Kinh Tập
(Sutta Nipata)

Ḥa Thượng Thích Minh Châu dịch


Giới Thiệu Kinh Tập (Sutta Nipata)

Tập Sutta Nipatà là kinh thứ 5, trong 15 kinh thuộc Bộ Khuddaka Nipàta tức là Tiểu Bộ Kinh. Bộ Tiểu Bộ Kinh gồm có 15 kinh:

Khuddakapàtha (Tiểu Tụng Kinh),
Dhammapada (Pháp Cú),
Udàna (Phật Tự Thuyết Kinh, Cảm Hứng Ngữ),
Itivuttaka (Như Thị Ngữ Kinh, Phật Thuyết Như Vậy),
Vimànavatthu (Thiên Cung Sự Kinh),
Petavatthu (Ngạ Quỷ Sự Kinh),
Theragàthà (Trưởng Lăo Tăng Kệ),
Therigàthà (Trưởng Lăo Ni Kệ),
Jàtaka (Bổn Sanh),
Mahàniddesa (Đại Nghĩa Tích),
Cùlaniddesa (Tiểu Nghĩa Tích),
Patisambhidàmagga (Vô Ngại Giải Đạo),
Apadàna (Thí Dụ Kinh),
Buddhavamsa (Phật Sử) và
Cariyàpitaka (Tiểu Nghĩa Kinh, Sở Hạnh Tạng).

Theo một phân loại khác, Luật Tạng, Luận Tạng và tất cả kinh chưa được sưu tập vào 4 Bộ Nikàyà chính, lập thành Tiểu Bộ Kinh. Các vị thọ tŕ Trường Bộ Kinh không chấp nhận các kinh Khuddakapàtha, Cariyàpitaka và Apadàna, và phân loại các kinh khác vào Luận Tạng. Các vị thọ tŕ Trung Bộ Kinh không chấp nhận tập Khuddakapàtha, nhưng chấp nhận các kinh c̣n lại và phân loại chúng vào Kinh tạng. Theo truyền thống Miến Điện, 4 tập khác được cộng thêm vào, như Milindapanha, Suttasamgaha, Petakopadesa và Nettipakarana.

Kinh Tập này gồm có 5 Chương:

Chương I, Phẩm Rắn (Uragavagga) gồm có 12 kinh;
Chương II, Tiểu Phẩm gồm có 14 kinh.
Chương III, Đại Phẩm gồm có 12 kinh;
Chương IV, Phẩm Tám gồm có 16 kinh; và
Chương V,  PhẩmTrên Con Đường Đến Bờ Bên Kia, gồm có 17 kinh tất cả.

Tổng cộng kinh này có 5 Chương và 71 bài kinh.

*

Đặc biệt của tập này gồm những kinh có thể được xem là những kinh xưa nhất, cổ nhất, nghĩa là gần với thời đức Phật nhất. Chúng tôi dựa trên một số yếu tố để xác nhận tánh chất thật sự nguyên thủy của Bộ Suttànipàta này, về cả hai mặt Văn cú và Nội dung.

Trước hết, Tập Suttanipàta viết bằng một thể văn Pàli xưa nhất và cổ kính nhất, so sánh với các thể văn chúng ta thường được gặp trong các Bộ D́gha Nikàya (Trường Bộ), Majjhima Nikàya (Trung Bộ), Samyutta Nikàya (Tương Ưng Bộ), Anguttara Nikàya (Tăng Chi Bộ). Nhiều thể văn gần với văn Vedà (Vệ Đà) được t́m thấy rất nhiều trong tập này, nhưng không t́m thấy trong các tập khác, như các danh từ và động từ số nhiều: sitàse, upatthitàse, caramàse. Các h́nh thức chủ cách số nhiều và sử dụng cách số ít của một số danh từ như: vinicchayà thế cho vinicchayàni, lakkhanà thế cho lakkhanàni, mantà thế cho mantàya. Ngoài ra, chúng ta thường gặp các nguyên mẫu Vedà như vippahàtane, sampayàtave, unnametave rất ít khi được t́m thấy trong các tập kinh khác. Nhiều khi chúng ta thấy một số danh từ đặc biệt như chữ datthu thế cho disvà, atiśtvà thế cho atikkamivà, maga thế cho miga, tumo thế cho so v.v... Những danh từ này rất gần với tiếng Vệ đà không t́m thấy ở các bộ kinh khác. Như vậy, chứng tỏ Tập Suttanipàta được viết trong thời kỳ xưa nhất của ngôn ngữ Pàli, chưa được trau chuốt lưu loát, nhiều âm điệu như ngôn ngữ Pàli sau này. Giá trị cổ kính của ngôn ngữ Pàli trong tập này đánh giá tánh chất nguyên thủy của tập Suttanipàta.

