Cùng Chung Lăn Chuyn Bánh Xe Pháp

                  

 
 

PHẬT GIÁO VÀ KHOA HỌC

Phật Giáo Trong Thời Đại Khoa Học
Trần Chung Ngọc

Trong thời đại khoa học, khi mà những tiến bộ khoa học đă làm lui đi phần nào quan niệm thần thánh và những mớ huyền thoại, mê tín dị đoan của con người, th́ càng ngày Phật giáo càng chứng tỏ là một tôn giáo, từ cấu trúc, tư tưởng trong các Kinh điển cho tới phương pháp hành tŕ, rất là tương hợp với khoa học. Ngày nay, Phật giáo đă đi vào thế giới Tây phương một cách nhẹ nhàng, cởi mở và ḥa đồng. Cho nên thế giới Tây phương càng ngày càng hâm mộ Phật giáo về những sắc thái tiến bộ của Phật giáo, và những khoa học gia thượng thặng ngày nay cũng đă nhận ra rằng tư tưởng Phật giáo đă giúp họ rất nhiều trong việc giải thích những hiện tượng khoa học và dẫn họ đến những tư tưởng mới và khám phá mới trong khoa học. Muốn hiểu được hiện tượng kỳ lạ trên, chúng ta cần duyệt sơ lại lịch sử khoa học Tây phương cũng như t́m hiểu những sắc thái đặc biệt của Phật giáo đối với khoa học.

Theo quan niệm của một số khá đông, nhất là ở Tây phương, th́ có vẻ khoa học và tôn giáo khó có thể tương hợp. Thật vậy, tôn giáo Tây phương đặt căn bản trên niềm tin ở một đấng siêu nhiên vạn năng, tác giả của mọi vật trên thế gian và có toàn quyền quyết định số phận con người trong đời sau, dù rằng cho tới nay không có cách nào con người có thể kiểm chứng được sự hiện hữu của một đấng toàn năng, hoặc những ai đă được thưởng hay bị phạt, và thưởng phạt như thế nào. Trái lại, khoa học đặt căn bản trên thực nghiệm, trực tiếp liên hệ tới những vấn đề xă hội ngay trong đời nay, và không chấp nhận những sự việc có tính cách mơ hồ, viễn vông, không phù hợp với đầu óc ngày càng tiến bộ của con người.

Trong mấy thế kỷ gần đây, khoa học phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ ở Tây phương, do đó Tây phương rất tự hào về nền văn minh thường được biết là "nền văn minh Thiên Chúa giáo Tây phương" (Western Christian Civilization), v́ tôn giáo chính ở Tây phương là Thiên Chúa giáo, và v́ những phát triển, tiến bộ ngoạn mục nhất của khoa học và nhiều bộ môn khác cũng ở Tây phương. Nhưng ít người để ư đến sự nhập nhằng kết hợp tôn giáo và khoa học làm một nền văn minh chung. Ít người để ư sự kiện khoa học tiến bộ và phát triển ở Tây phương không phải v́ niềm tin trong tôn giáo của các khoa học gia Tây phương, mà chính là v́ các khoa học gia đă phủ nhận niềm tin này, hay ít ra cũng là lănh đạm với niềm tin này. Thật vậy, lịch sử khoa học cho thấy tôn giáo Tây phương, thường tự cho là văn minh tiến bộ, là khai phóng, đă luôn luôn làm đủ mọi cách, trong phạm vi quyền lực thế gian, để ngăn ngừa những khả năng tự tại quư báu nhất của con người, thí dụ như óc sáng tạo, tự do suy tư v.v..., những thành tố tất yếu của sự phát triển khoa học nói riêng, kiến thức con người nói chung. Trong khi đó, Phật giáo, thường bị xuyên tạc là một tôn giáo yếm thế, chậm tiến, lại có rất nhiều điểm tương đồng với khoa học, luôn luôn ḥa hợp, cổ vơ, và hỗ trợ những tiến bộ của khoa học, và ngày càng giữ một vị thế thoải mái trong thời đại khoa học. Điều này không có ǵ là lạ, v́ căn bản tu tập trong Phật giáo cũng dựa trên thực nghiệm giống như khoa học, và nếu ta để tâm t́m hiểu th́ ta sẽ thấy, và phải nói rằng trong nhiều bộ môn, Phật giáo đă tiến trước khoa học khá xa về tư tưởng và phương pháp hành tŕ chứng nghiệm trực tiếp.

