Quyển Thứ Nhất
(Phần 1)
Lời Giăi Bày
Nếu là một liên hữu Việt Nam, có lẽ
không ai không biết đến Ấn Quang đại sư qua dịch
phẩm Thiền Tịnh Quyết Nghi của ḥa thượng Trí
Tịnh và Lá Thư Tịnh Độ của cố ḥa thượng Thiền
Tâm. Khi đọc Lá Thư Tịnh Độ, chúng tôi vẫn luôn
kỳ vọng sau này có thiện duyên sẽ được đọc toàn
bộ Ấn Quang Văn Sao. Khi được quen biết với đạo
hữu Vạn Từ, anh nhiều lần khuyên chúng tôi khi
nào có dịp hăy cố dịch toàn bộ tác phẩm này sang
tiếng Việt bởi lẽ văn từ của Tổ càng đọc càng
thấm, càng thấy có lợi ích. Những giáo huấn của
Tổ rất gần gũi, hữu ích cho thời đại chúng ta,
nhất là những giáo huấn về Tín - Hạnh - Nguyện,
xử thế, tu tŕ... Khi được biết chúng tôi chưa
có nguyên bản Ấn Quang Văn Sao, anh đă sốt sắng
lái xe đến khắp các chùa người Hoa trong vùng
Nam California để t́m cho được một bản, nhưng cơ
duyên chưa tới, vẫn không sao t́m được. Ngay tại
một đạo tràng lớn như Phật Quang Sơn Tây Lai Tự
vẫn không c̣n một bản Ấn Quang Văn Sao nào. Măi
đến mùa Hạ năm 2001, đạo hữu Minh Lập từ Seatle
mới t́m được cho mạt nhân bộ Ấn Quang Văn Sao
(do chùa Từ Nguyện ấn tống, không rơ năm in, và
được thí tặng bởi chùa Địa Tạng Viên Quang Tự)
và Ấn Quang Gia Ngôn Lục (do Phật Quang Viện ở
Bản Kiều, Đài Loan, 1982 ấn hành, cũng do chùa
Địa Tạng thí tặng). Khi nghe tin đă t́m được Ấn
Quang Văn Sao, đạo hữu Vạn Từ mừng rỡ khôn xiết,
anh khẩn khoản mạt nhân hăy ráng dịch cho được
dẫu chỉ vài phần trọng yếu của tác phẩm này,
nhưng do tánh ngại khó cũng như do nhiều chướng
duyên, mạt nhân đành thoái thác, không đáp ứng ư
nguyện của người bạn đạo thân kính.
Măi đến giữa Hè 2003, nhân đạo hữu Vinh Quyền
yêu cầu lần nữa, mạt nhân mới đánh bạo tạm dịch
thử bản Gia Ngôn Lục. Khi đó, sau khi đọc và sửa
lỗi bản dịch, các đạo hữu Huệ Trang và Vạn Từ đă
tha thiết yêu cầu hăy dịch toàn bộ Ấn Quang Văn
Sao, bởi lẽ nếu không đọc được toàn bộ một lá
thư, chỉ đọc một vài đoạn trích, khó thể cảm
nhận trọn vẹn ư Tổ. Nhưng nh́n vào kích thước
của bộ sách này, mạt nhân thật e ngại sức ḿnh
không thể kham nổi, đành khất lần: “Nếu ba năm
sau không ai dịch tác phẩm này, tôi sẽ đánh liều
dịch thử”. Rồi như một nhân duyên ước hẹn, cuối
năm 2003, đạo hữu Minh Tiến lại gởi tặng một bộ
Ấn Quang Văn Tập hoàn chỉnh (gồm Ấn Quang Văn
Sao, Ấn Quang Văn
Sao Tam Biên và Ấn Quang Văn Sao Tục Biên) do
Cổ Tấn Báo Ân Niệm Phật Đường ấn hành năm 2002
và bộ Linh Phong Tông Luận (do liên xă Đài Trung
ấn hành). Những tác phẩm này do Tịnh Tông Học
Hội Los Angeles lưu thông. Mỗi lần nh́n vào hai
bộ sách ấy đặt trên bàn, mạt nhân lại cảm thấy
áy náy v́ chưa đáp đền những ân t́nh của các bạn
đạo đă dành cho ḿnh. Nay dẫu thời hạn ba năm
chưa đến, nhưng quang âm trôi qua vùn vụt, lúc
này không làm, e vô thường chợt đến, có muốn làm
cũng không kịp nữa!
