Tác giả:
Phổ Nguyệt
I.
Theo Thể Cách Tri Nhận Tánh Không
Chơn
không diệu hữu là h́nh trạng hằng hữu của không
tướng các pháp, là tự tính sự vật, đầy đủ tính, muôn
h́nh vạn trạng, biến hóa khôn lường, hay sanh, trùng
trùng duyên khởi trong hư không, trong tàng thức của
chúng sinh.
Nh́n
một trần cảnh, là dùng căn mắt để thấy đối tượng.
Tất cả sự vật trong thế giới hiện tượng đều hiện hữu
do ngũ giác quan nhận diện trong thời điểm hiện tại.
Chỉ trong hiện tại tiền ngũ căn mới cảm nhận được mà
thôi. C̣n thời quá khứ và vị lai th́ hoàn toàn tùy
thuộc vào ư trí thường gọi là ư thức mới nhận thức
được đối tượng khiếm diện. Thí dụ:
Bây
giờ, lần đầu tiên đứa trẻ nh́n thấy con ḅ đang ăn
cỏ,nó chỉ biết cảm nhận h́nh ảnh con ḅ (cảm giác),
rồi được cho biết tên h́nh ảnh đó là con ḅ, nó mới
biết được là con ḅ (có kinh nghiệm hay quan niệm)
tức là tri giác.
Nếu
sau nầy, nó thấy con ḅ hiện đang đi, nó biết được
con vật đó là con ḅ. Thật vậy, nó Biết Thực Có con
ḅ. Một hôm, có người hỏi nó ở một nơi khác không có
con ḅ, nó sẽ trả lời rằng không có con ḅ. Tại sao
vậy? Khi đối tượng hiện hữu mà tiền ngũ căn nhận
thức được th́ Biết Thực Có đối tượng, khi đối tượng
không hiện hữu, th́ Biết Thực Không Có đối tượng.
Vậy th́ khi thấy con ḅ, Biết Thực (Có Con ḅ), khi
không có con ḅ th́ Biết Thực (Không Có con ḅ).
Biết Thực Có là Chơn Hữu do tiền ngũ căn. C̣n Biết
Thực Không là Chơn Không. Cái Biết thấy có
đối tượng th́ thật: khẳng định, không chối cải được,
v́ cụ thể qua tiền ngũ căn. Có hiện diện con ḅ hay
không có hiện diện con ḅ chỉ là đối tượng vô thường,
nhưng cái Biết vẫn hằng hữu. Đối tượng th́ luôn phủ
định, và tánh Biết vẫn khẳng định.
Tại
sao cái Biết nhận thức được phủ định tính của đối
tượng?
Đối
tượng mà ta nhận thấy thật ra chỉ là thấy bóng dáng
của đối tượng mà thôi. Như thấy con ḅ là thấy bóng
dáng con ḅ ở vơng mạc của mắt. Cái Biết của Tâm là
phi vật chất (thể không); cái Thấy bóng dáng của
đối tượng cũng phi vật chất (thể không) đồng thể với
tâm nên tâm mới nhận thức được.
H́nh
ảnh đối tượng trong vơng mạc mắt là bào ảnh của nó.
Bào- Ảnh hay Như-Là-Tính-Thể của sự vật là đối tượng
nhận thức của Tâm. Tính- Thể của Tâm và
Như-Là-Tính-Thể của sự vật đều đồng thể, nên sự nhận
thức mới thành h́nh. Sự vật có thể xem là sản phẩm
của Tâm. Nếu sự vật không được tính-thể hóa c̣n gọi
Như-Là-Tính-Thể để đồng Tính-Thể của Tâm th́ sự nhận
thức không thể hiện được. Đó là quy luật: Đồng thanh
tương ứng, đồng khí tương cầu, đồng thể tương thông.
Bào
thể của sự vật hay Như-Là-Tính Thể là phản ánh
Tính-Thể của Tâm. Đặc tính Bào Thể chính là Đặc tính
của Tâm. Như-Là-Tinh-Thể và Tinh-Thể là Một.
Nhắc
lại, Cái Biết Thực Không (Có con ḅ). Con ḅ là Hữu.
Không có con ḅ mà vẫn Biết là Diệu Hữu. Vậy Thực
Không là Chơn Không, không có con ḅ là Diệu Hữu.