Một yếu tố nữa giúp chúng ta biết giá trị cổ kính của tập này là một số kinh của tập này được t́m thấy trong các bộ kinh khác, và chứng tỏ các kinh khác đă sưu tầm một số kinh hiện có trong bộ Suttanipàta. Ví dụ kinh Seta (Sn. 548-573) được t́m thấy trong Majjhima Nikàya M.i. 146; kinh Vàsettha (Sn. 594-656) được t́m thấy cũng trong Majjhima Nikàya M.ii. 196.

*

Ngoài ra, tập Suttanipàta có ghi chép lại một vài giai đoạn trong đời sống t́m đạo và học đạo của Thái tử, những mẫu chuyện này rất giản dị và mộc mạc, không có xen lẫn thần thông phù phép với những h́nh ảnh thật đơn sơ và tươi đẹp.

Kinh Xuất gia (Sn. 405-424) diễn tả cuộc gặp gỡ giữa Thái tử với Vua Bimbisàra, khi Thái tử vừa mới xuất gia. Vua Bimbisàra đứng trên lầu nh́n xuống thấy Thái tử đang đi khất thực.

"B́nh Sa Vương thấy Ngài,
Đứng trên sân lầu thượng
Thấy đầy đủ tướng tốt,
Bèn nói lên lời này." (409)

Sau khi sai sứ giả đi theo để t́m chỗ Thái tử, Vua Bimbisàra liền đi đến gặp Thái tử và thưa:

"Ngài thanh niên tuổi trẻ,
Ngây thơ, bước vào đời,
Cao đẹp được viên măn,
Thiện sanh gịng Sát lỵ...
Tài sản ta cho ngươi.
Hăy hưởng và trả lời." (420-421)

Và Thái tử dứt khoát trả lời :

"Gịng họ thuộc mặt trời
Sanh tộc là Thích Ca,
Từ bỏ gia tộc ấy,
Thưa vua Ta xuất gia.
Ta không có thiết tha,
Đối với các loại dục,
Thấy nguy hiểm trong dục,
Bỏ chúng, là an ổn;
Ta sẽ đi, tinh tấn,
Ư Ta được hoan hỷ." (423-424)

Kinh Tinh Tấn tiếp theo nói lên sự cám dỗ của Ác ma. Khi Thái tử ngồi dưới cây Bồ đề tu hành, Ác ma đến gần, nói lên giọng từ mẫn :

"Ngươi ốm, không dung sắc
Nhà ngươi gần chết rồi,
Cả ngàn phần, ngươi chết;
Chỉ một phần c̣n sống.
Hăy sống, sống tốt hơn,
Sẽ làm các công đức." (426-427)

Thái tử trả lời từ tốn, nhưng không kém phần nghị lực :

"Bà con ác phóng dật,
Ngươi đến đây làm ǵ?
Với công đức nhỏ bé,
Ta đâu có cần đến!
Đây có tín, tinh tấn,
Và Ta có trí tuệ,
Như vậy Ta tinh tấn
Sao ngươi hỏi Ta sống." (431-432)

Và Thái tử nói lên quyết tâm chiến đấu của ḿnh :

"Ôi này Ma Nu Ci!
Đây là quân đội ngươi,
Đây quân đội chiến trận
Của gịng họ Kanhà,
Kẻ nhát, không thắng ngươi
Ai thắng ngươi được lạc.
Ta mang cỏ Munja
Vững thay, đáng đời sống
Thà Ta chết chiến trận
Tốt hơn sống thất bại." (439-440)

Và cuối cùng, Ác ma thất bại trước dũng chí của Thái tử và vừa bỏ đi vừa than:

"Bảy năm ta bước theo
Chân theo chân Thế Tôn,
Không t́m được lỗi lầm
Nói Thế Tôn chánh niệm,
Như quạ bay xung quanh,
Ḥn đá như đống mỡ."
"Có thể có ǵ mềm?
Có thể có ǵ ngọt?
Không t́m được vị ngọt
Quạ từ đó bay đi!
Như quạ mổ ḥn đá
Ta bỏ Gotama." (446-448)