Đă biết ḿnh không đủ sức mà vẫn cố gượng làm,
quả thật là dối ḿnh, dối người, tội ương khó
tránh khỏi. Thế nhưng, ngẫm lời các đạo hữu đă
khuyên: “Cứ cố hết sức ḿnh ngơ hầu pháp nhũ của
chư Tổ phần nào được thể hiện, như sữa đem pha
nước dẫu nhạt vẫn c̣n đôi chút vị sữa”, mạt nhân
vẫn thầm mong được Tam Bảo gia hộ để không phạm
lỗi xuyên tạc ư Tổ, ư kinh quá đáng đến nỗi
lương phương trở thành độc dược. Chỉ e nghiệp
chướng sâu dày, kiến văn quả lậu, kiến giải quá
lệch lạc đến nỗi thâm ư, bản hoài của Tổ bị diễn
đạt sai lệch hoàn toàn, không đem lại chút lợi
ích cỏn con nào cho các liên hữu.
Ngưỡng mong, bản dịch nháp này sẽ khiến những
bậc đại tâm đại đức, kiến văn quảng bác xót
thương, rủ ḷng từ bi phủ chính hoặc dịch lại
toàn bộ cho chánh xác khiến cho hành nhân Tịnh
Độ Việt Nam sẽ được lănh hội đúng đắn giáo huấn
quư báu của Tổ Ấn Quang. C̣n nếu như việc làm
liều lĩnh này có chút phần công đức nào, xin hồi
hướng đến bổn sư Thượng Tọa thượng
Giải hạ Thắng, tọa chủ Bửu Quang Tự,
quận 7, Sài G̣n, lịch đại phụ mẫu, sư trưởng,
tông thân, cùng các đạo hữu Vạn Từ, Minh Lập,
Minh Tiến, Huệ Trang, các liên hữu thuộc Tịnh
Tông Học Hội Đài Loan, cùng hết thảy pháp giới
chúng sanh đều được văng sanh Cực Lạc. C̣n như
nếu việc làm liều lĩnh này tạo thành tội nghiệp,
xin tự ḿnh gánh chịu tội ương, không dám liên
lụy ân sư những liên hữu đă hỗ trợ, khuyến
khích, chịu thương chịu khó cùng ḿnh trong suốt
thời gian qua.
Ngày 13 tháng 07, năm 2005,
Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa kính bạch
I. Thư từ
1. Thư gởi Ḥa Thượng Thể An chùa Đại Hưng Thiện
(trong bản cảo năm Mậu
Tuất, đối với Giáo – Hạnh – Lư, chỉ luận về
Giáo, nay dùng Giáo Lư để phân định Giáo, dùng
Hạnh Quả để ước định căn cơ, tức là: nương vào
Giáo Lư để khởi Hạnh, Hạnh viên măn mới chứng
được Quả)
Giáo, Lư, Hạnh, Quả là cương tông[1]
của Phật pháp. Nhớ Phật, niệm Phật, thật là
đường tắt để đắc đạo. Xưa kia, tu pháp nào cũng
đều đủ cả bốn điều này. Nhưng trong hiện thời,
nếu bỏ Tịnh Độ th́ chứng quả hoàn toàn không có.
Bởi lẽ cách thánh[2]
đă xa, căn tánh con người tệ kém, không cậy vào
Phật lực, quyết khó được giải thoát. Như pháp
môn Tịnh Độ vừa nói đó, nhiếp khắp các căn
thượng, trung, hạ, cao vượt trội Giới, Giáo,
Thiền Tông. Thật là chư Phật tâm bi triệt để,
chỉ cho chúng sanh thể tánh vốn sẵn đủ, gộp tam
thừa ngũ tánh[3]
cùng về tịnh vực[4],
dạy thượng thánh hạ phàm cùng chứng chân thường.