Chơn Không Diệu Hữu là cái Biết muôn h́nh vạn trạng
của các thức đă từng chứa trong Mạc Na Thức hay Alại
Da Thức nhiều đời nhiều kiếp.
Dù
không có hiện diện cụ thể mà bây giờ tiền ngũ căn
không cảm nhận được, nhưng các Thức vẫn bao trùm
trong hư không như Cái Biết vậy. Cái Biết và Thức
th́ b́nh đẳng và tự do như nhau. Cái Biết do Trí (Ư
tác năng) và cái Thức (ư tác động) qua tiền ngũ căn
đều b́nh đẳng v́ cùng thể không của Tâm, và có liên
hệ chặt chẻ với nhau. Thấy Biết tuy Hai mà Một.
Tri
giác một đối tượng b́nh thường theo tiền ngũ căn là
một nhận thức sai lầm v́ tri giác đó c̣n nằm trong
phạm vi thời không. Biết gặp Thực Tướng của vạn hữu
là nhận thức vượt khỏi thời không như đă tŕnh bày ở
phần Thực Tại Tuyệt Đối & Chân Lư Tối Hậu. Như vậy
Tri Thức Đúng cái Tri Thức sai lầm của tiền ngũ căn
là Giác Ngộ (Biết Gặp) Thực Tướng của sự vật. Chơn
Không Diệu Hữu nghĩa là Biết Thật trong Hư Không các
pháp hiện hữu một cách mầu diệu. V́ các pháp không
có thật tướng nên không sanh không diệt, không sạch
không nhơ, không tăng không giảm.
II. Chân
Không Diệu Hữu theo Đại Thừa Tư Tưởng Luận.
Từ rất sớm, tư tưởng Bát Nhă đă trở thành tư tưởng
căn bản của tất cả các tôn phái Đại thừa. Mà tư
tưởng căn bản đó có thể thâu tóm vào bốn chữ Chân
Không Diệu Hữu. Nếu đứng trên lập trường tu dưỡng mà
nói th́ Chân Không là cái đương thể tối hậu của sự
phủ định hoàn toàn ngă chấp, ngă dục, siêu việt hiện
thực, nhưng tuyệt nhiên không có nghĩa là hư vô, mà
trái lại có thể nói đó là cái tâm cảnh sung thực, tự
do tuyệt đối. Về mặt giáo lư, Bát Nhă không lập ngẫu
tượng, cho nên cái đương thể tối hậu đó, về phương
diện biểu tượng, không làm cách nào để diễn tả được.
Trên quan hệ, v́ phải thoát ly cái cảnh giới cá biệt,
và hạn chế này, nên về mặt tiêu cực, nói là Không,
nhưng thật th́ không ngoài việc thể nghiệm cái năng
động thái thuần túy. Do đó, nếu nói theo tâm cảnh ấy
th́ tất cả hoạt động của chúng ta đều là để thanh
tịnh hóa thế giới này, mà tất cả sự vật đều là cái
ánh sáng phóng từ tướng Chân như ra (Diệu Hữu). Đứng
ở một phương diện mà nhận xét th́ thế giới quan của
Bát Nhă có vẻ như vô vũ trụ luận; không những thế,
nếu nhận xét ở một khía cạnh khác, thế giới quan tuy
hiển nhiên đă biến thành Phiếm thần luận, nhưng rốt
cuộc cũng không ngoài cái kết luận được rút tỉa từ
tư tưởng Chân Không Diệu Hữu. Sự khảo sát về Chân
Không Diệu Hữu tuy đă trở thành xuất phát điểm căn
bản của tất cả triết học Đại thừa sau này, nhưng vấn
đề ở đây - mối quan hệ giữa giải thoát và đạo đức –
theo lập trường Bát Nhă, nên xử lư như thế nào?
Theo
Bát Nhă, nếu nói một cách phiến diện th́ đạo đức vẫn
chỉ là một trong những phương tiện để đạt đến cảnh
giải thoát của Chân Không. Để đạt mục đích đó, như
mọi người đều biết, cần phải tu hạnh Lục Độ, mà
trong Lục Độ bao gồm những đức mục đạo đức như sự
nghiệp từ thiện (bố thí), đức hạnh (tŕ giới), nhẫn
nại, nổ lực v.v... Nhưng sở dĩ Bát Nhă có cái đặc
sắc Bát Nhă thay v́ chú trọng vào pháp môn hướng hạ.