Câu chuyện thứ ba nói về ẩn sĩ Asita (A Tư Đà) đoán tướng cho Thái tử. Asita thấy Chư thiên vui mừng liền hỏi duyên cớ. Chư thiên đáp :

"Tại xứ Lâm t́ ni
Trong làng các Thích Ca,
Có sanh vị Bồ tát
Báu tối thắng, vô tỷ.
Ngài sanh, đem an lạc
Hạnh phúc cho loài người,
Do vậy chúng tôi mừng
Tâm vô cùng hoan hỷ.
Ngài, chúng sanh tối thượng
Ngài, loài người tối thắng,
Bậc Ngưu Vương loài người
Thượng Thủ mọi sanh loại.
Ngài sẽ chuyển Pháp luân,
Trong khu rừng ẩn sĩ,
Rống tiếng rống sư tử,
Hùng mạnh, nhiếp loài thú." (683-684)

Đạo sư Asita liền vội vàng đi đến Kapilavatthu để được chiêm ngưỡng Thái tử.

"Sau khi thấy Thái tử,
Chói sáng như lửa ngọn,
Thanh tịnh như Sao ngưu
Vận hành giữa hư không
Sáng chiếu như mặt trời
Giữa trời thu mây tịnh
Ẩn sĩ tâm hoan hỷ
Được hỷ lạc rộng lớn." (687)

Khi thấy Thái tử chói sáng như mặt trời, khi nghĩ đến viễn ảnh chánh pháp được tuyên thuyết, nghĩ đến phận ḿnh già yếu, A Tư Đà đă phát khóc.

"Khi vị ấy nghĩ đến
Số mệnh của tự ḿnh,
Số mệnh không tốt đẹp,
Vị ấy rơi nước mắt"... (691)

Trước sự lo lắng của các vị Thích Ca, ẩn sĩ A Tư Đà giải tỏa mối lo lắng:

"Thấy họ Thích lo lắng
Vị ẩn sĩ trả lời:
Ta không thấy bất hạnh
Xảy đến cho Thái tử
Đối với (Thái tử) ấy,
Chướng ngại sẽ không có.
Vị này không hạ liệt,
Chớ có lo lắng ǵ.
Thái tử này sẽ chứng
Tối thượng quả Bồ đề,
Sẽ chuyển bánh xe Pháp
Thấy thanh tịnh tối thắng
V́ ḷng từ thương xót,
V́ hạnh phúc nhiều người,
Và đời sống Phạm hạnh
Được truyền bá rộng răi
Thọ mạng ta ở đời
C̣n lại không bao nhiêu
Đến giữa đời sống Ngài,
Ta sẽ bị mệnh chung.
Ta sẽ không nghe Pháp
Bậc tinh cần vô tỷ
Do vậy ta sầu năo,
Bất hạnh và khổ đau." (692-694)

*

Yếu tố thứ tư xác nhận sự cổ kính của Kinh Tập này là một số câu văn, một số ví dụ, một số h́nh ảnh được diễn tả, đă trở thành những câu cách ngôn dân gian.

Biển lớn th́ im lặng. Khe nước thời chảy ồn. Cái ǵ trống kêu to. Cái ǵ đầy th́ yên lặng. Những ví dụ này cho chúng ta thấy những kẻ ít hiểu biết th́ hay nói nhiều, những kẻ hiểu biết nhiều thời thường im lặng như 2 câu kệ sau đây :

"Hăy học các gịng nước,
Từ khe núi vực sâu
Nước khe núi chảy ồn
Biển lớn đầy im lặng." (720)

"Cái ǵ trống kêu to,
Cái ǵ đầy, im lặng,
Ngu như ghè vơi nước
Bậc Trí như ao đầy." (721)

Với những kẻ hay nói, họa sẽ tự miệng sanh, như câu kệ khéo diễn tả dưới đây:

"Phàm con người đă sanh,
Sanh với búa trong miệng,
Kẻ ngu khi nói bậy,
Tự chặt đứt lấy ḿnh." (657)

H́nh ảnh sau đây, có vẻ trào phúng, nói đến đàn quạ thấy ḥn đá lầm tưởng là miếng thịt mỡ, đến mổ để t́m cái ǵ ngọt, khi mổ xong biết ḿnh lầm liền bay đi. Câu kệ châm biếm Ác ma đi theo đức Phật để t́m cơ hội hại Ngài, cuối cùng hại Ngài không được nên bỏ đi.

