|
Phẩm Tư Duy, Thứ 1
Tôi nghe như vầy,
một thuở nọ đức Phật ở tịnh xá Trúc Lâm, thành Vương Xá, xứ Ma Kiệt
Đà, cùng với năm trăm vị đại tỳ kheo, đều là các bậc A La Hán, đă
hết các lậu hoặc, không c̣n phiền năo, đều được tự tại, tâm khéo
giải thoát, huệ khéo giải thoát, hàng phục tất cả, giống như rồng
lớn, việc làm đă xong, các hạnh đầy đủ, xả bỏ các trọng trách, không
c̣n sanh đời sau, hành hạnh b́nh đẳng, đă đạt được sự lợi ích của
pháp chân thật, an trụ chánh pháp, đạt đến bờ giác, nhưng chỉ trừ
trưởng lăo A Nan.
Bấy giờ, có năm trăm
vị tỳ kheo, sáng sớm từ các nơi khác, đến chỗ của Phật, cung kính
chấp tay, đảnh lễ chân Phật, rồi ngồi sang một bên.
Khi ấy, tôn giả Xá
Lợi Phất, tôn giả Mục Kiền Liên sau khi kiết hạ an cư trong thành Xá
Vệ xong, cũng đi cùng với năm trăm vị tỳ kheo, thứ lớp du hành khất
thực qua các làng xóm thành ấp rồi đến thành Vương Xá, vào tịnh xá
Trúc Lâm, đến chỗ của Phật, cung kính đảnh lễ Phật xong, ngồi sang
một bên.
Lúc đó, đức Thế Tôn
hiện thần lực, phóng ánh hào quang lớn, khiến tất cả chư tăng ở các
thành ấp xóm làng khác đều đến vân tập tại thành Vương Xá, vào tịnh
xá Trúc Lâm, đến nơi Phật, cung kính chấp tay đảnh lễ, rồi ngồi sang
một bên.
Khi ấy, trăm ngàn
chư tỳ kheo ở xứ Ca Lan Đà cũng y theo hào quang Phật mà đến nơi
Phật, cung kính đảnh lễ chân Phật, rồi ngồi sang một bên.
Lại cũng có tỳ kheo
ni Ma Ha Ba Xà Ba Đề cùng với 20.000 tỳ kheo ni, thừa hào quang Phật,
đều đến vân tập tại tịnh xá Trúc Lâm, nơi Phật trú, đồng cung kính
chấp tay, đảnh lễ chân Phật, rồi ngồi sang một bên.
Lúc đó, trong thành
Vương Xá có ông cư sĩ tên là Hiền Hộ đứng đầu trong các cư sĩ, cùng
với năm trăm cư sĩ thọ tŕ năm giới, đầy đủ oai nghi của đại Bồ Tát,
đă lâu trụ trong hạnh vô thượng chánh đẳng chánh giác,y theo lực của
bổn nguyện, thường theo đức Thế Tôn, vui nghe chánh pháp, hằng
chuyên cần tinh tấn, để tu viên măn tất cả pháp trợ đạo, vào buổi
sáng sớm, thừa oai thần của Phật từ nơi của họ, vào thành Vương Xá,
đến tịnh xá Trúc Lâm nơi Phật ở, cung kính chấp tay, đảnh lễ chân
Phật, rồi ngồi sang một bên.
Bấy giờ, trong thành
lớn Tỳ Xá Ly có một người ḍng Ly Xa, tên là Bảo Sanh, sám sớm dẫn
28.000 người Ly Xa, thừa lực oai thần của Phật, từ nơi của họ, đều
vào thành Vương Xá, đến tịnh xá Trúc Lâm nơi Phật ở, cung kính chấp
tay, đảnh lễ chân Phật, rồi ngồi sang một bên.
Trong thành Chiêm Ba
có một công tử, tên là Tinh Tạng dẫn 28.000 ngàn công tử vào buổi
sáng sớm thừa lực oai thần của Phật, vào tịnh xá Trúc Lâm, nơi Phật
ở, cung kính chấp tay, đảnh lễ chân Phật, rồi ngồi sang một bên.
Lại có một người Ma
Na Bà, tên là Na La Đạt Đa, vào buổi sáng sớm dẫn 28.000 người từ
chỗ của họ, vào thành Vương Xá, đến tịnh xá Trúc Lâm, nơi Phật ở,
cung kính chấp tay, đảnh lễ chân Phật, rồi ngồi sang một bên.
Trong xứ Xá Vệ có
trưởng giả Đại Thiện Thương Chủ, trưởng giả Cấp Cô Độc vào buổi sáng
sớm dẫn 28.000 người, từ xứ Xá Vệ, đến thành Vương Xá, vào tịnh xá
Trúc Lâm nơi Phật ở, cung kính chấp tay, đảnh lễ chân Phật, rồi ngồi
sang một bên.
Trong thành Vương Xá
có trưởng giả Thủy Thiên, dẫn 28.000 người từ nơi đó, đến tịnh xá
Trúc Lâm nơi Phật ở, cung kính chấp tay, đảnh lễ chân Phật, rồi ngồi
sang một bên.
Vua A Xà Thế con
hoàng hậu Vi Đề Hy của xứ Ma Kiệt Đà vào buổi sáng sớm, dẫn trăm
ngàn quyến thuộc đến tịnh xá Trúc Lâm nơi Phật ở, cung kính chấp tay,
đảnh lễ chân Phật, rồi ngồi sang một bên.
Lại có Tứ Đại Thiên
Vương và trời Đế Thích cùng tất cả chư thiên ở cơi trời Dục Giới, và
vô số trăm ngàn ức na do tha chư thiên quyến thuộc vào buổi sáng sớm
đến tịnh xá Trúc Lâm nơi Phật ở, đảnh lễ chân Phật rồi ngồi sang một
bên.
Lại có vua trời Đại
Phạm chủ cơi Ta Bà cùng với vô số trăm ngàn ức na do tha chư thiên
quyến thuộc vào buổi sáng sớm vào tịnh xá Trúc Lâm nơi Phật ở, đảnh
lễ chân Phật, rồi ngồi sang một bên.
Lại có vua trời Đại
Tự Tại cùng với trăm ngàn chư thiên quyến thuộc ở cơi trời Tịnh Cư,
vào buổi sáng sớm, đến tịnh xá Trúc Lâm nơi Phật ở, đảnh lễ chân
Phật, rồi ngồi sang một bên.
Lại có bốn vị vua A
Tu La dẫn vô số trăm ngàn quyến thuộc A Tu La, vào buổi sáng sớm,
đến tịnh xá Trúc Lâm, đảnh lễ chân Phật, rồi ngồi sang một bên.
Lại có vua rồng Nan
Đà và Bạt Nan Đà cùng với trăm ngàn vô số quyến thuộc loài rồng, vào
buổi sáng sớm đến tịnh xá Trúc Lâm nơi Phật ở, đảnh lễ chân Phật,
rồi ngồi sang một bên.
