâm
lành, lại c̣n thể hiện ḷng từ bi hiếu kính, th́ làm sao bức năo
chúng sanh được.
Phi chúng sanh là
bậc Tam thừa Thánh nhơn, và người biến hóa. Đánh mắng sỉ nhục là
thân và khẩu nghiệp. Tay đánh là thân nghiệp, niệm sân không dứt là
ư nghiệp. Do ba nghiệp này năo loạn, dữ hơn lang sói. Không cởi mở,
không dứt tâm sân, nên thành tội nặng.
Không phạm là dù
người đă biết lỗi cầu xin sám hối với tâm hối không thật, niệm sám
không tha thiết, Bồ Tát cũng nên đem tâm từ bi khiến cho họ biết cải
đổi lỗi trước, không dám tái phạm lỗi sau. Phải chỉ rơ cho họ biết
tướng sân hận, hoặc chiết phục những chúng sanh ngỗ nghịch, vô tâm
ác tánh tà kiến, bậc Đại sĩ ngoài hiện uy phong, nhưng tâm thực là
từ bi, miệng quở trách bài xích mà trong tâm rất thương xót. Đây
chính là đại dụng của Bồ Tát để điều phục chúng sanh cang cường, lẽ
đâu đem họ so sánh với kẻ đủ ba độc?
Kinh Tŕ Địa chép:
“Nếu dùng phương tiện mà điều phục họ, nếu họ không như pháp sám hối,
tâm họ bất b́nh, không chịu sám hối, th́ không có lỗi.”
Giới thứ 10
HỦY BÁNG TAM
BẢO
Nếu Phật tử tự
ḿnh hủy báng Tam bảo, xui người hủy báng Tam bảo, nhơn hủy báng,
duyên hủy báng, cách thức hủy báng, nghiệp hủy báng. Phật tử khi
nghe một lời hủy báng Tam bảo của ngoại đạo và kẻ ác, c̣n đau ḷng
như ba trăm cây nhọn đâm vào tim ḿnh huống là tự ḿnh hủy báng,
không có đức tin và ḷng hiếu thuận đối với Tam bảo, lại c̣n giúp
sức cho những kẻ ác và tà kiến hủy báng nữa, Phật tử này phạm tội
Ba-la-di.
Giải thích:
Tự ḿnh đem tâm tà
kiến, báng loạn chánh pháp. Tội hủy báng mắng nhiếc kia th́ có thể
sám hối, riêng tội báng loạn chánh pháp, c̣n gọi là hủy báng Bồ Tát
tạng, th́ tội rất nặng.
Lấy tà làm chánh,
lấy chánh làm tà, phỉ báng kinh luật và Bồ Tát, bảo rằng kinh luật
này chẳng phải Phật nói, ấy là phỉ báng đức Thế Tôn; nói chẳng phải
Đại thừa kinh điển là báng Pháp, người thọ tŕ kinh điển và đọc tụng
chẳng phải đệ tử Phật, ấy là báng Tăng. Hoặc tự thốt ra lời tà kiến,
dựng lên tà thuyết, tự cho là chánh pháp, hoặc theo tà sư lănh nạp
tà ngữ, biên chép sao tả sách vở tà mị, như dùng lời dạy của Lăo
Trang sánh bằng giáo lư của Phật, lấy thuật trị thế, so sánh pháp
môn tâm địa Phật nói, để hoặc loạn tâm người, làm mê lầm người sau,
đánh mất chánh đạo, vùi lấp trong đường tà, truyền bá đời sau, măi
măi không dứt, chịu tai ương muôn kiếp, đoạn dứt chủng tử Phật tánh
rồi mắc tội, không phải Nhứt-xiển-đề th́ không chỗ nào dung chứa
được. Khi tâm mới khởi tà kiến là nhân, tà tâm tương tục là duyên,
giúp nhau thành việc hủy báng là các phương pháp xảo thuyết hay cách
thức hủy báng, người nghe lănh hiểu là nghiệp hủy báng. Hoặc tâm
muốn nói, miệng chưa nói ra th́ chưa thành trọng tội. Hoặc tự phát
ngôn, hoặc nói cho người khác, hoặc khiến cho người truyền nói, đối
tượng nhận hiểu lời tà ngụy ấy dù chỉ một lời cũng là trọng tội.