Hẳn nhiên trong một bài báo ngằn ngủi tôi không có cách nào tŕnh bày toàn vẹn tinh thần khoa học trong Phật giáo cũng như không thể đi vào tất cả các bộ môn mà tư tưởng Phật giáo có thể coi như là tiền phong cho những khám phá khoa học sau này. Cho nên sau đây tôi chỉ đưa ra vài sự kiện so sánh giữa những khám phá của Phật giáo hơn 2500 năm trước và những khám phá mới đây của khoa học chính xác, và tôi sẽ tự hạn trong đề tài "Vũ Trụ Luận" trong Phật giáo. Tôi sẽ chứng tỏ cho bạn đọc thấy nhiều khi Phật giáo c̣n chính xác và đầy đủ hơn khoa học, và rằng một tư tưởng Phật giáo và phương pháp tŕnh bày các tư tưởng này đă đi trước khoa học nhiều thế kỷ.

Quan niệm của Phật giáo về vũ trụ như sau : thế giới chúng ta đang sống không phải là duy nhất và cũng không phải là trung tâm vũ trụ. Ngoài thế giới chúng ta đang sống c̣n có rất nhiều thế giới khác, và Phật giáo phân loại các thế giới thành 3 loại : Tiểu Thiên Thế Giới, Trung Thiên Thế Giới và Đại Thiên Thế Giới. Danh từ Thế Giới trong Phật giáo chỉ một thiên thể (thí dụ như trái đất) hoặc một tập hợp các thiên thể được coi như thuộc một nhóm (thí dụ thái dương hệ mà trái đất là một hành tinh trong đó). Vậy, một ngàn thế giới họp thành một Tiểu Thiên Thế Giới, một ngàn Tiểu Thiên Thế Giới họp thành một Trung Thiên Thế Giới, và một ngàn Trung Thiên Thế Giới họp thành một Đại Thiên Thế Giới. Như thế, lấy đơn vị là một hệ thống tương tự như hệ thống Thái Dương Hệ và gọi là thế giới th́ Tiểu Thiên Thế Giới gồm có khoảng một ngàn thế giới, Trung Thiên Thế Giới gồm khoảng một triệu thế giới, Đại Thiên Thế Giới gồm khoảng một tỷ thế giới v.v... Đó là quan niệm về vũ trụ của Phật giáo từ hơn 2500 năm về trước. Nhưng sau đó hai mươi hai thế kỷ, vào thế kỷ thứ mười bảy, Tây phương vẫn c̣n chưa thoát khỏi quan niệm tối tăm về trời tṛn đất vuông, trái đất được coi là trung tâm vũ trụ, và rằng mặt trời quay xunh quanh trái đất như đă viết trong Thánh Kinh. Những khám phá mới, xác thực về vũ trụ của các khoa học gia như Copernicus (các hành tinh quay xung quanh mặt trời) và Galileo (trái đất quan xung quanh mặt trời) đều bị quyền lực tôn giáo đương thời lên án, v́ không phù hợp với Thánh Kinh. V́ trường hợp của Galileo đă nói lên phần nào tinh thần tôn trọng sự thất và bất khuất của các khoa học gia, và v́ Galileo được coi như là người mở một kỷ nguyên mới cho nền khoa học tân tiến Tây phương, nên tôi nghĩ kể lại vài ḍng về trường hợp của ông cũng không phải là vô ích :

"Năm 1633, dựa trên những dữ kiện khoa học không thể phủ nhận, đoan quyết trong một cuốn sách khảo cứu thiên văn của ông (Galileo) rằng : không phải là mặt trời quay xung quanh trái đất mà chính là trái đất quay xung quanh mặt trời, th́ ông bị kéo ra trước ṭa án dị giáo của Giáo hoàng Urban VIII. Khi đó ông đă già, gần chết, người hăy sửa lại điều trên v́ nó ngược lại với Thánh Kinh. Bất cứ điều nào ngược lại với Thánh Kinh đều đương nhiên sai lầm, v́ Thánh Kinh là lời của Thượng Đế".

