Năng
Sở Song Vong: Thể Nhập Chốn Tịch Tĩnh Y Nhiên
Phổ Nguyệt
Trước hết
chúng ta t́m hiểu xem thế nào là năng sở song
vong mà Phật Giáo Đại Thừa đă đưa đến thuyết
luận khi muốn đạt đến chí đạo hay chân tâm, một thực
tướng của vạn hữu th́ phải dùng cách nhị bội phủ
định nầy. Một điều quan trọng trong vấn đề là phải
thâm cứu, triển khai pháp tu chứng chánh đẳng
chánh giác của đức Phật từ nguyên thủy mà thôi.
Một sự suy luận, văn từ mở rộng theo thời đại, phân
tích hợp lư đệ nhất nghĩa các pháp ứng dụng, phổ
biến là sư cụ thể hóa mọi cách tư duy theo tŕnh độ
để thể nhập thực tại tuyệt đối. Một phương pháp
thiết thực nhất là phải dựa vào phần kết cấu của tâm
thức theo tâm lư học h́nh thức mà phân định mới có
cái nh́n vừa thực tế chính xác vừa logic hơn trong
sự tương hợp với pháp Phật. Tóm lượt sự h́nh thành
tâm thức (giác thức) và tâm trí (giác trí) như sau:
* Khi
nhận diện h́nh ảnh đối tượng (cảm giác: sensation)
rồi nhận thức cảm giác ấy với tên gọi (perceive its
name) mới có tâm thức (consciousness or perception)
hay giác thức.
* Tri
nhận (cognize) giác thức mới có giác trí hay tri
thức hay tâm trí (cognition).
* Giác trí tuệ (discernment) hay tri thức nguyên
thủy (pure cognition) là khi giác trí không có thời
không, là cái biết sat-na hiện tiền, tức là tuệ giác
hay tánh giác phải dùng tuệ tri, tuệ quán, biết vô
trụ, hay liểu tri đối tượng mới đạt được. Biết nầy
là cái biết của trí nó bao trùm cả năm căn (do ư trí
tác năng) vô giới hạn, c̣n cái biết của từng căn (do
ư trí tác động) giới hạn ở mỗi căn như tai chỉ nghe
biết mà tai không thấy biết. Do đó Giác Trí Tuệ
là cái Biết Sát-Na hiện tiền là cái Định
của trí vậy.
Do h́nh thành giác trí, tri kiến tư tưởng, tưởng
tri, quán tưởng (không dùng chánh niệm), suy nghĩ là
cái
bị sanh
v́ thế, thiền của yoga chỉ ở giai tầng sanh khởi do
tưởng tri hay sở tri, c̣n quán niệm thường, không có
định trí được, chỉ là định của thức (si
định) mà thôi,
như sau nầy Phật dạy trong kinh Pháp Môn Căn Bản 01,
(kinh Trung Bộ) trí của phàm phu:
Phàm Phu
Tưởng tri
là sự suy nghĩ, tưởng nhớ, tưởng tượng, kư ức, thuộc
loại Mạc- Na- thức hay trong A-Lại-Da-thức, là những
h́nh ảnh được khôi phục lại, có cái trung thực, có
cái sai lạc và ngay cả có cái tương tự lẫn lộn với
h́nh ảnh đối tượng cũ, nhưng không phải đối tượng cũ.
Đă là những h́nh ảnh cũ khôi phục lại là những ảo
ảnh của những đối tượng khiếm diện (kể như không có
đối tượng). Do đó tưởng tri là biết do tưởng thức
hoặc suy nghĩ lại những ư tưởng so đo của tự ngă,
tưởng tượng những đối tượng không thật có do tiền
ngũ căn trực tiếp nhận thức, nên sự nhận thức chấp
trước, lệch lạc và không chơn thật của tri kiến phàm
phu, chúng sanh thường t́nh mà thôi. Như Phật
thuyết giảng:
-- Này các Tỷ-kheo, ở đây,
có kẻ phàm phu ít nghe, không được thấy các bậc
Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu
tập pháp các bậc Thánh, không được thấy các bậc Chơn
nhân, không thuần thục pháp các bậc Chơn nhân, không
tu tập pháp các bậc Chơn nhân,
tưởng tri
địa đại là địa đại. V́ tưởng tri địa đại là địa đại,
người ấy nghĩ đến địa đại, nghĩ đến (tự ngă) đối
chiếu với địa đại, nghĩ đến (tự ngă) như là địa đại,
người ấy nghĩ: "Địa đại là của ta" - dục hỷ địa đại.
