I.- Phần thứ nhât:
Pháp Hội Thành Tựu
Tôi nghe thế nầy, Một
thưở nọ, Phật ở trong thành Tỳ Da Ly Đạt Ma,
ấp Liêu Quách. Mười phương hướng về, bốn
chúng vây quanh.
II.- Mở bày Chánh
Kiến
Lúc bấy giờ, Vô Ngại Bồ
tát, từ trong chúng đứng dậy, chấp tay hướng
về phía Phật, cung kính thưa rằng:
- Bạch Thế Tôn! Chúng
sanh trong cơi Diêm phù đề nầy từ vô thủy
đến nay, xoay vần sanh ra, lên miên không
dứt, người hiểu biết th́ ít, người thiếu trí
th́ nhiều, người niệm Phật th́ ít, người cầu
Thần th́ nhiều, người giữ giới th́ ít, người
phá giới th́ nhiều, nguời cố gắng th́ ít,
người biếng nhác th́ nhiều, người trí tuệ
th́ ít, người ngu si th́ nhiều, người sống
lâu th́ ít, người ngắn mạng th́ nhiều, người
thuyền định th́ ít, người tán loạn th́ nhiều,
người giàu sang th́ ít, người nghèo hèn th́
nhiều, người dễ dạy th́ ít, người cứng đầu
th́ nhiều, người thẳng ngay th́ ít, người
cong vạy th́ nhiều, người trong sạch th́ ít,
người tham lam th́ nhiều, người bố thí th́
ít, người gian lận th́ nhiều, người thành
thật th́ ít, người dối trá th́ nhiều, t́nh
đời cạn lợt, phép quan dữ tợn, thuế dịch
nặng nề, trăm họ nghèo khổ, việc cầu khó
được, do v́ tin tà bỏ chính chịu khổ như vậy.
Nguyện xin Thế Tôn v́ những chúng sanh tà
kiến, giảng dạy pháp chánh kiến, làm cho
được hiểu ngộ, thoát khỏi các khổ.
Phật dạy:
- Lành thay! lành thay!
Vô Ngại Bồ Tát! Ông có ḷng từ bi, v́ những
chúng sanh tà kiến mà hỏi Như Lai pháp Chánh
kiến không thể nghĩ bàn. Ông hăy lắng nghe,
khéo léo suy nghĩ, ta sẽ v́ ông phân biệt
giải nói kinh Thiên Địa Bát Dương. Kinh nầy
chư Phật quá khư đă nói, chư Phật vị lai sẽ
nói, chư Phật hiện tại đang nói.
Phàm trong trời đăt,
thân người là trên hết, là quí nhất trong
vạn vật. Nhơn là chơn, tâm không vọng niệm,
thân làm việc chơn chánh. (Phảy) bên trái là
Chơn, (nét) bên phải là Chánh, thường làm
việc chơn chánh, nên gọi là nhơn. Do đó biết
rằng con người có thể mở Đạo, Đạo nhuần nơi
thân, cùng đạo cùng nhơn, bèn thành Thánh
Đạo.
Lại nữa, Vô Ngại Bồ Tát!
hết thảy chúng sanh, có được thân người,
không lo tu phước, bỏ thật theo giả, tạo các
ác nghiệp, khi đến lúc chết, ch́m đắm biển
khổ, chịu các thứ tội, nếu nghe Kinh nầy,
tâm tin không trái, liền được giải thoát các
nạn do tội gây ra, ra khỏi biển khổ, thiện
thần bao vệ, không các chướng ngại, tốt lành
ích thọ, không bị chết yểu. Do ḷng tin
tưởng, được phước như vậy, huống lại có
người chịu khó biên chép, nhận lănh tụng đọc,
đúng pháp tu hành, công đức người nầy không
thể nói được, không thể đo lường, không có
ngần mé, sau khi thọ hết, thành tựu Phật đạo.
Phật bảo Vô Ngại Bồ Tát
Ma Ha Tát:
- Nếu có chúng sanh,
tin tà thấy ngược, liền bị tà ma, ngoại đạo,
li, mị, vọng, lượng, chim kêu, trăm quái,
các quỷ thần ác, đến gần làm hại, các loại
bệnh hiểm, chịu các bệnh khổ không lúc nào
dừng, đọc Kinh (nầy) ba biến, các ác quỷ ấy
thảy đều tiêu diệt, các bịnh tiêu trừ, thân
mạnh sức đủ. Công đức đọc Kinh được phước
như vậy.