Nếu viết sách bằng ngôn ngữ báng loạn, người xem nhận hiểu th́ mỗi
lời, mỗi lời đều là trọng tội. Tín đồ dị học của Trung Hoa và Thiên
Trúc, cho đến Bồ Tát ngoài tâm cầu pháp, đều thuộc về ngoại đạo.
Không có tâm tin Đại thừa, thường trụ Tam bảo, nên xả bỏ Đại giới
Tam địa để học theo dị đạo tà giáo, bài bác không có thiện ác nhơn
quả, đó gọi là bọn người ác. Một lời, nghĩa là khi nghe bọn người
ác, dù chỉ nói một lời, nhưng chẳng khác ba trăm kim nhọn đâm vào
tim ḿnh, huống ǵ tự ḿnh buông ra lời hủy báng, tâm của bậc Đại sĩ
làm sao chịu được? Thực đáng thương cho bọn tà kiến ác nhơn, tự xô
ḿnh xuống hố sâu tội lỗi, lại kéo thêm vô lượng chúng sanh lầm mê
đọa vào biển khổ.
Như mũi nhọn đâm vào
tim, không phải chỉ cho niệm sân hận hủy báng Tam bảo, Thể của Tam
bảo sáng như mặt trăng, mặt trời, ngón tay đâu có thể che khuất được
ánh sáng ấy. Như liệng búa chém trời, trái lại hại ḿnh. Bậc Đại
sĩ vốn đem tín tâm hiếu thuận để thọ chánh giới này, phải thường
kính thuận Tam bảo, không mảy may trái nghịch, lẽ đâu có thể phản
lại để theo bọn tà kiến ác nhân ngoại đạo, ham thích ngoại giáo,
hằng mất tâm địa đại giới Bồ Tát, không c̣n được gọi là đệ tử Phật
ư?
Nếu chưa bỏ chánh
giáo theo tà giáo, th́ chưa mất giới. Nhưng mới suy nghĩ nói: “Tam
bảo không bằng ngoại đạo, Đại thừa không bằng Nhị thừa”, tính toán
chưa dứt khoát, th́ phạm tội khinh. Dù tin Tam bảo và lư nhơn quả,
mà c̣n tin quỷ thần tà ma ngoại đạo, có oai lực rất linh cảm, bèn
bắt chước phù phiếm tế lễ, tấu tŕnh quỷ thần, hoặc khuyên người
khác tin thọ, đều phạm tội khinh. Hoặc chấp Đại thừa, phỉ báng Tiểu
thừa, bảo rằng không có Tiểu mà chỉ có Đại thôi, c̣n cho rằng Tứ A
Hàm và Biệt Giải Kinh (Luật) không phải Phật nói, đây là phỉ báng
Thanh văn tạng, cũng là tội khinh. Đâu biết ba đời chư Phật xuất
thế, tùy theo căn cơ chúng sanh mà thuyết giáo, đều nói Tam thừa, Tứ
quả Thanh văn, để làm ruộng phước cho Hiền, Thánh, Trời, Người, lẽ
đâu có thể khinh chê và hủy báng ư? Chỉ v́ hàng Nhị thừa không có
tâm lợi sanh nên Phật quở trách thế thôi. Người thời nay mới sơ cơ
học đạo, chưa phân biệt được lúa thóc, Thiền và Giáo c̣n mù mờ chưa
rơ, theo sự hiểu biết cạn cợt của ḿnh, tự ḿnh lầm lẫn, cho rằng
người tŕ giới là chấp tướng, liền chẳng thọ giới pháp. Phật gọi
những hạng người này là cư sĩ trọc hoặc người thọ giới mà không giữ
ǵn cấm giới. Luật gọi đó là phao lủng trong biển khổ. Nếu khinh
rẻ, bỏ cụ túc giới, cho rằng không cần thọ, như thế phạm khinh tội (tội
nhẹ).