V́ sao vậy? Ta nói người ấy không liễu tri địa đại…
I. Năng
Tri và Sở Tri trên b́nh diện Tâm Thức
Thật vậy
lục căn tiếp xúc với lục trần sanh ra lục thức hay
tâm thức. Năng tri của lục căn tức là cái biết của
lục căn là ư trí tác động tự nhiên của căn (cái biết)
khi gặp đối tượng hay trần cảnh (sở tri: cái bị biết)
mới có giác thức. hay c̣n gọi là tâm thức. Môt điều
cần lưu ư là khi năng tri tiếp xúc với sở tri theo
thời gian làm cho sanh ra quan niệm tư tưởng (giác
thức và giác trí liên hợp) v́ đó là pham vi của thức
sanh khởi, nên Phật cho đó là cái bị sanh (c̣n sanh
diệt).
Lúc Phật chưa giác ngộ, Bồ Tát hành đạo với các thầy
Bà La Môn như khổ hạnh, nhịn ăn, thiền nín thở tuy
là những pháp diệt dục và loại trừ các pháp bất
thiện rất tốt, cốt dùng cách hành hạ xác thân mong
chế ngự được tâm, nhưng thật sự khi sức khỏe kiệt
quệ, bụng đói, tinh thần tán loạn th́ không an tịnh
th́ làm ǵ có trí sáng suốt để đi đến giác ngộ giải
thoát. Sự giải thoát là sự hiểu biết mà đàng này họ
chỉ dạy chế ngự thân và hành động của thân như ngũ
dục và những ác pháp để mong t́m đến giải thoát,
ngay các loại thiền yoga cũng c̣n trong thế giới
hiện tượng (bị sanh) mà thôi. Riêng hành các pháp
khổ hạnh nhịn ăn và thiền nín thở th́ rơ ràng không
thể đem lại trí định được; có thể các loại thiền cao
cấp của yoga, như thiền vô hữu xứ, phi tưởng phi phi
tưởng làm cho tư tưởng phong phú hơn, nhưng không
đem đến giác ngộ. Tại sao? V́ c̣n dùng tưởng tri
là vẫn c̣n bị sanh.
II.
Năng Sở Song Vong trên b́nh diện Tâm Thức. (Tương
Đối)
Bồ Tát
nhận rơ rằng con người với ḍng tâm trí mê muội măi
ch́m đắm trong cuộc sống xa hoa dục lạc, và cứ lăn
trôi trong ngũ dục th́ làm sao tránh khỏi thế giới
sanh già bịnh chết, khổ, ô nhiễm. Sự vật trong thế
giới hiện tượng là cái bi sanh, th́ phải t́m đến cái
Như đă biết, Giác Thức là cái Bị Sanh, nên
Phật dạy phải t́m cái Vô Sanh. Từ cái Sanh vô
thường t́m cầu cái vô sanh hay bản chất của thế giới
này, cái luôn thường tồn bất biến. Khi con người đạt
đến thế giới vô sanh th́ không c̣n bị sanh nữa, tức
là thoát khỏi cảnh sanh già bịnh chết, ưu khổ. Cũng
là lúc Ngài phải từ bỏ tu lối thiền yoga để thực
hành phương pháp do Ngài tự khám phá. Tâm trí mê
muộI của con người trong thế giới hiện tượng biến dị
trong ḍng bộc lưu sanh tử phải được vượt thoát ra
khỏi nó để đến thế giới vô sanh, thường tồn, giải
thoát khỏi nhân duyên sanh diệt, tức là t́m về
chân trí mà soi sáng vạn pháp để làm chủ cái
bị sanh trong thế gian. Chúng ta cần t́m hiểu sự
h́nh thành của chân trí (cái Vô Sanh)
như thế nào mới có thể mở ra con đường trí tuệ giải
thoát. Như Phật đă thuật lại sự t́m cái Vô sanh và
đă chứng được cái vô sanh trong kinh Thánh Cầu-26 (kinh
Trung Bộ)
Rồi này
các Tỷ-kheo, Ta tự ḿnh bị sanh, sau khi biết rơ sự
nguy hại của cái bị sanh, t́m cầu cái không sanh, vô
thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn và đă chứng
được cái không sanh, vô thượng an ổn khỏi các khổ
ách….