Chúng sanh trong chín pháp giới ĺa khỏi pháp
này, trên th́ chẳng thể viên thành Phật đạo.
Mười phương chư Phật bỏ pháp này, dưới th́ chẳng
thể lợi ích khắp mọi quần sanh. Do vậy, văng
thánh tiền hiền ai nấy đều hướng đến, ngàn kinh
muôn luận chốn chốn chỉ quy. Kể từ sau Hoa
Nghiêm dẫn về [pháp này], các đại Bồ Tát trong
tận mười phương thế giới hải không ai chẳng cầu
sanh. Kể từ lúc diễn thuyết tại Kỳ Viên đến nay,
phàm mọi trước thuật dù Tây Thiên hay Đông Độ,
cuối cùng đều kết quy Liên Bang.
Kể từ khi đại giáo truyền sang Đông, Lô Sơn khởi
đầu dựng liên xă, một tiếng xướng, trăm giọng
ḥa, không ai chẳng thuận theo; nhưng những
người có công lớn lao rơ ràng nhất th́ đời Bắc
Ngụy có ngài Đàm Loan. Đàm Loan là bậc không thể
suy lường. Do có việc xuống Nam Triều gặp Lương
Vơ Đế, sau lại trở về đất Bắc. Vơ Đế hướng về
phương Bắc, cúi lạy nói: “Loan pháp sư là
nhục thân Bồ Tát”. Đời Trần - Tùy th́ có Trí
Giả, đời Đường có Đạo Xước, noi theo lời dạy của
ngài Đàm Loan chuyên tu Tịnh nghiệp, suốt đời
giảng ba kinh Tịnh Độ hai trăm mấy mươi lần. Từ
cửa Đạo Xước, nẩy ra ngài Thiện Đạo, cho đến
Thừa Viễn, Pháp Chiếu, Thiếu Khang, Đại Hạnh[5]
th́ liên phong[6]
đă thổi khắp trung ngoại[7].
Do vậy, tri thức các tông không ai chẳng lấy đạo
này để mật tu hiển hóa[8]
ngơ hầu tự lợi, lợi tha vậy. Ngay như Thiền
Tông, nếu chỉ đề khởi hướng thượng th́ một pháp
chẳng lập, Phật c̣n không kể đến, huống ǵ niệm
Phật cầu sanh Tịnh Độ? Ấy là Chân Đế: Một đă
không, hết thảy đều không. Như câu nói: “Thật
Tế Lư địa chẳng nhiễm mảy trần”, hiển thị
tánh thể. Nếu bàn luận đích xác về mặt tu tŕ
th́ chẳng bỏ một pháp nào, chẳng làm việc bèn
không ăn, huống chi niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ!
Đấy tức là nơi Tục Đế, một đă lập th́ hết thảy
đều lập. Như câu nói: “Trong cửa Phật sự,
chẳng bỏ một pháp”, hiển thị tánh vốn đầy
đủ.
Muốn vứt bỏ Tục Đế để bàn Chân Đế, sẽ không có
Chân Đế. Nếu muốn bỏ Tứ Đại, Ngũ Uẩn để t́m tâm
tánh th́ thân đă không c̣n, tâm gởi vào đâu? Nếu
dùng Tục Đế để sáng tỏ Chân Đế th́ thật có Chân
Đế. Như tại mắt gọi là thấy, nơi tai gọi là
nghe, dùng Tứ Đại, Ngũ Uẩn để hiển lộ tâm tánh
vậy. Đấy chính là ư chỉ lớn lao “ngầm tu Tịnh
Độ” của chư Tổ từ trước, nhưng chưa truyền thuật
rộng răi, rơ ràng; nếu không hiểu sâu xa ư Tổ sẽ
chẳng thể biết được. Thế nhưng ngài Bách Trượng
lập quy chế cầu đảo cho vị tăng mắc bệnh và hóa
tống[9]
vị Tăng đă tịch, đều quy về Tịnh Độ. Lại nói:
“Tu hành th́ niệm Phật là ổn thỏa, thích đáng”.