Dĩ nhiên, thật ra trong quá tŕnh tu dưỡng, tuy
không có hướng thượng hay hướng hạ khác nhau, nhưng
giữa hướng thượng và hướng hạ, không thể không có
một thái đô bất đồng. Đó là đặc sắc của Bát Nhă. Do
đó, cái địa vị của đạo đức đối với giải thoát, nếu
nói một cách phiến diện, th́ tuy chỉ là phương tiện,
nhưng ở một phương diện khác mà nói, th́ trái lại nó
phải là căn cứ giải thoát mới có thể hoàn thành được
đạo đức chân chính. Nghĩa là Lục Độ là phương tiện
để đi đến Chân Không, nhưng đồng thời, Lục Độ chân
chính phải đạt đến Chân Không, mới có thể được hoàn
thành, và như vậy nó lại là yếu tố không thể thiếu
để tạo thành thế giới Diệu Hữu. Nói thế tuy có vẻ
biến thành trừu tượng, nhưng nếu nói một cách cụ thể
th́ tuy là sự nghiệp từ thiện, nhưng sự nghiệp từ
thiện bất luận là xuất phát từ động cơ nào đi nữa,
nó cũng hàm chứa một sự hy sinh tự kỷ, đă phá ngă
chấp, ngă dục làm phương tiện để thể hiện thế giới
Chân Không. Theo ư nghĩa đó, Lục Độ được coi là hàng
đầu, nhưng bố thí mà nhắm cầu lợi cho chính ḿnh dù
chỉ một mảy may thôi, th́ lập tức Bố thí Ba la mật
biến thành vô nghĩa, mất chân chính. Bố thí chân
chính là phải có tính cách của cái gọi là “Tam luân
thể không”, nghĩa là đừng bao giờ phân biệt ḿnh là
người cho, có kẻ nhận của ḿnh cho, và có vật để
ḿnh cho; coi hành động bố thí của ḿnh chỉ là một
phận sự cao cả nên làm, thế thôi. Có như thế bố thí
mới có được ư nghĩa chân chính, mà quan niệm này chỉ
khi nào đạt tới cảnh giới Chân Không mới có thể được
hoàn thành, đồng thời, khi bố thí với tinh thần Tam
luân không Diệu Hữu, đó là tinh thần của Bát Nhă, và
tinh thần ấy không phải chỉ hạn cục trong lĩnh vực
bố thí từ thiện, mà bất cứ nổ lực làm một việc ǵ có
tính cách v́ người, giúp đời, đều cũng phải xuất
phát từ lập trường đó, nếu không sẽ trái ngược hẳn
với tinh thần Bát Nhă. Cái gọi là vô duyên từ bi
chính là chỉ tinh thần đó. Kinh Kim Cương nói “Ưng
vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm” chẳng qua cũng chỉ biểu
thị cái tinh thần và thái độ căn bản đó mà thôi. Chỉ
khi nào theo tinh thần đó mà đạo đức hóa xă hội th́
mới có thể thực hiện được Tịnh Độ Diệu Hữu. Cho nên
tôi tưởng ta có thể giải thích thế giới quan Phiếm
thần luận của Bát Nhă như sau chỉ hạn cục ở phương
diện đạo đức thôi: Xây dựng trên cơ sở của tâm vô sở
đắc để hoàn thành việc đạo đức hóa xă hội. Trong
kinh Bát Nhă thường nói “Nhờ năng lực của Bát Nhă:
người điếc được nghe, người mù được thấy, người què
được đứng”. Những câu trên đây vốn ám chỉ cái trí
kiến lực, nhưng ta cũng có thể giải thích nó là cái
kết quả của năng lực đạo đức cứu tế xă hội theo tinh
thần Tam luân thể không vậy.
Tựu
chung, vào thời đại Nguyên thủy Phật giáo, Bát Nhă
đă hoàn toàn thực hiện cái nhân cách của Đức Phật,
đem dung hợp và nhất ban hóa giải thoát và đạo đức
để tạo cho triết học Chân Không Diệu Hữu một cơ sở
mà có thể nói thật đă thấu triệt được chỗ lập cước
của tinh thần chân thực của Phật. Đó cũng là lư do
tại sao Bát Nhă, vốn thừa kế chân tinh thần của Phật
giáo Nguyên thủy, được nhận là căn đề của Phật giáo
Đại thừa.