Như Lai là bậc A-la-hán, chánh đẳng chánh giác, dùng
pháp thắng tri (tuệ
tri:
biết
sát na hiện tiền) hay
pháp chánh tri kiến để liễu tri sự vật, không dục hỷ,
hoàn toàn diệt trừ các ái, sự ly tham sân si, đă
chơn chánh giác ngộ vô thượng chánh đẳng chánh giác.
* Đấng Như Lai - I
Này
các Tỷ-kheo, Như Lai là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng
Giác, thắng tri địa đại là địa đại. V́
thắng tri địa đại là địa đại, Ngài không nghĩ đến
địa đại, không nghĩ đến (tự ngă) đối chiếu với địa
đại, không nghĩ đến (tự ngă) như là địa đại, không
nghĩ: "Địa đại là của ta" - không dục hỷ địa đại. V́
sao vậy? Ta nói v́ Như Lai đă liễu tri địa đại.
Cái Bị
Sanh là Giác Thức và Giác Trí có thời gian (Thức và
Trí liên hợp nhau sanh ra tư tưởng và theo thời gian
huyễn hóa). Như thế cái Vô Sanh là cái Biết Sát Na
hiện tiền hay là cái Tuệ Giác. Vậy khi năng sở muốn
được song vong hay là tâm thức biến mất th́ phải phủ
định chúng bằng tri thức nguyên thủy, là tri nhận
tâm thức vô thời gian, tức là đă thành giác trí tuệ
thí lúc đó tâm thức đă biến mất rối. Tuệ giác phủ
định mọi thực tại giả lập, giả danh, tùy thuộc hay
duyên khởi.
Thí dụ,
khi ta thấy con ḅ, ta biết thấy con ḅ, khi biết
th́ đă phủ định thấy con ḅ, nghĩa là biết sát na
hiện tiền cái thấy th́ không có quan niệm ǵ con ḅ
cả, thi không hệ lụy đến ái thủ hữu, không có nhân
duyên chằng chịt. Không có thời gian th́ không sanh
diệt, nên cái bị sanh không đeo đuổi ta, là ta đă
nắm bắt cái vô sanh rồi.
Trong
pháp tu chứng chánh đẳng chánh giác của đức Phật,
Ngài đă dùng Định Niệm Hơi Thở để đạt sự giác
ngộ giải thoát như trong phẩm Tương Ưng Hơi Thở Vô
Hơi Thở Ra-54 (kinh Tương Ưng Bộ):
…..14) Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước
muốn rằng: "Mong rằng các niệm, các tư duy của ta
được đoạn tận", thời định niệm hơi thở vô, hơi thở
ra này phải được khéo tác ư.
Định niệm
là biết và chánh niệm, tức Biết
+ Chơn Tướng, Bi ết + Chơn Thức
v à Bi ết + Chơn Trí.
Th í dụ
trong kinh Tương Ưng Bộ Phật dùng hơi thở để định
niệm.
Biết
tôi thở vô bằng lời (tướng), tức biết đọc tôi
thở vô và thở ra cũng đọc như vậy.