Nếu có chúng sanh bị
nhiều dâm dục, sân giận, ngu si, tham lam đố
kỵ, nếu gặp Kinh nầy, tin tưởng cúng dường,
tụng đọc ba biến, các ác ngu si thảy đều
tiêu diệt, từ bi hỉ xả, được vào Pháp Phật.
Lại nữa Vô Ngại Bồ Tát!
Nếu thiện nam tử, hoặc thiện nữ nhơn, làm
pháp hữu vi, trước hết tụng đọc Kinh nầy ba
biến, phá tường động thổ, xây dựng nhà cửa,
nhà nam nhà bắc, chái đông chái tây, nhà bếp,
nhà khách, cửa cổng giếng bếp, chày, thang,
kho chứa, chuồng nuôi lục súc, Nhựt Du
Nguyệt Sát Tướng quân, Thái Tuế, Hoành phan,
Báo vĩ, Ngũ thổ địa kỳ, Thanh long, Bạch hổ,
Châu tước, Huyền vũ, lục giáp cấm kỵ, mười
hai thời thần, Thổ úy, Phục long, tất cả quỉ
mị, thảy đều lẩn trốn, rời xa bốn phương,
h́nh tiêu bóng diệt, không đến làm hại, tốt
lành rất lớn, được phước vô lượng.
Thiện nam tử! sau khi
khởi công, chỗ ở măi yên, đất nhà bền bỉ,
giàu sang tốt đẹp, không cầu tự có. Nếu có
đi xa, đi lính, làm quan, được nhiều lành
tốt, cửa nhà hưng thịnh, người được sang quí,
con cháu đông vầy, cha hiền con hiếu, trai
trung gái trinh, anh nhường em nhịn, vợ
chồng ḥa thuận, tín nghĩa đốc thân, mong
cầu thành tựu. Nếu có chúng sanh, bị huyện
bắt giam, giặc cắp ŕnh rập, đọc Kinh (nầy)
ba biến tức được giải thoát.
Nếu thiện nam tử, hay
thiện nữ nhơn, nhận lănh đọc tụng, v́ người
biên chép Kinh Bát Dương nầy, khi vào lửa
nước, không bị đốt, trôi, nếu tại núi rừng,
cọp sói ẩn dấu, không bị tám họa, thiện thần
bảo vệ, thành Vô Thượng Đạo.
Lại nếu có người nói
lời dối trá thêu dệt đủ điều, lời ác hai
lưỡi, nếu hay thọ tŕ đọc tụng Kinh nầy, trừ
được bốn tội, được bốn vô ngại biện, thành
được Phật Đạo.
Nếu người thiện nam,
hay người thiện nữ, cha mẹ có tội, đến ngay
lâm chung phải đọa địa ngục, chịu vô lượng
khổ, các con các cháu tụng đọc kinh nầy cho
đến bảy biến, cha mẹ tất được thoát khỏi địa
ngục, sanh vào cơi trời, thấy Phật nghe Pháp,
ngộ vô sanh nhẫn, thành được Phật đạo.
Phật bảo Vô Ngại Bồ Tát:
- Trong thời Tỳ Bà Thi
Phật có ưu bà tắc và ưu bà di tâm không tin
tà, kính tin Phật Pháp, sao chép Kinh nầy,
nhận lănh đọc tụng, nên làm liền làm, không
có chút nghi, niềm tin chân chánh, làm việc
bố thí, cúng dường b́nh đẳng, được thân vô
lậu, thành tựu đạo Bồ tát, tên là Phổ Quang
Như Lai ứng đắc chánh giác, kiếp tên Đại Măn,
nước tên Vô Biên, nhân dân nước đó, hành đạo
Bồ tát, không pháp thể được. Oai lực của
Kinh, quả báo như vậy.
Lại nữa Vô Ngại Bồ Tát!