Galileo là một khoa học gia vĩ đại, dù đă tám mươi tuổi, sắp chết, nhưng vẫn c̣n đầy đủ óc khôi hài tuyệt vời. Ông nói :

"Không thành vấn đề, tôi sẽ sửa lại lời tôi viết, tôi sẽ viết lại trong sách của tôi đúng như lời Thượng Đế đă viết trong Thánh Kinh -- nghĩa là mặt trời quay xung quanh trái đất. Nhưng có một điều tôi cần tŕnh ngài rơ : cả trái đất lẫn mặt trời đều không đọc sách của tôi. Và sự thực th́, trái đất sẽ tiếp tục quay xunh quanh mặt trời. Nếu ngài nhất định muốn biết tại sao th́ tôi có đầy đủ bằng chứng. Tôi đă dùng cả đời tôi để nghiên cứu vấn đề này, và những người có đầu óc khoa học đều tuyệt đối đồng ư với sự khám phá của tôi. Trước sau ǵ rồi ngài cũng phải đồng ư v́ không ai có thể chống lại sự thực lâu dài".

(Galileo was a great scientist who, even at the age of eighty, when he was dying, had such a beautiful sense of humor. He said : There is no problem. I will change it; I will write in my book exactly what God has written in the bible -- that the sun goes around the earth. But one thing I must make clear to you : neither the sun reads my book. As far as reality is concerned, the earth will continue going atound the sun. And why should you insist ? Because I have every proof; I have devoted my whole life to the search, and all those who have a scientific mind in absolute agreement with me. Sooner or later you will have to agree because one cannot remain against truth for long. Priests and Politicians, Second revised edition, Cologne, West Germany, p. 27).

Tuy vậy Galileo vẫn bị buộc phải sửa đổi sự thực khoa học ông đă viết trong sách, bị kết án là "lạc đạo" và bị biệt giam tại nhà cho đến khi ông chết năm 1642. Nhưng lời tiên đoán của ông đă thành sự thực, tuy hơi chậm. Ba trăm năm mươi chín năm sau, ngày hai mươi chín tháng mươi năm 1992, Giáo hoàng John Paul II, tuyên bố vụ án Galileo là một sai lầm và phục hồi danh dự cho Galileo, sau khi một ủy ban gồm những bộ óc thượng thặng của ṭa thánh nghiên cứu trong mười ba năm về vấn đề Galileo. Trong ḍng thời gian vô tận, ba trăm năm mươi chín năm cũng chẳng phải là lâu. Và, mười ba năm dùng để nghiên cứu một vấn đề mà đối với toàn thế giới đă rơ như ban ngày từ mấy trăm năm nay cũng chẳng phải la điều vô ích.

Trở lại quan niệm về vũ trụ của Phật giáo, chúng ta thấy rằng quan niệm này hầu như tương hợp hoàn toàn với những kiến thức ngày nay của những nhà thiên văn (astronomers) hay những nhà vật lư học về thiên thể (astrophysicists), và đă đi trước khoa học nhiều thế kỷ. Một Tiểu Thiên Thế Giới có thể so sánh với quan niệm hiện đại về một thiên hà (galaxy) gồm có cả triệu ngôi sao và những hành tinh có thể có sinh vật trên đó. Thí dụ như giải ngân hà (Milky Way) hay M31, hay cḥm sao (consteliation Andromeda). Một Trung Thiên Thế Giới có thể so sánh với một chùm thiên hà (galactic cluster) thí dụ như chùm Goma Berenices, và một Đại Thiên Thế Giới có thể so sánh, với cái mà Hannes Alfven gọi là siêu thiên hà (metagalaxy) ở trong Đại Vũng (Big Dipper) của Tiểu Ursa (Minor Ursa) trong đó có ít ra là cả triệu thiên hà. Cho tới nay, v́ những giới hạn tự tại của những dụng cụ quan sát cho nên các khoa học gia chưa thể đi xa hơn trong việc khảo sát vũ trụ. Nhưng không phải v́ những giới hạn theo, và nay chúng ta đă hiểu tạo sao Đức Phật lại "bỏ ngỏ" quan niệm về vũ trụ hữu hạn hay vô hạn. Điều này chứng tỏ Đức Phật đă thấy rơ khả năng vô tận của con người khả năng vô tận của con người, và rằng Phật Pháp không phải là những giáo điều cứng nhắc không bao giờ thay đổi. Và đây cũng chính là tinh thần khoa học hiện đại, không có ǵ có thể coi như là vĩnh cửu, bất biến.