Biết
tôi thở vô bằng thức, tức biết ư thức tôi thở vô
(thầm hội) và thở ra cũng vậy.
Biết
tôi thở vô bằng trí, tức biết tôi biết
tôi thở vô và thở ra cũng vậy. Biết trước là
định, biết sau là dùng trí để niệm
hơi thở.
Khi chứng
Thiền thứ nhứt, lời nói được khinh an;
Khi chứng Thiền thứ hai, tầm tứ được khinh an;
Khi chứng Thiền thứ ba, hỷ được khinh an;
(Kinh
Sống Một Ḿnh - Rahogata Sutta)
(SN
36.11)
Ba
trong bốn pháp Thiền đầu tiên đều dùng định niệm
hơi thở nghĩa là Biết (Tuệ Tri) và Chánh
niệm như hơi thở, ly duc, ly pháp bất thiện,
tịnh chỉ tầm tứ, hỷ lạc sanh, ly hỷ trú xả theo thứ
tự các thời thiền từ định niệm tướng đối
tượng (ngôn hành); định niệm Thức
đối tương (ư hành hay tĩnh thức); định
niệm Tánh (trí) đối tượng (trí hành, tĩnh
giác).
Một nhận định chính xác là khi Định (Tuệ Tri)
th́ nó đă xóa hết năng tri (Trí của căn) sở tri (Thức)
rồi. Tuy vậy cũng c̣n dính dấp đến Trí (Tâm), nên
năng sở song vong vẫn ở trên b́nh diện tâm thức. (tương
đối)
III . Năng Sở Song vong trên b́nh diện Tâm Trí (Tuyệt
Đối)
Trên tiến tŕnh đi
đến năng sở song vong vượt khỏi tâm trí là một nổ
lực nắm bắt thực tướng của vạn hữu bằng sự miên mật
thể nhập đối tượng một cách tuyệt đối không c̣n dùng
trí. Thật ra, thực hiện định niệm đối tượng bằng
thân hành, trong tứ oai nghi, đi đứng nằm ngồi, mọi
cử động, mọi hoat động đều phải chánh niệm như trong
Phẩm Thân Hành Niệm-119 (Kinh Trung Bộ), chỉ trích
phần thân hành niệm ở đoạn ngồi thiền:
….. Và này các Tỷ-kheo, thân hành niệm tu tập như
thế nào, làm cho sung măn như thế nào, có quả lớn,
có công đức lớn ?
Ở đây, này các
Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đi đến khu rừng, hay đi đến gốc cây,
hay đi đến ngôi nhà trống và ngồi kiết-già, lưng
thẳng và an trú chánh niệm trước mặt. Chánh niệm, vị
ấy thở vô. Chánh niệm, vị ấy thở ra. Hay thở vô dài,
vị ấy biết : "Tôi thở vô dài". Hay thở ra dài vị ấy
biết: " Tôi thở ra dài" . Hay thở vô ngắn, vị ấy
biết : "Tôi thở vô ngắn". Hay thở ra ngắn, vị ấy
biết : "Tôi thở ra ngắn". "Cảm giác cả toàn thân,
tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Cảm giác cả toàn thân,
tôi sẽ thở ra". An tịnh thân hành, tôi sẽ thở vô",
vi ấy tập. "An tịnh thân hành, tôi sẽ thở ra", vị ấy
tập. Trong khi vị ấy sống không phóng dật, nhiệt tâm,
tinh cần, các niệm và tư duy thuộc về thế tục được
đoạn trừ. Nhờ đoạn trừ các pháp ấy, nội tâm được an
trú, an tọa, chuyên nhất, định tĩnh. Như vậy, này
các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập thân hành niệm
Bồ Tát phải sống
một ḿnh lúc đó thân tâm mới được yên tịnh mà tu
hành, như trong phẩm Sống Một Ḿnh-36.11 (kinh Tương
Ưng Bộ):
…..5)
Nhưng này Tỷ-kheo, Ta tuyên bố rằng sự đoạn diệt các
hành là tuần tự: khi chứng được Thiền thứ nhứt, lời
nói được đoạn diệt; khi chứng Thiền thứ hai, tầm tứ
được đoạn diệt; khi chứng Thiền thứ ba, hỷ được đoạn
diệt; khi chứng Thiền thứ tư, hơi thở vô, hơi thở
ra được đoạn diệt; ..
