Cùng Chung Lăn Chuyn Bánh Xe Pháp

                  

 
 

PHÁP LUẬN

Trung Đạo: Pháp Trực Nhận Tánh Không
Phổ Nguyệt

I.  Trung Luận

Trung luận thật ra gọi tắt là Trung Quán Luận do Ngài Long Thọ trước tác. Trung luận dùng chánh kiến và chánh tư duy trong Bát Chánh Đạo Phật dạy mà phân biện. Yếu chỉ của Trung luận lấy lư duyên khởi làm nền tảng cho sự nhận thức về Trung Đạo. Nhhắc lại Không Tánh của Bồ Tát Long Thọ được tŕnh bày  trong sách "Phủ Định Thức va Biện Chứng Pháp Trung Quán" của B. K. Martial, được trích trong sách nêu trên do Thượng Tọa Thích Viên Lư dịch.

Phái Trung Quán không tin vào thực tại của đa- nguyên- tánh thuộc hiện tượng. Họ phủ nhận rằng chân lư tối hậu có thể là tương đối hoặc có thể tùy thuộc vào bất cứ điều ǵ khác. Triết lư của họ vạch trần tính cách không xác thực hoặc tính cách bất khả biện minh của trật tự đa- nguyên mà chúng ta thường h́nh dung ra trong kinh nghiệm và ư tưởng. Về phương diện nầy họ rất gần gũi với tinh thần của những người thuộc phái Bất Nhị Luận (Advatin). Cả phái Trung Quán lẫn phái Bất Nhị Luận đều hướng về một loại chủ thuyết triết học tuyệt đối nào đó. Nhưng phái Bất Nhị Luận có vẻ nhiệt tâm hơn đối với một lập trường siêu h́nh học khi họ đánh giá những tư tưởng và kinh nghiệm thông thường. C̣n phái Trung Quán th́ cố gắng duy tŕ một thái độ thờ ơ về tồn hữu học.

Hai phái Trung Quán và Bất Nhị Luận có vẻ đồng ư về một điểm khác. Chân lư tối hậu, dù đó là Không Tánh (sùnyatà) hay là Phạm Thiên ( Brahman ), luôn luôn tiềm ẩn đối với kinh nghiệm thông thường và ư tưởng của chúng ta; người ta có thể đạt đến chân lư tối hậu bằng kinh nghiệm trực tiếp và hầu như là thần bí, qua nội quán thâm sâu hoặc qua trực giác của một loại người đặc biệt nào đó. Vậy, có thể nhận xét rằng, cả hai trường phái trên đều có khuynh hướng mở khóa cánh cửa đi vào chủ nghĩa thần bí của triết học hay chủ nghĩa thần bí nhận tri (cognitive mysticism).

Muốn hiểu biết chính xác về loại chủ nghĩa tuyệt đối của phái Trung Quán th́ cần phải đi vào trung đạo, giữa sự cả tin thái quá và hoài nghi thái quá. Thật ra, chủ thuyết về Tánh Không chỉ muốn vạch trần cho chúng ta thấy: người ta sai lầm về luận lư (hoặc về biện chứng pháp) nếu coi bất cứ hệ thống siêu h́nh học nào đó là có giá trị tuyệt đối. Theo nhận xét của T. R. V Murti để làm sáng tỏ việc nầy: Biện chứng pháp Trung Quán không phải là sự phản luận.. . Phản luận là bác bỏ quan điểm của đối phương bởi một người quan tâm tới việc thiết lập một quan điểm của chính họ. C̣n sự phê b́nh là dùng lư trí để phân tích một cách khách quan.

Long Thọ vận dụng thuyết duyên khởi của Phật Giáo thời sơ khai để cho thấy sự tương đối (nghĩa là sự tương lập lẫn nhau) của tất cả mọi quan niệm, và do đó, Ngài nói rằng chúng không thể được coi là thực khi nh́n từ quan điểm tuyệt đối. Ở đây rơ ràng là Ngài muốn nói rằng thực tại phải tự hổ trợ, độc lập và tuyệt đối. Trong bộ Trung Quán Luận, Long Thọ khảo sát một số quan niệm siêu h́nh học và phổ biến,như thời gian, không gian, sự chuyển động, nhân duyên, và sanh và cho thấy rằng mỗi khái niệm đó sẽ dẫn tới những mâu thuẫn và phi lư, nếu chúng ta coi chúng là thực một cách tuyệt đối. Mô thức tổng quát của lối biện luận nầy có thể được tóm tắt như sau : Nếu chúng ta giả thử một vật x nào đó là hiện hữu một cách độc lập, th́ hoặc là chúng ta không thể thuyết minh một cách nhất trí (và hợp lư ) về vật đó -- để tránh sự mâu thuẫn về luận lư -- hoặc là giả thiết của chúng ta về sự hiện hữu độc lập của nó sẽ dẫn tới một hậu quả phi lư nào đó, trái với kinh nghiệm của chúng ta. Trong câu kệ thứ 18, phẩm thứ 24 của Trung Luận, B. T Long Thọ thiết lập một liên hệ đồng nhất giữa những từ ngữ không tánh, duyên khởi, và trungđạo:

Nhân duyên sở sanh pháp ngả thuyết tức thị không, Diệc vi thị giả danh

Diệc thị Trung Đạo nghĩa.

Bất cứ cái ǵ do nhân duyên sanh ra ta đều gọi là không,

Cái đó cũng được gọi là giả danh

Cái đó cũng có nghĩa là Trung Đạo

Theo giải thích của Nguyệt Xứng (Candrakirti ) về câu kệ nầy có thể thiết lập như sau :

Duyên Khởi = Không Tánh = Giả Danh = Trung Đạo.

Trung Đạo mà Long Thọ nói đó là để tránh hai cực đoan của chủ nghĩa hư vô và chủ nghĩa thường hằng. Thật ra có thể truy nguyên tư tưởng nầy từ bài thuyết pháp của đức Phật với Kàtyayàna. Long Thọ viện dẫn bài thuyết pháp và Nguyệt Xứng ghi chú rằng nó xuất hiện trong những bộ kinh A Hàm. Nguyệt Xứng cho rằng không tánh -- là cái không có nguyên thủy tự nhiên của nó -- được coi là Trung Đạo v́ nó dẫn tới xa ĺa hai cực đoan là hiện hữu hoặc sanh khởi và vô hiện hữu hoặc hủy diệt. Cái ǵ không có nguyên - thủy của- chính- nó th́ không có sự hiện hữu hoặc sanh khởi hoặc hiển hiện, và khi nó không có sự hiện ra th́ nó cũng không có sự biến mất hoặc hủy diệt hoặc vô hữu. V́ vậy, không tánh có nghĩa là Trung Đạo.

Chúng ta cần bàn thêm về sự đồng nhất giữa duyên khởi và giả danh ( hoặc quan niệm ). Tác giả A. Wayman giải nghĩa là Định danh khi có sự lệ thuộc. Ông cũng lập một danh sách gồm những thí dụ để dẫn chứng những định danh lệ thuộc từ những lời chú giải của Tson- kla- pa về phẩm thứ 6 trong sách nhập môn Trung quán luận của Nguyệt Xứng.