Lại có vua rồng Bà
Già La, A Na Ba Đạt Đa, Ma Na Tư, Y Bạt La, cùng với trăm ngàn vô số
quyến thuộc loài rồng, vào buổi sáng sớm, đến tịnh xá Trúc Lâm, nơi
Phật ở, đảnh lễ chân Phật, rồi ngồi sang một bên.
Bấy giờ, trong ba
ngàn đại thiên thế giới, tất cả chư tỳ kheo, tỳ kheo ni, cư sĩ nam,
cư sĩ nữ, và tất cả hàng trời rồng, Dạ Xoa, Càn Thát Bà, A Tu La, Ca
Lầu La, Khẩn Na La, Ma Hầu La Già, cho đến hàng phi nhân cùng các
quốc vương tin đức Như Lai, v́ muốn nghe pháp, đồng tới tịnh xá Trúc
Lâm nơi Phật ở, đảnh lễ chân Phật, mỗi mỗi tự ngồi sang một bên.
Lúc đó, tịnh xá Trúc
Lâm trong vườn Ca Lan Đà rộng lớn, dung chứa đầy hết tất cả đại
chúng trong ba ngàn đại thiên thế giới mà không c̣n chỗ dư. Như thế,
từ trên cơi trời Hữu Đảnh xuống đến Phạm cung, tất cả chư thiên có
thần thông oai đức lớn, cho đến tất cả loài rồng, Dạ Xoa, A Tu La,
Càn Thát Bà, Khẩn Na La, Ma Hầu La Già, phi nhân đều đến vân tập.
Khi ấy, đại Bồ Tát
Hiền Hộ từ chỗ ngồi đứng dậy, trạch bày vai phải, gối phải quỳ xuống
đất, chấp tay bạch Phật:
-Bạch đức Thế Tôn!
Nay tâm con có những điều nghi ngờ, muốn thỉnh hỏi đức Thế Tôn.
Không biết Ngài cho phép chăng?
Lúc đó, đức Phật bảo
Hiền Hộ:
-Này Hiền Hộ! Đức
Như Lai sẽ tùy theo những điều nghi ngờ của ông mà trả lời để ông
vui ḷng.
Được đức Phật hứa
khả, Bồ Tát Hiền Hộ bạch rằng:
-Bạch đức Thế Tôn!
1/ Đại Bồ Tát thành
tựu những tam muội nào mà hay đạt được các tụ công đức lớn?
2/ Làm sao nhập vào
biển lớn Đa Văn để đạt được tạng trí huệ, hỏi đáp không c̣n nghi ngờ?
3/ Làm sao chứng
được giới tụ Vô Ư (tác), chẳng mất sự thành tựu đạo vô thượng chánh
đẳng chánh giác mà không thối tâm?
4/ Làm sao đắc được
tâm chẳng khởi ngu si, tà kiến, chấp không?
5/ Làm sao đắc được
trí túc mạng, biết hết tất cả sự việc trong đời quá khứ và tương lai?
6/ Làm sao măi măi được gặp chư Phật Thế Tôn, nghe giảng chánh pháp,
ngay cả trong giấc mộng?
7/ Làm sao đắc được
sắc thân đoan chánh thù thắng vi diệu, đầy đủ oai nghi, chúng sanh
thích nh́n?
8/ Làm sao được sanh
vào gia đ́nh quyền quư cao sang, khiến người nh́n cung kính?
9/ Làm sao có được
gia đ́nh cha mẹ, anh em, bà con quyến thuộc và các
bậc tri thức thường
sống gần nhau măi không xa cách?
10/ Làm sao có tài
hùng biện bác học đa văn, sở hành kỳ diệu, và măi măi không bao giờ
mất tâm Bồ Đề vô thượng chánh đẳng chánh giác?
11/ Làm sao đắc được
chánh niệm, chánh hạnh, tiết độ, chẳng chuyển tâm biết đủ?
12/ Làm sao đắc được
chánh trí khiêm cung, hàng phục ngă mạn?
13/ Làm sao thường
khởi tâm tàm quư, xa ĺa những việc khiến hỗ thẹn?
14/ Làm sao tinh tấn
mănh liệt, xa rời sự giăi đăi làm biếng?
15/ Làm sao đắc được
tâm đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả, b́nh đẳng an lạc?
16/ Làm sao khi được
nghe pháp Chân Không, Vô Tướng, Vô Nguyện thâm sâu, hoàn toàn không
sợ hăi thối chuyển?
17/ Làm sao không
thích ỷ lại, nhiếp thọ chánh pháp?
18/ Làm sao có được
trí huệ thông đạt, sáng suốt hiểu rơ tất cả đều vô vi b́nh đẳng?
19/ Làm sao tùy ư
được sanh vào tất cả cơi Phật?
20/ Làm sao không bị
tất cả ngoại đạo lôi kéo chuyển tâm
21/ Làm sao như biển
cả, khéo dung nạp tất cả câu hỏi nghi vấn khó khăn vô cùng tận?
22/ Làm sao đắc được pháp trong trắng thanh tịnh như trăng tṛn?
23/ Làm sao đắc được
trí huệ như ánh b́nh minh mọc lên phá tan màn vô minh tăm tối?
24/ Làm sao đắc được
trí huệ như ngọn đuốc lớn, hào quang chiếu cùng khắp?
25/ Làm sao đắc được
tự tánh rộng như hư không, chẳng có chướng ngại?
26/ Làm sao đến chỗ
không trụ trước, tâm như hư không?
27/ Làm sao đắc được
tâm như kim cang, thấu triệt thông đạt tất cả pháp?
28/ Làm sao để tâm
vững như núi Tu Di, không thể chuyển động?
29/ Làm sao tâm như
then cửa, giữ lại tất cả chánh pháp?
30/ Làm sao như loài
mèo chó, thành tựu tâm nghiệp?
31/ Làm sao đạt được
sự vô vi trong tất cả pháp?
32/ Làm sao tâm được
tự tại như loài chim bay tùy ư?
33/ Làm sao đập vỡ
ngă mạn như người Chiên Đà La?
34/ Làm sao được
sống trong A Lan Nhă, như loài khỉ vượn thích ở thành ấp, mà tất cả
người xuất gia hay tại gia không thể làm tâm loạn động?
35/ Làm sao thống
lănh đại chúng, dạy đạo khai thị?
36/ Làm sao chẳng
thích sanh trong tất cả chúng sanh, chẳng động nơi tất cả chúng sanh?
37/ Làm sao chẳng v́
tất cả ngoại đạo, hàng phục sự năo loạn mê hoặc của thiên ma?
38/ Làm sao được tài hùng biện, mà đối với tất cả pháp đều quyết
định hiểu rơ?
39/ Làm sao ngay
trong tất cả Phật pháp không tùy theo hạnh của người?
