Cùng Chung Lăn Chuyn Bánh Xe Pháp

     
 

KHAI THỊ 

-----o0o------

Khai Thị Niệm Phật
Thích Tuyên Hóa
 
     
 

V́ Sao Cần Phải Niệm Phật?

V́ sao lúc b́nh thường chúng ta cần phải niệm Phật? Lúc b́nh thường chúng ta thường niệm Phật là để chuẩn bị cho lúc lâm chung.

Thế th́ tại sao không đợi đến lúc lâm chung rồi hăy niệm Phật? Tập quán là thói quen được huân tập qua nhiều ngày, nhiều tháng. Cho nên, nếu b́nh thường các bạn không có tập quán niệm Phật th́ đến lúc lâm chung các bạn sẽ không nhớ ra là ḿnh cần phải niệm Phật. Do đó, lúc b́nh thường ḿnh cần phải học niệm Phật, tu Pháp-môn Tịnh Độ, đến lúc lâm chung mới không hoảng hốt, luống cuống, mà trái lại, sẽ an nhiên văng sanh Thế Giới Cực-lạc!

V́ sao chúng ta cần phải văng sanh về Thế Giới Cực Lạc? Là v́ khi Đức Phật A Di Đà ở nhân địa tu hành làm thầy tỳ kheo, Ngài đă từng phát bốn mươi tám đại nguyện mà trong đó có nói rằng:

"Sau khi tôi thành Phật, nếu trong mười phương có chúng sanh nào niệm 'A-Di-Đà Phật,' danh hiệu của tôi, th́ tôi nhất định sẽ tiếp dẫn người đó tới thế giới của tôi, và trong tương lai, vị ấy sẽ được thành Phật. Ở thế giới của tôi, ai ai cũng đều hóa sanh từ hoa sen, nên thân thể của họ hoàn toàn thanh tịnh vô nhiễm."

Bởi Đức Phật A Di Đà đă phát nguyện lớn như vậy, nên tất cả chúng sanh đều nên tu Pháp-môn Niệm Phật, một pháp-môn rất hợp với căn cơ của mọi người và cũng rất dễ tu. Trong Kinh c̣n dạy:

Đời Mạt Pháp, một ức người tu hành hiếm khi có được một người đắc Đạo; duy có tu Pháp-môn Niệm Phật là ai cũng được độ thoát.

Ư nói rằng trong số một ức người tu hành, hiếm hoi lắm mới có một người đắc Đạo; chỉ có Pháp-môn Niệm Phật là có thể giúp mọi người văng sanh về Thế Giới Cực Lạc và do đó được độ thoát. Đặc biệt là trong thời Mạt Pháp hiện tại, niệm Phật chính là pháp môn hợp với căn cơ của mọi người nhất.

Song, Âu Mỹ hiện nay không phải đang ở vào thời đại Mạt Pháp mà có thể nói là đang ở vào thời đại Chánh Pháp. V́ sao nói Âu Mỹ đang ở vào thời đại Chánh Pháp? V́ Phật Pháp vừa mới được truyền tới các nước ở phương Tây và hiện đang vào lúc hưng thịnh. Do đó, hiện tại ở Mỹ quốc có rất nhiều người rất thích tham Thiền, tịnh tọa; đó cũng là biểu hiện của Chánh Pháp.

Thời Chánh Pháp, ai cũng có thể tu Pháp-môn Niệm Phật. Thời Mạt Pháp mọi người cũng có thể tu Pháp-môn Niệm Phật, ở bất cứ thời đại nào ḿnh cũng có thể tu pháp môn này. Nếu như có người đối với các pháp môn khác không thể dụng công được, th́ nên tu Pháp Niệm Phật. Thiền-sư Vĩnh Minh Diên Thọ có nói rằng:

Hữu Thiền, hữu Tịnh Độ,

Do như đái giác hổ.

(Có Thiền, có Tịnh-Độ,

Như hổ mọc thêm sừng.)

Những người vừa tham Thiền và vừa niệm Phật th́ giống như cọp mà mọc thêm sừng, oai thế vô cùng. Họ có thể:

Hiện thế vi nhân sư,

Tương lai tác Phật Tổ.

(Đời này làm Thầy mọi người,

Tương lai thành Phật, làm Tổ.)

Do đó, người chân chánh tham Thiền tức là người chân chánh niệm Phật, người chân chánh niệm Phật cũng chính là người chân chánh tham Thiền. Nói sâu một chút nữa, người chân chánh tŕ Giới chính là người chân chánh tham Thiền, và người chân chánh tham Thiền cũng là người chân chánh tŕ Giới. Thế th́, người chân chánh giảng Kinh thuyết Pháp, tức là người thật sự v́ giảng Kinh mà giảng Kinh, th́ cũng là người chân chánh tham Thiền!

Trong Chứng Đạo Ca, Đại-sư Vĩnh Gia có nói rằng:

Tông diệc thông, Thuyết diệc thông,

Định, Huệ viên minh bất trệ không.

(Tông cũng thông, Thuyết cũng thông,

Định, Huệ sáng tṛn chẳng trệ không.)

Vậy, người vừa biết tham Thiền lại vừa biết giảng Kinh là người thông suốt cả tông lẫn thuyết. Nói sâu một chút nữa, th́ người chân chánh tŕ Chú, chân chánh tu Mật Tông, cũng là người chân chánh tham Thiền. V́ lẽ đó, tuy nói Thiền, Giáo, Luật, Mật, Tịnh là năm pháp môn, nhưng nếu xét đến ngọn nguồn th́ tất cả chỉ là một chứ không phải là sai khác. Nếu giảng sâu thêm chút nữa th́ ngay cả "một" cũng chẳng c̣n, th́ làm ǵ mà có "năm" được chứ? Người chân chánh học Phật Pháp cần phải hiểu điểm này cho rơ ràng.

Những kẻ có khuynh hướng phân chia tông phái th́ cho rằng Pháp-môn Niệm Phật cao nhất, c̣n Tham Thiền là không đúng; cũng có người nói Tham Thiền là pháp cao nhất, c̣n Niệm Phật là sai lầm, những ai có quan niệm như thế đều là những người chưa hiểu rơ Phật Pháp. Phải biết rằng:

Nhất thiết giai thị Phật Pháp, giai bất khả đắc.

(Tất cả đều là Phật Pháp, đều không thể chứng đắc.)

Đă "không có pháp ǵ có thể chứng đắc được," hà tất phải chấp trước thêm những thứ không nên chấp trước, đương không có chuyện lại t́m thêm chuyện, hoặc gây ra chuyện.

Nếu các bạn thật sự hiểu rơ pháp, th́ "không có pháp ǵ có thể chứng đắc được." Song le, đối với những ai không hiểu Phật Pháp mà ḿnh nói rằng cái ǵ cũng hoàn toàn không có cả th́ họ sẽ thất vọng. Do đó, Đức Phật dạy Quyền Pháp (Giáo pháp quyền biến, tạm thời) để đưa về Thực Pháp (Pháp chân thật) và thuyết giảng Quyền Trí để dẫn về Thực Trí.

Vậy, Thực Trí là ǵ? Thực Trí là một "quy vô sở đắc," trở về lại chỗ không chứng đắc. Thứ tướng chân thật, không có h́nh tướng, nhưng cũng chẳng có "không có h́nh tướng," mới chính là trí huệ chân thật vậy!