Lệ thuộc vào duyên

1) ngũ uẩn - Ngă

2) Bộ bánh xe, trục xe,v,v -- - Xe

3) Hạt giống, v. v -- -- Mầm

4) Đất, nước, gió, lửa, không khí, không gian và ư thức- Người

5) Khúc dây thừng -- - Con rắn

6) Nhân và duyên -- - Không Tánh

Những thí dụ trên đây cho thấy ư niệm về giả danh (cái danh giả huyễn v́ lệ thuộc vào những duyên). Có thể nói duyên khởi và giả danh chỉ là hai cách khác nhau để nói về cùng một ư niệm : Không- Tánh. Như sao hôm và sao mai đều là tên của một thiên thể duy nhất nhưng có hai ư nghĩa khác nhau, cho nên duyên khởi và giả danh đều chỉ là một cái tên giống nhau tuy rằng chúng có thể có những ư nghĩa khác nhau.

Nguyệt Xứng giải thích duyên khởi là sự xuất hiện hoặc nổi lên của sự vật nào đó (như cái mầm, nhận thức,v. v -- tùy thuộc vào nhân và duyên. Sự định danh tùy thuộc (tức là giả danh) là hành động định danh (chỉ định một cái tên) cho sự vật nào đó -- thí dụ như cái xe -- tùy thuộc vào các sự vật khác, như bộ bánh xe, v. v. cả hai chữ duyên khởi và giả danh đều mô tả cùng một thực thể: cái Tuyệt Đối của không tánh. Chữ duyên khởi (do nhân duyên mà sanh ra) là đứng trên lập trường siêu h́nh học để h́nh dung sự tuyệt đối của Không; c̣n chữ giả danh là đứng trên lập trường nhận thức luận để h́nh dung cái đồng nhất bất nhị của Không. Nói khác, Duyên Khởi gạt bỏ siêu h́nh học của nhân quả để thay vào đó bằng thuyết nhân duyên tương tác. C̣n Giả danh th́ vạch trần tính cách vô hiệu quả của sự định danh bằng ngôn ngữ, và do đó phủ định khả thể của bất cứ khái niệm tri thức nào về thực tại, và thay vào đó bằng khái niệm về sự định danh tùy thuộc. Tất cả sự định danh của chúng ta đều là tổng hợp, khi chúng ta Tổng Hợp những yếu tố khác nhau thành một sự vật nào đó để định danh (đặt tên) cho nó. Tóm lại, duyên khởi là một nguyên tắc thành lập giữa các đối tượng, c̣n giả danh th́ thành lập giữa các đối tượng và nhận thức/ư thức của chúng ta về chúng. Nhưng, trong cả hai trường hợp, chúng ta đều đi đến không- tánh, v́ chúng ta buộc ḷng phải nhận thấy sự thiếu vắng của sanh khởi độc lập hay sanh khởi do chính bản chất của nó. Thứ nhất, sự thiếu vắng sanh khởi độc lập dẫn tới không tánh; thứ nh́, vô sanh và sự thiếu vắng định danh tuyệt đối cũng dẫn tới không tánh.

Long Thọ giải thích thuyết  Không Tánh của Ngài như là bao hàm hai giai tầng của chân lư, đó là:tục đế (chân lư thế tục) và chân đế (chân lư tối hậu, đệ nhất nghĩa đế, hay thắng nghĩa đế.. . ). Tục đế kiến lập trên những giả thiết và tiền đề chưa được khảo nghiệm. Nếu khảo sát những tiền đề nầy qua những phạm trù luận lư được chấp nhận ở giai tầng thế tục th́ sẽ thấy rằng chúng có những mâu thuẩn nội tại. Chúng ta không thể lănh hội chân đế bằng ngôn ngữ. (Điều nầy chính là một giáo điều căn bản của Phật giáo mà Long Thọ từng đề cập). Nhưng đồng thời, nếu không dùng ngôn ngữ th́ chúng ta không có cách nào khác để thuyết giảng về chân đế. V́ vậy, ngôn ngữ thế gian được sử dụng để vạch ra sự thiếu khả năng của ngôn ngữ trong việc bày tỏ chân đế. Và Long Thọ trông mong rằng phương cách nầy sẽ dẫn chúng ta, một cách gián tiếp, tới một điểm mà chúng ta có thể lănh hội được chân đế (là cái không thể diễn tả). Long Thọ cũng cảnh giác người ta đừng vội vàng cho rằng ḿnh đă hiểu được thuyết không tánh của ông: giống như nắm bắt con rắn ở phía đuôi hoặc áp dụng khoa học sai lầm; sự hiểu lầm không tánh có thể gây nguy hại cho người kém thông minh. Hơn nữa, ông c̣n nói: Khi hiểu được không tánh th́ có thể hiểu tất cả chư pháp; nếu không hiểu được không tánh th́ không thể hiểu được chư pháp.

Hai Giai Tầng của Chân Lư: Phật giáo đặt căn bản trên chủ thuyết về hai chân lư: chân lư ẩn dấu hay chân lư thế tục và chân lư tối hậu hay tuyệt đối. Những ai không hiểu được sự phân biệt giữa hai chân lư th́ không hiểu được tinh nghĩa -- hay ư nghĩa thâm thúy -- của Phật giáo (theo Long Thọ trong Trung Quán Luận). V́ thế cả những lời thuyết giảng của đức Phật có thể được phân loại thành tuyệt đối hay tối hậu, và thực dụng hay thế tục Thuyết giáo về thế tục được gọi là samvrti hay lloka- sanvrti. Nguyệt Xứng đề nghị ba cách giải thích từ ngữ samvrti, căn cứ vào nguyên ngữ học: (1) Sự che đậy hoàn toàn hoặc cái màn của vô minh che đậy chân lư; (2) chỉ hiện hữu nhờ tùy thuộc các nhân duyên; (3) hành vi thế tục hay ngôn ngữ liên quan tới giả danh và cái được giả danh (đặt tên), tới cái tri nhận và cái được tri nhận. Cách giải thích thứ ba có vẻ đưa ra kiến giải hữu dụng về bản chất của thế tục. Những ǵ được bày tỏ trong hành vi ngôn ngữ của chúng ta cùng với chính hành vi ngôn ngữ cấu thành cảnh giới của thế tục, tức là cảnh giới tùy tục và thực dụng. Cái gọi là giả danh, hoặc dùng văn tự hay danh tánh, tùy thuộc vào sự gán ghép của một số điều kiện hoặc phẩm chất. Một cái ǵ đó trở thành đối tượng của ư thức qua một h́nh thức nào đó mà chúng ta có thể gọi là điều kiện để gán cho nó một cái tên. V́ vậy sự giả danh đặt cơ sở trên sự áp đặt của một điều kiện hoặc một phẩm chất, khiến cho vật được giả danh trở thành một huyền thoại cấu tạo bởi điều kiện hay phẩm chất đó. Nhưng Nguyệt Xứng nhận thấy rằng lănh vực của giả danh và cái được giả danh, túc là lănh vực của tri thức và những đối tượng của nó, giống như thế giới tùy tục, có một giá trị thực dụng lớn lao. BT Long Thọ nói: Không thể mô tả chân lư tối hậu, nếu không dùng ngôn ngữ tùy tục. Và nếu không thể hiểu được chân lư tối hậu th́ không thể chứng quả Niết Bàn. (Trung Quán Luận).