40/ Làm sao có được
tín tâm kiên cố lớn, không ǵ phá hoại được?
41/ Làm sao có được
tín lực đại từ bi, không ǵ lay chuyển được?
42/ Làm sao thâm
nhập niềm tin vô sở hành?
43/ Làm sao có được
niềm tin tươi mát, tâm thường vui vẻ trong tất cả pháp?
44/ Làm sao có được
niềm tin tối thắng, cúng dường hầu hạ các vị thiện tri thức mà không
thấy chán?
45/ Làm sao có được
các loại nhập tín, trồng các căn lành?
46/ Làm sao có được
niềm tin chân chánh vi diệu, tăng trưởng hạnh không giả dối?
47/ Làm sao có được
niềm tin hoan hỷ thanh tịnh, trừ tất cả sự ganh ghét?
48/ Làm sao có được
niềm tin thanh tịnh, đắc được hào quang Nhất Thiết Chủng Trí?
49/ Làm sao có được
niềm tin thanh tịnh vui vẻ, diệt trừ tất cả sự che chướng xấu xa?
50/ Làm sao có được
trí huệ niềm tin hoan hỷ, nhiếp thọ cảnh giới của chư Phật?
51/ Làm sao có được
hạnh tín trang nghiêm thù thắng hơn tất cả anh lạc trang nghiêm ở
thế gian, thành tựu thanh tịnh cơi Phật?
52/ Làm sao đắc được
giới hạnh thanh tịnh, măi măi diệt hết tâm Thanh Văn, Bích Chi Phật?
53/ Làm sao trang
nghiêm đại nguyện, tất cả việc làm đều rốt ráo?
54/ Làm sao trở
thành bậc lănh đạo của tất cả chúng sanh, thích hành các pháp lành?
55/ Làm sao không có
tâm chán chường mệt mỏi v́ muốn dạy đạo tất cả hạnh Ba La Mật cho
chư Bồ Tát?
56/ Làm sao được
chẳng thối chuyển, thường cầu tất cả Phật pháp?
57/ Làm sao không
bao giờ bị tất cả ngoại đạo tà sư phá hoại?
58/ Làm sao tin
tưởng thâm sâu tất cả Phật pháp, không rời niệm này thường thấy chư
Phật?
59/ Làm sao có tâm
tưởng như người cha, nhận lănh trách nhiệm chấn hưng Phật pháp?
60/ Làm sao được
Phật lực gia tŕ, thường sanh trong hào quang tất cả Phật pháp?
61/ Làm sao được
không có chướng ngại, thấy rơ tất cả Phật pháp trước mặt?
62/ Làm sao được như
người huyễn, nơi tất cả pháp, không có suy tư nghĩ nhớ?
63/ Làm sao được như
người huyễn hóa, quán tất cả pháp không có sanh diệt?
64/ Làm sao như
trong mộng, quán ba cơi không có đến đi?
65/ Làm sao như
gương sáng, chiếu hiện tất cả cơi?
66/ Làm sao như âm
vang, nơi tất cả pháp vô vi, chẳng làm, v́ từ nhân duyên sanh?
67/ Làm sao như h́nh
ảnh, đối với tất cả chúng sanh tự không có tâm giữ bỏ?
68/ Làm sao được
tánh Không, chẳng có sở hữu, xa rời vọng tưởng tất cả chư Phật?
69/ Làm sao được vô
tướng, quán tất cả pháp không có hai?
70/ Làm sao đến bờ
mé pháp giới, tâm Bồ Đề không có giới hạn?
71/ Làm sao tâm
không khởi chấp trước, không phân biệt tánh của tất cả thế giới?
72/ Làm sao có được
hạnh vô ngại, đi khắp tất cả cơi Phật?
73/ Làm sao đắc được
trí huệ tổng tŕ, nghe một biết hàng muôn, khéo thông suốt phân biệt
tất cả văn tự lời nói?
74/ Làm sao được tất
cả chư Phật hộ niệm, được tất cả Phật lực gia tŕ?
75/ Làm sao như các
vị pháp sư, khéo biết tất cả Phật pháp?
76/ Làm sao phát
tiếng hùng dũng chẳng khiếp sợ, như bước chân của vua trâu lớn, vua
sư tử lớn?
77/ Làm sao được sự
vô úy, khiến tất cả thế gian đều hoan hỷ?
78/ Làm sao không có
nghi ngờ mê hoặc; đối với tất cả chư Phật, tâm b́nh đẳng không hai?
79/ Làm sao thông
đạt như như, diệt trừ nghi ngờ mê hoặc, chẳng chấp vào các pháp?
80/ Làm sao nhập
thâm sâu vào pháp giới, hay khéo giải thích nghĩa lư của các câu hỏi?
81/ Làm sao mang lại
lợi ích cho ḿnh và người, đầy đủ tâm đại bi?
82/ Làm sao diệt trừ
tâm ỷ lại làm biếng, thường thích thuyết pháp?
83/ Làm sao trụ như
chánh pháp, chẳng bỏ tất cả chúng sanh?
84/ Làm sao tránh
tâm cong vạy, thường giữ hạnh chất trực ngay thẳng?
85/ Làm sao như con
mắt sáng như ngọn đuốc cho tất cả thế gian?
86/ Làm sao không
thể bị khinh miệt, hơn hẳn tất cả trong ba cơi?
87/ Làm sao tránh
tranh luận, nói và hành tŕ y như giáo pháp?
88/ Làm sao tránh
gian nan, hành hạnh chẳng chấp trước?
89/ Làm sao biết tận
bờ mé, chẳng phân biệt các pháp?
90/ Làm sao có trí
huệ, thuyết tất cả ngôn ngữ, khiến chúng sanh an trụ nơi pháp Đại
Thừa?
91/ Làm sao đến nơi
không c̣n sợ hăi, xa rời sự khủng bố, măi măi chẳng c̣n một chút lo
sợ?
92/ Làm sao biết
được cách thuyết pháp phương tiện của chư Phật, khéo hiểu tất cả
kinh điển?
93/ Làm sao sanh vào
thế gian mà chẳng vô ích, thường vào nơi tất cả chúng sanh mà được
lợi ích?
94/ Làm sao là bậc
Nhất Thiết Trí đứng đầu, kham thọ nhận sự cúng dường của tất cả
chúng sanh, có danh đức lớn?
95/ Làm sao được vô
biên công đức đáng tán thán, làm ruộng phước cho tất cả chúng sanh?
96/ Làm sao vui mừng
dơng dước, thường ở dưới ṭa sư tử của đức Như Lai?
97/ Làm sao trở
thành bậc biện tài thù thắng tối thượng, hay hỏi tất cả Phật pháp?
98/ Làm sao được
biện tài không khiếp nhược, chẳng sợ sệt giữa đại chúng?