Theo
lư duyên sinh th́ tất cả các pháp đều thay đổi,
sinh, diệt, cho đến sự khổ, vui cũng thế, chứ riêng
nó không có tự tính. Hiểu được lư ấy tức là đă đạt
đến sự giải thoát. Xem thế đủ biết, Phật giáo nói
giải thoát là phải thấu suốt lư duyên sinh để đến
được thể “không tịch”. Do đó, ta có thể nói hễ thông
đạt lư duyên sinh, tức là đă thể nghiệm được nghĩa
“không tịch”. Song phải hiểu rằng, thể nghiệm “không
tịch” không có nghĩa là trở về với cái “hư vô tuyệt
diệt’ mà chỉ là đă phá thành kiến chấp ngă hẹp ḥi
của người đời mà thôi. Sau khi thể nghiệm được “tính
không" th́ một chân trời tự do mới cũng bắt đầu hé
mở. Phật giáo gọi chân trời ấy là “Chân không diệu
hữu”. Song thế giới diệu hữu chỉ thấy được về phương
diện khách quan, cho nên trên quan hệ thành lập, vẫn
tiến hành theo lư duyên sinh. Duy có điểm khác với
trước: lập trường trước kia (tự nhiên thái) chỉ có
trói buộc, khổ năo, trái lại, đến thời kỳ này, hết
thảy đều hướng về tự do. Như vậy là lư duyên sinh đă
đổi sự thúc phọc thành tự do. Nói đúng ra chỉ có Đại
thừa chủ trương diệu hữu duyên sinh quan mà thôi.
Như Vô tận duyên sinh quan trong kinh Hoa nghiêm;
Thực tướng quan trong kinh Pháp Hoa: Tịnh độ quan
trong kinh Vô lượng thọ; Chân như quan trong Khởi
tín luận, tất cả đều phát xuất từ quan niệm đó.
Tóm
lại, cùng một duyên sinh quan, do sự lưu truyền,
biến hóa mà trở thành nguyên nhân chủ yếu của giáo
lư triển khai rất phức tạp của Phật giáo. Song điểm
căn bản và nhất quán là:
a)
Hết thảy đều do nhân duyên ḥa hợp mà thành chứ
không có thực thể tồn tại riêng biệt.
b)
Cuối cùng, hết thảy đều do tâm của ta.
Đó
là nhân sinh quan và vũ trụ quan của Phật giáo, khác
hẳn với lập trường của các giáo phái khác chủ trương
một đấng chúa tể, và đó là điểm đặc thù của Phật
giáo.
4)
Tâm - Vấn đề duyên sinh tuy có thể diễn tả theo
nhiều cách, song điểm phát xuất của nó vẫn không
ngoài Tâm, nếu ĺa Tâm là nguồn gốc của duyên sinh
quan, cho nên cái gọi là Pháp, là Duyên sinh rốt
cuộc cũng không ngoài cái tâm tưởng biểu hiện của ta.
Đó là điểm căn bản độc nhất của Phật giáo, Tiểu thừa
cũng như Đại thừa. Điều phục lấy Tâm đă trở thành
một phương châm tu dưỡng quyết định trong Phật giáo.
Do đó, khi nói đến duyên sinh, tất nhiên ta phải đề
cập đến Tâm, v́ giữa hai điểm ấy có một mối quan hệ
rất mật thiết, và nếu ta muốn hiểu rơ dụng ư căn bản
của Phật giáo, ta không thể quên điểm hệ trọng đó.
5)
Trung Đạo – Dù nói Pháp hay Duyên sinh, song chung
quy cũng chỉ là Tâm, và phương diện tư tưởng và hành
vi, như thế sợ không khỏi thiếu mất kiện toàn tính.
Phật giáo xoay quanh vấn đề Tâm, muốn xác lập một
phương châm sinh hoạt đúng mức, không thái quá,
không bất cập, nên mới xướng lên thuyết Trung đạo.