 

II. Pháp Luận

Mọi sự vật h́nh thành do duyên khởi đột biến hay tiệm biến đều là giả danh, v́ chúng không thật có, cũng không thật không; chánh trí nơi trung không tức là trung đạo, "các pháp do duyên sinh, là giả danh, là không, là nghĩa trung đạo" Chúng ta cần nêu ra vài phẩm điển h́nh trong bốn quyển gốm hai mươi bảy phẩm và một kệ kết thúc của Bồ Tát Long Thọ trước tác, như quán nhân duyên (trong phẩm thứ nhất),

Chẳng sanh cũng chẳng diệt. Chẳng thường cũng chẳng đoạn. Chẳng đồng nhất cũng chẳng sai biệt. Chẳng đến cũng chẳng đi. Có thể đề ra, nêu lên (Đức Phật giảng dạy) nhân duyên này để diệt trừ những hư luận một cách thiện thuật. Con cúi đầu đảnh lễ Đức Phật; trong tất cả các học thuyết, thánh giáo, những lời dạy của Ngài là những giáo lư tối tôn, vô thượng.

Các pháp (muôn sự muôn vật) đă chẳng phải tự sanh (sanh ra từ tự thể) cũng chẳng phải được sanh ra từ một vật thể khác (tha sanh) mà cũng chẳng phải từ Tự và Tha cọng lại mà sanh (cọng sanh) lại càng chẳng phải vô nhân (không có nguyên nhân) v́ thế biết rằng: các pháp vốn vô sanh.

Giống như tự tánh của các pháp, không nằm ở (hiện hữu) trong duyên (những yếu tố, điều kiện), và, v́ do không có tự tánh nên, cũng không có tha tánh.

Các pháp được sanh ra từ bốn duyên đó là: Nhân duyên (* pháp hữu vi, sanh diệt); thứ đệ duyên (* đẳng vô gián duyên: tâm, tâm sở sanh diệt nối tiếp nhau không gián đoạn); duyên duyên (*sở duyên duyên: tâm sở pháp cùng với tâm tương ưng) và tăng thượng duyên (*nguyên tố quyết định; sắc đối đăi với tâm và ngược lại; do năng lực ứng dụng thù thắng của tâm đă tạo cho sắc tức ngoại cảnh sắc trần có được những ư nghĩa, tác dụng...), ngoài bốn duyên trên, không có duyên thứ năm.

Quả (* chỉ các Pháp, muôn sự muôn vật) được sanh ra từ các duyên hay là từ nơi phi duyên (phi điều kiện và yếu tố)? Trong các duyên đó là đă có sẵn Quả (*các pháp) hay là trong các duyên đó không có quả?

 Nhân chính là Pháp (vật thể) sanh ra Quả, Pháp đó gọi là Duyên như thế th́, nếu Quả đó chưa sanh th́ tại sao, v́ lư do ǵ không gọi (nó) là Phi duyên (chẳng phải duyên, các yếu tố điều kiện)?

 Quả đă có sẵn trước trong duyên (hay không có sẵn trong duyên), có trước hay không cả hai đều không thể truy nhận (v́ nếu) trước đó đă không có th́ lấy ǵ (ai) làm duyên (và nếu) trước đó đă có th́ cần ǵ phải mượn nhờ đến duyên? Nếu Quả đă chẳng phải là hữu sanh (có sự sanh ra) (Phi hữu sanh) mà cũng lại chẳng phải là vô sanh (phi vô sanh), đồng thời cũng chẳng phải là có sanh hay không có sanh (phi hữu vô sanh), thế th́, làm thế nào có thể bảo rằng: có các duyên?

 Nếu lúc quả chưa sanh th́ lẽ ra không có sự hoại diệt, (v́ nếu) hoại diệt th́ pháp làm thế nào có thể gá nương vào, v́ thế nên: không có Thứ Đệ Duyên. Như chư Phật đă dạy: Pháp vi diệu chơn thật (pháp thật tướng) trong đó (trong tất cánh không) không có bất cứ vật thể nào để nương gá (vô duyên pháp), thế th́ làm ǵ có (cái gọi là) Duyên Duyên?

 Các pháp vốn không có tự tánh (vô tự tánh) nên không có tướng Hữu, thế mà bảo rằng có sự việc như thế, v́ vậy nên cái việc (cho rằng) có đó hoàn toàn không hợp lư. Khái lược hay quảng diễn (dù tóm lược hay giảng rộng) th́ vẫn không thể t́m thấy Quả trong Nhân duyên được; nhưng nếu, (quả) không có trong Nhân Duyên th́ làm thế nào có thể bảo rằng Quả được sanh ra từ các Duyên? Và nếu cho rằng trong Duyên không có Quả mà (quả đó lại) được sanh ra từ Duyên vậy th́ cái Quả đó tại sao lại (không thể) không từ trong Phi Duyên (chẳng phải các Duyên) sanh ra?

 Và nếu, Quả được sanh ra từ Duyên, nhưng, (cái được gọi là) Duyên ấy vốn không có tự tánh, như thế th́, được sanh ra từ cái không có tự tánh vậy th́ làm thế nào có thể (bảo được rằng) được sanh ra từ Duyên? Quả đă không được sanh ra từ Duyên mà cũng chẳng phải được sanh ra từ Phi Duyên, v́ thế, Quả không có, nên, Duyên và Phi Duyên cũng không.

 Quán sát sự chuyển động và sự không chuyển động (trong phẩm thứ hai: quán sát sự đi đến) như sau;

Nếu đă chuyển động th́ không c̣n đang là chuyển động, nếu chưa chuyển động th́ cũng không đang là chuyển động. Tách ĺa cái được gọi là đă chuyển động và chưa chuyển động th́ lúc đang chuyển động cũng không có nốt cái đang chuyển động.

Nơi nào có sự di động th́ chính nơi đó có động tác chuyển động. Chẳng phải cái đă chuyển động hay cái chưa được chuyển động mà chính là sự chuyển động đang chuyển động.

Làm thế nào mà ngay đang khi chuyển động lại có sự (pháp biệt lập) đồng lúc chuyển động? Và, nếu tách rời sự (pháp) chuyển động th́ không thể có được cái gọi là đang chuyển động.

Nếu ai chủ trương rằng sự đang chuyển động có cái di động (biệt lập) th́ kẻ đó sai lầm, v́, đă tách rời sự chuyển động mà vẫn c̣n có cái đang chuyển động; nhưng, thực tế th́, chính sự đang chuyển động tự nó đơn độc chuyển động.

Nếu đang khi chuyển động mà có (vật thể) di động th́ là đă có hai thứ chuyển động: Một gọi là đang chuyển động và hai gọi là sự đang chuyển động có cái chuyển động (biệt lập).

Nếu có hai sự (pháp) chuyển động th́ đương nhiên có hai khứ giả (*khứ giả là một tên gọi khác của ngă, chỉ kẻ đang di động) th́ đương nhiên: có hai thực thể (ngă) di động, do vậy mà tách rời người chuyển động (*nguyên động lực, thực thể ngă) th́ sự chuyển động không thể có được.

Nếu tách rời người chuyển động th́ không thể có được sự chuyển động, v́ đă không có sự chuyển động th́ làm thế nào có cái gọi là người chuyển động?

Người chuyển động th́ không chuyển động và không có người chuyển động th́ cũng không có nốt sự chuyển động; tách rời sự chuyển động và nơi không có người chuyển động th́ không có sự hiện hữu của vật thứ ba là người chuyển động.

Nếu quan niệm rằng người chuyển động (có cái biệt lập là sự) chuyển động th́ làm thế nào nghĩa lư đó có thể tồn tại? v́ nếu tách rời khỏi sự chuyển động th́ người chuyển động không thể có được (không thể hiện hữu).