 

Dùng Sáu Căn Niệm Quán Âm

Khi niệm hồng danh Đức Quán Thế Âm, chẳng những miệng niệm phải rơ ràng mà tâm ḿnh cần phải nhớ giữ cho sáng tỏ. Phải dùng tất cả sáu căn : mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ư - mà niệm. Đem toàn thân toàn ư chuyên chú mà niệm Đức Quán Thế Âm. Đó gọi là thâu nhiếp sáu căn, chuyên tâm thâm nhập.

Nơi Viên Thông Chương của Ngài Đại Thế Chí dạy rằng : 'Thâu nhiếp sáu căn, xâu kết không gián đoạn chuỗi niệm thanh tịnh th́ sẽ đắc được Tam-ma-địa. Đây là phương pháp hay nhất. 'Thật vậy đoạn kinh trên dạy ḿnh đem sáu căn cột giữ vào một chỗ, không tán loạn, bắt chúng phải phục tùng theo, nghe lời ḿnh. Khi đó ḿnh biến sáu tên giặc (tức sáu căn) này thành sáu vị Hộ Pháp. Cho nên thâu nhiếp là làm cho sáu tên giặc chịu phép nhu thuận, biết nghe lời, không c̣n dám tác quái nữa.

V́ sao khi niệm Quán Thế Âm ḿnh chẳng chuyên nhất đặng? Là bởi v́ ḿnh không chịu thâu nhiếp, không chế ngự sáu tên giặc này. Rồi cứ để chúng tạo sóng tạo gió, dẫn khởi vọng tưởng cuồn cuộn nổi lên.

Khi đă cột giữ được sáu căn th́ ḿnh phải xâu hết không gián đoạn chuỗi niệm thanh tịnh. Niệm thanh tịnh phải giữ nó liên tục như sóng nước : sóng sau sóng trước không ngừng nghỉ vậy. Chuỗi niệm thanh tịnh tức là niệm Đức Quán Thế Âm. Ḿnh phải niệm không gián đoạn không ngừng nghỉ. Niệm cho tới lúc 'tương ưng' th́ đó là đắc Tam-ma-địa. Tam-ma-địa nghĩa là Chánh Định Chánh Thọ.

Đây là pháp môn viên thông hay nhất vậy. Khi ḿnh có tŕnh độ cảm nghiệm cảnh giới như trên tức là ḿnh có thể dùng sáu căn mà tŕ niệm đức Quán Âm vậy.

Khi cảm nhận đặng cảnh giới Tam-ma-địa th́ mới gọi là đắc niệm Quán Âm Tam Muội. Kẻ được như vậy mới được gọi là đă Quán Âm Thất ! Chưa được Niệm Quán Âm Tam Muội, th́ chưa là kẻ thật đả thất ! Kẻ nhập tam muội th́ từ sáng đến tối, miệng niệm tâm tŕ danh hiệu Quán Thế Âm mà chẳng biết, chẳng hay ǵ đến quá khứ, hiện tại hay vị lai. Y hoàn toàn quên băng, bặt mất ư niệm về thời gian.

Khi tinh thần tập trung niệm Quán Âm, mọi phiền năo tự nhiên sẽ tiêu tan mất. 'Ḿnh ăn cơm chưa hè? Không nhớ!' V́ sao thế? V́ y niệm Quán Âm mà! 'Ḿnh mặc áo quần đàng hoàng chưa hè? Không nhớ nữa!' V́ sao thế? V́ y dốc ḷng niệm Quán Âm đó!

Cho nên, nếu ḿnh có thể quên bẵng đi 3 chuyện : ăn uống, áo quần, ngủ nghỉ th́ tam muội sẽ hiện tiền. V́ tâm chẳng c̣n vô minh, phiền năo, vọng tưởng. Do đó hăy niệm Quán Âm cho rơ ràng; ḷng vui vẻ hoan hỷ coi niệm Quán Âm là việc sung sướng tự tại nhất. Được vậy th́ dù bịnh, bịnh cũng lành; có đau, đau cũng hết. Dù bụng đói, cũng cảm thấy no; dù thiếu ngủ cũng thấy khỏe. Đây cũng chính là đi vào cảnh giới Niệm Quán Âm Tam Muội.

Niệm Quán Âm Nhiều Thêm

Vọng Tưởng Bớt Ít Đi

Niệm Quán Âm tức là quét dọn rác rưởi trong ḷng ḿnh.

Niệm một tiếng Quán Âm, th́ bớt đi một vọng tưởng.

Niệm hai tiếng Quán Âm, th́ bớt đi hai vọng tưởng.

Niệm vạn tiếng Quán Âm, bớt đi vạn vọng tưởng.

Có người hỏi : 'Thầy dạy sai rồi ! Khi tôi niệm Quán Âm ḷng tôi vọng tưởng cũng dấy lên, e vọng tưởng c̣n nhiều hơn cả niệm Quán Âm.'

Bản lĩnh của vị này cao cường lắm ! Bởi v́ y có thể vừa niệm Quán Âm vừa nghĩ loạn xạ. Kỳ thật, y chẳng phải niệm Quán Âm đâu, bởi v́ tâm y nào có ở chỗ đó đâu. Tuy nh́n nhưng y chẳng thấy, tuy nghe mà y chẳng lắng. Tuy cùng đại chúng niệm Quán Âm nhưng y chẵng chú ư đến Quán Âm. Chính bởi do không chú ư, chú tâm đến Quán Âm nên vọng tưởng loạn lên. Khi vọng tưởng nổi dậy th́ miệng cũng quên niệm Quán Âm. Hễ quên niệm Quán Âm th́ vọng tưởng lại càng dấy khởi. Đó là thứ tu lấy lệ chớ không phải là tu chân thật.

Lúc nào ḿnh không niệm Quán Âm th́ lúc đó ḿnh ḥa với bụi bặm, trộn với bùn lầy : Cứ bị người xung quanh đủa đảy, chẳng có định tâm ǵ cả. Tới lúc niệm Quán Âm th́ chẳng được tương ưng, tiếng niệm yếu ớt, khí lực bạc nhược.

Đây, lúc niệm Quán Âm mắt phải nh́n hướng tới Ngài, ḷng tưởng nhớ Ngài, xem Bồ Tát thực sự luôn luôn hiện h́nh ở trước mặt ḿnh. Đức Bồ Tát ngàn mắt ngó ḿnh, ngàn tai nghe ḿnh, ngàn tay hộ ḿnh. Miệng niệm Quán Âm, tai phải nghe cho rơ ràng. Rồi lại đem tiếng niệm nghe nơi tai, chuyển đạt vô đáy ḷng. Khi ḷng tiếp nhận tiếng niệm Quán Âm th́ tức là ḿnh đă thỉnh Ngài Quán Âm vào tâm tư rồi đăy. Có Ngài Quán Âm ngự trong ḷng th́ sao ḿnh có thể loạn tưởng, nghĩ xằng đặng! Cho nên niệm Ngài Quán Âm là phương thuốc thần trị bịnh vọng tưởng.

Hễ ḷng thanh tịnh, th́ ḿnh tự tại.

Khuyến Tu Tịnh Độ Trung

Niệm Phật mà niệm không gián đoạn,

Miệng niệm Di-Đà ḷng chuyên nhất,

Chẳng khởi tạp niệm đắc tam muội,

Chắc rằng cơi Tịnh có ngày về.

Trọn ngày nhàm chán cơi Ta Bà,

Ḷng đối hồng trần thêm lạnh nhạt.

Cầu sanh Cực Lạc, ư sâu dầy,

Rũ sạch cấu nhơ, giữ trắng ḷng.