99/ Làm sao được tất
cả biện tài luận nghị như vua sư tử, hàng phục tất cả ngoại đạo,
nhiếp thọ các luận sư khác?
100/ Làm sao chẳng
hoại thệ nguyện trang nghiêm, v́ muốn dẹp trừ tất cả bè đảng tà ngụy?
101/ Làm sao được
thiện xảo thuyết pháp, thường ngồi trên ṭa sư tử, được tất cả chư
Phật ấn chứng?
102/ Làm sao xa rời
tất cả ngôn ngữ vô nghĩa ở thế gian, v́ muốn thông đạt tất cả chánh
pháp?
103/ Làm sao khởi
tâm mến mộ chư Phật thâm sâu, v́ đối với chư Như Lai sanh xứ hạnh.
104/ Làm sao mến vui chánh pháp chân thật, biết chư Như Lai chẳng
sanh?
105/ Làm sao tránh
ngă mạn ỷ lại, khéo hầu hạ các bậc thiện tri thức?
106/ Làm sao chẳng
nhiễm trước, đi khắp tất cả cơi?
107/ Làm sao hạnh và
nguyện được đầy đủ để giáo hóa tất cả chúng sanh?
108/ Làm sao được
các tướng như ngọc san hô?
109/ Làm sao tâm như
hư không, chẳng chấp tướng của tất cả pháp?
110/ Làm sao như chư
Bồ Tát, chẳng dứt hạt giống Phật?
111/ Làm sao được
hạnh hành tŕ không ngừng nghỉ hạnh Bồ Tát, chẳng xa rời Đại Thừa?
112/ Làm sao mặc áo
giáp lớn, quyết định trú trong giới pháp rộng lớn của chư Phật?
113/ Làm sao được
chư Phật quán đảnh, trụ trong lực mười địa của chư Như Lai?
114/ Làm sao có được
tất cả tâm tưởng, thông đạt tất cả pháp hành?
115/ Làm sao được
trí biết tất cả toán số phương tiện thiện xảo?
116/ Làm sao khéo
biết tất cả việc thành hoại, xa rời tất cả hạnh chướng ngại?
117/ Làm sao được
hạnh chẳng chấp trước tất cả, chẳng giữ, chẳng bỏ?
118/ Làm sao trở
thành đại thí chủ của tất cả chúng sanh, hay bố thí mà không hối
hận?
119/ Làm sao nhập
vào biển Phật pháp, hay bố thí tạng pháp bảo tối thượng?
120/ Làm sao có tất
cả hạnh của thế gian, hay xả các tướng thế gian?
121/ Làm sao có thần
thông rộng lớn, tùy thuận thần thông của chư Phật, đầy sự hoan hỷ.
122/ Làm sao đắc
được hạnh trong một sát na, liền đến trước tất cả chư Phật?
123/ Làm sao trụ ở
cơi Phật, thấy tất cả mười phương chư Phật, được nghe chánh pháp,
cúng dường chư tăng. Dù tuy chưa chứng sáu thần thông xuất thế, hay
năm thần thông ở thế gian, chưa xả bỏ thân ở cơi đời, chưa sanh qua
các cơi Phật, mà ở cơi này thấy chư Phật ở các cơi khác, tất được
nghe các ngài thuyết chánh pháp; nghe tất cả những lời đó rồi mà
hành theo đó
Bạch đức Thế Tôn!
Nay đây giống như thánh giả A Nan, sau khi trực tiếp nghe Phật
thuyết pháp, tất thọ tŕ như lời nói mà hành. Chư Bồ Tát cũng vậy,
tuy thân ở đây, không có đến cơi Phật mà hay nh́n khắp chư Phật Thế
Tôn; nghe pháp xong liền y theo đó mà hành tŕ. Từ đây về sau sanh
vào bất cứ cơi nào, đều không xa rời chư Phật Thế Tôn, thường nghe
chánh pháp, cho đến trong giấc mộng cũng như thế.
Khi ấy, đức Thế Tôn
bảo đại Bồ Tát Hiền Hộ:
-Lành thay, lành
thay, này Hiền Hộ! Nay ông khéo thỉnh hỏi đức Như Lai diệu nghĩa như
thế, ví muốn làm lợi ích cho tất cả chúng sanh trong thế gian, v́
muốn mang lại niềm an lạc cho các chúng sanh, v́ thương xót hàng
trời người, và v́ nhiếp thọ chư Bồ Tát trong tương lai.
Này Hiền Hộ! Xưa kia
ông đă từng cúng dường vô số chư Phật, trồng các căn lành, nghe
chánh pháp, thọ tŕ chánh pháp, mến mộ chánh pháp, cung kính chánh
pháp. Nay ông lại dùng hạnh Ma Ha Ca Diếp giáo hóa, ít muốn biết đủ,
thường vui chốn A Lan Nhă thanh nhàn, hoặc ở trong nghĩa địa, hoặc ở
dưới cội cây, ngồi trên mặt đất, thường ngồi chẳng nằm, vừa ngồi
chẳng động đậy, thọ pháp khất thực, ăn rồi không thọ nữa, hoặc một
lần ngồi một lần ăn, hoặc chỉ có một tấm bồ đoàn, chỉ mặc ba y cùng
y phấn tảo vá rách, khen ngợi hạnh đầu đà, cần thỉnh chư Bồ Tát, dạy
Bồ Tát hạnh pháp, khiến chư Bồ Tát hoan hỷ, quở trách chư Bồ Tát,
giáo hóa khai thị chư Bồ Tát, giúp chư Bồ Tát được thành tựu, hay
mang lại lợi ích lớn, hành đại từ bi, tâm b́nh đẳng đối với tất cả
chúng sanh, đều được tự tại đến nơi bờ giác, tùy ư được thấy tất cả
chư Phật, phát đại nguyện rộng lớn, hành hạnh vi diệu thâm sâu, vui
làm bậc lương đống cho Bồ Đề Nhất Thiết Trí, hay khéo tùy thuận
chủng tánh Như Lai, phát tâm Bồ Đề giống như Kim Cang, thông đạt tâm
niệm của tất cả chúng sanh trên thế gian, hạnh vi diệu rộng lớn
không thể tính biết không thể nói hết, thường ở trước mặt tất cả chư
Phật.
Này Hiền Hộ! Ta chỉ
nói ít phần công đức đó của ông.
Này Hiền Hộ! Nay có
tam muội của chư Bồ Tát tên là Tam Muội Suy Tư Chư Phật Hiện Tiền.
Nếu có Bồ Tát tu tập đầy đủ tam muội này th́ sẽ đạt được những công
đức đă hỏi bên trên.
Hiền Hộ, ông nên
biết rằng lại có vô lượng vô biên công đức thù thắng tối thượng
không thể nói hết.