Nếu chủ trương rằng (tự thân) người chuyển động có sự chuyển động, như thế th́, có đến hai loại chuyển động khác nhau: một là người chuyển động chuyển động và, hai là sự chuyển động di động.

Nếu ai bảo rằng người chuyển động (đang) chuyển động th́ kẻ đó lầm lẫn, v́ đă tách rời sự chuyển động mà vẫn c̣n có người chuyển động nên họ mới bảo rằng kẻ chuyển động (bên cạnh c̣n) có (một vật thể biệt lập) di động.

 Cái đă chuyển động tự nó (trong đó) không có điểm (động cơ) xuất phát, cái chưa chuyển động trong tự thân cũng không có bất cứ động cơ phát động nào, và, cái đang chuyển động trong đó cũng không thể t́m thấy bất cứ động cơ phát xuất nào, thế th́, nơi đâu đích thị là nơi có động cơ xuất phát?

Chưa phát động th́ không thể có sự đang chuyển động, lại càng cũng không có cái gọi là đă chuyển động, hai sự việc này lẽ ra phải có động cơ xuất phát, nhưng, khi chưa chuyển động th́ làm sao có sự phát động? Không có sự chuyển động, không có cái chưa chuyển động cũng không luôn cái đang chuyển động.

 Tất cả đều không có điểm xuất phát, thế th́, làm thế nào để có thể phân biệt rơ ràng? Kẻ chuyển động th́ không thể đứng yên (đ́nh trụ), không có kẻ chuyển động th́ cũng không có cái gọi là (kẻ) đứng yên, tách rời khỏi kẻ chuyển động và kẻ không chuyển động th́ làm ǵ có cái thứ ba nào là cái đứng yên?

(Đă bảo rằng) kẻ chuyển động th́ không thể đang đứng yên (* v́ nếu đang đứng yên th́ không thể bảo kẻ đó đang di chuyển), làm sao có ư nghĩa nếu bảo rằng kẻ chuyển động đang đứng yên, điều đó không hợp lư: nếu đang khi tách rời khỏi sự chuyển động th́ ngay lúc đó không thể có được kẻ đang chuyển động.

Đă chuyển động, chưa chuyển động và đang chuyển động cả ba đều không thể đứng yên, những sự vật có sự đi đứng (* pháp hành chỉ: sự vận hành di động và sự đ́nh chỉ bất động) đều đồng nghĩa với sự chuyển động. (tam thời di chuyển).

 Cho rằng sự chuyển động chính là kẻ chuyển động th́ việc này không đúng mà bảo rằng sự chuyển động khác biệt với kẻ chuyển động th́ cũng không hợp lẽ.

Nếu quan niệm rằng ngay nơi chính sự chuyển động tức là kẻ chuyển động (như thế th́) tác giả và tác nghiệp (*người tạo tác ra nghiệp và nghiệp được tạo tác) lại là một.

Nếu chủ trương rằng sự chuyển động có sự khác biệt với kẻ chuyển động như thế th́: tách rời kẻ chuyển động vẫn có sự chuyển động và tách rời sự chuyển động vẫn có kẻ chuyển động. Nếu sự chuyển động và kẻ chuyển động là hai và nếu sự đồng nhất và sai biệt được thành lập th́ cả hai đều bất thành, như thế th́, làm thế nào (có thể cho rằng có cái gọi là sự chuyển động) có thể thành lập. V́ có sự chuyển động mà biết có kẻ chuyển động, không thể cho rằng kẻ chuyển động chính là sự chuyển động, v́ trước đó không có sự di động cho nên cũng không có kẻ chuyển động di động.

Nhân v́ sự chuyển động mà biết kẻ chuyển động, không thể sử dụng sự chuyển động nào khác v́ chính ngay trong một kẻ chuyển động không thể có được hai sự chuyển động. Đă quyết định dứt khoát là có kẻ chuyển động th́ không thể dùng ba sự chuyển động (đă, chưa và đang) và nếu không quyết định là có kẻ chuyển động th́ cũng không thể sử dụng ba sự chuyển động được.

 Sự chuyển động dù quyết định là có hay không (quyết định hay không quyết định) th́ kẻ chuyển động cũng không thể sử dụng ba sự chuyển động trên. V́ thế mà sự chuyển động, kẻ chuyển động và nơi chốn chuyển động (sở xứ khứ) cả ba đều không. (* nhân, pháp và thời-không: Thời gian và nơi chốn đều không có tự tánh).

Phẩm thứ mười lăm: quán hữu vô

(Nếu cho rằng) Tự tánh hiện hữu trong các duyên là một sự kiện sai lầm. (v́) Tự tánh mà từ các duyên phát sanh th́ tự tánh ấy chính là pháp hữu vi sanh diệt (* tác pháp: pháp được tạo tác thành, tức chỉ cho hữu vi sinh diệt).

Làm thế nào có thể có ư nghĩa nếu tự tánh là một cái ǵ được tạo thành (nếu tự tánh là pháp hữu vi sanh diệt)? Tự tánh chính là cái không phải do được (nhân duyên) tạo ra, không phải nhờ vào một pháp khác mà được h́nh thành.

Pháp nếu đă không có tự tánh th́ làm thế nào có tha tánh? V́ tự tánh đối tha tánh cũng c̣n được gọi là tha tánh.

Tách ĺa tự tánh và tha tánh th́ làm sao lại có Pháp. Các pháp chỉ được h́nh thành nếu có tự và tha tánh.

Hữu (thật có tự tánh) nếu đă không thành lập được th́ làm thế nào mà Vô (vô tự tánh) có thể thành lập được? Nhân v́ Hữu (có tự tánh) cho nên có Pháp, nếu Hữu (có tự tánh) bị hoại diệt th́ gọi đó là Vô (vô tự tánh).

Nếu người nào thấy (chấp trước) có Hữu (có tự tánh) và Vô (không có tự tánh), và thấy có tự tánh và tha tánh (như thế) th́ họ (đă) không thấy được nghĩa chân thật của Phật pháp.

Đức Phật có khả năng diệt trừ cả hữu lẫn vô như trong kinh đă tŕnh bày về việc (Thế tôn) giáo hóa tôn giả Ca Chiên Diên nên xa ĺa cả vô và hữu.

Nếu pháp thật có tự tánh th́ sau đó lẽ ra không có sự biến dị (thay đổi). Tự tánh nếu c̣n có tướng biến dị th́ sự kiện này hoàn toàn không hợp lư.

Nếu pháp thật sự có tự tánh th́ làm thế nào mà nó có thể thay đổi biến dị được? Và nếu pháp thật sự không có tự tánh th́ cũng làm thế nào mà nó có thể thay đổi biến dị được?

Quyết định rằng là Hữu th́ bị rơi vào sự chấp thường mà quyết định rằng là Vô th́ rơi ngay vào chấp đoạn, thế nên người có trí (bậc hữu trí) không nên chấp hữu vô.

Nếu các pháp có tự tánh nhất định (chắc chắn có tự tánh) th́ nó chẳng phải là vô mà chính là thường hằng và nếu trước Hữu nay Vô, như thế là đoạn diệt.

Phẩm thứ mười sáu: quán về sự trói buộc và giải thoát

Nếu cho rằng các hành là sự qua lại đến đi (luân hồi sanh tử) th́ trong cái thường tại không có vấn đề đi đến. Trong sự vô thường cũng không nốt luôn sự đi đến, chúng sanh cũng y hệt như thế (*nghĩa là không c̣n hiện tượng lại qua trong luân hồi sanh tử nữa).