Mười giới trọng này
đều là tánh tội, Tiểu thừa lấy rượu là Giá giới. Bồ Tát lấy việc
lợi ích chúng sanh là gốc, nếu khiến cho người khác mê hoặc tâm địa,
rượu cũng thuộc tánh tội. Như Luận Trí Độ chép: “Tánh giới là Thi-la.
Thân, khẩu tám thứ, nghĩa là thân ba, khẩu bốn, lại thêm giới rượu,
để ngăn ư địa, khiến cho thân tâm được thanh tịnh. Đó chính là ba
nghiệp của ư trong mười thiện nghiệp.” Số lượng tuy khác nhưng
nghĩa như nhau.
Tánh tội, nghĩa là
giới này không đợi Phật chế hay không, tánh chất của nó nếu phạm là
ác rồi, nên gọi là tánh tội. Luận Chỉ Quán chép: “Tánh giới nghĩa
là bất luận người thọ hay không thọ, phạm tức là có tội.” Người thọ
giới hay không thọ, giữ ǵn không vi phạm gọi là thiện. Nếu thọ
giới giữ ǵn cẩn mật không sai phạm thời sanh được phước, sai phạm
th́ mắc tội. Không thọ không sanh được phước. Không thọ nếu phạm
cũng không mắc tội khuyềt giới, chỉ có ác hạnh, vào nghiệp đạo.
Tội nghĩa là thọ giới mà sai phạm th́ mắc tội lại thêm tội khuyết
giới.
3. Phần tổng
kết
Này các Phật
tử, trên đây là mười giới trọng của Bồ Tát, các vị cần nên học.
Trong mười giới này không nên sai phạm một giới nào cả, dù một mảy
may nhỏ như vi trần, huống chi phạm cả mười giới ư?
Giải thích:
Chẳng trái bổn
nguyên tâm địa mà tu là khéo học. Người có ḷng từ bi cứu giúp
chúng sanh gọi là Nhơn giả. Đây là từ hay đẹp tán thán người học
giới, khuyến nên học, nên tŕ giới, nếu sai phạm tâm địa giới này
th́ phạm tội trọng, ắt phải chịu lấy báo khổ ở ngục A Tỳ. Nếu giữ
ǵn cấm giới này làm nhân sẽ chứng cực quả là giải thoát, do quả nên
không gọi là Ba-la-di mà gọi là “Ba-la-đề-mộc-xoa” chính là trong
quả đă nói đến nhân. Nhân là trí dụng Bát nhă, quả là thể tịch tĩnh
của Chơn như. Do xứng thể khởi dụng trừ được vô minh, thấy được bổn
pháp thân, đó là trong quả nói rơ nhân.
Ngài Khuê Phong nói:
“Nương Chơn như mà phát ra trí tuệ, đoạn dứt Hoặc nghiệp, chứng đắc
Chơn trí rồi khởi ra diệu dụng.” Nếu hành giả không dựa vào Chơn
như trí, th́ tâm chấp tướng ngă nhơn sanh khởi, không biết nương vào
đâu để mà tu chứng được. Nên biết muôn đức, muôn hạnh đều là dụng
của Chơn như Trí cả. Nếu hành giả lại hay khởi tâm tha thiết cầu
học ham mộ đắc quả, dốc ḷng kiên tŕ cấm giới, đây cũng là trong
quả nói đến nhân.
Ư trung, nghĩa là
trong mười giới. Mảy may như vi trần, là nêu ra phần nhỏ để so sánh
với số nhiều, nghĩa là Phật dạy: “Phạm giới khinh c̣n không được gọi
là Bồ Tát, huống ǵ phạm cả mười giới trọng?” Nếu phạm giới trọng,
đă đánh mất nhơn cực quả rồi, tất nhiên phải chịu ác báo khổ vô cùng
cực, nên phần sau chỉ rơ được và mất, hay nói cách khác là tội và
phước.