 

Niệm Phật Giống Như Gọi Điện Thoại

Nếu ḿnh không gọi điện thoại, đâu ai trả lời.

 

Niệm niệm chân thành niệm niệm thông,

Mặc mặc cảm ứng, mặc mặc trung.

Trực chỉ sơn cùng thủy tận xứ,

Tiêu dao Pháp-giới nhậm Tây Đông.

Nghĩa là:

Niệm niệm chân thành, niệm thấu suốt,

Lặng lặng cảm ứng, lặng trung dung.

Đến khi núi ṃn sông cạn hết,

Tiêu diêu Pháp-giới khắp Đông Tây.

Không biết quư-vị có liễu ngộ được chân nghĩa của bài kệ vừa rồi hay chăng?

"Niệm niệm chân thành, niệm thấu suốt," chữ niệm đầu tiên nói lên ư niệm do tâm phát ra. Chữ niệm thứ hai là chỉ ư niệm do miệng thốt ra. Nếu chỉ có ư niệm thứ nh́, tức là ư "niệm" phát ra từ nơi miệng th́ không c̣n là ư niệm chân thành. Cho nên tâm khẩu cần phải chân thành khi niệm danh hiệu Phật Bồ-tát. Chúng ta cần niệm đến chỗ tâm và miệng hợp nhất, một mà không hai. Chúng ta không thể tùy tiện mà niệm, cũng không thể niệm một cách tán loạn, và càng không nên niệm một cách tạp nhạp với nhiều vọng tưởng của ḿnh. Nếu ḿnh làm được như vậy th́ mới gọi là chân thành được.

Có được ư niệm chân thành th́ nhất định sẽ được cảm ứng. Cảm ứng đó là ǵ? Là sự tương thông giữa tâm phàm phu của ḿnh với tâm sáng lạng của chư Phật Bồ-tát. Đó gọi là:

Quang quang tương chiếu;

Khổng khổng tương thông.

Nghĩa là:

Ánh sáng này chiếu ánh sáng kia;

Lỗ lông này thông lỗ lông kia.

Tại sao có được cảm ứng như vậy? Giống như khi gọi điện thoại, bên này có quay số, bên kia mới trả lời. Niệm danh hiệu Bồ-tát cũng vậy, sẽ có lúc Bồ-tát hỏi ḿnh rằng: "Thiện nam tử, thiện nữ nhân, các vị cần điều chi?" Lúc đó ḿnh cầu ǵ sẽ được nấy. Nếu thiếu thành tâm th́ cũng như điện thoại có năm số, mà ḿnh chỉ quay có ba số rồi ngừng tay, làm sao đường dây có thể thông được. Niệm danh hiệu Bồ-tát cũng vậy, nếu ḿnh niệm một chốc rồi ngừng lại, đó là thiếu thành tâm. Nhất định không có chuyện cảm thông được.

Chỉ ai có cảm ứng mới nhận biết sự "quang quang tương chiếu" này. Cũng như khi gọi điện thoại, phải nhấc ống nghe lên mới nghe rơ người bên kia đầu dây. V́ phàm phu không sao thấy được luồng sóng qua lại của điện thoại nên bài kệ nói rằng: "Im lặng cảm ứng, im lặng trung dung."

C̣n nói đến: "Núi ṃn, sông cạn hết" là chỗ mà "Bách xích can đầu trùng tiến bộ. Tán thủ thiên không biệt hữu thiên." Nghĩa là: Đầu sào trăm trượng cứ bước tiếp. Duỗi tay trời sập: một trời mới. ư nói rằng: ở nơi đầu sào trăm trượng, ḿnh buông tay th́ ngoài trời kia c̣n có bầu trời khác. Khi ḿnh niệm đến chỗ sơn cùng thủy tận, th́ lúc đó ḿnh niệm mà không niệm bởi v́ niệm và ḿnh đă thành một khối. Đó là lúc ḿnh có thể "Tiêu dao Pháp-giới, nhậm Tây Đông." Thí dụ khi ḿnh muốn văng sinh Cực-lạc thế giới th́ tức khắc được như ư. Nếu muốn "đảo giá từ hàng," trở lại độ chúng sinh th́ ḿnh cũng có thể ứng nghiệm; từ thế giới Cực-lạc mà trở lại thế giới Ta-bà, hoặc đến tất cả Pháp-giới khác. Không chỗ nào ḿnh muốn tới mà chẳng đặng, nên nói rằng "nhậm Đông Tây" chính là:

Nhất như ư, nhất thiết như ư.

Nhất tự tại, nhất thiết tự tại.

Nghĩa là:

Một việc như ư, muôn việc như ư,

Một việc tự tại, muôn việc tự tại.

Cho nên người học Phật lúc nào cũng phải chân thành. Nếu ḿnh không như vậy tức là hư ngụy, là thứ: "Khai không hoa, bất kết quả" tức là nụ hoa giả có nở ra cũng không sao kết trái được. Học Phật cần nhất là đừng tự dối ḿnh.

Thêm vào đó, cổ nhân lại có câu: "Quân tử cầu chư kỷ, tiểu nhân cầu chư nhân." Nghĩa rằng người quân tử th́ t́m đáp án nơi chính ḿnh, dựa vào năng lực của ḿnh, c̣n kẻ tiểu nhân th́ nương tựa, cầu cạnh kẻ khác. Chúng ta không thể có tâm ỷ lại, phải biết rằng sự cảm ứng là tự ḿnh chiêu cảm lấy, không do nơi khác. Có người nói: "Niệm Phật để được sinh Tịnh-độ; như vậy nhờ Phật mới được tiếp dẫn." Câu nầy có thể đúng nhưng cũng có thể không đúng. Tại sao vậy? Bởi v́ thuyết tiếp dẫn do đối căn cơ mà lập. Đối với chúng sinh c̣n đầy ḷng tham, luôn hy vọng chỉ dùng ít sức mà hoạch kết quả lớn; hay thích cho vay ít lấy lăi nhiều, thánh nhân do đó phải tùy cơ ứng biến, nói rằng Phật lực tiếp dẫn với mục đích là muốn chúng sinh nổ lực niệm Phật. Kỳ thật kẻ niệm danh hiệu Phật Bồ-tát mà được văng sinh Tịnh-độ đều hoàn toàn do dựa vào sức lực của chính họ.

Niệm Phật nào phải do Phật niệm giúp ḿnh đâu! Khi muốn niệm danh hiệu Bồ-tát, có phải là ư niệm đó xuất phát từ Bồ-tát không? Nếu không th́ làm sao gọi là nhờ vào tha lực được? Đây giống như là Phật và Bồ-tát phóng quang gia bị cho ḿnh. Đó cũng là sự cảm ứng do công đức ḿnh niệm Phật Bồ-tát. Đem chuyện gọi điện thoại ra ví dụ thêm lần nữa, nếu ḿnh không nhấc điện thoại quay số th́ đâu ai có thể tiếp chuyện cùng ḿnh? Niệm Phật cũng đồng đạo lư như vậy.

Kỳ thật, tâm niệm hy vọng Phật tiếp dẫn ḿnh văng sinh Tịnh-Độ thực ra là tâm tham, tâm ỷ lại, là cái tâm ḿnh không muốn có. Khi tu hành, phải tự dựa vào năng lực của ḿnh, phấn chấn tinh thần, dũng mănh tinh tấn; phải biết quả báo không phải là kẻ khác mang đến ḿnh. Cho nên niệm Phật không thể nói rằng nhờ Phật lực tiếp dẫn được.