Nếu quan niệm rằng chúng sanh luân hồi qua lại th́ trong ngũ Ấm, các Giới và các Nhập dù có tận triển năm thứ phương pháp (* Sắc không phải là ngă, tách rời sắc cũng không có ngă, không ĺa sắc cũng không có ngă, trong ngă không có sắc, trong sắc không có ngă) để truy tầm cũng không thể t́m thấy có ai là kẻ luân hồi qua lại (trong sanh tử).

Nếu từ thân này chuyển đến thân khác th́ khi luân hồi qua lại tức là không có thân h́nh và nếu kẻ ấy không có thân h́nh th́ đương nhiên họ không có sự luân hồi qua lại.

Các hành nếu hoại diệt th́ sự kiện này hoàn toàn không đúng, và nếu chúng sanh hoại diệt th́ việc đó cũng không hợp lư.

Tướng sanh diệt của các hành (tự nó) không trói buộc mà cũng chẳng giải trừ và chúng sanh như đă tŕnh bày là (tự chúng) chẳng trói buộc cũng chẳng giải thoát.

Nếu thân thể được gọi là sự trói buộc th́ khi có thân thể đương nhiên không bị trói buộc (* v́ thân ngũ ấm có trước, sự triền phược có sau). Không có thân cũng không bị trói buộc, thế th́ nơi nào là nơi có sự trói buộc?

Nếu cho rằng sự trói buộc hiện hữu trước đối tượng của sự trói buộc th́ lẽ ra đối tượng bị trói buộc ấy đă bị trói buộc. Nhưng thật tế trước đó đă không có sự trói buộc, ngoài ra những khía cạnh khác có liên hệ đều đă được giải đáp trong phần đă di chuyển, đang di chuyển và chưa di chuyển (phẩm thứ hai).

Kẻ bị trói buộc th́ không có sự giải thoát và kẻ không bị trói buộc th́ cũng không cần giải thoát. Khi có kẻ bị trói buộc th́ mới có kẻ được giải thoát, thế th́, sự trói buộc và giải thoát đương nhiên phải xảy ra cùng lúc.

Nếu không thọ nhận các pháp, đương nhiên tôi phải chứng niết bàn, người nào chấp trước như thế, sẽ bị nhận chịu sự trói buộc, (* v́ c̣n chấp có chứng đắc niết bàn nên bị cái chấp ràng buộc).

Không phải tách rời, ĺa bỏ sự sanh tử mà có cảnh giới niết bàn riêng biệt (biệt lập). Nghĩa thật tướng như thế th́ làm ǵ có sự phân biệt?

Phẩm thứ mười bảy: quán về nghiệp

Người nào có khả năng hàng phục, chế ngự tâm ḿnh và làm những điều từ thiện lợi ích đối với chúng sanh th́ đó chính là gieo trồng hạt giống quả báo cho hai đời (đời này và đời sau). (Dịch cách khác: Người nào có khả năng hàng phục tâm ḿnh, đối với chúng sanh làm những điều lợi ích th́ người đó gọi là người làm những việc từ thiện gieo trồng quả báo cho hai đời).

Đức Phật dạy có hai loại nghiệp đó chính là ư chí và những điều từ ư chí phát sanh (* Tư cập tùng Tư sanh. Tư chính là tâm sở pháp, lấy sự tạo tác làm dụng, có khả năng suy động sự tạo tác của nội tâm, phát động sự hoạt động của thân thể, sự nói năng của miệng lưỡi. Tư chính là ư chí, từ sự tư duy, suy nghĩ đưa dẫn đến quyết định hành động, v́ thế nó chính là động lực của nghiệp, nhân sự phát động của tư tâm sở mà nó có khả năng biểu hiện những động tác và nói năng của thân thể nên gọi là từ tư tâm sởhát sanh ra) những biệt tướng của nghiệp trong kinh đă phân biệt thuyết minh từng loại.

Đức Phật dạy tư nghiệp (ư chí) đó chính là (cái gọi là) ư nghiệp và những điều từ ư chí phát sanh (tư sanh) chính là thân và khẩu nghiệp.

Thân nghiệp và khẩu nghiệp, tác và vô tác nghiệp (tạo nghiệp và không tạo nghiệp) trong bốn sự việc như thế, vừa thiện vừa bất thiện.

Từ (tác thọ) dụng sanh ra phước đức, tội lỗi cũng như thế mà được sanh ra, và Tư (ư chí) là bảy pháp (* 1. thân nghiệp, 2. khẩu nghiệp, 3. tác nghiệp, 4. vô tác nghiệp, 5. thiện nghiệp, 6. bất thiện nghiệp và 7. tư nghiệp), bảy pháp này có khả năng liễu giải các nghiệp tướng (làm sáng tỏ các hành tướng của nghiệp).

Nếu nghiệp (lực) vẫn tồn tại (trụ) măi cho đến khi thọ (quả) báo th́ nghiệp đó chính là cái thường hằng và nếu nghiệp không tồn tại (diệt) th́ là không có nghiệp, không có nghiệp th́ làm thế nào có thể sanh ra quả báo?

Chẳng khác nào sự tương tục của cái mầm vân vân..., nó đều được sanh ra từ hạt giống (chủng tử), từ đó mà sanh ra quả, nếu tách rời hạt giống th́ không có sự tương tục.

Từ hạt giống mới có sự tương tục, từ sự tương tục mới có quả. Trước có hạt giống sau đó mới có quả, không đoạn cũng chẳng thường.

Như thế từ lúc sơ tâm, tâm pháp phát sanh một cách tương tục, từ đó mà có quả. Tách rời tâm th́ không có sự tương tục.

Từ nơi tâm mà có được sự tương tục, từ nơi sự tương tục mà có quả, nghiệp có trước, quả có sau (trước có nghiệp sau mới có quả), không đoạn mà cũng chẳng thường.

Có thể thành tựu những phước đức bằng con đường thập bạch nghiệp (*mười điều thiện thanh tịnh trong sạch). Năm thứ dục lạc của hai đời (đời này và đời sau) chính là quả báo bạch nghiệp (nghiệp trong sạch thanh tịnh).

Nếu như ông (chỉ ngoại đạo) nảy sanh các thứ phân biệt th́ đó chính là một lầm lỗi rất lớn (nhiều), v́ thế nên, những điều ông tŕnh bày, ư nghĩa đă không đúng như thế.

Nay, một lần nữa, sẽ phải tŕnh bày lại về ư nghĩa của thuận nghiệp quả báo (* tùy thuận theo nghiệp lực mà chiêu cảm, thọ lănh lấy quả báo) mà chư Phật, Bích Chi Phật và Thanh văn thánh hiền đă cùng nhau xưng tán (tán dương, xưng tụng).

Cái pháp không mất (* chỉ cho sự tương tục không gián đoạn của nghiệp lực) th́ giống như cái giấy chứng khoán hợp đồng về nợ nần, và nghiệp th́ giống như của cải tiền bạc (tài vật) bị mắc nợ, (người bị mắc nợ của cải tiền bạc) tánh của nó th́ vô kư, nếu phân biệt th́ có bốn loại (* 1. Dục giới nghiệp hệ, 2. sắc giới hệ, 3. vô sắc giới hệ và 4. vô lậu hệ).