Thể Nhập Cảm giác Vô Ra (Thân Hành: Vô Niệm:
không niệm tướng niệm thức cả niệm trí): Pháp bổn
như vô pháp: Như là không thở: Thể Nhập chốn
tịch tĩnh như nhiên, biết cảm nhận luồng hơi thầm
lặng Vô Ra. Chỉ dùng cảm giác của đối tượng
mà thể nhập, không dùng trí. Tâm không là
trạng thái không c̣n dính dấp ǵ đến tri thức. tức
là giác thức hay giác trí ngay cả tri giác nguyên
thủy đi nữa, cũng phải dùng trí tuệ, th́ tâm trí sẽ
hao ṃn, ḍng trí tuệ không c̣n 100%. Cho nên chỉ sử
dụng cảm giác, lúc đó trần cảnh hay vạn hữu ở trạng
thái y nhiên; nó-là-nó không bị ḍng tâm trí biến
đỗi. Có tâm trí xen vào dù ǵ đi nữa cũng dễ bị ái
thủ hữu lôi kéo hơn
“Biết cảm giác vô,
Biết cảm giác ra.” (Chỉ cảm nhận luồng hơi vô
ra, chưa nhận thức tên “hơi thở”)”
Biết cảm giác Vô Ra, v́ khi nhận dạng cảm giác (bóng
dáng) của một đối tượng mà chưa được nhận thức (chưa
được đặt tên hay đọc tên) tên đối tượng là chỉ thể
nhập nơi tịch tĩnh y nhiên, tức là cảm giác chỗ đối
tượng chưa thành h́nh, chưa có tên (giả danh), đó
cũng gọi là tri thức nguyên thủy hay tuệ giác của
chân trí. Biết cảm nhận luồng hơi vô luồng
hơi ra mà thôi. Khi chưa có tên đối tượng th́ làm ǵ
có hỷ lạc trong tâm.
Khi xả lạc xả khổ, diệt hỷ ưu đă cảm thọ trước, vị
ấy chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc,
xả niệm thanh tịnh.
23) Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn
rằng: "Mong rằng đoạn lạc, đoạn khổ, chấm dứt hỷ ưu
đă cảm thọ trước, tôi chứng đạt và an trú Thiền thứ
tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh", thời
định niệm...
Tóm lại năng sở song vong một cách tuyệt đối không
dùng trí mà dùng thân cảm nhận (cảm giác) đối tượng
mà thôi. Đó là Chánh Giác (Vô niệm: buông xả}.
Buông xả
và ngưng động: Từng hơi thở tự nhiên tự động hiện
hữu rơ ràng: nó-là-nó tại-đó và lúc đó mà thôi, một
trạng thái trống rỗng. Vô Niệm
Trạng thái thân chứng nhờ thể nhập chốn tịch tĩnh
như nhiên, tức là phải trải qua ba giai đoạn trên (huân
tập kinh nghiệm thuần thục), để hành giai đoạn thứ
tư nầy một cách rốt ráo, nghĩa là vô tướng vô thức
và vô trí (hay vô tánh) tức là vô niệm, từng chập
hơi thở tự nhiên và tự động vào, ra, hiện hữu rơ
ràng rỗng không). Khi Phật đă trải qua ba lối thở
trên (kinh nghiệm) là đă đạt được chánh trí rồi như
các kinh Phật đă giáo hóa chúng sanh sau này. Đó là
lúc Bồ Tát đă đoạn diệt cảm thọ vui buồn, vượt khỏi
ái thủ hữu được minh tâm và giải thoát. Giai đoạn
thứ tư này là Pháp mà Phật đă thể hiện được Tánh
Giác c̣n gọi là Pháp Vô Niệm, Buông Xả là không
Niệm Tướng , không Niệm Thức và cả không dùng Trí
mà ngộ nhập
vào từng ḍng hơi vô ra tự động hiện hữu tự nhiên rơ
ràng trong trống không. Đó là Thiền Thứ Tư.