Cổ nhân có câu: "Tướng tướng bổn vô chủng, nam nhi đương tự cường." Nghĩa rằng các vị tướng không phải sinh ra đă thành, kẻ nam nhi phải tự lực tự cường. Chúng ta học Phật cũng phải có tâm khí như vậy:

Phật-đà bổn vô chủng,

Chúng sinh đương tự cường.

Nghĩa là:

Đức Phật không do chủng tộc nào thành,

Chúng sinh phải tự lực tự cường.

Nếu không như vậy suốt ngày cứ ỷ lại vào uy lực của Phật th́ cũng như là những người con của tỷ phú, ỷ lại nơi di sản của ông cha ḿnh, rồi rốt cuộc tự ḿnh sẽ hại ḿnh mà thôi. Cho nên quư-vị mau mau tỉnh ngộ.

Giảng ngày 16 tháng 6 năm 1985

 

Đừng Chờ Đến Lúc Khát Mới Đào Giếng

 

Ai bảo ḿnh lúc chưa bịnh,

toàn làm việc hồ đồ,

không biết lo ǵn giữ thân.

 

Bịnh hậu thủy tri thân thị khổ,

Tử hậu phương tri thác dụng tâm.

Nghĩa là:

Bịnh rồi mới biết thân nầy khổ,

Chết xong mới rơ lầm dụng tâm.

Đây là bịnh thông thường của chúng sinh: Khi chưa bịnh th́ thế gian nầy thật hết sức sung sướng và đầy đủ. Đến khi bịnh, không động đậy được, không ăn uống được, mất hết tự do, chịu đủ thứ thống khổ khó nhẫn, lúc đó mới biết rằng nguyên nhân cái khổ là do thân nầy mà ra. Nhưng lúc biết vậy th́ đă quá trễ. Nên nói:

Lâm nhai lạc mă thu cương văng.

Thuyền đáo giang tâm bổ lậu tŕ!

Nghĩa là:

Ngựa đến vực thẳm, thâu cương th́ quá trể.

Thuyền tới giữa ḍng, vá lỗ chậm lắm thay!

Ai bảo lúc chưa bịnh, cứ làm việc hồ đồ, không biết lo giữ ǵn thân ḿnh. Bịnh khổ như vậy, hà huống chuyện lớn sinh tử.

"Tử hậu phương tri thác dụng tâm," chết rồi mới biết ḿnh dùng tâm sai lầm. B́nh thường ḿnh không chịu kiểm điểm, đến khi xuống tới Diêm-vương mới biết rằng, lúc sinh tiền ḿnh làm những chuyện không chính đáng, những chuyện sai lầm. Lúc sống thấy người niệm Phật, th́ ḿnh phỉ báng, nói rằng họ mê tín; cười cho là họ ngu si. Bây giờ có hối hận th́ đă muộn rồi! Sự đau khổ trong núi kiếm và vạc dầu như thế nào, tự ḿnh chiêu cảm lấy. Cho nên "Ngựa khi đă tới bờ vực thẳm mới g̣ cương th́ quá trể. Thuyền đến giữa ḍng rồi mới vá chỗ thủng th́ quá chậm." Cho nên ai kêu ḿnh không chịu chuẩn bị tương lai.

V́ thế Chu Tử nói rất hay: "Nghi vị vũ nhi trù mâu, vật lâm khát nhi quật tĩnh." Nghĩa là khi trời chưa mưa th́ ḿnh phải lo sắp đặt trước; thí dụ như sửa mái nhà. Khi chưa mưa xuống ḿnh phải mau mau chuẩn bị đối phó những chuyện sẽ xảy ra lúc trời mưa. Như ở miền bắc Trung Hoa v́ những cửa sổ làm bằng giấy, nên trước khi mưa, cửa sổ cần dán kín. Nếu cửa không dán kỹ trời mưa sẽ ướt đồ vật bên trong. Đợi mưa mới đi dán cửa sổ th́ đă quá muộn rồi. Đừng chờ tới lúc khát rồi mới đào giếng. Như những người ở nơi xa xăm không có ống nước dẫn nước lại, họ phải nghĩ cách để giải quyết vấn đề cung cấp nước. Không phải chờ đến lúc khát rồi mới đi đào giếng; như vậy th́ quá trể.

Ḿnh học Phật cũng vậy, phải hiểu rằng mọi sự vô thường, không ai thoát được cái chết. Tại sao ḿnh không lo chuyện hạ thủ công phu để giải quyết cái chết? Cho nên:

Nhược yếu nhân bất tử,

Tiên hạ tử công phu.

Nghĩa là:

Ḿnh nếu muốn không chết,

Th́ phải tu hết ḿnh.

"Tử công phu" (tu hết ḿnh), có nghĩa là giống như ngày hôm nay ḿnh đả thất, niệm danh hiệu Bồ-tát. Đả thất, thứ nhất là cầu thế giới ḥa b́nh; thứ hai là v́ chuyện về sau của chính bản thân ḿnh. Thế cũng giống như chưa mưa mà ḿnh đă chuẩn bị trước. Ḿnh đả thất th́ năm nào cũng phải tham gia, không thể gián đoạn, như vậy mới có thể kết được đại nhân duyên với A Di Đà Phật và Quán Thế Âm Bồ-tát. Ḿnh cần phải niệm Đức A Di Đà Phật tới độ là coi Ngài như sư phụ của ḿnh, xem Ngài Quán Thế Âm Bồ-tát như là người bạn của ḿnh. Nếu như được làm đệ tử của Phật, làm bạn của Bồ-tát, trải qua nhiều năm tháng, tự nhiên ḿnh cũng sẽ trở thành bạn thân của các vị đó. Như vậy th́ chư Phật Bồ-tát sẽ tiếp dẫn ḿnh về thế giới Cực-lạc vào phút cuối cùng. Quư-vị đừng nên hồ nghi, bởi v́:

Tu Đạo chi nhân tâm mạc nghi,

Nghi tâm nhất khởi tiền đồ mê.

Nghĩa là:

Ḷng người tu Đạo chớ ngờ nghi,

Nghi ngờ nổi dậy liền mờ mê.

Nghĩa là người tu Đạo chớ có tâm nghi ngờ, khi ḷng nghi nổi dậy th́ đi vào sự mê mờ. Chúng ta nên nghe lời của thiện-tri-thức, không nên có ḷng nghi ngờ. Thí dụ như thiện-tri-thức nói tu hành cần phải có khổ công, th́ ḿnh phải tin như vậy. Nếu ḿnh có ḷng tin một cách triệt để nhất định sẽ được minh tâm kiến tánh, phản bổn hoàn nguyên. Do đó ḿnh phải thường nghe lời chỉ dạy của bậc thiện-tri-thức. Nếu vị đó dạy ḿnh "niệm Phật" th́ ḿnh nhất định phải theo lời mà niệm Phật; nếu vị ấy dạy ḿnh "đừng buông lung" th́ ḿnh không được buông lung, đó là yếu quyết của việc tu Đạo vậy.

Như đă nói trên: "Bịnh rồi mới biết thân này khổ." Bởi v́ con người mà không trải qua một cơn bịnh khổ th́ không chịu phát tâm tu hành đâu. Do vậy, kẻ chưa bịnh th́ không hiểu sự thống khổ.