Kinh Bát Dương nầy, lưu hành trong cơi Diêm
Phù Đề nầy, bất cứ nơi nào, có tám Bồ tát,
các Phạm Thiên Vương, hết thảy minh linh,
nhiễu quanh quyển Kinh, cúng dường hương hoa
như Phật không khác.
Phật bảo Vô Ngại Bồ Tát
Ma Ha Tát:
- Nếu thiện nam tử, hay
thiện nữ nhơn, v́ lợi chúng sanh, giảng nói
Kinh nầy, hiểu sâu thật tướng, được lư sâu
xa, tức biết thân tâm, Phật tâm, Pháp tâm.
Biết được như vậy, tức được trí tuệ.
Mắt thường thấy các thứ
vô tận sắc, sắc tức thị không, không tức thị
sắc. Thọ, tưởng, hành, thức cũng tức thị
không, tức Diệu Sắc Thân Như Lai.
Tai thường nghe các thứ
vô tận thanh, thanh tức thị không, không tức
thị thanh, tức Diệu Âm Thanh Như Lai.
Mủi thường ngửi các thứ
vô tận hương, hương tức thị không, không tức
thị hương, tức Hương Tích Như Lai.
Lưỡi thường hiểu rơ các
thứ vô tận vị, vị tức thị không, không tức
thị vị , tức Pháp Hỷ Như Lai.
Thân thường biết các
thứ vô tận xúc, xúc tức thị không, không tức
thị xúc, tức thị Trí Thắng Như Lai.
Ư thường tư tưởng phân
biệt các thứ vô tận pháp, pháp tức thị không,
không tức thị pháp, tức thị Pháp Minh Như
Lai.
Nếu người thiện nam,
hay người thiện nữ, với sáu căn nầy hiện ra
trong đời, miệng nói lời lành: pháp lành
thường chuyển, thành tựu Thánh Đạo; nếu nói
lời tà, pháp ác thường chuyển, bị đọa địa
ngục.
Thiện nam tử! Lẽ thật
thiện ác không thể không tin, thân tâm con
người: pháp khí của Phật. Củng như vậy đó,
mười hai bộ (Đại Tạng) Kinh, từ xưa đến nay,
chuyển tụng không dứt, không hao mảy lông
trong tạng Kinh điển của Đức Như Lai, chỉ
người thấy Tánh mới rơ biết được, Thanh văn,
phàm phu không thể biết được.
Thiện nam tử! Đọc tụng
Kinh nầy, đạt lư tướng thật, tức biết thân
tâm chính là pháp khí của các đức Phật. Nếu
mê không tỉnh, không biết thân tâm chính là
nền tảng của Pháp Giác Ngộ, trôi lăn các cơi,
đọa vào đường ác, ch́m măi biển khổ, không
dịp nghe được danh tự Phật Pháp.
Lúc bấy giờ có năm trăm
thiên tử từ trong đại chúng nghe Phật thuyết
Kinh được Pháp nhăn tịnh, tâm rất vui mừng,
liền phát Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
III.- Phần ba: Sanh
tử Táng theo Chánh Đạo
Vô Ngại Bồ Tát lại bạch
Phật:
- Thưa Thế tôn, người
trong thế gian, sống chết việc lớn, đến lúc
th́ sanh, chết không định ngày, đến lúc th́
chết. Tẩn táng th́ coi lương thần kiết nhựt,
rồi mới tẩn táng. Sau khi tẩn táng, lại cũng
không yên. Kẻ nghèo khó nhiều, thuận lợi th́
ít. Kính mong thế tôn v́ những chúng sanh tà
kiến không trí, nói nhân duyên nầy, làm cho
họ được vào trong chánh kiến, trừ các điên
đảo.
Phật dạy:
- Lành thay, lành thay!
Này Thiện nam tử! Ông hỏi Như Lai về phép
tẩn táng, ông hăy lắng nghe, ta sẽ v́ ông
nói về trí tuệ, chánh pháp đại đạo. Trời đất
xưa nay tánh vốn trong trẻo, mặt trời mặt
trăng măi măi sáng sủa, ngày tháng thời gian
măi măi tốt lành, chưa từng sai khác.