Sự ứng dụng thuyết trung đạo ấy tùy theo thời cơ có
sai khác, song điểm hệ trọng là thái độ phê phán và
thực tiễn đối với giá trị nhân sinh.
III. Chân
Không Diệu Hữu theo Đại Thừa Khởi Tín Luận.(HT.Thích
Trí Quang) dịch giải)
Riêng Đại
Thừa Khởi Tín th́ chỉ rỏ 2 mặt của chân như: bản
chất không của mọi hiện tượng (chơn không)
mà vẫn có sự tồn tại của các pháp (diệu hữu), nghĩa
là Đại thừa chỉ dương thống hợp cả hai quan niệm đó
mà chủ trương Chân không tức Diệu hữu. Đó là chỗ lập
cước căn bản của Đại thừa. Dĩ nhiên, về triết học
Đại thừa, cũng có người chỉ thiên về phương diện
Chân Không mà lập thành thế giới quan nhưng cũng có
người phản đối chủ trương ấy mà nghiêng về phương
diện Diệu Hữu để khảo sát các hiện tượng.Tuy có
những chủ trương tương phản đó, nhưng bất luận chủ
trương nào cũng đều thừa nhận rằng: Chân Không không
ngoài Diệu Hữu và ngược lại. Nghĩa là khi đă đạt đến
tuyệt đối th́ Chân Không là Diệu Hữu, Diệu Hữu tức
Chân Không. Đó là điểm cộng thông của tất cả các Bộ
phái Đại thừa.
Nói Về 2
Mặt Của Chân Như
Chính Văn.-
Thêm nữa,
chân như mà phân tách theo ngôn ngữ th́ có hai mặt:
một là Không một cách đúng như sự thật, v́ biểu thị
thật thể một cách trọn vẹn; hai là Có một cách đúng
như sự thật, v́ thật thể sung măn mọi phẩm chất sẵn
có mà thuần túy.
Không một
cách đúng như sự thật là chân như xưa nay không
thích hợp với mọi sự ô nhiễm, v́ chân như th́ phi
phạm trù đối kháng nhau, siêu phân biệt không chính
xác . Hăy nhận thức chân như phi khẳng định, phi phủ
định, phi cả khẳng định phủ định, phi không khẳng
định phủ định; phi đồng nhất, phi biệt lập, phi cả
đồng nhất biệt lập, phi không đồng nhất biệt lập.
Nói tổng quát, chúng sinh th́ hay phân biệt, phân
biệt liền liền và đủ cách, nhưng mọi sự phân biệt ấy
toàn không thích hợp với chân như, nên nói là Không.
Như vậy tách rời phân biệt th́ thật không có ǵ phải
làm cho không đi.
Có một cách
đúng như sự thật là thật thể đă không v́ không phân
biệt, thật thể ấy chính là tâm thể chân như, bất
biến, sung măn mọi sự trong sáng, nên gọi là Có. Có
như vậy cũng không phải là cái có có thể thủ đắc, v́
đó là lĩnh vực siêu việt phân biệt mà thực chứng mới
thích ứng.
Nói Tổng
Quát
Chính Văn.-
Sinh diệt
của Tâm là do Như lai tạng mà có tâm sinh diệt. Tâm
sinh diệt ấy hóa hợp bất diệt và sinh diệt một cách
không phải đồng nhất cũng không phải biệt lập, và
gọi là a lại da thức. A lại da thức có hai mặt, bao
gồm và phát sinh tất cả các pháp; hai mặt ấy là tuệ
giác và bất giác.
Lược Giải.-
Sinh diệt
là mặt chuyển biến của Tâm. Chuyển biến (sinh diệt)
là, ở chúng sinh, Như lai tạng chuyển danh a lại da
thức: chủ thức làm căn bản y của các pháp, đủ hết
thể tướng dụng của cái Tâm đại thừa.
Về giác và
bất giác nơi a lại da, thêm nữa là bản giác và thỉ
giác của giác, nên hiểu và dịch như sau. Giác là tuệ
giác chính xác (hay tuệ giác đồng nhất, chữ cuối
cùng của kk1 dưới đây). Bất giác là tuệ giác sai lầm
(hay không phải tuệ giác, tức vô minh). Bản giác là
tuệ giác vốn có (hay tuệ giác căn bản). Thỉ giác là
tuệ giác mới có (hay tuệ giác phản giác). Như vậy
giác là giác ngộ tâm thể siêu việt phân biệt, nói
cách khác là chính tâm thể ấy. Bất giác là chính
phân biệt, là giác mà không giác tâm thể, giác mà
giác sai.