Lại có câu rằng: "Phú quư tu đạo nan." Nghĩa rằng người giàu tu đạo rất khó, bởi v́ việc ǵ cũng như ư cả th́ làm sao họ nghĩ đến chuyện tu. Do đó nghèo với bịnh là thứ trợ duyên cho việc tu Đạo. Bịnh đến th́ ḿnh đừng âu lo, nghèo khốn cũng chớ ưu sầu. Có bài kệ như sau:

Ngă kiến tha nhân tử,

Tử tâm nhiệt như hỏa,

Bất thị nhiệt tha nhân,

Tiệm tiệm luân đáo ngă.

Nghĩa là:

Ta thấy người ấy chết,

Ḷng ta nóng như lửa,

Chẳng phải nóng cho người,

Mà từ từ lửa tới ta.

Nghèo khốn hay bịnh hoạn hẳn nhiên giúp ḿnh trưởng dưỡng tâm tu Đạo. Cũng như khi thấy người khác nghèo khốn, bịnh khổ, già chết, ḿnh cũng phải phát tâm như thế. Đời người giống như: "Trường giang, hậu lăng thôi tiền lăng." Nghĩa là "Sông Trường giang, sóng sau đẩy sóng trước." Nếu ḿnh kịp thời phát nguyện văng sinh, lúc gần chết, ḿnh sẽ có sự chuẩn bị. Không vậy, lúc ấy ḿnh hoảng sợ không biết cách đối phó. Giống như đất nước nếu không trải qua một cơn biến loạn th́ nhân dân chỉ thích sống trong cảnh sung sướng an lạc, không màng đến chuyện bảo vệ đất nước. Hiện tại Phật-giáo cũng như vậy, người ta không nghĩ cách để phục hưng Phật-giáo, nên Phật-giáo đi vào t́nh trạng ủy mị.

V́ vậy ḿnh phải đề xướng Phật-giáo; trách nhiệm không phải chỉ ở các vị Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, mà ở tại mỗi tín đồ Phật-giáo. Nếu như mỗi người chúng ta đều tự nhận trách nhiệm, th́ lo ǵ Phật-giáo không phát triển! Hiện tại có những tín đồ Phật-giáo cho rằng đạo Phật không bằng những ngoại đạo thời nay, chẳng những họ không dám nhận ḿnh là Phật-giáo đồ, thậm chí c̣n a dua với kẻ khác chê bai Phật-giáo là mê tín. Quư-vị thấy như vậy có phải là đáng thương lắm không? Giống như ở Cửu Long (Kowloon) nơi Đạo Phong Sơn có một đoàn thể ngoại đạo chuyên thu nạp những Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni trong Phật-giáo, tới đó để trải qua một phiên cải tạo làm cho họ mất đi gốc gác rồi trở ra phỉ báng Phật-giáo.

Do đó chân chính tin Phật th́ dù chết cũng không thay đổi, luôn luôn đề cao chí khí của ḿnh, không v́ kẻ khác chê cười, không v́ lợi ích mà thay đổi chí của ḿnh. Nếu như mọi người không quên ḿnh là tín đồ Phật-giáo th́ Phật-giáo chắc chắn sẽ phục hưng.

Tuy những thứ ngoại đạo hiện đang hưng thịnh, nhưng chỉ nhất thời mà thôi. Bởi v́ thiên đạo th́ tuần hoàn: Vật tới cùng cực th́ sẽ quay ngược lại. Quư-vị đừng để cái vẻ bên ngoài của chúng làm dao động tâm trí ḿnh. Chân lư th́ bất diệt, sự phục hưng của Phật-giáo th́ hoàn toàn dựa vào nỗ lực của đại chúng.

Giảng ngày 17 thánhg 6 năm 1958

 

Niệm Danh Hiệu Bồ-Tát Thể Minh Tâm Kiến Tánh

 

Tâm tánh của chúng sinh, luôn luôn quang minh lỗi lạc. Chẳng qua là v́ bị vô số tội chướng, vọng niệm, làm cho lu mờ đi thôi.

Bản tính của chúng sinh th́ thích sướng, ghét khổ. Do vô minh che đậy nên chúng sinh không biết cách để đạt tới sự an lạc sung sướng, thoát ra khỏi sự thống khổ. Do đó, tuy rằng miệng luôn nói là truy cầu sự an lạc nhưng, bất hạnh thay, hễ càng t́m kiếm th́ càng thêm thống khổ.

Bồ-tát là người có ḷng từ bi quảng đại, đă giác ngộ, biết được làm thế nào để ly khổ, đắc lạc. V́ vậy đối với chúng sinh đau khổ, đáng thương xót, Ngài phát tâm nguyện đại bi rộng lớn, tầm thanh cứu khổ. Nên chúng sinh ḿnh không phải là hoàn toàn tuyệt vọng. Chỉ cần ḿnh có ḷng thành khẩn, niệm tụng "Nam Mô Quán Thế Âm Bồ-tát," th́ Ngài sẽ dùng pháp lực vô biên để độ thoát, giúp ḿnh ly khổ, đắc lạc. Sự an lạc này là sự an lạc cứu cánh, là sự an lạc ở Tây-phương Cực-lạc. Do vậy, nói rằng niệm danh hiệu Bồ-tát không những được thoát ly khỏi sự thống khổ của thế giới nầy, mà ḿnh c̣n được văng sinh về thế giới Cực-lạc, khi hoa khai kiến Phật, tới được chỗ an lạc thanh tịnh cứu cánh nhất.

Niệm Bồ-tát có thể ly khổ, có thể làm cho ḿnh liễu ngộ tâm tánh. Phải chăng có một việc quá dễ dàng như vậy? Nhiều chúng sinh c̣n ngu tối, đặt ra câu hỏi nầy. Bồ-tát quả phát tâm muốn làm chuyện tiện nghi cho chúng sinh, nên Ngài mới nói ra pháp môn phương tiện như vậy. Tuy nhiên, vẫn c̣n nhiều chúng sinh, dầu với sự dễ dàng tuyệt đỉnh kia cũng không nhận thức được. Thật đáng tiếc thay!

Có người lại nói rằng: "Niệm danh hiệu Bồ-tát th́ có thể tiêu trừ được tội khổ, đó là điều tôi tin tưởng. Nhưng làm sao niệm Bồ-tát lại có thể làm cho tôi minh tâm, kiến tánh được?" Vài ngày trước, tôi có nói ví dụ về chuyện đánh điện thoại. Bây giờ, lại kể cho quư-vị nghe một ví dụ khác c̣n đơn giản hơn.

Ví như có một người bị bịt mắt, chỉ thấy bốn bể tối đen. Người đó đi tới đâu, nếu không đụng phải vào tường th́ cũng va vô vách, làm cho sứt đầu bể trán, khổ không thể nói được. Nhưng, tự y lại không biết thế nào để tháo tấm khăn bịt mặt kia ra. May thay, y gặp được một người có ḷng từ bi, trông thấy y tội nghiệp như vậy, liền giúp y mở khăn bịt mắt ra. Nhờ đó, từ chỗ không thấy đường, nay hắn ta có thể thấy mọi sự, không c̣n khổ sở, cũng không phải đi đụng vào tường, vào vách như xưa.

Đạo lư niệm Bồ-tát để được minh tâm kiến tánh cũng tương tự như vậy. Chúng sinh, y hệt như người bị bịt mắt kia, xưa nay mắt đâu bị mù, chẳng qua chỉ bị che kín mà thôi. Tâm tánh của chúng sinh cũng như vậy, xưa nay vẫn không mất mát, luôn luôn quang minh lỗi lạc. Chẳng qua là v́ bị vô số tội chướng, vọng niệm, làm cho lu mờ đi thôi. Bồ-tát cũng giống như người có ḷng từ bi kia. Ngài giúp ḿnh giải trừ nghiệp chướng đă che đậy bản tánh quang minh trong tâm ḿnh; để ḿnh có thể phản bổn, hoàn nguyên; khôi phục lại bản lai diện mục.