Này thiện nam tử! Nhơn
Vương Bồ Tát, rất đại từ bi, thương xót
chúng sanh, coi như con đỏ, làm chủ loài
người, làm cha mẹ dân, thuận theo người đời,
dạy phép tắc đời, sai làm lịch nhật, ban bố
thiên hạ, cho biết được thời tiết, gồm các
tự B́nh, Măn, Thành, Thâu, Khai, Trừ, các
văn Chấp, Nguy, Phá, Sát. Người ngu chỉ biết
theo tự mà dùng, khi gặp hung lỗi lại nhờ
thầy tà t́m cách yểm trấn, nói đó là đạo,
cầu khẩn tà thần, cúng tế quỷ đói, rước lấy
tai ương, tự nhận khổ năo. Người như làm vậy
là phản lại thiên thời, làm nghịch địa lư,
che mất sự sáng của vầng nhật nguyệt, thường
vào nhà tối, ngăn đường Chánh Đạo, hay t́m
tà kinh, điên đảo vô cùng.
Lại nữa. Này thiện nam
tử, và thiện nữ nhơn, trong lúc sanh sản
tụng kinh (nầy) ba biến th́ sanh con lạ,
lành tốt rất lớn, thông minh trí tuệ, đầy đủ
phước đức, không chết lúc sanh. Lúc chết
cũng tụng kinh nầy ba biến, sẽ không chút
hại.
Này thiện nam tử! Ngày
ngày đều tốt, tháng tháng đều tốt, năm năm
đều tốt, thiệt không ngăn cách. Về việc tẩn
táng, vào ngày tẩn táng, đọc Kinh (nầy) bảy
biến, được nhiều lợi lành, được phước vô
lượng, người nhà phú quí, mạnh khỏe sống lâu,
đến ngày mạng hết, thành tựu Phật đạo.
Này thiện nam tử! Về
đất tẩn táng đừng bàn đến chuyện đông tây
nam bắc, nơi có an ổn, người được yên vui,
quỉ thần yên vui, tụng Kinh (nầy) ba biến,
sau đó sửa dinh, an trí mồ mă, măi không tai
chướng, nhà giáu người thịnh, được kiết lợi
lớn.
Bấy giờ Thế Tôn nói lại
nghĩa trên mà nói kệ rằng:
Sanh ra ngày ngày lành
Chôn cất giờ giờ tốt
Sinh, chết đọc Kinh nầy
Được kiết lợi rất lớn.
Tháng tháng đều lành
sáng
Năm năm đều năm tốt
Đọc kinh khi tẩn táng
Vinh hoa măi hưng thịnh.
Lúc bấy giờ bảy vạn
người trong chúng nghe Phật thuyết dạy, tâm
mở ư tỏ, bỏ tà về chánh, được phần Phật Pháp,
vinh viễn cắt trừ được mối nghi hoặc, được
tâm Vô Thượng Chánh Giác Bồ Đề.
IV.- Phần thứ tư:
Pháp thế gian về Hôn cấu
Băy giờ Vô Ngại Bồ Tát
lại bạch Phật:
- Kính thưa Thế Tôn!
Hết thảy phàm phu đều lấy hôn phối để kết
thành thân, trước hỏi tương nghi, lại t́m
ngày tốt, sau mới thành thân. Sau khi thành
thân, giàu sang đến già là việc ít thấy,
nghèo hèn sanh ly tử biệt th́ nhiều. Một
loại tin tà, sai khác ra sao, xin nguyên Thế
Tôn giải rơ mối nghi.
Phật dạy:
- Này thiện nam tử! Ông
hăy lắng nghe, ta sẽ nói rơ. Phàm lư âm
dương ở trong trời đất, nhựt âm nguyệt dương,
thủy âm hỏa dương, nam âm nữ dương, khí trời
đất hợp th́ cỏ cây sinh, trời trăng giao ḥa
làm cho bốn mủa tám tiết thuận trôi, nước
lửa giao ḥa làm cho hết thảy vạn vật trưởng
thành, nam nữ ḥa thuận, con cháu hưng thịnh,
đó là đạo thường ở trong trời đất, cái lẽ tự
nhiên, pháp tắc thế tục.
Này thiện nam tử! người
ngu không trí, tin nơi thầy tà, bói toán cầu
tốt, không chịu tu thiện, tạo nhiều nghiệp
ác, sau khi mạng chung, được lại thân người
như đất móng tay, đọa vào địa ngục, súc sanh,
quỷ đói, như đất đại địa. Này thiện nam tử!