Cho đến ngài Chân Hiết Liễu bảo: “Một pháp
Tịnh Độ nhắm thẳng vào chuyện tiếp dẫn hàng căn
khí thượng thượng, kiêm độ hàng căn tánh trung
hạ”. Lại nói: “Trong tông Tào Động đều
chăm chú ngầm tu, bởi sanh về Tịnh Độ thấy Phật
giản dị hơn Tông môn nhiều lắm”. Lại nói:
“Dù Phật, dù Tổ, dẫu Giáo, hay Thiền đều tu Tịnh
Độ, cùng về một nguồn”. Có thể thấy sơ lược
như thế đó.
Kịp đến Vĩnh Minh đại sư, mang thân Cổ Phật,
thừa nguyện xuất thế, mới lưu lại ngôn giáo rơ
ràng, viết sách truyền dạy, hoằng dương, lại sợ
người không hiểu rơ đường lối, lợi - hại hỗn
loạn, bèn cực lực nói ra bài kệ Tứ Liệu Giản, có
thể nói đă nêu được cương tông của Đại Tạng, làm
bậc dẫn đường nơi ngơ rẽ, khiến cho kẻ học từ
tám mươi chữ ấy đốn ngộ đạo trọng yếu xuất sanh
tử, chứng Niết Bàn. Tâm đau đáu cứu thế, thiên
cổ chưa hề có. Sau đấy, các tông sư đều lưu lại
ngôn giáo rơ ràng, riêng khen ngợi pháp này, như
ngài Trường Lô Trách, như Thiên Y Hoài, Viên
Chiếu Bổn, Đại Thông Bổn, Trung Phong Bổn, Thiên
Như Tắc, Sở Thạch Kỳ, Không Cốc Long[10]
v.v…Chư đại tổ sư tuy hoằng Thiền Tông, lại
riêng khen Tịnh Độ. Đến Liên Tŕ đại sư đến tham
học với ngài Tiếu Nham đại ngộ rồi, bèn bỏ pháp
kia, giữ lấy pháp này: “Nếu tịnh nghiệp mà
thành th́ Thiền Tông tự đắc. Ví như tắm trong
biển cả, ắt đă dùng nước của cả trăm sông. Thân
đă ở trong điện Hàm Nguyên, c̣n hỏi Trường An
chi nữa!” Sau đấy, Ngẫu Ích, Triệt Lưu, Tỉnh
Am, Mộng Đông v.v… chư đại tổ sư không vị nào
chẳng vậy. Ấy là bởi do thời thế mà đặt ra nghi
tắc, pháp phải hợp với căn cơ. Nếu không như
thế, chúng sanh chẳng thể đắc độ.
Từ đấy về sau, Phật pháp suy dần, lại thêm giặc
tóc dài[11],
giặc Hồi, pháp luân gần như ngừng xoay. Dẫu có
trí thức, nhưng ai lo nghiệp nấy, không rảnh sức
lo đến, bỏ qua đạo này không ai hỏi đến. Nếu ai
bàn đến chuyện này, người nghe tợ hồ bị vấy bẩn.
May có một hai vị tại gia, xuất gia có đại tâm,
in khắc lưu truyền, khiến cho giáo huấn của chư
Tổ không bị diệt mất, khiến đời sau được nghe
một phần, thật không ǵ may mắn lớn lao hơn!