Cho nên, ḿnh không thể không niệm danh hiệu Bồ-tát được. Bởi v́, giống như người bị bịt mắt kia, nếu không cầu kẻ khác, không chịu tiếp nhận sự giúp đỡ của kẻ khác, th́ đừng nói là vẫn cứ phải đi đụng vào tường, mà c̣n có khi đi lạc lối, rơi xuống hố thẳm, nguy hại đến tánh mạng nữa.

Ở đời nầy, số người có tội ác th́ nhiều vô kể. Nếu như không cẩn thận, lỡ một mai lạc bước, rơi xuống vực sâu tội lỗi, mất đi thân người, th́ muôn vạn kiếp khó mà t́m lại được, mang hận ngàn đời. Các vị cư sĩ! Hăy mau mau tiếp thọ sự khuyên dụ của đức Bồ-tát mà thường xuyên niệm tụng danh hiệu Ngài để được cứu độ ra khỏi chốn biển khổ sanh tử này.

Giảng ngày 17 thàng 6 năm 1958

 

Quán Thế Âm Bồ Tát Là Huynh Đệ Của Chúng Ta

 

Chúng ta ngày ngày niệm danh hiệu Quán Thế Âm Bồ-tát, song "Quán Thế Âm" nghĩa là ǵ? "Quán" là quán xét âm thanh ở thế gian. "Quán" cũng là nh́n, nhưng không phải nh́n bên ngoài, mà là nh́n tâm của chúng sanh, xem chúng sanh nào tâm không c̣n vọng tưởng lăng xăng. Không c̣n vọng tưởng, tâm rỗng không, tức là khai ngộ. Do đó câu kệ nói rằng:

"Thập phương cùng tụ hội,
Đồng học Pháp Vô-vi."

Niệm danh hiệu Đức Quán Thế Âm Bồ-tát cũng là một pháp vô vi. "Vô vi" là không làm nhưng chẳng ǵ là không làm--tức là dạy chúng ta chớ khởi vọng tưởng vậy.

Khi bạn niệm "Nam Mô Quán Thế Âm Bồ-tát" th́ Quán Thế Âm Bồ-tát cũng niệm bạn--hai bên cùng niệm nhau giống như bạn nhớ tưởng người thân, th́ người thân của bạn cũng nhớ tới bạn vậy. Chúng ta và Quán Thế Âm Bồ-tát, từ vô lượng kiếp đến nay, chính là bà con trong Đạo-pháp, thân thích trong Phật-pháp. Bà con kể từ lúc nào? Tính từ thời Đức Phật A Di Đà đấy! Đức Phật A Di Đà là Giáo-chủ cơi Cực Lạc ở Tây Phương và cũng là sư-phụ của Quán Thế Âm Bồ-tát. Đức Quán Thế Âm Bồ-tát giúp Đức Di Đà hoằng dương pháp môn Tịnh-Độ. Chúng ta chính là bạn đồng môn với Đức Quán Thế Âm Bồ-tát. Đức Quán Âm Bồ-tát là vị anh cả đối với tất cả chúng sanh nào chưa văng sinh cơi Cực Lạc, và do đó, chúng sanh là em của Ngài. Nói như vậy th́ rơ ràng Ngài và chúng ta là bà con rất gần. Do đó, hễ ḿnh nhớ tới anh ḿnh, th́ anh ḿnh cũng nhớ tới ḿnh. Ḿnh là em của Đức Quán Âm, và Đức Quán Âm là anh của ḿnh.

Có người nói: "Tại sao Đức Quán Âm có thể là anh của ḿnh đặng? Nói như vậy chẳng phải là quá đáng chăng?" Chẳng những Đức Quán Âm xem chúng ta như em, Ngài c̣n xem tất cả chúng sanh là em út cả. Nếu không thế, th́ sao Ngài lại tầm thanh cứu khổ? V́ sao hễ chúng sanh gặp khó khăn, Ngài liền cứu giúp? Đó là v́ Ngài xem chúng sanh như tay chân ruột thịt của Ngài vậy, cho nên Ngài mới không sợ gian khổ, đi cứu độ tất cả chúng sanh đang đau khổ ở cơi Ta Bà này. V́ thế các bạn chớ quên người anh trong Đạo-pháp của ḿnh--hễ chúng ta niệm một tiếng Quán Thế Âm Bồ-tát, Đức Quán Thế Âm Bồ-tát cũng liền nhớ niệm tới chúng ta.

Khi niệm danh hiệu Quán Thế Âm Bồ-tát, chính là chúng ta kêu gọi người anh của ḿnh. Khi Đức Quán Thế Âm Bồ-tát gọi tên chúng ta, chính là Ngài gọi các đứa em, tức là các Bồ-tát tương lai, các vị Phật tương lai vậy.

Nếu xem Quán Thế Âm Bồ-tát như vậy, chúng ta càng phải thành tâm, càng phải khẩn thiết niệm tên người anh ruột trong Đạo-pháp này, chớ để lỡ cơ hội. Khi niệm danh hiệu Đức Quán Thế Âm Bồ-tát, bạn chớ cúi đầu xuống mà phải ngước đầu lên, biểu thị một tinh thần dũng mănh, tinh tấn. Chớ làm ra vẻ rũ rượi, lờ đờ. Khi Đức Quán Thế Âm Bồ-tát thấy bạn có tinh thần tinh tấn, Ngài sẽ nói với bạn rằng: "Hăy mau nắm lấy tay ta!" Thế rồi, Ngài sẽ đưa bạn tới thế giới Cực Lạc.

Có người nghĩ vẩn vơ rằng: "Tại sao Đức Quán Thế Âm Bồ-tát từ sáng đến tối cứ quan sát, quan sát, quan sát hoài, c̣n tôi th́ chẳng được phép nh́n ǵ cả?" Bạn "nh́n" và Quán Thế Âm Bồ-tát "nh́n," hai cách nh́n khác nhau lắm. Đức Quán Thế Âm Bồ-tát nh́n bên trong, c̣n bạn th́ nh́n ra ngoài. Đức Quán Thế Âm Bồ-tát nh́n tự tánh. Tâm tánh của Ngài giống như màn ra-đa, hiện ra tất cả mọi chúng sanh. Chúng sanh nào có vọng tưởng ǵ, Ngài đều biết hết. Ngài nh́n vào màn ra-đa bên trong, khác với cái nh́n của các bạn. Bởi v́ chúng sanh ở cách xa Ngài quá, tuy rằng Ngài có ngàn tay ngàn mắt, song nếu dùng để nh́n vô lượng chúng sanh th́ cũng không đủ dùng, không đủ nh́n. Do đó Ngài mới hồi quang phản chiếu (xoay ngược ánh sáng, chiếu rọi tự tâm), phản văn văn tự tánh (xoay ngược cái nghe, lắng nghe tự tánh). Ngài quan sát tự tánh của chúng sanh xem ai là kẻ đang chịu khổ; rồi Ngài đi cứu độ chúng sanh ấy. Nhưng bạn th́ lại nh́n ra ngoài, quên bẵng trí huệ căn bản của ḿnh. Do đó, cái nh́n của bạn với cái nh́n của Ngài hoàn toàn khác nhau.