Nếu hành giả
nào vi phạm cấm giới Bồ Tát, hiện đời không phát Bồ đề tâm và cũng
mất hết các ngôi như Quốc vương, Chuyển luân Thánh vương, Tỳ kheo,
Tỳ kheo ni, cũng mất ngôi Thập Phát thú, Thập Trưởng dưỡng, Thập Kim
cang và Thập địa, Diệu quả Phật tánh thường trú, tất cả đều mất,
phải đọa trong ba ác đạo, hai kiếp, ba kiếp không được nghe tên Tam
bảo và Cha mẹ, v́ thế không nên sai phạm một giới nào.
Giải thích:
Nếu Bồ Tát vi phạm
cấm giới của Phật, cũng như cây bị chặt ngọn, không thể nảy mầm
được. Người phạm giới cấm cũng thế, mầm mống Bồ đề đă khô cháy nên
nói hiện đời không thể phát Bồ đề tâm được.
Quốc vương là chủ
một nước, Chuyển Luân vương là chủ Tứ thiên hạ hoặc hai, ba thiên hạ.
Hai ngôi vị trên là do nhiều đời tu hành tŕ giới nghiêm mật nên có
được thắng quả này. Nay chúng ta đă thọ cấm giới của Phật, mà c̣n
để sai phạm th́ đức vị tôn quư liền mất và thắng phước đời sau cũng
mất.
Tỳ kheo, Tỳ kheo ni
vốn tŕ thọ cấm giới mà đặt tên. Nếu phạm Ba-la-đề-mộc-xoa chẳng
những không c̣n con mắt bậc Đại sĩ, mà tên gọi Tỳ kheo, Tỳ kheo ni
cũng mất, chẳng những mất tên gọi mà cả ngôi vị Tam Hiền, Thập Thánh
cho đến Diệu quả Phật tánh thường trú cũng mất.
Diệu quả là Diệu
giác Phật quả, chẳng những vĩnh viễn mất lợi ích lớn lao như thế mà
cho đến thân này, sau khi xả báo duyên, phải đọa vào ba đường ác.
Khi đă đọa vào ác đạo rồi, chẳng phải một hai đời hết được, thế nên
kinh nói một kiếp, hai kiếp cho đến nhiều kiếp không được nghe tên
Cha mẹ và Tam bảo, huống ǵ được tu tập, hiếu kính ư?
Danh tự xuất thế
gian Tam bảo c̣n không được nghe, làm sao tu hành để chứng đắc đạo
quả?
Đă mất đại lợi như
thế, nên Phật răn nhắc mỗi giới phải kiên tŕ cẩn mật và phát thệ
thà đập nát thân thể này như tro bụi, không nên sai phạm một giới
nào dù là giới nhỏ. Kinh Anh Lạc chép: “Nếu sai phạm giới trọng,
không được sám hối, v́ đă phạm tội Ba-la-di, phải chịu suốt trong 10
kiếp thọ tội khổ. Một ngày phải trải qua 84,000 lần sống, 84,000
lần chết, nên không được phá giới .” Từ quả vị Tam Hiền, Thập Thánh,
cho đến Đẳng Giác, tất cả quả vị ấy đều đánh mất, bởi vậy giới này
là hạnh căn bản của tất cả Phật, tất cả Bồ Tát. Không có Phật nào
ĺa giới thể, Bồ Tát nào ĺa giới hạnh, nói cách khác không ai không
từ Thập giới pháp môn này mà chứng đắc đạo quả.
Tất cả Bồ Tát
các ông đă học, sẽ học và hiện đang học, mười giới như thế hết ḷng
kính trọng phụng tŕ. C̣n phần giảng rộng như trong phẩm Tám Muôn
Oai Nghi nói rơ.
Giải thích:
Giới này là mười
phương ba đời chư Phật đồng học và đồng hành tŕ, đồng thành vô
thượng Phật quả, v́ thế đức Như Lai ba lần dặn ḍ, khuyến học và
khuyến tŕ. C̣n phần giảng rộng nói rơ về việc hành tŕ và sai
phạm tánh tướng như thế nào, như trong Đại Bổn phần cuối phân ra.
Trong phẩm Tám Muôn Oai Nghi nêu rơ, nay chỉ lược nêu ra phần đại
cương của mười Vô tận tạng mà thôi.