Được lại thân người, chánh tín tu thiện như
đất móng tay, c̣n người tin tà tạo các ác
nghiệp như đất đại địa.
Này thiện nam tử! khi
kết hôn thân, không cần phải coi thủy hỏa
khắc nhau, bào thai yểm nhau, niên mạng
không đồng, chỉ coi lộc mạng mà biết phước
đức có nhiều hay ít, bảo với bà con vào ngày
hô nghinh đọc tụng kinh nầy th́ được thành
tựu. Đó là lành lành cùng đến với nhau, sáng
sáng cùng quyện vào nhau, cửa cao người quí,
con cháu hưng thịnh, thông minh trí tuệ, có
nhiều nghề khéo, hiếu kính lẫn nhau, kiết
lợi vô cùng, không bị trúng yểu, phước đức
đầy đủ, thành tựu Phật đạo.
Lúc bấy giờ có tám vị
Bồ tát, do thần lực Phật, được đại tổng tŕ,
trong chỗ thường ở, cùng ḥa ánh sáng, phá
tà lập chánh, cứu bốn loài sanh, đủ tám giải
thoát, các vị tên là: Bạt Đà Bà La Bồ tát
lậu tận ḥa, La Lân Na Kiệt Bồ tát lậu tận
ḥa, Kiều Việt Đảm Bồ tát lậu tận ḥa, Na La
Diên Bồ tát lậu tận ḥa, Tu Di Thâm Bồ Tát
lậu tận ḥa, Nhơn Kỳ Đạt Bồ tát lậu tận ḥa,
Ḥa Luân Điều Bồ tát lậu tận ḥa, Vô Duyên
Quán Bồ tát lậu tận ḥa. Các vị Bồ tát nầy
bạch Phật rằng:
- Kính thưa Thế Tôn!
Chúng con ở nơi chư Phật nhận giữ đà la ni
chú giờ xin nói ra để ủng hộ người thọ tŕ
đọc tụng Kinh Bát Dương nầy vĩnh viễn xa ĺa
hết những sợ hăi, làm cho hết thảy những vật
không lành không thể làm hại, pháp sư đọc
tụng, như ở trước Phật. Nói thần chú rằng:
A dà ni, a dà ni, a tỳ
la, mạng lệ, mạng đa lệ, xà lê.
Kính thưa Thế Tôn! nếu
có người ác muốn đến năo loạn nơi vị pháp sư,
nghe thần chú nầy, đầu vỡ bảy phần như nhánh
A lê.
V.- Phần thứ năm: Mở
bày tên Kinh
Lúc bấy giờ Vô Biên
Thân Bồ Tát, từ ṭa đứng dậy, thưa cùng Đức
Phật:
- Kính thưa Thế Tôn! V́
sao tên gọi là Bát Dương Kinh, nguyện xin
Thế Tôn v́ người nghe Pháp, nói rơ ư nghĩa,
làm cho tỉnh ngộ, chóng thấu gốc Tâm, vào
tri kiến Phật, vĩnh viễn rời nghi.
Phật dạy:
- Lành thay, lành thay,
nầy thiện nam tử! Ông hăy lắng nghe, ta sẽ
nói rơ về Kinh Bát Dương. Bát là phân biệt.
Dương là hiểu rơ chân lư vô vi của pháp Đại
Thừa, phân biệt rơ ràng nhân duyên tám thức
là không chỗ được. Lại nói, Tám Thức là kinh
(đường giọc), Dương Minh là vĩ (đường ngang),
kinh vĩ hợp nhau tựu thành kinh giáo, cho
nên gọi tên là Bát Dương Kinh. Tám thức, mắt
là sắc thức, tai là thanh thức, mũi là hương
thức, lưỡi là vị thức, thân là xúc thức, ư:
phân biệt thức, hàm tàng là thức, thức A Lại
Da phân biệt căn nguyên không vô sở hữu của
tám thức.
Tức biết hai mắt là
quang minh thiên. Trong quang minh thiên,
hiện Nhật Nguyệt Quang Minh Thế Tôn.
Tai: Thanh Văn thiên.