Có người lại nghĩ rằng: "Thầy ơi! Tôi không tin điều Thầy khai thị đâu! V́ sao tôi không tin? V́ Thầy nói chúng tôi là anh em với Quán Thế Âm Bồ-tát, song Ngài là bậc thánh c̣n chúng tôi là phàm phu; phàm phu làm sao có thể là anh em với bậc thánh đặng? Điều này không hợp lư nên tôi không tin." Tốt lắm! Bạn không tin cũng được, điều bạn nói cũng có lư. Song, lư lẽ này thuộc tri kiến của kẻ phàm; bởi v́ bạn chưa thâm nhập Kinh Tạng, nên chưa có trí huệ rộng sâu như biển.

Kinh Hoa Nghiêm dạy: "Bồ-tát suy nghĩ như vầy: 'Ta với chúng sanh, từ vô thủy kiếp tới nay đă từng là anh em, cha mẹ, chị em, vợ chồng với nhau.' " Bạn nói bạn không tin, chẳng qua là v́ bạn không hiểu rơ đạo lư Kinh Hoa Nghiêm đó thôi.

Hơn nữa, chẳng những Bồ-tát nh́n chúng sanh như vậy mà ngay cả Phật, Ngài cũng xem chúng sanh "tất cả người nam là cha ta, tất cả người nữ là mẹ ta." Nếu Phật xem chúng sanh như cha mẹ th́ tôi nói Quán Thế Âm Bồ-tát xem chúng sanh như anh em, có ǵ là không hợp lư? Bạn nói bạn không tin, đó là do bạn không đủ trí huệ, thiếu kiến thức hoặc giả cái nh́n của bạn quá hạn hẹp đó thôi.

V́ sao Phật muốn độ chúng sanh? V́ Ngài quan niệm "tất cả người nam là cha ta, tất cả người nữ là mẹ ta." V́ cha mẹ của Ngài đang thọ khổ trong lục đạo luân hồi nên bất luận thế nào, Ngài cũng phải cứu họ, khiến họ được ly khổ đắc lạc.

Mỗi ngày chúng ta đều niệm Quán Thế Âm Bồ-tát, đều lạy Quán Thế Âm Bồ-tát; song khi Ngài hiện thân trước mặt chúng ta th́ chúng ta lại chẳng hay biết. Do đó chúng sanh chúng ta thật rất đáng thương! V́ sao Quán Thế Âm Bồ-tát hiện ra trước mặt mà chúng ta không hay biết? Đây là thử thách cho ta (it is our big test). Khi bạn niệm danh hiệu Quán Thế Âm Bồ-tát, bạn phải học làm sao để được như Ngài vậy. Đức Quán Thế Âm Bồ-tát th́ có ḷng đại từ, đại bi, đại nguyện, đại lực; do đó, khi niệm danh hiệu Quán Thế Âm Bồ-tát, chúng ta phải học làm sao cho có ḷng đại từ, đại bi, đại nguyện, đại lực--ai đối xử xấu với ḿnh, ḿnh chớ động tâm; ai mắng chửi ḿnh, ḿnh phải nhẫn lặng; ai đánh đập ḿnh, ḿnh hăy nhẫn chịu; thậm chí có ai giết hại ḿnh, ḿnh cũng phải chịu, coi như là trả nợ vậy! Thế nào là "trả nợ"? Ví như xưa kia ḿnh không chửi rủa ai, th́ sẽ không ai tới chửi rủa ḿnh; xưa ḿnh không đánh đập ai, th́ cũng chẳng ai lại đánh đập ḿnh.

V́ sao có kẻ tới chửi rủa, đánh đập hay giết hại ḿnh? Bởi v́ xưa kia, khi ḿnh c̣n si mê, ḿnh đă từng chửi rủa, đánh đập, giết hại người khác; do đó, kiếp này ḿnh gặp phải những hoàn cảnh như vậy, và ḿnh nên cần phải thanh toán cho sạch nợ nần xưa kia. Khi xưa, v́ si mê nên ḿnh có nợ mà không trả. Ngày nay hiểu Đạo, ḿnh phải chân thành trả sạch nợ kia. Hễ ḿnh trả hết nợ th́ sẽ thấy đặng Quán Thế Âm Bồ-tát và làm bà con trong Đạo Pháp với Ngài.

Thế nên, đă niệm Quán Thế Âm Bồ-tát th́ khi gặp ai chúng ta cũng chớ t́m lỗi lầm của họ. Hễ cứ xoi mói lỗi lầm của người th́ ḿnh chưa hết khổ, chưa chặt đứt gốc rễ đau khổ. Do đó các bạn hăy nhận định rơ ràng mọi cảnh giới, thấu suốt căn nguyên mọi sự. Học Phật-pháp, bạn phải biết vận dụng Phật-pháp. Nếu không biết vận dụng Phật-pháp, th́ bất luận bạn tu bao lâu, Phật-pháp vẫn là Phật-pháp, mà bạn vẫn là bạn. Khi biết vận dụng th́ bạn nhập làm một với Phật-pháp, không c̣n ngăn cách ǵ nữa.

Nhẫn nại là pháp tối trọng yếu. Bạn phải nhẫn được những việc khó nhẫn. Ví dụ, bạn không thích bị chửi rủa, song hễ có ai mắng bạn, bạn hăy vui vẻ nhẫn nhịn. Tuy bạn không thích bị đánh đập, song hễ ai đánh bạn, bạn hăy vui vẻ chịu đựng. Bạn không muốn chết, v́ mạng người quư báu lắm; song hễ có ai muốn giết bạn, bạn hăy xem như họ giải thoát một đời nghiệp chướng cho bạn--họ chính thật là Thiện-tri-thức đấy. Các bạn ơi! Khi học Phật-pháp, chúng ta phải đổi ngược thái độ lại mà học, tu Đạo cũng phải đổi ngược thái độ lại mà tu! Thế nào là đổi ngược thái độ? Tức là hăy thích làm những việc mà xưa kia ḿnh không ưa thích; việc ḿnh chẳng ưa th́ chớ bao giờ bắt kẻ khác làm.

Nếu bạn cũng hệt như những kẻ tầm thường khác: chẳng thể nh́n suốt, chẳng thể buông bỏ, chẳng thể dứt trừ sự chấp trước vào cái "tôi" và vào cái "pháp," cứ giữ chặt bốn quan điểm phân biệt ḿnh, người, chúng sinh và thọ-giả th́ bạn sẽ có rất nhiều rắc rối phiền hà. Nếu bạn biết lùi một bước th́ chuyện ǵ cũng tự nhiên yên b́nh như biển lặng trời trong. Khi học Phật-pháp, chớ học đ̣i thứ cao thâm diệu vợi, v́ rằng:

B́nh thường tâm thị Đạo,
Trực tâm thị đạo tràng."

(Tâm b́nh thường--tâm không dục vọng--là Đạo,
Ḷng thẳng thắn là đạo tràng, nơi tu hành.)

Bởi thế chúng ta cần phải có tấm ḷng chính trực, thẳng thắn khi tu hành.

Khi niệm Quán Thế Âm Bồ-tát, bạn chớ có ḷng tham lam. Đừng nghĩ: "Tôi niệm danh hiệu Quán Thế Âm Bồ-tát, tôi sẽ phát tài!" Đó là việc không thể có! Khi bạn không tham, giàu sang có thể tới; một khi nảy ḷng tham, bạn sẽ chẳng được ǵ đâu. Khi niệm Đức Quán Thế Âm Bồ-tát, bạn đừng khoe khoang: "Tôi tới chỗ nọ chỗ kia tham gia Thất Quán Âm. Bạn chưa hề tham gia th́ đâu có bằng tôi!" Các bạn chớ khởi vọng tưởng như thế, cũng đừng ham danh, tham lợi hay thích hưởng thụ sung sướng.