Không thể đoạn trừ nghiệp lực bằng cách kiến đạo (kiến đế) được. Chỉ có thể đoạn trừ chấm dứt nghiệp lực bằng con đường tu tập đạo lư (tu đạo = tư duy) mà thôi, do đó nhờ cái pháp (sự) không mất ấy mà các nghiệp đưa dẫn đến việc có quả báo.

Nếu kiến đế (kiến đạo = thấy đạo) mà có thể đoạn trừ (chấm dứt) được (sự tương tục không mất) th́ nghiệp vẫn xảy đến tương tợ, như thế th́ vướng mắc vào nhiều lầm lỗi là đă phá hủy các nghiệp.

Tất cả các hành nghiệp dù giống nhau hay không giống nhau đều thuộc về một cảnh giới vừa mới thọ thân, lúc ấy (duy nhất) chỉ có quả báo đơn độc sanh khởi.

Hai loại nghiệp như thế (* theo ngài Thanh Biện: tác và vô tác nghiệp; theo ngài Thanh Mục th́: khinh và trọng nghiệp, có thuyết khác th́ bảo: tương tợ và bất tương tợ) hiện thế (đời này) lănh thọ quả báo, hoặc bảo là đă thọ báo xong (* báo gồm có hoa báo, quả báo và dư báo) nhưng nghiệp vẫn c̣n tồn tại.

Nếu đắc độ (chứng được) (tứ) quả (nhập niết bàn) xong rồi (nghiệp lực) mới diệt hết và nếu chết rồi mới diệt, trong đó phải phân biệt kỹ giữa hữu lậu và vô lậu (* nếu chứng tứ quả, nhập niết bàn th́ không thọ hậu hữu, nghiệp đă dứt sạch nên gọi là vô lậu; và nếu chúng sanh quả báo chấm dứt nên chết th́ nhứt kỳ nghiệp báo cũng diệt tuy nhiên chỉ diệt nhứt kỳ nghiệp báo nhưng vẫn c̣n thọ hậu hữu nên gọi là hữu lậu).

Dẫu là Không đi nữa cũng không đoạn tuyệt và dẫu là Hữu th́ cũng vẫn chẳng thường hằng, nghiệp và quả báo không bao giờ bị mất, đó chính là lời Phật dạy.

Các nghiệp vốn chẳng sanh, v́ nó không hề có định tánh (tự tánh nhất định, cố định). Các nghiệp cũng chẳng diệt, v́ nó vốn chẳng sanh.

Nếu nghiệp mà có tự tánh th́ nó chắc chắn là thường hằng (gọi là thường). Không tạo tác cũng gọi là nghiệp, lư do là v́ đă thường hằng, thường tại nên không thể tạo tác.

Nếu có cái nghiệp mà không hề được tạo tác ra và dù không tạo tác ra nghiệp nhưng vẫn có tội th́ (chẳng khác nào dù) không chấm dứt (rời bỏ) đời sống phạm hạnh thanh tịnh những vẫn có lỗi bất tịnh.

Như thế th́ phá hủy tất cả những pháp tắc, tập quán, ngữ ngôn pháp của thế gian, như thế th́ tạo tội và tạo phước cũng không có bất cứ sự sai biệt nào.

Nếu cho rằng nghiệp là một cái ǵ nhất định (quyết định nghiệp) chính tự nó có tự tánh, như thế th́, khi đă lănh thọ quả báo xong nhưng lại trở lại phải thọ lănh nữa.

Nếu các nghiệp của thế gian, được sanh ra từ phiền năo mà phiền năo (là một cái ǵ) chẳng phải thật có, thế th́ nghiệp làm sao có thể có thật?

Các phiền năo và nghiệp báo được tŕnh bày như là những nhân duyên của thân mạng (* v́ thân mạng sở dĩ có được là do có quả báo của sự thống khổ làm nhân duyên tạo thành). Phiền năo và các nghiệp tự chính nó đều là Không (không có tự tánh) huống chi là các thân mạng?

V́ bị vô minh che lấp, ái kết buộc ràng (sự trói buộc của những ái dục cô kết chặt chẽ) nhưng chính tác giả (kẻ tạo nghiệp) tác nghiệp (nghiệp được tạo tác) và thọ giả (kẻ thọ quả báo) (* ba cái gọi chung là bổn tác giả) không đồng nhất cũng không sai biệt.

Nghiệp không từ các duyên sanh ra mà cũng không từ không phải các duyên sanh ra v́ thế nên không có kẻ có khả năng sanh khởi ra nghiệp báo.

Không có nghiệp và không có kẻ tạo ra nghiệp (tác giả) th́ làm ǵ lại có cái nghiệp sanh ra quả báo? Và nếu nó không có quả báo th́ làm ǵ lại có người thọ lănh quả báo?

Giống như đức Thế Tôn sử dụng thần thông tạo ra một người biến hóa và cũng như thế người biến hóa này lại tạo ra một người biến hóa khác. Như người biến hóa trước nhất th́ gọi là tác giả (chính là kẻ tạo tác) và người biến hóa được tạo ra th́ gọi là nghiệp (đích thị là nghiệp). Các phiền năo và nghiệp, tác giả (kẻ tạo nghiệp) và quả báo, đều như huyễn hóa và mộng mị (chiêm bao) chẳng khác nào quáng nắng (* giữa sa mạc quáng nắng tạo cho ta có cảm tưởng như là đang thấy nước ở trước mặt) và sự đồng vọng của một tiếng vang.

Phẩm thứ mười tám: quán pháp

Nếu ngă chính là năm ấm th́ ngă tức là, đích thị là (thuộc về những cái) sanh diệt; nếu ngă là sai khác với năm ấm th́ nó không phải là tướng ngũ ấm.

Nếu không có cái gọi là ngă th́ làm thế nào có được những thuộc tính của ngă (ngă sở). V́ diệt trừ cái ngă và thuộc tính của ngă (ngă sở cho nên gọi là chứng đắc Vô Ngă Trí. Người chứng được vô ngă trí th́ gọi đó là Thật quán. Người chứng được Vô Ngă Trí là bậc vô cùng hy hữu. V́ nội tâm và ngoại cảnh, ngă và thuộc tính của ngă (* ngă sở: những cái thuộc về của tôi) đều bị diệt sạch không mảy may c̣n nên các Thọ (*các thủ: ngă ngữ thủ, dục thủ, kiến thủ, giới cấm thủ) lập tức cũng bị diệt sạch, thọ diệt th́ thân diệt. V́ nghiệp và phiền năo diệt nên gọi đó là giải thoát. Nghiệp và phiền năo là những cái không có thật, một khi đă thâm nhập vào Không Tánh th́ tức khắc mọi hư luận đều bị tận diệt. Chư Phật hoặc dạy về ngă hoặc dạy về vô ngă đều khẳng quyết là trong thật tướng của các pháp không có cái vô ngă và không có cái chẳng phải ngă (vô ngă vô phi ngă).