"Như quạ bay xung quanh
Ḥn đá như đống mỡ.
"Có thể có ǵ mềm?"
"Có thể có ǵ ngọt?" (447)

"Không t́m được ǵ ngọt
Quạ từ đó bay đi
Như quạ mổ ḥn đá
Ta bỏ Gotama." (448)

Một câu kệ nữa nói đến sóng biển không sanh ở giữa biển đại dương, cho chúng ta biết, kẻ đă giải thoát bao giờ cũng trầm tĩnh yên lặng, như bài kệ sau đây:

"Như chính giữa trung ương
Của biển cả đại dương,
Sóng biển không có sanh,
Biển hoàn toàn đứng lặng
Cũng vậy, vị tỷ kheo,
Đứng lặng không giao động
Không có sự bồng bột
Náo nức ở giữa đời." (920)

Đức Phật khuyên các người xuất gia, nên sống riêng một ḿnh tinh tấn tu hành, như con tê giác chỉ có một sừng, sống một ḿnh trong rừng.

"Do thân cận giao thiệp
Thân ái từ đấy sanh,
Tùy thuận theo thân ái,
Khổ này có thể sanh.
Nh́n thấy những nguy hại,
Do thân ái sanh khởi,
Hăy sống riêng một ḿnh
Như tê ngưu một sừng". (36)

"Như nai trong núi rừng
Không ǵ bị trói buộc,
Tự đi chỗ nó muốn
Để t́m kiếm thức ăn,
Như các bậc hiền trí
Thấy tự do giải thoát,
Hăy sống riêng một ḿnh
Như tê ngưu một sừng." (37)

*

Khi đức Phật thuyết pháp, giới thiệu đạo mới của Ngài, Ngài phải đương đầu với hai hệ thống xă hội rất hùng mạnh đang ngự trị trên xă hội Ấn Độ bấy giờ, tức là tổ chức Sa môn và tổ chức Bà la môn. Mỗi hệ thống có một số giáo chủ cầm đầu với hội chúng, với chủ thuyết, với phương pháp tu hành sai biệt và nhiều khi mâu thuẫn nhau. Đức Phật đă mạnh dạn loại bỏ những ǵ Ngài xem là trở ngại cho con người giác ngộ và giải thoát, và tự ḿnh vạch ra một con đường mới mẻ đặc biệt của Ngài.

Trước hết, đức Phật không chấp nhận đời sống người tu hành mà c̣n đoán số, đoán mộng, bói toán, ăn các đồ ăn do kệ tụng đem lại :

"Ta không có thọ dụng
Đồ ăn từ kệ tụng,
Hỡi này Bà la môn,
Đây không phải là pháp,
Của những người có trí.
Chư Phật đều từ bỏ,
Ca hát các bài kệ." (480)

"Chớ có dùng bùa chú,
Anthava Vedà,
Chớ tổ chức đoán mộng,
Coi tướng và xem sao,
Mong rằng đệ tử Ta,
Không đoán tiếng thú kêu
Không chữa bệnh không sanh,
Không hành nghề lang băm." (927)

Đức Phật cũng không chấp nhận cầu mong điềm lành. Các chư Thiên hỏi đức Phật làm thế nào được điềm lành (Mangalam), đức Phật trả lời bằng 48 hành động tốt, v́ chỉ có hành động lành là điềm lành tối thượng, như kinh Mangala sutta đă khéo diễn tả :

"Không thân cận kẻ ngu
Như gần gũi bậc trí,
Đảnh lễ người đáng lễ
Là điềm lành tối thượng." (259)

"Học nhiều nghề nghiệp giỏi,
Khéo huấn luyện, học tập
Nói những lời khéo nói.
Là điềm lành tối thượng." (261)

"Hiếu dưỡng mẹ và cha
Nuôi dưỡng vợ và con
Làm nghề không rắc rối,
Là điềm lành tối thượng." (262)

"Bố thí, hành đúng pháp,
Săn sóc các bà con,
Làm nghiệp, không lỗi lầm,
Là điềm lành tối thượng." (263)

"Chấm dứt, từ bỏ ác,
Chế ngự đam mê rượu,
Trong pháp không phóng dật,
Là điềm lành tối thượng." (264)

"Kính lễ và hạ ḿnh
Biết đủ và biết ơn
Đúng thời, nghe chánh pháp
Là điềm lành tối thượng." (265)

Như vậy, đức Phật bác bỏ sự tin tưởng ở điềm lành và khuyến khích làm các hạnh lành, v́ các hạnh lành là điềm lành tối thượng.