Khi chứng
Thiền thứ tư, hơi thở vô, hơi thở ra được khinh an
(Kinh
Sống Một Ḿnh - Rahogata Sutta)
(SN
36.11)
Nhận Định
Năng sở
song vong là hành tŕnh đoạn diệt tướng, đoạn diệt
thức,và đoạn diệt trí mà chỉ thể nhập vào cảm giác
đối tượng hơi thở. Thật sự cảm giác do thân thể con
người cảm nhận vào thể không của đối tượng. Thí du
nhăn căn chẵng hạn, thấy con ḅ đầu tiên là cảm nhận
h́nh ảnh (cảm giác) trong vơng mạc (thể không) của
mắt, rồi mới nhận thức tên h́nh ảnh đó là con ḅ (thức).
Vậy trước khi con ḅ được sanh ra (đặt tên) chỉ là
cảm giác mà thôi. Muốn đoạn diệt cái biết (của
căn lẫn của trí), th́ lúc đầu thân phải nắm bắt ngay
cảm giác vô thời gian (vô trụ) mới đạt thực tướng
đối tượng. Thực tướng đối tượng là tướng không
của nó chiếm cứ trong không gian một dung thể không.
Như con ḅ, tướng không tự nhiên của nó là dung thể
không chiếm trong không gian, khi ta nh́n nó, th́
tướng không ấy chiếu trong vơng mạc mắt ta mới thấy,
rồi nhờ nhận thức (perceive) tướng không ấy có tên
là con ḅ. Do đó ta thấy con ḅ là ta chỉ thấy h́nh
ảnh nó mà thôi, nên con ḅ chỉ là giả danh, không
phải là con ḅ bằng xương bằng thịt trong mắt ta.Vậy
lư do tại sao ngay khi ngay khi thân cảm nhận đối
tượng đầu tiên ta không nắm bắt cảm giác, một thực
tướng của đối tượng, th́ làm ǵ ta phải duyên theo
cái giả danh huyễn hóa của vạn hữu? Cho nên trong
pháp tu chứng chánh đẳng chánh giác của đức Phật chỉ
rơ lúc thân hành và sống một ḿnh, th́ định niệm hơi
thở trong giai đoạn thứ tư (tứ thiền) th́ bắt đầu
hơi thở ra vô được đoạn diệt, nghĩa là đoạn diệt
hơi thở, hơi thở, một đối tượng giả danh, huyễn hoá,
không thật v́ do duyên khởi tư căn trần thức,
nên c̣n biến dị, phải nắm bắt ngay đối tượng tư
nhiên của nó hiện hữu trong không gian ngay khi thân
cảm nhận nó ( tướng không là thực tướng mà thân cảm
giác). Nói tóm lại, năng sở song vong là thể nhập
chốn tịch tĩnh y nhiên là trong sạch hóa tâm trí,là
hư không hóa mọi hữu tồn để đạt chí đạo là tâm chơn
như hay tâm không.
Tham Khảo
Kinh Tăng
Chi Bộ (Phẩm 20, X(I)(93)).
KinhTrung
Bộ (01, 26, 36, 43, 106, 118, 119).
Kinh
Tương Ưng Bộ (36.11, 54)
Tất cả
kinh trên do HT.Thích Minh Châu Việt dịch thuộc kinh
Pali, trích trong website Quảng Đức:
http://www.quangduc.com
Hoặc
Pháp Tu
Chứng Chánh Đẳng Giác của đức Phật, 2008. Phổ Nguyệt
trích trong websites Quảng Đức, Tạng Thư Phật Học…;
http://www.tangthuphathoc.net/tacgia/phonguyet.htm