Thật tướng của các pháp th́ đoạn bặt, cắt đứt cả tâm hành lẫn ngôn ngữ (* sự tư duy và nói năng), (nó-thật tướng của các pháp) không sanh cũng không diệt, tịch diệt (vắng lặng) như niết bàn, tất cả những điều thật và không phải thật, vừa thật vừa phi thật, phi thật và không phải phi thật (phi phi thật: chẳng phải chẳng phải thật) đó chính là giáo pháp của chư Phật. Tự ḿnh tri nhận, (chính ḿnh thể nghiệm) chứ không tùy thuộc vào (theo sự thuyết giải của) kẻ khác (mà tín giải). Tịch diệt không hư luận, không c̣n có sự sai khác và phân biệt (vô phân biệt) đó chính là thật tướng. Nếu các pháp được sanh ra từ các duyên, th́ nó chẳng chính là (đồng nhất với) nhân mà cũng chẳng sai khác với nhân (bất tức bất dị) v́ thế gọi là thật tướng. Không đoạn cũng không thường, không đồng nhất cũng chẳng sai biệt, không thường cũng không đoạn, đó chính là những vị cam lồ (giáo pháp bất tử) mà chư Phật đă giáo hóa (giảng dạy để hóa độ). Nếu đức Phật không xuất thế và Phật pháp đă diệt tận (* ư nói khi Phật pháp đă diệt nhưng Phật vẫn chưa thị hiện) th́ trí tuệ của những vị Bích chi Phật sẽ từ sự viễn ly (xa ĺa các pháp chấp) mà phát sanh.

Phẩm thứ mười chín: quán thời gian

Nếu nhân nhờ vào quá khứ mà hiện tại và vị lai hiện hữu th́ hiện tại và vị lai lẽ ra phải hiện hữu ngay trong thời quá khứ.

Nếu hiện tại và vị lai đă không hiện hữu trong thời gian quá khứ th́ làm thế nào (có thể bảo rằng) hiện tại và vị lai đă nhân nhờ vào quá khứ (mà hiện hữu)?

Không nhân nhờ vào thời quá khứ th́ không có thời vị lai và thời hiện tại, như thế th́ hai thời đều không có.

V́ ư nghĩa như thế nên biết là hai thời gian c̣n lại và những ư niệm về cái trên, cái giữa và cái dưới; về sự đồng nhất và sự sai biệt, vân vân..., các pháp đều không có.

Không thể có được một khoảng thời gian đứng yên không biến thiên (trụ). Cũng không thể có được khoảng thời gian luôn xê dịch di động (khứ). Nếu thời gian mà không có (bất khả đắc: không thể nắm bắt được) th́ làm thế nào có thể đề cập đến tướng trạng của thời gian?

Nhân nhờ vào vật thể (biến dị) mà (biết) có thời gian, tách rời vật th́ làm sao thời gian hiện hữu. Vật thể c̣n không có huống hồ là thời gian. (vật thể c̣n không có huống chi là có thời gian).

Quán sát lư duyên khởi của sự vật, con người, thời không và tất cả những hệ lụy đến con người và vạn vật (các pháp) qua biểu hiện của ḍng tâm thức là sanh tử luân hồi luôn ám ảnh trong tư tưởng của chúng sanh. Dùng chánh trí tuệ phủ định mọi nhân duyên, hữu vô, đi đến, nghiệp thức, phiền trược, thời không, v.v...là trung đạo mà giác ngộ Niết-Bàn.

" Đối với thật tướng các pháp là siêu việt hết thảy tướng, lại sinh ra tà kiến chấp các pháp thật có sinh, diệt, thật có đoạn thường, một khác, đến đi, trói mở v.v... và khởi lên phiền năo, tạo nghiệp, chịu khổ theo tà kiến chấp thủ ấy. Nếu phá bỏ được các kiến chấp sai lầm đối với thật tướng, th́ thật tướng hiện ra trước trí tuệ chánh quán, giải thoát tất cả vướng mắc, đau khổ.

Nếu các chấp kiến đều bị phá bỏ, phủ định, vậy thật tướng ấy có bị phá bỏ, phủ định không? - Thật tướng siêu việt hết thảy tướng, vậy th́ có tướng ǵ đâu để phủ định, phá bỏ.

Như vậy tất cả đều trống rỗng, có cũng bị phủ định, không cũng bị phủ định, không có ǵ là hiện hữu phải không? Có hiện hữu chứ. Đó là hiện hữu pháp duyên khởi siêu việt các tướng, cái này có nên cái kia có, cái này sinh nên cái kia sinh, cái này không nên cái kia không, cái này diệt nên cái kia diệt. Như trong kinh Tiểu Không thuộc Kinh Trung Bộ Phật dạy: "Thuở xưa và nay Ta nhờ an trú không, nên an trú rất nhiều, ví như lâu đài Lộc Mẫu này không có voi, ḅ, ngựa, không có vàng bạc, đàn ông đàn bà tụ hội, và chỉ có một cái không phải không, tức là sự nhất trí (ekattam có nghĩa là nhất thống, giải thích) do duyên chúng Tỳ kheo. Và cái ǵ không có mặt ở đây, vị ấy xem cái ấy là không có. Nhưng đối với cái c̣n lại, ở đây, vị ấy tuệ trí "cái kia có, cái này có". "Cái này đối với vị ấy là như vậy, thật có, không điên đảo, sự thực hiện hoàn toàn thanh tịnh không tính"." (HT.Thích Thiện Siêu, trong lời giới thiệu, kinh Trung Bộ của Bồ Tát Long Thọ)

Chẳng hạn, khi thấy con ḅ, biết thấy con ḅ. Tướng có: thấy con ḅ cụ thể, tướng không: thấy h́nh ảnh con ḅ ở vơng mạc mắt; biết thấy con ḅ là phủ định thấy có và không. Biết sát-na hiện t́ền, là tuệ giác, là ư trí tác năng, độc lập, tự do phát biểu bất cứ lúc nào tùy ư dù có đối tượng hay không. Trung không hay trung đạo thực sự hiện hữu trong ḍng duyên khởi: không trước không sau, không trong không ngoài trong ḍng diễn biến ấy.

 

TÁNH KHÔNG & DUYÊN KHỞI HAY THỰC TẠI GIẢ DANH (Nhất Nguyên Luận. Phổ Nguyệt, 2003))


1).Duyên Khởi Từ Vật Chất
Hiện tượng vô thường của sự vật hiện hữu do nhân duyên kết hợp, do đó chúng không có lúc nào tự ḿnh độc lập tồn tại. Rơ ràng chúng có sanh ra th́ có lúc phải hủy diệt v́ lẽ có sự trao đổi vật chất và năng lượng với môi trường chung quanh. Trong vật lư học, việc bảo tồn năng lượng cho biết năng lượng không sanh ra và không biến đi mà chỉ có thể thay đổi. Khi sự giao lưu năng lượng và vật chất của mỗi hữu thể với bên ngoài, hữu thể đó tạm thời ổn định cân bằng v́ phải tiêu tán năng lượng và vật chất, nên thay cũ đổi mới để tồn tại. Sự trao đổi vật chất và năng lượng của hữu thể trong không gian là lịch tŕnh sanh trụ hoại diệt. Sự giao lưu vật chất và năng lượng của xác thân con người với bên ngoài được tạm thời hiện hữu là lịch tŕnh sanh lăo bịnh tử. Sự vật hiện hữu do duyên họp, khi duyên tan th́ hoại không, theo lư Duyên Khởi của Ngài Long thọ. Sự vật tạm thời hiện hữu gọi là Thực Tại Giả Danh.