Trong Thanh Văn thiên, hiện Vô Lượng Thanh
Như Lai.
Mũi: Phật Hương
thiên. Trong Phật Hương thiên, hiện
Hương Tích Như Lai.
Lưỡi: Pháp Vị thiên.
Trong Pháp Vị thiên, hiện Pháp Hỷ Như Lai.
Thân: Tỳ Lư Giá Na
thiên. Trong Tỳ Lư Giá Na thiên, hiện
Thành Tựu Tỳ Lô Giá na Phật. Cảnh Tượng Phật
tức hiện Lư Giá Na Quang Minh Phật.
Ư : Vô Phân Biệt
thiên. Trong Vô Phân Biệt thiên, hiện
Băt Động Như Lai.
Tâm: Pháp Giới thiên.
Trong Pháp Giới thiên hiện Không Vương Như
Lai.
Hàm Tàng: Thức thiên,
diễn xuất A hàm Kinh, Đại Bát Nhă Niết Bàn
Kinh.
A Lại Da Thức thiên
diễn xuất Đại Trí Độ Luận kinh, Lăng Già
Luận kinh.
Này thiện nam tử! Phật
tức là Pháp, Pháp tức là Phật, hiệp làm một
tướng, tức hiện Đại Thông Trí Thắng Như Lai.
Phật thuyết kinh nầy,
hết thảy cơi đăt, chấn động sáu cách, ánh
sáng chiếu khắp, không có ngần mé, không thể
diễn tả, các chốn u minh đều được soi sáng,
hết thảy đîa ngục đều bị tiêu diệt, hết thảy
tội nhơn đều được thoát khổ.
Bấy giờ tám vạn tám
ngàn Bồ tát trong chúng hội một lúc đều
chứng quả Thánh, hiệu là Không Vương Như Lai
Ưng Đắc Chánh Giác, kiếp tên Ly Cấu, Phật
hiệu Vô Biên, hết thảy nhân dân đều được Bồ
Tát Đạo, Sáu Ba La Măt, chứng Không Chỗ Được
(Vô Sở Đắc), không c̣n đó đây, được Vô Tránh
Tam Muội. Sáu vạn sáu ngàn Tỳ kheo, Tỳ kheo
ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di, được Đại tổng tŕ,
vào pháp Bất Nhị. Vô số thiên, long, Dạ xoa,
Càn thác bà, A tu la, Ca lầu la, Khẩn na la,
Ma hầu la già, người cùng phi nhơn được pháp
nhăn tịnh, tu Bồ tát đạo.
VI.- Phần thứ sáu:
Chúc lụy
Này thiện nam tử! Người
nhận chức quan, vào ngày đăng vị, người vào
nhà mới, đọc Kinh (nầy) ba biến, được kiết
lợi lớn, thiện thần ủng hộ, thọ mạng dài lâu,
phước đùc đầy đủ.
Này thiện nam tử! Nếu
đọc Kinh nầy một biến như đọc hết tảy Kinh
một bộ, nếu sao chép Kinh nầy một quyển, như
sao chép hết thảy Kinh một bộ, công đức
không thể nói, không thể đo, bằng với hư
không, không có ngằn mé, những người đó đều
thành tựu Thánh Đạo.
Lại nữa, Vô Biên Thân
Bồ tát Ma ha tát! Nếu có chúng sanh không
tin Chánh pháp, thường sanh tà kiến, khi
nghe Kinh nầy sinh ḷng phỉ báng, bảo không
phải lời Phật, người nầy hiện đời bị chứng
bạch lại, ác thủng nủng huyết, toàn thân
giao lưu, hôi hám dơ bẩn, người thêm tật
bệnh, đến ngày mạng chung, đọa ngục Vô gián,
lửa trên đót xuống, lửa dưới xông lên,
thương sắt xe sắt, toàn thân bị đâm, đồng
sôi cho uống, gân cốt tiêu họai, một ngày
một đêm, vạn lần chết vạn lần sống, chịu các
khổ đau không lúc dừng nghỉ, chê bai Kinh
nầy bị tội như vậy.