IV.
Chơn Không Diệu Hữu theo Tự Gia Bảo
Chơn lư
tuyệt đối.- Một thực thể không lệ thuộc nhơn quả,
duyên sanh, thoát ngoài đối đăi là chơn lư tuyệt
đối.Không thuộc nhơn quả nên không sanh diệt vô
thường. Không thuộc duyên sanh nên không hợp tướng
giả dối. Thoát ngoài ṿng đối đăi nên không trị liệu
so sánh, không bàn luận, không suy nghĩ đến được.
Thực tế nầy không lệ thuộc thời gian, không bị chi
phối của không gian, vượt ngoài mọi đối tượng của vũ
trụ. Chính nó là sinh mạng là mạch sống của chúng
sinh, mà chúng sinh không nhận ra nó. Nó hiển nhiên
hằng có mặt nơi chúng ta, mà chúng ta lăng quên nó
một cách đáng thương. Nó là thể chẳng sanh chẵng
diệt, vĩnh cửu trường tồn của chúng ta, chúng ta
không biết đến nó, đi nhận cái sanh diệt tạm bợ làm
ḿnh. Bỏ quên thực tế nầy là vô minh, là si mê, nhận
được nó là giác ngộ, là trí tuệ. Bỏ quên nó, đi theo
sanh diệt là luân hồi, nhận sống với nó là vô sinh
giải thoát. Bởi thực tế nầy hệ trọng dường ấy, nên
chúng ta phải biết : nó tên ǵ? Làm sao nhận ra nó?
Nhận được nó có ích ǵ? Chúng tôi sẽ theo thứ tự
giải quyết những thắc mắc nầy.
Thực thể
nầy nguyên không có tên, trong Phật Pháp tùy công
dụng gắng gượng đặt rất nhiều tên. Kinh Kim Cang gọi
là Kim Cang Bát Nhă Ba La Mật, tức là trí tuệ cứu
cánh như kim cang. Bởi v́ trí tuệ nầy không có ǵ
phá hoại được nó, mà nó hay phá hoại tất cả, như
chất kim cang. Kinh Viên Giác gọi là Viên Giác Tánh,
là tánh tṛn đầy, v́ đối với các chơn lư, chúng ta
nhận được từng phần chơn lư nào th́ giác ngộ phần
chơn lư ấy, nên gọi là phần giác. Chỉ nhận được chơn
lư tuyệt đối nầy mới gọi là giác ngộ viên măn. Kinh
Pháp Hoa gọi là Tri Kiến Phật hay Phật Thừa. Kinh
Hoa Nghiêm gọi là Trí Huệ Phật. Kinh Lăng Nghiêm gọi
là Chơn Tâm hay Như Lai Tàng. Nó là tâm thể chơn
thật hay là kho tàng Như Lai của chúng sanh. Kinh
Duy Ma Cật gọi là Pháp Môn Bất Nhị. V́ nó vượt ra
ṿng đối đăi hai bên. Thiền Tông gọi là Chơn Tánh.
Nó là tánh chơn thật của tất cả chúng sanh. Lại c̣n
có những tên thông dụng là: Chơn Như, Phật Tánh,
Pháp Thân, Đạo, Bản Lai Diện Mục..., không thể kể
xiết.
Tạm
biết tên thể nầy là một cách khái quát rồi, chúng ta
cần phải nhận ra mặt mày của nó mới là điều thiết
yếu. Song phàm có nói năng tŕnh bày đều thuộc tương
đối, làm sao diễn đạt khiến người chưa hiểu nhận
được. Đây quả là điều thiên nan vạn nan. Tuy nhiên,
chúng tôi cũng gắng gượng trước tạm đặt những nguyên
tắc kế dẫn lời Phật dạy trong kinh, sau cùng nhắc
lại những phương tiện của thiền sư, họa chăng quư
độc giả có nhận được phần nào.