Bấy giờ, Bồ Tát Hiền
Hộ lại bạch Phật rằng:
-Lành thay, bạch đức
Thế Tôn! Cúi xin Ngài thuyết pháp Bồ Tát Niệm Tam Muội Nhất Thiết
Chư Phật Hiện Tiền, để giúp cho hàng trời người, Ma, Phạm, Sa Môn,
Bà La Môn, rồng, Dạ Xoa, Khẩn Na La, Càn Thát Bà, A Tu La, Ca Lầu
La, Ma Hầu La Già, phi phân được nhiều lợi ích, thọ nhiều niềm an
lạc, cũng khiến cho đời tương lai vô lượng chúng sanh được nhiều lợi
ích, được nhiều sự an lạc, lại cũng giúp cho chư Bồ Tát trong tương
lai phóng ánh hào quang lớn, thừa thọ lực oai thần của Phật, lại
cũng v́ chư Bồ Tát hiện tại và tương lai được rộng nghe tam muội
Niệm Nhất Thiết Chư Phật Hiện Tiền này. Sau khi nghe rồi họ sẽ đều
thọ tŕ. Thọ tŕ xong, tất cả đều tu học như thật, và phụng hành y
theo chánh giáo. Học và hành xong, giúp họ chẳng thối chuyển nơi đạo
Bồ Đề vô thượng chánh đẳng chánh giác, ngay trước mặt hay thành tựu
đầy đủ những công đức như thế và các công đức thù thắng tối thượng
khác.
Lúc ấy, đức Thế Tôn
bảo Bồ Tát Hiền Hộ:
-Này Hiền Hộ! Như
giáo pháp dạy, ông hăy chú ư lắng nghe cho kỹ, khéo suy tư niệm nhớ.
Nay Ta sẽ v́ ông mà phân biệt giải thích
Bồ Tát Hiền Hộ lại
bạch rằng:
-Lành thay đức Thế
Tôn! Con rất muốn nghe những lời dạy của đức Thế Tôn.
-Này Hiền Hộ! Sao
gọi là tam muội Bồ Tát Tư Duy Nhất Thiết Chư Phật Hiện Tiền? Nếu vị
Bồ Tát nào thành tựu đầy đủ tam muội này th́ sẽ đạt được những công
đức như trên, và cũng đạt được những công đức thù thắng kỳ đặc
khác.
Gọi tâm niệm chư
Phật đều hiện trước mặt, nghĩa là:
1/ Tâm đó không tán
loạn;
2/ không xả nghiệp
cầu trí huệ vô thượng thù thắng;
3/ dũng mănh tinh
tấn;
4/ gánh vác đảm nhận
trọng trách độ thoát chúng sanh
5/ hầu hạ cúng dường
cung cấp cho các bậc thiện tri thức
6/ thường tu hạnh
vắng lặng quán chiếu rộng sâu;
]7/ gần gũi chư
thiện tri thức;
8/ diệt trừ các ấm
cái che chướng, xa rời bạn xấu;
9/ dừng lời nói ngôn
ngữ thế gian;
10/ đóng cửa các
căn;
11/ đầu hôm giữa đêm
cuối đêm giảm thiểu ngủ nghỉ;
12/ chẳng tham y
phục, thức ăn, nước uống, thuốc thang, pḥng ốc, nhà cửa, giường
nằm, tọa cụ;
13/ thường vui nơi
chốn A Lan Nhă thanh nhàn;
14/ chẳng đắm thân
ḿnh;
15/ chẳng trọng thân
mạng;
16/ chẳng chấp trước
h́nh sắc;
17/ tâm chẳng buông
thả;
18/ tu th́ dùng tâm
từ;
19/ huân tập th́
nương hạnh bi;
20/ trong mọi thời
tâm thường vui vẻ;
21/ thường hành hạnh
xả;
22/ phá hoại phiền
năo thành tựu các thiền định;
23/ ngay trong đó
suy tư chẳng đắm trước thiền vị;
24/ khởi tâm quán
sát sắc tướng;
25/ tuy được tâm rỗng rang mà chẳng loạn chánh niệm;
26/ chẳng giữ các ấm;
27/ chẳng chấp các nhập;
28/ chẳng suy tư các giới;
29/ chẳng tham chỗ sanh;
30/ hàng phục ngă mạn cao ngạo;
31/ chẳng ganh ghét tài sản của người;
32/ v́ thế gian mà làm nhiều lợi ích;
33/ khởi tâm b́nh đẳng đối với tất cả chúng sanh;
34/ đối với chúng sanh tưởng như cha mẹ;
35/ hoặc xem chúng sanh như con một;
36/ không khởi tâm tưởng tranh chấp trong tất cả pháp;
37/ tuy niệm nhớ tŕ giới mà chẳng chấp trước;
38/ thường trụ thiền định mà không đắm nhiễm;
39/ mến thích đa văn chẳng khởi phân biệt;
40/ giới pháp chẳng khiếm khuyết;
41/ thiền định chẳng động;
42/ trí huệ chẳng vọng;
43/ chẳng ngại các pháp;
44/ chẳng bội nghịch chư Phật;
45/ chẳng phỉ báng chánh pháp;
46/ chẳng làm hoại tăng chúng;
47/ chẳng thích làm trái ngược rời xa;
48/ gần gũi chư thánh;
49/ xa rời kẻ ngu;
50/ chẳng chí cầu xuất thế;
51/ tuy nghe ngôn ngữ, ư chẳng mến thích;
52/ cũng chẳng tham đắm sáu mùi vị thế gian;
53/ tập gần huân tu năm pháp giải thoát;
54/ trừ diệt mười ác;
55/ tu mười điều lành;
56/ đoạn diệt chín loại phiền năo của chúng sanh;
57/ tâm thường chẳng rời chin môn quán tưởng;
58/ thường suy tư xả bỏ tám loại giăi đăi;
59/ nhất tâm tu tập tám điều giác ngộ của bậc đại nhân;
60/ chẳng chấp vào thiền vị;
61/ chẳng cậy đa văn;
62/ hàng phục ngă mạn;
63/ nhất tâm nghe pháp;
64/ thâm trọng ân cần cầu pháp;
65/ tu đạo chứng trí;
66/ thương xót chúng sanh;
67/ rời phân biệt chấp ngă;
68/ tưởng cầu thọ mạng dài lâu rốt ráo rất khó;
69/ quán sát các ấm chẳng có thật thể;
70/ chẳng trụ Niết Bàn;
71/ chẳng chấp sanh tử;
72/ thường khởi tâm tưởng lo sợ lớn lao đối với sự luân chuyển của
các hành;
73/ khởi nghĩ các ấm là oan gia;
74/ khởi tưởng các nhập như nhà trống;
75/ khởi tưởng các giới như rắn độc;
76/ khởi tưởng ba cơi sầu năo;
77/ khởi tưởng Niết Bàn an lạc;
78/ quán các dục lạc dơ bẩn như nước dăi;
79/ vui sâu hạnh xuất gia chẳng trái lời Phật dạy;
80/ khuyến khích chúng sanh tu hành công đức;
81/ đối với các cơi tâm không c̣n nhiễm trước;
82/ thấy tất cả Phật đều hiện trước mặt;
83/ thọ tất cả thân đều như mộng huyễn;
84/ quán sát diệt trừ tất cả các tướng;
85/ suy tư qua lại chẳng thấy ba cơi;