Phật v́ những người bị
tội nói lời kệ rằng:
Thân là thân tự nhiên
Năm vóc tự đầy đủ
Lớn lên tự nhiên lớn
Già đến tự nhiên già
Sanh th́ tự nhiên sanh
Chết tức tự nhiên chết
Cầu dài không được dài
Cầu ngắn không được
ngắn
Khổ vui tự ḿnh gánh
Tà Chánh do chính ḿnh
Nếu muốn có công đức
Tụng kinh chớ sinh nghi
Ngàn ngàn vạn vạn đời
Đắc đạo chuyển Pháp
luân.
VII.- Phần thứ bảy:
Chứng Nhập Diệu Hạnh
Khi Phật nói Kinh nầy,
hết thảy đại chúng, được điều chưa từng có,
tâm sáng ư tịnh, vui mừng hớn hở, đều hiện
tướng phi tướng của chư Phật, vào tri kiến
Phật, ngộ tri kiến Phật, không nhập không
ngộ, không có pháp để được, tức vui Niết bàn.
Bấy giờ Thế Tôn muốn
nói lại những lời vi diệu trọng yếu, nói kệ
như sau:
Tướng đoan chánh đầy đủ
Sanh từ nhà cự ức
Ḷng bố thí dũng mănh
Làm người không tham
lam
Người nữ nghe pháp nầy
Rất phấn khởi mừng vui
Được bỏ thân người nữ
Sanh ra làm thân nam
Đao binh không thể hại
Trùng độc không thể hại
Huyện quan và giặc cướp
Không hại được người
nầy
Cung kính chấp tay lễ
Trăm ác đều trừ sạch
Trước sau không thể hại
Người hành theo Kinh
nầy.
VIII.- Phần thứ tám:
Phụng Hành Thủ Hộ
Lúc bấy giờ, các vị Bồ
tát, Di Lặc Bồ tát, cùng bốn Đại Thiên vương
cùng bạch Phật rằng:
- Kính thưa Thế Tôn!
Chúng con đều cùng ủng hộ kinh Bát Dương
Thần Chú, con nguyện giúp đỡ ủng hộ người có
ḷng tin, nếu bị tật bịnh làm cho tiêu trừ.
Các vị Bồ tát, ngài Xá
Lợi Phật, các vị Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà
tắc, Ưu bà di, trời, rồng, quỉ thần, A tu
la, Chuyển luân thánh vương vui mừng đảnh lễ,
tin lănh làm theo.
Tán
rằng:
Kinh Bát Dương là Đạo
chân chính
Ba đời chư Phật hiểu
đành rành
Trời Phạm, thần minh
đều vi nhiểu
Quá khứ tu tŕ huệ
thành Phật
Nghe Kinh suy tư đều
đốn hiểu
Nếu có người tụng tạo
công đức
Người thiện nầy sanh
không chết yểu
Con nguyện với tất cả
chúng sanh
Các nguyện các cầu đều
đầy đủ
Vô thủy đến nay theo
sóng dạt
Trên thân chồng chất
chuyện không an
Bốn rắn cùng bơi, ba
độc huân
Sắc giặc điên cuồng,
mười triền sử
Dập dồn gió nghiệp về
bức bách
Mịt mù trong núi lớn vô
minh
Lẫn lộn hoang mang niềm
dục lạc
Bồn chồn tham sân si
đốt cháy
Trôi lăn sanh tử biển
ân ái
Mịt mờ ch́m đắm sông
vọng t́nh
Rùa mù gỗ nổi việc
chẳng thường
Hạt cải đầu kim gặp gỡ
khó
Phật hiện trong đời
đừng chểnh măng
Thánh hiền răn dạy chớ
coi thường.
Ma Ha Bát Nhă Ba La Mật Đa Tâm Kinh.
Bồ Tát Quán Tự Tại, hành sâu vào Bát Nhă Ba La Mật
Đa th́, thấy rơ năm uẩn đều không, qua khỏi tất cả
khổ ách.
Xá Lợi Tử ! Sắc chẳng khác không, không chẳng
khác sắc, sắc tức là không, không tức là sắc, thọ,
tưởng, hành, thức cũng đều như thế.