Lúc niệm Quán Thế Âm Bồ-tát, hăy niệm một cách b́nh thường, chớ cầu cạnh bất kỳ việc ǵ. Đừng nên bắt chước những kẻ vừa niệm Quán Thế Âm Bồ-tát vừa nghĩ: "Tôi hiếm muộn không con, cầu xin Đức Quán Thế Âm Bồ-tát cho tôi đứa con trai." Có người th́ xin con gái; cũng có nhiều cậu niệm Quán Thế Âm Bồ-tát để cầu xin có đặng cô bồ xinh đẹp, và nhiều cô niệm Quán Thế Âm Bồ-tát để cầu gặp bạn trai--những việc như thế đều chẳng thể được! Khi niệm danh hiệu Đức Quán Âm, hăy quét sạch những ư tưởng dơ bẩn ấy đi. Đừng nên có ḷng tham lam, giận dữ hay si mê. Ví như ngày ngày mặc áo, chớ để ư áo đẹp hay không, chỉ cần ấm thân là tốt. Ngày ngày ăn cơm, chớ nảy ḷng tham thức ngon vật lạ. Nếu có những ư tưởng ấy, bạn chẳng c̣n dùng chân tâm để niệm Quán Thế Âm Bồ-tát nữa. Nếu bạn quả thật thành tâm niệm đức Quán Thế Âm Bồ-tát, th́ sao lại c̣n nghĩ tới chuyện ăn ngon, mặc đẹp? Các bạn đă quên những thứ ấy đi từ lâu rồi mới phải chứ! Chỉ có một cách là quên đi mọi chuyện th́ chúng ta mới hợp nhất với Quán Thế Âm Bồ-tát đặng.

Trong ḷng chúng sanh, ai ai cũng sẵn có một vị Quán Thế Âm Bồ-tát. Bây giờ chúng ta niệm Quán Thế Âm Bồ-tát chính là niệm Đức Quán Âm ở ḷng ḿnh. Có người nói: "Tôi t́m trong tâm, sao chẳng thấy tâm tôi đâu hết?" Nếu bạn không có tâm, bạn chẳng cần niệm Quán Thế Âm Bồ-tát làm ǵ. Bởi v́ chính đó (tức là bạn không có tâm) là Quán Thế Âm Bồ-tát. Quán Thế Âm Bồ-tát chính là sự không có tâm, bởi v́ Ngài hoàn toàn không khởi vọng tưởng, cũng chẳng có tham, sân, si. Ngài không bao giờ tính toán hôm nay mặc áo ǵ cho đẹp, ăn món ǵ cho thật ngon, hoặc muốn hưởng thụ đồ cúng dường ǵ. Ngài không chấp trước ǵ cả, không mong cầu ǵ hết. Việc Ngài làm là cứu độ chúng sanh, nguyện cho tất cả chúng sanh ly khổ đắc lạc, liễu sanh thoát tử, thành tựu Phật Đạo. Ngài không mong cầu ǵ ở chúng sanh cả. Ngài mong cho chúng sanh có thể chân chánh hiểu rơ Phật-pháp, hết sạch tham, sân, si.

Khi niệm Quán Thế Âm Bồ-tát, chớ nghĩ lăng xăng suốt ngày: "Sáng ra chẳng ăn ǵ cả, tối lại cũng chẳng có trà uống, thật khổ quá mức! Chịu không nổi nữa rồi, mau mau cuốn gói chạy thôi!" Tu hành như vậy thật chẳng có giá trị ǵ cả!

 

Đại Thế Chí Bồ Tát Niệm Phật Viên Thông

Đại: Đại là ǵ? Đại là trái với tiểu, nhưng ở đây "đại" mà "vô ngoại," nghĩa là chẳng có ǵ lớn hơn nữa. "Đại" ở đây là thể của pháp, đồng thời cũng là Phật tánh của chúng sanh. Đó là "đại nhi vô ngoại," "tiểu nhi vô nội," bao trùm tận thư không gồm hết pháp giới.

Do đó nói rằng Đại Thế Chí Bồ Tát làm một động tác như đưa tay lên hoặc bước tới một bước, th́ thập phương thế giới đều rúng động. Uy lực của Ngài vô cùng lớn lao, cho nên gọi là "Đại Thế Chí." Bởi vậy khi Ngài di động, cả mười phương thế giới đều rúng động. Có người thắc mắc: "Ngài thường đi đây đi đó hay không?"

Quư Phật tử chớ nên bận tâm về việc này, v́ một khi Ngài Đại Thế Chí di chuyển th́ thập phương thế giới thường chấn động, do đó Ngài thường ở trong đại định. Tuy nhiên, mặc dù Ngài nhập định nhưng Ngài vẫn có mặt cùng khắp, hào quang của Ngài chiếu sáng cùng khắp, trí tuệ của Ngài cũng ở cùng khắp.

Quư Phật tử cũng chẳng nên nghĩ rằng: "Oh!" "Ngài Đại Thế Chí Bồ Tát nhất định là một vị rất quê mùa, thô lổ. Nếu không như thế th́ bước chân của Ngài đâu có thể làm chấn động thập phương thế giới? Nhất định bước chân của Ngài rất nặng nề."

Chẳng phải như thế đâu. Không phải bước chân của Ngài nặng nề như quư vị suy đoán. Quư vị không nên lấy cái tri kiến của phàm phu mà suy đoán Thánh nhơn. Chẳng qua là oai đức của Ngài làm chấn động thập phương thế giới. Không những Ngài có oai đức to tát như vậy mà Ngài c̣n có thể dùng năng lực của ḿnh để khiến cho thập phương thế giới được b́nh an vô sự, chẳng có mảy may chấn động. Cho nên mặc dù Ngài có năng lực như vậy nhưng chưa hẳn Ngài mang quyền lực này ra sử dụng, đó là Đại Thế Chí Bồ Tát.

Vừa qua tôi đă giảng nghĩa ba chữ "Đại Thế Chí." "Bồ-tát" là ǵ? "Bồ-tát" là "bồ dă, giác dă, t́nh dă." Tức là giác hữu t́nh. Nói đầy đủ là Bồ Đề Tát Đỏa, phạn ngữ là Bodhisattva. Bồ-tát là bậc giác ngộ trong số chúng sanh, cũng có thể nói rằng Bồ-tát là chúng sanh đă giác ngộ.

Làm sao có thể nói Bồ-tát là bậc giác ngộ từ trong chúng sanh? Bồ-tát vốn cũng là chúng sanh như quư vị, như tôi. Chẳng qua là Bồ-tát nguyện phát bồ đề tâm, dũng mănh tinh tấn, hành Bồ-tát đạo, - xả những ǵ mà người khác không thể xả bỏ được, nhẫn những ǵ mà người khác không thể nhẫn được, làm những ǵ mà người khác không thể làm được, và đem lại lợi ích cho hết thảy chúng sanh. V́ Bồ-tát làm lợi ích cho hết thảy chúng sanh cho nên mới được giác ngộ, và là một bậc giác ngộ trong số chúng sanh chúng ta.

Bồ-tát vốn chẳng khác ǵ chúng ta. Chẳng những Bồ-tát giống như chúng ta, mà ngay cả Phật Thí