86/ đối với niềm tin thanh tịnh tin sâu chân thật vi diệu;
87/ niệm tất cả Phật ba đời b́nh đẳng không có chuyển động mà hay
tŕ giữ các căn lành;
88/ tam muội của tất cả chư Phật đều tự tại;
89/ quyết chẳng đắm nhiễm thân tướng chư Phật;
90/ đối với tất cả pháp đều b́nh đẳng;
91/ không tranh đấu với tất cả thế gian;
92/ chẳng làm trái ngược những điều nên làm;
93/ thông đạt pháp mười hai nhân duyên thâm sâu suốt đến thánh vị
của tất cả chư Phật;
94/ chứng đắc nhẫn nhục tối thượng;
95/ nhập vào pháp giới chân thật;
96/ thấy tánh của cơi chúng sanh chẳng sanh diệt;
97/ thấy cơi Niết Bàn xưa nay hiện trước mắt;
98/ huệ nhăn thanh tịnh
99/ quán pháp không hai;
100/ tâm Bồ Đề kia chẳng trong chẳng ngoài;
101/ thể tánh của tất cả chư Phật không có sai khác;
102/ nhập vào cửa trí huệ vô ngại thanh tịnh;
103/ thấy rơ Bồ Đề tự nhiên giác biết;
104/ đối với thiện tri thức tưởng như chư Phật;
105/ nơi hạnh Bồ Tát chẳng khởi niệm trái ngược xa ĺa;
106/ ở trong sanh tử phá hoại quân ma;
107/ xem tất cả sự việc đều như huyễn hóa;
108/ thấy chư Phật như h́nh tượng trong gương;
109/ phải nên cầu tâm Bồ Đề;
110/ b́nh đẳng hành các Ba La Mật;
111/ thật tế tu tập các công đức vô tận của chư Phật
Này Hiền Hộ! Đó là
tam muội Bồ Tát Tư Duy Chư Phật Hiện Tiền. Nếu có đại Bồ Tát nào
muốn thành tựu đầy đủ tam muội như thế, th́ trước hết phải thành tựu
những công đức đó.
Này Hiền Hộ! Nên
biết rằng cũng có vô lượng công đức nhờ duyên nương vào tam muội này
mà sanh khởi.
Này Hiền Hộ! Trong
đây tam muội nào hay sanh những hạnh công đức như thế? Đó gọi là tam
muội Bồ Tát Tư Duy Chư Phật Hiện Tiền, hay sanh những pháp công đức
như thế.
Lại nữa, này Hiền
Hộ! Sao gọi là Bồ Tát Tư Duy Chư Phật Hiện Tiền Tam Muội?
Này Hiền Hộ! Nếu có
tỳ kheo, tỳ kheo ni, cư sĩ nam, cư sĩ nữ tŕ giới thanh tịnh đầy đủ
các hạnh, đơn độc ở nơi thanh nhàn suy tư như thế, đối với tất cả
chỗ tùy theo phương chốn, tức nếu là cơi tây phương của Phật A Di
Đà, th́ người này lúc đó nghe về pháp này xong, phải tự niệm nghĩ
như vầy, “như những điều ḿnh đă nghe, Phật A Di Đà kia nay ở cơi
Tây Phương; cách đây trăm ngàn cơi Phật có cơi tên là An Lạc, đức
Như Lai đó đang ở cơi đó, có chư Bồ Tát vây quanh bốn bên, trong
giữa đại chúng Ngài thuyết pháp giáo hóa”. Người này y theo những
điều đă nghe như thế, khẩn thành suy tư quán sát không dừng, phân
minh rơ ràng, th́ cuối cùng sẽ thấy đức Phật A Di Đà.
Lại nữa, Hiền Hộ!
Giống như trai gái ở thế gian ngủ mơ thấy bao sự việc như vàng, bạc,
châu báu, tài sản, nhà cửa xe cộ, hoặc thấy bạn bè các thiện tri
thức, hoặc có lúc giác thấy tâm không an lạc. Những cảnh mộng mà
người đó thấy hoặc thuận, hoặc nghịch, hoặc buồn, hoặc vui. Có lúc
nói lời hân hoan vui vẻ. Có lúc thảm sầu cùng tận ư bi ai. Người này
sau khi tỉnh mộng suy tư nhớ lạ́ những điềm mộng rồi nói cho người
khác nghe, t́m kiếm niệm trong giác mộng nên sanh vui buồn.
Như thế, này Hiền
Hộ! Những trai hiền gái thảo kia nếu ngồi ngay thẳng, khẩn thành
niệm nhớ Phật A Di Đà kia có những tướng hảo như vầy, công đức như
vầy, có đại chúng như vầy, thuyết pháp như vầy. Y theo những điều
nghe biết mà khẩn thành nhất tâm niệm nhớ liên tiếp theo thứ lớp mà
không tán loạn, hoặc qua một ngày, hoặc qua một đêm, hoặc cho đến
bảy ngày bảy đêm. Y theo những điều đă nghe mà niệm nhớ đầy đủ.
Người này tất sẽ tự thấy Phật A Di Đà. Nếu trong một ngày mà chưa có
thể thấy, th́ trong đêm khuya, hay trong giấc mộng, đức Phật A Di Đà
tất sẽ hiện ra.
Lại nữa, này Hiền
Hộ! Ví như ở thế gian có trai gái nào đi xa qua nước khác, trong
giấc mộng thấy quê hương ḿnh, mà lúc đó chẳng biết ngày hay đêm,
cũng chẳng biết trong hay ngoài. Lúc đó, tường đá núi non, cho đến u
minh đen tối chẳng làm chướng ngại con mắt của họ.
Này Hiền Hộ! Tâm của
đại Bồ Tát không có chướng ngại cũng như thế. Lúc giữ chánh niệm,
đối với tất cả cảnh giữa các cơi Phật, dù là núi Tu Di, núi Thiết
Vi, núi Thiết Vi lớn, cho đến những núi đen khác, không thể làm
chướng ngại con mắt của họ, và cũng không thể che tâm của họ, nhưng
thật ra họ chưa đắc thiên nhăn thông mà thấy được cơi Phật, cũng
chưa đắc thiên nhĩ thông mà nghe được pháp âm, lại chưa có thần
thông mà qua cơi đó, lại chưa chết ở cơi này mà sanh trước mặt Phật
đó, mà thật vẫn c̣n ở cơi này tích niệm huân tu quán lâu sáng suốt
lanh lợi, cuối cùng sẽ thấy được đức Phật A Di Đà kia, có tăng chúng
đi xung quanh trong chúng hội Bồ Tát, hoặc thấy tự thân ở cơi đó
nghe pháp, nghe rồi nhớ rơ thọ tŕ tu hành, hoặc có lúc cung kính lễ
bái hầu hạ cúng dường đức Phật A Di Đà kia. Người này sau khi khởi
tam muội này rồi, xuất định xong, suy tư theo thứ lớp, như những
điều thấy nghe mà nói rộng cho người khác.