Nói đến quan niệm về vũ trụ của Phật giáo th́ chúng không thể bỏ qua Kinh Hoa Nghiêm, phẩm Thế Giới Thành Tựu. Trong phẩm này, Bồ Tát Phổ Hiền tuyên thuyết về 10 đặc tính của các thế giới : nhân duyên khởi, chỗ trụ nương, h́nh trạng, thể tánh, trang nghiêm tánh, thanh tịnh tánh, Phật xuất hiện, kiếp trụ, kiếp chuyển biến sai biệt, và môn vô sai biệt. Để cho vấn đề tương hợp với khoa học được rơ ràng, sau đây tôi xin luận về hai điểm : h́nh trạng và kiếp trụ các thế giới. Chúng ta hăy xét đoạn kinh văn sau đây :

"Lúc đó Phổ Hiền Bồ Tát lại bảo đại chúng rằng : "Chư Phật tử ! Thế giới hải có nhiều h́nh tướng sai khác, hoặc tṛn... hoặc h́nh như nước xoáy... hoặc h́nh như hoa... có vi trần số h́nh sai khác như vậy".

Rồi trong phẩm tiếp theo, phẩm Hoa Tạng Thế Giới, Phổ Hiền Bồ Tát lại tuyên thuyết :

"Chư Phật tử ! Tất cả thế giới chủng đó h́nh trạng đều khác nhau : hoặc h́nh núi Tu Di, hoặc h́nh nước xoáy, hoặc h́nh trục xe... hoặc h́nh hoa sen... có vi trần số h́nh trạng như vậy" (Kinh Hoa Nghiêm, Thích Trí Tịnh dịch, Phật Học Viện Quốc Tế xuất bản).

So sánh với những h́nh trạng của các cḥm sao, giải thiên hà, ngân hà khám phá bởi khoa học ngày nay chúng ta thấy Phật Giáo đă mô tả h́nh trạng của chúng một cách vô cùng chính xác. Thí dụ như các h́nh như bánh xe, nước xoáy, chúng ta có thể quan sát được trong các cḥm sao như Cetus, Pegasus và Hercules, h́nh sông là giải ngân hà (Milky Way) và nhiều thiên hà khác, h́nh dạng như hoa là những khối tinh vân trong khoảng không gian liên-thiên-hà (intergalactic clounds of gas) có chứa hàng tỷ ngôi sao v.v... Thật tôi không thể tưởng tượng được ở một thời chưa hề có kính thiên văn, dù thô sơ nhất, mà Đức Phật và các Đại Bồ Tát đă có những hiểu biết chính xác về vũ trụ như trên. Nếu không phải v́ đă giác ngộ hoàn toàn, nắm vững cơ cấu huyền bí của vũ trụ, th́ làm sao có thể biết được những điều như trên. Và chúng ta cũng nên nhớ là những điều Đức Phật và các Bồ Tát chọn để tuyên thuyết cho người đời chẳng qua cũng chỉ là một nắm lá trong tay so với số lá cây trong rừng.

Tiếp theo, về kiếp trụ của các thế giới, Kinh văn viết rằng :

"Lúc đó Phổ Hiền Bồ Tát lại bảo đại chúng rằng : "Chư Phật tử ! Nên biết thế giới hải có thế giới hải vi trần số kiếp trụ, hoặc có a tăng kỳ kiếp trụ, hoặc có vô lượng kiếp trụ, hoặc có vô biên kiếp trụ, hoặc có vô đẳng kiếp trụ, hoặc có bất khả sổ kiếp trụ, hoặc có bất khả xưng kiếp trụ, hoặc có bất khả tư kiếp trụ, hoặc có bất khả lượng kiếp trụ, hoặc có bất khả khuyết kiếp trụ... có vi trần số kiếp trụ như vậy".

Rồi trong bài kệ để tuyên lại nghĩa này, Bồ Tát Phổ Hiền có giải thích bằng một câu : "Hoặc chỉ một kiếp hoặc vô số, bởi những tâm nguyện đều chẳng đồng". Chỉ một câu :Bởi những tâm nguyện đều chẳng đồng" cũng đă giải quyết vấn đề "thiên sai vạn biệt" trong vũ trụ. Thật là đầy đủ, thật la rốt ráo, thật là chính xác. Nếu chúng ta đi sâu vào một chút trong đoạn kinh văn trên, chúng ta sẽ thấy Phật Giáo đă đi trước khoa học như thế nào.