V. Theo
Duy Thức Học (Như Hạnh)
Một
phương pháp khác trong Duy Thức Học quan niệm như
là Thể Cách Nhận Thức Sự Vật. Theo BT Di Lạc và Vô
Trước,
Thực tại luận
và giải thoát luận của Duy Thức dựa trên nhận thức
về thực tại. Nói cách khác, đối với tư tưởng gia Duy
Thức, liên hệ của chúng ta với thực tại là một liên
hệ nhận thức (và giải thích). Do đó trong thực tại
luận Duy Thức bản tính của Phật (tức là một sinh
linh giác ngộ) và bản tính của ‘’chúng sinh’’ hay
con người b́nh thường (tức là những sinh linh chưa
giác ngộ) cũng như sự dị biệt giữa Phật và con người,
cốt yếu được qui định bằng những phạm trù nhận thức.
Sự dị biệt giữa Phật và con người chính yếu là sự dị
biệt giữa hai thể cách tri nhận thực tại.
Tri
giác của Phật được định nghĩa là vô phân biệt, một
thể cách nhận thức vượt trên dự kiến
(presupposition), nằm ngoài sự qui kỷ (nonegocentric),
tri nhận thực tại như chính nó, nghĩa là trong thực
tính của nó. Do đó, Phật- tính- - hay từ một viễn
cảnh tri thức luận, Phật-tâm (hay Phật-trí, tức là
thể cách nhận thức của sinh linh đă giác ngộ) - -
cũng được đề cập đến như là tâm [nhận thức] thực tại
chân thực. Trong hầu hết các kinh luận Đại Thừa, tâm
(Phật) được mô tả là thanh tịnh và trong sáng tự bản
tính.
Tri
giác thực tại của con người, trái lại, là một thể
cách nhận thức qui kỷ (egocentric) và do đó bị giới
hạn. Thể cách nhận thức nầy có xu hướng tri nhận
thực tại như là gồm có một chủ thể nhận thức tự hữu
và các thành tố cấu tạo thực tại - - tức là các đối
tượng - - cũng hiện hữu một cách độc lập. Trong ngôn
ngữ của Duy Thức, đây chính là sự áp đặt tự tính lên
chủ thể (tức là phương diện chủ thể) và (các hiện
tượng, tức là phương diện khách thể) mà Duy Thức xem
là một tiến tŕnh giả tưởng. Thứ duy thức luận phác
tố (naĩve realism) này tự căn bản đă mâu thuẫn với
giáo lư nền tảng của Phật Giáo về duyên khởi, theo
đó th́ ‘’thực tại thuần túy,’’ tức là, cái thực tại
trước khi có sự áp đặt cuả bất cứ những ư nghĩa nào
giới hạn nào đó, là một sản phẩm của một màng lưới
của những tác động hỗ tương (có tính cách liên hệ)
nhân quả của những thành tố tâm lư và vật lư. Nói
cách khác, tất cả mọi hiện tượng đều hiện hữu một
cách hỗ tương hệ thuộc và do đó không có tự tính hay
là ‘’không’’ trong thuật ngữ của Phật Giáo’’.
VI.
Trung Quán Luận (Phổ Nguyệt)
Nhận
thức được Tánh Không của vạn hữu, thực tại của Duyên
Khởi và Giả Danh, th́ Trung Đạo là con đường Cứu
Cánh cho mọi vượt khỏi ḍng bộc lưu sanh tử. Trung
Đạo hay Tự Tánh Tuyệt Đối là Phủ Định Tính của vạn
hữu kể cả tâm thức con người. Con đường Giác Ngộ là
con đường sáng soi rọi các pháp làm cho vô tự tính
mọi hữu tồn. Phủ định tha tính của sụ vật và phủ
định cả tự tính của sự vật cũng chưa phải là cứu
cánh, mà phủ định luôn cái ḿnh phủ định.
Con
đường đi đến Giác Ngộ theo Ngài Long Thọ là những
chặng đường phủ định tuyệt đối để cuối cùng không
c̣n ǵ phủ định, chỉ là con đường khẳng định, tức Tự
Tính Tuyệt Đối, vùng trời của Vô Ngôn là Trung Đạo.