Lại nữa, này Hiền
Hộ! Như xứ Ma Kiệt Đà này có ba người đàn ông. Người thứ nhất nghe
về dâm nữ Tu Ma Na ở thành Tỳ Xá Ly. Người thứ hai nghe về dâm nữ Am
La Bà Ly. Người thứ ba nghe về dâm nữ Liên Hoa Sắc. Ba ông này nghe
vế những nàng dâm nữ này rồi dùng phương tiện, chuyên tâm nhớ nghĩ
cầu mong được gặp không lúc dừng, mà họ thật ra chưa từng gặp các
dâm nữ đó, nhưng vừa nghe tên lại khởi tâm dâm dục, chuyên nhất nhớ
nhung không ngừng. Sau này, khi ngủ trong mộng, họ thấy cùng hành
lạc với các dâm nữ đó trong thành Vương Xá, rồi sau đó tâm cầu mong
cũng tạm dừng v́ đă măn nguyện niềm hy vọng. Lúc tỉnh dậy, họ cố nhớ
lại những việc trong giấc mộng đó, như những điều đă nghe thấy, như
những điều biết rơ. Nhớ rơ những việc đó rồi đến chỗ của ông mà
thuật lại. Ông nên tùy theo phương tiện mà thuyết pháp và tùy thuận
căn cơ của họ mà giáo hóa, khiến họ đến nơi chẳng thối chuyển, rốt
ráo thành tựu đạo Bồ Đề vô thượng chánh đẳng chánh giác. Trong tương
lai, họ sẽ thành Phật hiệu là Thiện Giác Như Lai, Ứng Cúng, Chánh
Đẳng, Chánh Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng
Sĩ, Điều Ngự, Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn. Họ đă chứng
đắc vô sanh pháp nhẫn xong, sẽ nhớ lại những sự việc trong quá khứ
rơ ràng minh bạch.
Này Hiền Hộ! Nếu
người trai hiền gái thảo nào muốn thành tựu tam muội đại Bồ Tát Tư
Duy Nhất Thiết Phật Hiện Tiền th́ cũng nên quán chiếu như thế. Thân
họ thường ở cơi này, nhưng khi tạm được nghe danh hiệu của Phật A Di
Đà kia, mà hay khởi tâm khẩn thành suy tư liên tục theo thứ lớp
chẳng tán loạn, th́ sẽ thấy rơ ràng Phật A Di Đà. Đó là Bồ Tát suy
tư thành tựu đầy đủ tam muội Chư Phật Hiện Tiền. Nhờ tam muội này mà
được thấy Phật, rồi thỉnh hỏi Phật A Di Đà rằng: “Chư Bồ Tát thành
tựu pháp ǵ mà được văng sanh trong cơi Phật này?” th́ đức Phật kia
sẽ trả lời rằng: “Nếu ai phát tâm cầu sanh cơi này, thường giữ tâm
khẩn thành chánh niệm liên tục về Phật A Di Đà th́ sẽ được văng
sanh”. Được văng sanh rồi th́ đức Phật A Di Đà biết tâm niệm của họ,
và được thấy Phật.
Này Hiền Hộ! Đức
Phật A Di Đà bảo người kia rằng: “Này Thiện Nam Tử! Ông nên chánh
niệm tinh cần tu tập phát tâm rộng lớn tức sẽ được sanh trong cơi
này”.
Này Hiền Hộ! Lúc đó,
vị Bồ Tát này lại bạch Phật A Di Đà rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Ở đây
làm sao niệm Phật Thế Tôn, tinh cần tu tập phát tâm rộng lớn mới
được sanh vào cơi này?”
Này Hiền Hộ! Phật A
Di Đà kia sẽ đáp rằng: “Này Thiện Nam Tử! Nay nếu ông muốn niệm Phật
chân chánh, th́ phải niệm rằng nay Phật A Di Đà với mười thánh hiệu,
có đầy đủ ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp, hào quang sắc thân
như khối vàng tụ lại, thành tựu đầy đủ các châu báu, phóng ánh hào
quang lớn, ngồi ṭa sư tử, trong chúng sa môn thuyết những pháp như
thế này: “Tất cả pháp xưa nay chẳng hoại, chẳng không hoại, như bất
hoại sắc cho đến bất hoại thức và các hành ấm; lại như bất hoại đất
cho đến bất hoại gió và các địa; lại như bất hoại sắc cho đến bất
hoại xúc và các nhập; lại như bất hoại Phạm Thiên cho đến bất hoại
tất cả chủ của thế gian. Như thế cho đến chẳng niệm nhớ đức Phật
kia, cũng chẳng được đức Phật kia niệm nhớ. Họ niệm nhớ đức Như Lai
kia xong, theo thứ lớp mà chứng Không tam muội. Này Thiện Nam Tử! Đó
gọi là tam muội Chánh Niệm Chư Phật Hiện Tiền”.
Này Hiền Hộ! Lúc Bồ
Tát đó từ tam muội khởi dậy, đi đến chỗ ông và tường thuật lại tướng
tam muội đó. Lúc ấy, ông nên v́ họ mà thuyết pháp, tùy thuận giáo
hóa, khiến họ đắc quả Bồ Đề vô thượng chánh đẳng chánh giác chẳng
thối chuyển.
Này Hiền Hộ! Lúc đó,
Ta cũng thọ kư cho người kia sau này sẽ thành Phật, hiệu là Đức
Quang Như Lai với mười danh hiệu. Ngày nay đệ tử của Ta, Ma Ha Ca
Diếp, Bồ Tát Đế Thích Đức, Thiên tử Thiện Đức, cùng với vô số chúng
Bồ Tát, đă từng tu tam muội này, và đă chứng đắc. Sao gọi là chứng
đắc? Tức là chứng nhập Không tam muội.
Này Hiền Hộ! Ta nhớ
lại kiếp xưa có đức Phật Thế Tôn, hiệu là Tu Ba Nhật. Thuở ấy, có
một người đi đến nơi hoang dă, bị đói khát khổ nhọc bức bách, mệt lă
ngủ mơ, thấy có đủ những món ăn cao lương mỹ vị, liền vội dùng, rồi
không c̣n bị đói khát nữa, nhưng lúc tỉnh dậy th́ vẫn bị đói khát.