Thêm một bước nữa, đức Phật không chấp nhận quan điểm của các Bà la môn, tin tưởng ở thuyết thọ sanh tử cho ḿnh là giai cấp đáng tôn trọng nhất, chỉ v́ sanh ra từ miệng Phạm thiên và do vậy các giai cấp Sát đế lỵ, Phệ xá và Thủ đà phải tôn trọng phục vụ giai cấp Bà la môn. Đức Phật chống lại quan điểm thọ sanh này và tuyên bố rằng chỉ do hành động mới đánh giá giá trị con người, xem con người có đáng tôn trọng hay không.

"Bần tiện không v́ sanh.
Phạm chí không v́ sanh,
Do hành, thành bần tiện,
Do hành thành Phạm chí." (136)

"Không phải do thọ sanh (*)
Được gọi Bà la môn!
Không phải do thọ sanh,
Gọi phi Bà la môn
Chính do sự hành động,
Được gọi Bà la môn
Chính do sự hành động
Gọi phi Bà la môn." (Trung Bộ Kinh)

(*) thọ sanh: đẻ

Bước thêm một bước nữa, đức Phật bác bỏ các luận thuyết, các triết lư suông, v́ chúng không thể đưa con người đến giải thoát, an tịnh. Có đến 63 luận thuyết thịnh hành trong thời đức Phật và đức Phật đều bác bỏ chúng, v́ chúng chỉ gây thêm tranh luận :

"Các Sa môn tranh luận,
Có đến 63 thuyết,
Các ngôn thuyết văn tự
Y đây, các tưởng khởi." (538)

"Ai thiên trú trong kiến,
Xem kiến ấy tối thắng
Ở đời đặt kiến ấy
Vào địa vị tối thượng,
Người ấy nói tất cả,
Người khác là hạ liệt,
Do vậy không vượt khỏi
Sự tranh luận ở đời." (796)

"Những ai muốn tranh luận
Sau khi vào hội chúng,
Chúng công kích lẫn nhau,
Chúng gọi nhau là ngu
Cái làm nó cống cao
Cũng là đất hại nó,
Tuy vậy nó vẫn nói
Lời cống cao kiêu mạn." (830)

"Không phải từ tri kiến
Từ truyết thống, từ trí
Không phải từ giới cấm,
Thanh tịnh được đem đến." (839)

"Ngươi đă có cuồng tín,
Không đưa đến thanh tịnh
V́ đă có thiên vị,
Với tri kiến tác thành." (910)

Sau khi bác bỏ mê tín dị đoan, tà kiến, truyền thống, điềm lành, các luận thuyết, tế thần, tế lửa, v.v... Đức Phật tự ḿnh xây dựng con đường giải thoát, giác ngộ của ḿnh. Và tập Suttanipàta sưu tầm cho chúng ta thấy, những bài kệ diễn tả đức Phật, sai khác với các ngoại đạo sư hiện tại như thế nào.

Trước hết, Ngài là bậc có mắt, cakkhumantu, có pháp nhăn thấy rơ tất cả :

"Đức Phật thật có mắt
Đối với tất cả pháp. (161)

"Bậc có mắt xuất hiện
Đời này và thiên giới
Quét sạch mọi u ám,
Độc cư, chứng an lạc." (956)

"Vị ấy Chánh đẳng giác
Hỡi này Bà la môn,
Bậc có mắt thấy được
Trong tất cả các pháp." (992)

Đức Phật là vị có một cái nh́n sáng suốt, một sự hiểu biết thấu triệt, thấy đau khổ trong các chủ thuyết, không chấp nhận chủ thuyết nào, t́m đến chân lư, Ngài thấy được sự an tịnh nội tâm.