Con
đường đi đến Chân Nguyên thật lắm chông gai qua
nhiều chặng đường phủ định để đến bờ Trung Đạo, hoặc
gỉả thể cách Tri Nhận Thực Tại với Trí Vô Phân Biệt
để Trực Nhận Thực Tính của sự vật. Hành tŕnh chuyển
hóa Tâm Thức thành Tâm Trí cũng cùng một nguyên lư
từ Nhị nguyên chuyển thành Nhất Nguyên. Đó là chúng
ta đứng trên khía cạnh không gian. Vượt khỏi không
gian chỉ đạt đến Chân lư tương đối mà thôi. Công
việc cuối cùng là phải thể hiện ngay khi nhận thức
vượt khỏi không gian là phải vượt khỏi luôn thời
gian hay phủ định thời gian mới mong đạt đến Thực
Tại Tuyệt Đối hay Chân Lư Tối Hậu.
VII. Kết
Luận
Chơn Không
Diệu Hữu là không tướng các pháp cũng là sự “ Sinh
diệt của Tâm là do Như lai tạng mà có tâm sinh diệt.
Tâm sinh diệt ấy hóa hợp bất diệt và sinh diệt một
cách không phải đồng nhất cũng không phải biệt lập,
và gọi là a lại da thức. A lại da thức có hai mặt,
bao gồm và phát sinh tất cả các pháp; hai mặt ấy là
tuệ giác và bất giác”. Bản chất và hiện tượng tuy
hai mà một. Cái bất biến thường hằng thật có trong
cái lưu chuyển vô thường. Nói cho cùng Chân như của
Tâm là pháp tánh đồng nhất, cơ sở của tiết mục giáo
pháp Phật dạy về khái niệm vĩ đại và tổng quát, Pháp
tánh ấy là tâm thể phi sinh diệt. Hết thảy các pháp
chỉ do phân biệt mà có sai biệt, tách rời phân biệt
th́ đối tượng cũng không có. Do vậy mà biết các pháp
xưa nay phi ngôn ngữ, phi văn tự, phi nhận thức,
tuyệt đối nhất quán, không hề chuyển biến, không thể
phá hủy, toàn là tâm thể đồng nhất nên mệnh danh
chân như. Mọi ngôn ngữ đều không thực chất, chỉ tùy
phân biệt chứ không có ǵ có thể thủ đắc. Gọi là
chân như th́ cũng không phải là một đối tượng, mà là
ngôn ngữ tột đỉnh, do ngôn ngữ ấy mà hủy bỏ ngôn ngữ.
Nhưng chân như th́ phi hủy bỏ, v́ các pháp toàn là
chân, lại phi xây dựng, v́ các pháp toàn là như.
Phải hiểu các pháp phi diễn tả, phi phân biệt, đó là
chân như.”
Tóm,
+Chơn không
diệu hữu là h́nh trạng hằng hữu của không tướng các
pháp, là tự tính sự vật, đầy đủ tính, muôn h́nh vạn
trạng, biến hóa khôn lường, hay sanh, trùng trùng
duyên khởi trong hư không, trong tàng thức của chúng
sinh.
+Gặp Biết
được Thực Tính của vạn hữu là Giải Thoát khỏi nhận
thức sai lầm về Tự Tính Giả Lập hay Tùy Thuộc của
chúng
+Giác Ngộ
tức là Giải Thoát, chính là tri nhận Thực Tại một
cách toàn diện không thêm không bớt, là vượt khỏi
Thời Không, là thể nhập Cơi Vô Cùng Hằng Hữu, v́ Hư
Không ảo tưởng và Thời Gian huyển hóa làm ngăn cách
thế giới Hiện Tượng với Cơi Vô Cùng.
Tham khảo
Đại Thừa
Khởi Tín Luận. HT Thích Trí Quang dịch giải, trích
trong website Tạng Thư Phật Học:
http://www.tangthuphathoc.net.
Đại Thừa
Phật Giáo Tư Tưởng Luận. Kimura Taiken, Hán dịch:
Thích Diễn Bồi, Việt dịch: Thích Quảng Độ, trích
trong website Tạng Thư Phật Học;
Khẳng Định
Tính, 2003. Phổ Nguyệt. Trích trong website Tạng Thư
Phật Học.
Tàng Thức,
(Như Hạnh), và Tự Gia Bảo (HT.Thích Thanh Từ) trích
trong“Thực Tại và Chí Đạo”, 2002. Phổ Nguyệt, đăng ở
website Tạng Thư Phật Học.