V́ vậy, gă đó suy nghĩ: “Các pháp đều là không, chẳng thật, giống
như những việc đă thấy trong mộng vốn chẳng phải thật”. Nhờ quán
chiếu như thế nên liễu ngộ pháp Vô Sanh Nhẫn, được đạo Bồ Đề vô
thượng chánh đẳng chánh giác không thối chuyển.
Cũng như thế, này
Hiền Hộ! Có Bồ Tát dù tại gia hay xuất gia, nghe có chư Phật ở chỗ
nào, liền hướng về nơi đó mà chí tâm đảnh lễ, chân thành khát ngưỡng
muốn thấy vị Phật kia, rồi tinh tấn chuyên nhất suy tư như thế, lại
phải nên quán sát sắc tướng của Phật như thế, cũng lại quán tưởng
h́nh ảnh đó như hư không, mà thành tựu pháp quán tưởng hư không;
được trụ trong chánh tư duy như thế; trụ trong chánh tư duy xong,
được thấy hào quang của đức Phật kia, trong suốt như lưu ly, thân
tướng đoan chánh như cột vàng ṛng. Cách quán niệm đó được thấy đức
Như Lai như thế.
Lại nữa, này Hiền
Hộ! Ví như có người đột nhiên từ quê hương ḿnh mà bỏ đi sang xứ
khác. Tuy ở xứ người, nhưng thường nghĩ nhớ về nơi chốn sanh ra,
thấy hiểu như thế, nghe như thế, nhớ nghĩ như thế, hiểu rơ như thế.
Nhớ nghĩ đă lâu, nên trong giấc mộng thấy rơ tự thân đang ở quê nhà,
và sự nghe biết cũng như xưa. Lúc đó, người này bàn điềm mộng với bà
con quyến thuộc rằng: “Tôi thấy như vầy, nghe như vầy, làm ăn như
vầy, được lợi lạc như vầy”.
Cũng như thế, này
Hiền Hộ! Có Bồ Tát tại gia hay xuất gia, nếu từ người khác mà nghe
có đức Phật Thế Tôn ở phương hướng nào, th́ hướng về nơi đó, chí tâm
đảnh lễ muốn thấy đức Phật kia, chánh niệm ḷng không tạp loạn; nhờ
niệm nhớ mà thấy sắc tướng của đức Phật kia, hoặc như lưu ly, hoặc
như sắc vàng ṛng.
Lại nữa, này Hiền
Hộ! Giống như tỳ kheo tu quán bất tịnh, thấy xác tử thi mới đă biến
dạng, hoặc xanh, hoặc vàng, hoặc đen, hoặc đỏ, hoặc có lúc trương
ph́nh, hoặc đă śnh thúi máu mủ chảy tràn lan, loài trùng ăn thịt tử
thi đến lúc chỉ c̣n bộ xương trắng tuếch như đá ngọc, cho đến quán
tưởng xương cốt tan ră, mà bộ xương cốt đó không từ đâu đến và cũng
chẳng đi về đâu, chỉ do tâm tạo, trở lại thấy tự tâm.
Cũng như thế, này
Hiền Hộ! Nếu chư Bồ Tát muốn thành tựu tam muội Niệm Phật Hiện Tiền,
th́ tùy theo phương hướng, trước hết khởi niệm muốn thấy đức Phật
kia, rồi tùy theo sự quán niệm mà thấy đức Như Lai. V́ sao? Do nhờ
duyên theo tam muội này mà được thấy đức Như Lai. Được thấy Phật có
ba nhân duyên, tức là nhờ duyên vào tam muội này, nhờ sự gia tŕ của
đức Phật đó, căn lành của họ đă thuần thục. Đầy đủ ba nhân duyên đó
th́ sẽ thấy rơ đức Phật Như Lai kia.
Lại nữa, này Hiền
Hộ! Như người ở tuổi xuân xanh diệu mạo đoan chánh, muốn xem h́nh
tướng đẹp xấu liền đổ đầy dầu xanh vào bồn, hoặc dùng nước trong,
hoặc lấy thủy tinh, hoặc cầm gương sáng, rồi dùng bốn vật đó mà xem
gương mặt, đẹp xấu, hiền dữ, đều hiện trong đó phân minh rơ ràng.
Này Hiền Hộ! Ư ông
nghĩ sao? Gương mặt hiện trong bốn đồ vật nước dầu xanh, nước trong,
thủy tinh, và gương sáng, là có trước chăng?
Bồ Tát Hiền Hộ thưa:
-Dạ thưa, không phải.
-Như vậy gương mặt hiện trong những đồ vật đó vốn là không chăng?
-Dạ thưa, không phải.
-Gương mặt có ở trong các đồ vật đó chăng?
-Dạ thưa, không phải.
-Vậy ở ngoài chăng?
-Dạ thưa, không
phải. Bạch đức Thế Tôn! Bốn vật, nước dầu, nước trong, thủy tinh,
chiếc gương sáng sạch không dơ không bẩn, mà khi soi th́ gương mặt
hiện trong đó, nhưng gương mặt chẳng phải có từ trong đó, cũng chẳng
phải có từ nơi khác, chẳng tự nhiên mà có, chẳng do người khác tạo
ra. Nên biết rằng gương mặt đó không từ đâu đến, và cũng không có
chỗ đi, chẳng sanh, chẳng diệt, chẳng có nơi chốn.
-Này Hiền Hộ! Đúng
như thế, đúng như thế! Như lời ông nói, nhờ có các đồ vật thanh tịnh
và h́nh sắc của người đó rơ ràng, nên gương mặt tự hiện mà chẳng
dùng nhiều công sức. Bồ Tát cũng như thế, nhất tâm khéo suy tư thấy
đức Phật kia, thấy rồi liền trụ lại, trụ lại rồi thỉnh hỏi nghĩa lư,
được giải thích nên hoan hỷ, rồi lại suy gẫm: “Đức Phật này từ đâu
đến, mà thân tôi lại từ đâu hiện ra?” Quán chiếu đức Như Lai rốt ráo
không đến từ đâu và không đi về đâu. Thân của ḿnh cũng như thế,
không có chỗ xuất ra, th́ nói ǵ có chỗ trở về? Người đó nên tư duy
như thế này: “Nay trong ba cơi, chỉ có tâm. V́ sao? Tùy theo tâm
niệm, trở lại tự thấy tâm. Nay tôi từ tâm thấy Phật. Tâm tôi làm
Phật. Tâm tôi là Phật. Tâm tôi là Như Lai. Tâm tôi là thân tôi. Tâm
tôi thấy Phật. Tâm chẳng biết tâm. Tâm chẳng thấy tâm. Tâm có ư
tưởng th́ thành tâm sanh tử. Tâm không ư tưởng th́ là Niết Bàn. Các
pháp chẳng thật, do tư tưởng mà khởi ra. Cái bị tưởng đă diệt th́
tâm hay tưởng cũng là không.
Hiền Hộ ông nên biết
rằng chư Bồ Tát nhờ tam muội này mà chứng đạo đại Bồ Đề.
|