Phật Giáo phân biệt : Tiểu Kiếp có 16 triệu tám trăm ngàn năm, Trung Kiếp có 336 triện năm, và Đại Kiếp có một tỷ 344 triệu năm. Theo khoa học hiện nay th́ một ngôi sao (coi như là một thế giới) mà chất lượng (mass) càng nặng th́ đời sống của ngôi sao chỉ "sống" được từ một tới vài tỷ năm và người ra đă tính được rằng một ngôi sao có chất lượng nhẹ hơn những ngôi sao trên khoảng chín mươi phần trăm th́ ngôi sao này có thể sống tới ngàn tỷ năm. Điều nay rất phù hợp với câu kệ trên của Phổ Hiền Bồ Tát, có thế giới chỉ tồn tại một kiếp, có thế giới tồn tại vô số kiếp v.v...

Thứ đến, những danh từ như a tăng kỳ, vô lượng, vô biên... bất khả thuyết có vẻ như mơ hồ và không rơ ràng như những con số trong thời đại khoa học. Thật ra không phải vậy, v́ trong phẩm A Tăng Kỳ, Kinh Hoa Nghiêm, ta đọc được như sau, tôi xin đánh số cho rơ ràng hơn :

"Phật nói: Này thiện nam tử !
1. Một trăm Lạc Xoa làm một Câu Chi.
2. Câu Chi lần Câu Chi làm một A Giu Đa
3. A Giu Đa lần A Giu Đa làm một Na Do Tha.
4. Na Do Tha lần Na Do Tha làm một Tần Bà La.
và tiếp tục như vậy tất cả là 123 lần, trong đó số 10 là A Tăng Kỳ, số 106 và Số Lượng, số 108 là Vô Biên, số 110 là Vô Đẳng, số 112 là Bất Khả Sổ, số 114 là Bất Khả Xưng, số 116 là Bất Khả Tư, số 118 là Bất Khả Lượng, và số 120 là Bất Khả Thuyết".

Chúng ta biết rằng khoa học ngày nay dùng kư hiệu thừa để viết những con số lớn. Thí dụ như một triệu là con số 1 với 6 con số 0 đằng sau, 1.000.000, theo kư hiệu điện toán được viết như sau : 10^6 và đọc là 10 lũy thừa 6; 1 tỷ gồm có số 1 và 9 số 0 được viết là 10^9 (billion), lớn hơn nữa là 10^12 (1 ngàn tỷ hay trillion), 10^15 (1 triệu tỷ hay zillion) và khoa học chưa có những danh từ riêng để chỉ những con số lớn hơn. Tiếng Việt th́ chỉ tới số tỷ là cao nhất.

Theo Kinh Phật th́ Lạc Xoa là 100 ngàn, nghĩa là 10^5. Như vậy 1 Câu Chi là 10 triệu, nghĩa là 10^7; 1 A Giu Đa là 100 ngàn tỷ, nghĩa là 100 ngàn tỷ, nghĩa là 10^14; 1 Na Do Tha là 10 tỷ tỷ tỷ, nghĩa là 10^28. Tiếp tục tính ra ta sẽ thấy 1 A Tăng Kỳ là khoảng, nếu chỉ lấy 9 số lẻ, 10^(7.098843361 x 10^31), nghĩa là con số 1 tiếp theo bởi hơn 7000 tỷ tỷ tỷ con số 0 ở đằng sau, một con số vô cùng lớn nhưng vẫn có một tên riêng. Chúng ta có thể suy ra :

Vô Lượng = 10^(2.83953734 x 10^32)
Vô Biên = 10^(1.13581938 x 10^33), và
Bất Khả Thuyết = 10^(4.652297985 x 10^320, nghĩa là con số 1 tiếp theo bởi khoảng hơn 4 tỷ tỷ tỷ con số 0 đứng đằng sau.

Những con số khoa học hiện đại dùng tới có lẽ chỉ vào khoảng 10^40 nghĩa là chỉ có 40 con số 0 đứng sau. Chúng ta thấy ngay rằng, ngay cả về phương diện toán số, Phật Giáo đă đi trước khoa học khá xa về sự biểu thị chính xác những con số và đă có quan niệm về những con số vô cùng lớn, lớn ngoài mức tưởng tượng của các khoa học gia hiện đại.