Xá Lợi Tử ! Các pháp đó không tướng, không
sinh không diệt, không dơ không sạch, không tăng
không giảm. Cho nên trong không chẳng có sắc, thọ,
tưởng, hành, thức ; không có sắc, thanh, hương, vị,
xúc, pháp ; không có nhăn giới, cho đến không có ư
thức giới ; không có vô minh, cũng không có hết vô
minh, cho đến không có già chết, cũng không có hết
già chết ; không có khổ tập diệt đạo, không có trí
huệ cũng không đắc được.
V́ không chỗ đắc, nên Bồ Tát nương vào Bát
Nhă Ba La Mật, tâm không quái ngại, v́ không quái
ngại, nên không có sợ hăi, xa ĺa điên đảo mộng
tưởng, rốt ráo đạt đến Niết Bàn. Các Đức Phật ba đời,
đều nương vào Bát Nhă Ba La Mật, cho nên đắc được Vô
Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
Nên biết Bát Nhă Ba La Mật Đa là Chú đại thần,
là Chú đại minh, là Chú vô thượng, là Chú vô đẳng
đẳng, trừ được tất cả khổ, chân thật không hư.
Cho nên nói Chú Bát Nhă Ba La Mật Đa, bèn nói
Chú rằng : Yết đế, yết đế, ba la yết đế, ba la tăng
yết đế, bồ đề tát bà ha. (3 lần)
Chú Trừ Tất Cả
Nghiệp Chướng Văng Sanh Tịnh Độ:
Nam mô a di đa bà dạ
Đa tha dà đa dạ
Đa địa dạ tha
A di rị đô bà t́
A di rị đa tất đam bà t́
A di rị đa t́ ca lan đế
A di rị đa t́ ca lan đa
Dà di nị dà dà na
Chỉ đa ca lệ
Ta bà ha (3 lần)
Kệ Tán Phật A Di Đà
A Di Đà Phật thân sắc
vàng,
Tướng tốt rực rỡ hào quang sáng
ngời,
Mày trắng tỏa, Tu Di uyển chuyển,
Mắt trong ngần, bốn biển long lanh,
Ánh hào quang hóa vô số Phật,
Vô số Bồ Tát hiện ở trong,
Bốn mươi tám nguyện độ chúng sanh,
Chín phẩm sen vàng lên giải thoát.
Nam Mô Tây Phương
Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật (3 lần)
Nam Mô A Di Đà Phật (108 lần)
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (10 lần)
Nam Mô Dược Sư Lưu Ly Quang Phật (10 lần)
Nam Mô Quán Thế Âm Bồ tát
(3 lần)
Nam Mô Đại Thế Chí Bồ Tát
(3 lần)
Nam Mồ Địa Tạng Vương Bồ Tát
(3 lần)
Nam Mô Tiêu Tai Kiết Tường Bồ Tát (3 lần)
Tán:
Bát Dương bí nghĩa phơi
bày, pháp vi diệu khó lường, hiểu rơ lư Chân
Thường, Sáu trí sáng tỏ tường, Vạn đức trang
nghiêm, Thánh chúng giáng đạo tràng.
Nam mô Vô Ngại Bồ Tát
(3 lần) Ma Ha tát.
Hồi Hướng
Tụng Kinh công đức hạnh thù thắng
Bao nhiêu phước đức đều hồi hướng
Nguyện khắp pháp giới các chúng sinh
Sớm được văng sinh cơi Phật Vô Lượng Quang
Nguyện tiêu ba chướng dứt phiền năo
Nguyện được trí huệ hiểu chân thật
Nguyện khắp tội chướng đều tiêu trừ
Đời đời thường hành Bồ Tát đạo
Nguyện sinh sang cơi Tây phương Tịnh độ
Chín phẩm hoa sen là cha mẹ
Hoa nở thấy Phật ngộ vô sinh
Bồ Tát bất thối làm bạn lành
Nguyện đem công đức nầy
Hướng về khắp tất cả
Đệ tử và chúng sinh
Đều trọn thành Phật đạo.
Tam Quy y
Tự
quy y Phật, xin nguyện chúng sinh, thể theo đạo cả,
phát ḷng vô thượng. (1 lạy)
Tự
quy y Pháp, xin nguyện chúng sinh, thấu rơ tạng Kinh,
trí huệ như biển. (1 lạy)
Tự
quy y Tăng, xin nguyện chúng sinh, thống lư đại
chúng, hết thảy không ngại. (1 lạy)