"Với Ta không có nói!
Ta nói như thế này,
Sau khi quan sát kỹ
Sự chấp thủ trong pháp
Trong tất cả tri kiến.
Ta không có chấp trước,
Ta thấy sự cất chứa
Tịch tịnh trong nội tâm." (837)

"Ai đă chặt sanh hữu,
Không c̣n gieo giống thêm,
Sanh hữu đă đoạn tận,
Không c̣n muốn thọ sanh,
Được gọi là ẩn sĩ
Một ḿnh đi im lặng,
Bậc ẩn sĩ đă thấy
Con đường tịch tịnh ấy." (208)

Nếp sống đức Phật giới thiệu là một nếp sống của vị ẩn sĩ, Mâu ni, một vị đă từ bỏ gia đ́nh sống không gia đ́nh, không có trú xứ nào.

"Thân mật, sinh sợ hăi,
Trú xứ sanh bụi bậm
Không trú xứ, không thân
H́nh ảnh bậc ẩn sĩ." (207)

Một vị đă nhiếp phục tham ái và ái dục, không để ái dục chi phối.

"Vị ấy sống viễn ly
Mọi sự việc ở đời...
Như hoa sen có gai,
Sinh ra ở trong nước,
Không bị nước và bùn
Mắc dính và thân ướt,
Như vậy bậc ẩn sĩ
Nói an tịnh, không tham,
Không bị dục và đời,
Mắc dính và thấm ướt." (845)

Một vị ẩn sĩ không có thiếu thốn, không có tri kiến, không có tà kiến, từ bỏ các chủ thuyết và không có tranh luận với ai ở đời.

"Chính đối với vị ấy,
Ngă, phi ngă đều không
Vị ấy đă tẩy sạch,
Mọi tà kiến ở đời." (787)

"Một số người nói rằng
Đây mới là sự thật,
Chứng nói các người khác,
Là trống không giả dối.
Do chấp thủ như vậy,
Chúng tranh luận đấu tranh,
V́ sao bậc Sa môn.
Không cùng nói một lời." (88)

"Thường trú xả, chánh niệm,
Không nghĩ ḿnh bằng người.
Hơn người thua kém người
Vị ấy không bồng bột." (855)

Sống đời sống viễn ly, không tham đắm vật ǵ, vị ẩn sĩ sống đời sống vô hữu, không có "Ta"; không có "của Ta", thực hành hạnh vô ngă một cách tốt đẹp.

"Vị ấy không con cái,
Thú vật, ruộng, tài sản,
Không có ǵ nắm lấy,
Là ta, là không ta." (858)

"Ai không có vật ǵ,
Không có, không sầu muộn,
Không đi đến các pháp
Vị ấy gọi an tịnh." (861)

"Không nghĩ: "đây của tôi"
Không nghĩ: "đây của người"
Người không có tự ngă
Không sầu ǵ không ngă." (951)

Nhờ thực hành vô ngă, vị ẩn sĩ đi đến an tịnh trong nội tâm:

"Hăy giữ được an tịnh
Về phía từ nội tâm,
Đă không có tự ngă,
Từ đâu có vô ngă!" (919)

Và đích cuối cùng của con đường tu hành, đối với vị ẩn sĩ là "Niết bàn tịch tịnh".

"Từ bỏ ḷng tham dục,
Đây tỷ kheo có tuệ,
Chứng bất tử tịch tịnh,
Niết bàn giới, thường trú!" (204)

*

Một điểm son đáng chú ư là tập này có một số kinh rất được phổ thông, và được chư Tăng các nước Nam Tông tụng đọc thường xuyên như kinh Ratanasutta (kinh Châu Báu), kinh Mangalasutta (kinh Điềm Lành) và kinh Mettasutta (kinh Từ Bi). Ngoài ra có nhiều bài kinh ngắn gọn, ư tứ hàm xúc, tán thán hạnh ẩn sĩ làm nổi bật đặc điểm của kinh này là tán dương ở đời sống của vị xuất gia tầm đạo, như kinh Rắn, kinh Vị ẩn sĩ, kinh Ràhula, kinh Dhammika, kinh Nàlaka, kinh Paràbhida, kinh Tuvataka, kinh Attadanda, kinh Sàriputta. Những kinh này phần lớn đề cập đến hạnh ẩn sĩ, và như vậy làm nổi bật bối cảnh an tịnh tu hành mà Kinh Tập này đề cao một cách đặc biệt.

Ḥa Thượng Thích Minh Châu
Thiền viện Vạn Hạnh
Sài G̣n, 1978 (PL. 2522)

     
 

Trở lại

 
   
   
   

Trở về mục lục

Xin gởi bài mới và ư kiến đóng góp về Tạng Thư Phật Học qua địa chỉ email:

tangthuphathoc@gmail.com