Trên đây tôi đă tŕnh bày sơ lược, sơ lược v́ c̣n rất nhiều chi tiết tôi chưa nói tới, những sự tương đồng giữa Phật Giáo và khoa học hiện đại trong một số quan niệm về vũ trụ, và chứng tỏ rằng những tư tưởng Phật Giáo đi trước khoa học nhiều thế kỷ, và rằng Phật Giáo cũng vô cùng chính xác trong một số nhận định. Nhưng Phật Giáo không phải chỉ có những tương đồng với khoa học trong bộ môn thiên văn như vừa tŕnh bày ở trên, hay với môn Vật lư các hạt nhỏ (particle physics) như đă tŕnh bày trong cuốn The Tao of Physics của Fritjoff Capra, mà c̣n nhiều tương đồng khác trong các bộ môn như sinh học (bioscience), vạt lư hạt nhân (nuclear physics), triết lư khoa học (philosophy of science), tâm lư học (psychotherapy). di truyền học (genetics) v.v... và nếu khảo sát kỷ th́ trong bộ môn nào, tư tưởng Phật Giáo cũng đi trước khoa học khá xa. Cũng v́ vậy mà những bộ óc khai phóng, tiến bộ nhất của nhân loại hiện nay càng ngày càng phải t́m về những chất liệu trong Phật Giáo với hy vọng giải quyết những bí tắc trong việc mở mang kiến thức loài người. Ngoài ra, cái tinh thần tư bi hỷ xả và bản chất khoan dung của Phật Giáo cũng lần lần đi vào đầu óc của những con người tiến bộ trong thời đại khoa học.

Để kết luận, tôi xin mượn lời của luận gia Gerald Du Pré như sau :

"Trong thế kỷ này, đă có nhiều công cuộc ḥa hợp tôn giáo trên thế giới, với mục đích đáng tán thưởng là t́m ra những điểm chung giữa các tôn giáo, và cổ úy tinh thần khoan dung giữa các tôn giáo. Tuy nhiên, điều này không làm cho tôn giáo sống lại, v́ những thứ mà hầu hết những tôn giáo cùng có là ḷng tin, giáo điều, thánh kinh và các thần tính, tất cả những thứ này làm cho các tôn giáo đó không tương hợp với khoa học. Phật Giáo (cùng với Lăo Giáo) là một biệt lệ, v́ Phật Giáo không phải là một tín giáo, không có giáo điều cứng nhắc, không có thần quyền và không chấp nhận hiệu lực của bất cứ ai khác. Tôi không tin rằng chúng ta nên t́m cách hợp nhất Phật Giáo với các tôn giáo khác. Điều này chỉ dẫn đến sự lẫn lộn. Chúng ta hăy cố gắng tranh đấu để hợp nhất Phật Giáo và khoa học, để tạo nên một tôn giáo khoa học cho thế giới hiện đại. Khoa học Phật Giáo sẽ lam tan biến sự hoang mang, bối rối bằng cách làm sáng tỏ và hợp nhất lư thuyết và phương pháp hành tŕ Phật Giáo để làm một căn bản giác ngộ vững chắc, hữu hiệu cho người Tây phương".

(During this century, a great deal of works has been done for uniting the religions of the world, with the praiseworthy object of discovering what they have in common, and for promoting tolerance among them. However, this has not lead to a revival of religion, because what most religions have in common is faith, dogma, divine scriptures and deities, all of which make them incompatible with science. Buddhism (along with Taoism) is the great exception to this, for it is not a faith, has no dogma or divine authority of its own adn doee not accept the validity of anyone else's.

I don't believe that we should be trying to unite Buddhism with other religions. This only leads to confusion. Instead, we should be striving to unite Buddhism and science, so as to produce a religion of science for our modern world. Science Budhhism will dispell confusion by clarifying and unifying Buddhist practice and theory and making it an effective stepping-stone to enlightenment for Westerners" (Scientific Budhhism by Gerald Du Pré, in "Buddhism and Science", Edited by Buddhadasa P. Kirthisinghe, New Delhi, India, 1984).

Trở Lại

 
 

-o0o-

 
 

 
     
 

Xin gởi bài mới và ư kiến đóng góp về Tạng Thư Phật Học qua địa chỉ email: bientap@tangthuphathoc.net