 

2). Duyên Khởi Từ Vật Chất Đến Phi Vật Chất
Sự giao lưu năng lượng và vật chất với bên ngoài nên bản thân sự vật không những lệ thuộc vào nhân duyên nội tại mà phải bị ảnh hưởng nhiều bởi môi trường ngoại giới. Như ảnh hưởng vật chất (thức ăn) đến sinh lư con người, mà sinh lư ảnh hưởng đến tư tưởng t́nh cảm và hành động. Hệ thống cân bằng sinh lư của con người được tạm thời ổn định là lịch tŕnh tiêu tán của trạng thái đau khổ và khoái lạc. Lư Duyên Khởi được nhận thức sâu sắc qua Tứ Đế:Tập (nhân) Khổ (quả), Đạo (nhân) Diệt (quả), và Thập Nhị Nhân duyên. Ngay Lục Căn trong Sắc Thân của Ngũ uẩn cũng cần được phân tích theo Tâm lư học để làm sáng tỏ lư Duyên Khởi, là Thực Tại giả danh, là Tánh Không hay là sự vật đều không có Tự Tánh.(Phổ Nguyệt)

Ḍng duyên khởi là kết nối những điểm sát-na sanh diệt liên tục không ngừng nghĩ, lúc sanh th́ có, lúc diệt th́ không, v́ sự vật vô thường biến dị. Nếu nh́n sự vật bằng tướng không (h́nh ảnh hay bóng dáng) của nó là một sự tưởng thức, và nếu nh́n sự vật cho là thực hữu, tức là một thực tại đối diện gồm những thực thể hiện hữu sẵn, đó là duy thực phác tố, thực sự sự vật là một đối tượng giả danh mà thôi. Trung đạo là điểm không, không vướng vào nhị biên sanh có hay diệt không, xa ĺa thường kiến hay đoạn kiến. Các pháp vốn là ḍng duyên khởi, tướng không thật, không có tự tính và hay thay đổi. Thật tướng các pháp luôn luôn vắng lặng, thanh tịnh b́nh đẳng và dung chứa tất cả tướng. Nói cách khác các pháp là tướng hư không th́ hay sanh diệt, tăng giảm hoặc sạch nhơ, c̣n thật tướng các pháp là tánh hư không bao la vô tận dung chứa hết thảy tướng hư không (tướng không) của các pháp, tánh th́ không sanh diệt tăng giảm sạch nhơ..

 

III. Trung Đạo: Pháp Trực Nhận Tánh Không

1). Diễn tiến Nhận thức Giác Trí Tuệ hay Trực Nhận Tánh Không hay Thể cách Tri nhận Tự Tính Tuyệt Đối

 Tâm Thức là quả trong tiến tŕnh ḥa hợp của Căn Trần; đó là Giác Thức Đang Là hay là ḍng duyên khởi, cũng là Nhị Nguyên tính của Năng Sở, Chủ Khách, Căn Trần;

Giác Trí là tiến tŕnh tri nhận của Giác Thức Đang Là, cũng là Nhất Nguyên Tính Tương Đối của Trí Thức hay Tư Tưởng. Nhất Nguyên là v́ khi Ư Tác Động của Căn (Ư tác động) tiếp xúc với đối tượng (thực tại: giả danh), thành Giác Thức (hay Tâm Thức), lập tức được Ư Tác Năng (Ư Trí) ư niệm hóa Giác Thức thành Giác Trí (hay Tâm Trí). Tâm Thức và Tâm Trí cùng một Tâm. Thức chuyển thành Trí. Giác Trí Đang Là (hiện tại), dù nằm trong đạo lư nhất nguyên, nhưng nó cũng huyễn hóa theo thời gian. Cái Đang Là là sự nối tiếp những điểm sát na sanh diệt liên tục. Ḍng Giác Trí ấy trôi chảy làm cho Trí và Thức liên hợp sanh ra Tư Tưởng. C̣n tư tưởng là c̣n có sự thay đổi, nên chưa phải là chân lư. Chân lư th́ thường hằng bất biến. Do dó Giác Trí Đang Là thuộc diện tương đối;

TRUNG ĐẠO, là Giác Trí Tuệ hay cái Trí Nguyên Sơ được nhận thức ngay nơi thực tại điểm khởi đầu tiến tŕnh của động tác Giác Trí Đang Là (Ḍng Duyên Khởi), cũng là Nhất Nguyên Tính Tuyệt Đối của Năng Sở song vong và vô Thời Không. Vậy Chân lư tối hậu hay Tự tính tuyệt đối, hay đạo lư Nhất nguyên tuyệt đối là Nhận thức vượt Thời Không, là Tánh Giác hay Tánh Không. Không dùng Tư Tưởng suy nghĩ bàn luận mà dùng pháp môn không hai, hay nói khác đi làThể hiện, là im lặng không dùng ngôn ngữ mà là Hành Chánh Trí Tuệ. Đó là pháp "Bất Khả Tư Nghị", là Trung Đạo.

Tóm Tắt:

+ Phủ định nhận thức thực tại điểm của giác thức nguyên sơ là đạt đến giác trí;

+ Phủ định nhận thức thực tại điểm của giác trí nguyên sơ là đạt đến Giác Trí Tuệ;

+ Nhị Bội Phủ Định nhận thức Giác Thức Nguyên Sơ của sự vật để Khẳng Định nhận thứcTánh Không của chúng, đó là Nhất Nguyên Tính Tuyệt Đối, Chân Lư Tối Hậu, hay Trung Đạo, là hai giai tŕnh Hàng Phục Vọng Tâm và An Trụ Tâm.

Vài thí dụ: Trung Đạo là Chánh Trí Tuệ hay Tánh Giác

Trong phẩm Văn Thù Sư Lợi thăm bịnh Duy Ma Cật ;

...Ngài Văn Thù Sư Lợi vào nhà ông Duy Ma Cật rồi, thấy trong nhà trống rỗng không có vật chi, chỉ có một ḿnh ông nằm trên giường mà thôi. Khi ấy ông Duy Ma Cật chào rằng:

- Quí quá thay! Ngài Văn Thù Sư Lợi mới đến! Tướng không đến mà đến, tướng không thấy mà thấy.

Văn Thù Sư Lợi nói:

- Phải đấy, cư sĩ! Nếu đă đến th́ không đến, nếu đă đi th́ không đi. V́ sao? Đến không từ đâu đến, đi không đi đến đâu, hể có thấy tức là không thấy. Thôi việc đó hăy để đó...

--- Tướng không đến: Tướng đến từ A1 đế A2 theo thời gian huyễn hóa tướng rồi. Động tác đang đến (tướng đến) nối tiếp những điểm sát na sanh diệt, không thể nắm bắt được.Ngay lúc đến là khoảnh khắc hiện tại ta nh́n thấy cái đến. Nhận thức ngay thực tại điểm trong động tác đang đến lúc đó và tại đó (một điểm ở sát na). Nên cái thấy đếnthật là ở điểm đến hiện hữu đó mà thôi. C̣n tướng đến từ A1 đến A2 (quá khứ), tướng ấy đă huyễn hóa rồi, không thật. Thực Tại Điểm đó là Trung Đạo, là Tánh Giác. Tánh giác (thấy) đó ở trong trạng thái vô thời không. Cũng như thế, tướng đi, đi đến đâu (tương lai), cũng không thật, chỉ thấy cái đi ngay ở khoảnh khắc hiện hữu.

Do đó Văn Thù Sư Lợi đáp: Đă đến (quá khứ) th́ cái đến không thật, đă đi th́ cái đi không thật, đă thấy th́ cái thấy không thật. V́ đến không từ đâu đến (không xác định), đi th́ không đi đến đâu (không xác định), c̣n có thấy th́ không c̣n thật thấy đối tượng đó nữa, Sắc tức thị không

 

 Kinh