Đệ[12]
là kẻ Xiển-đề[13]
xuất gia, tự thẹn căn tánh hèn kém, tội nghiệp
rộng sâu, nên với hai nẻo Tông và Giáo, trọn
chẳng dám tu bừa, lạm dự; nhưng chỉ khá tin
tưởng nơi một pháp cậy vào Phật từ lực, đới
nghiệp văng sanh. Đă mười năm qua, sống uổng,
sống phí, chẳng được lợi ích mảy may. Nhưng từ
Tây qua Đông, từ Bắc xuống Nam, qua lại hơn vạn
dặm, gặp gỡ nhiều người. Có kẻ b́nh thời tự cậy
thông Tông, thông Giáo, coi Tịnh Độ như đồ nhơ,
sợ bẩn lây ḿnh. Lâm chung đa phần tay chân
cuống quít, kêu cha gọi mẹ. Có kẻ chất phác tŕ
giới niệm Phật, dẫu tín - nguyện chưa tột bậc,
tướng lành chưa hiện, nhưng đều an nhiên mạng
chung. Là v́ lẽ ǵ vậy? Là do tâm thủy lặng
trong v́ phân biệt mà sôi động, sóng thức dâng
trào, nhờ Phật hiệu mà lặng dừng. Bởi thế,
thượng trí không bằng hạ ngu, khéo quá hóa vụng.
Lại xin Ḥa Thượng phát tâm Bồ Đề hoằng dương
pháp này; ví phỏng kinh luận Tịnh Độ đều thông
triệt hết, may mắn nào hơn? Nếu chưa thể nghiên
cứu dùi mài cùng tận, hoặc sợ trái với tông
ḿnh, chẳng dám xứng tánh phát huy, hăy tạm
ngừng tay công phu nơi hai môn Tông và Giáo tạm
thời. Phàm có ai xiển dương Tịnh Độ, hăy b́nh
tâm ḥa khí đọc thử, ngơ hầu cái tâm “xiển dương
Thiền, đè nén Tịnh Độ” chẳng bị tơ hào vướng
mắc, ắt thấu suốt lư do Phật, Tổ riêng khen ngợi
pháp này, [thấu suốt] sự lợi - hại khi tứ chúng
tuân thủ hay chống trái pháp này, chẳng bị môn
đ́nh gây trở ngại, ḥng có thể dám đối trước
những người tu Thiền, Giáo, Luật xứng tánh phát
huy không c̣n sợ hăi.
Nhưng sách Tịnh Độ rất nhiều, quan trọng nhất
chỉ có sách Tịnh Độ Thập Yếu. Trong bộ Thập Yếu,
đoạn nghi sanh tín th́ các sách Hoặc Vấn, Trực
Chỉ, Hợp Luận là những công thần đột phá, tinh
nhuệ nhất. Ngoài ra, Tịnh Độ Thánh Hiền Lục chép
đủ sự tích văng sanh của các Bồ Tát, tổ sư, cư
sĩ, phụ nữ và ác nhân, súc sanh, đọc rồi sẽ biết
tứ chúng thuộc Thiền, Giáo, Luật các đời cầu
sanh Tịnh Độ như mọi ngôi sao chầu về Bắc Đẩu,
như các ḍng nước chảy về Đông. Sách Long Thư
Tịnh Độ Văn ngôn từ nông cạn, nhưng nghĩa lư
hoàn bị, là sách trọng yếu bậc nhất để tiếp dẫn
kẻ sơ cơ. Nếu muốn lợi lạc khắp chúng sanh, vạn
phần chẳng được coi thường quyển sách này.
Đệ trước kia gặp người giỏi Tử B́nh[14]
phê rằng: “Thọ chẳng quá ba mươi tám tuổi”, nay
sắp măn số, sợ vô thường xộc tới, nên chuyên tŕ
Phật hiệu, đợi trước lúc lâm chung. Nếu vô
thường quả thật xảy đến, không dịp gặp gỡ lần
nữa, muốn rửa sạch cái tội hủy báng Phật pháp
khi c̣n tại gia, nên chẳng nề kỵ húy, nhặt nhạnh
sơ sài món rau dại, dâng dưới ṭa bậc đại phú
trưởng giả no đẫy tiệc vua[15],
xin thương xót nhận lấy, phước cho xứ Tần[16]
của tôi, nêu chánh lệnh của ngài Vĩnh Minh, tuân
di quy của ngài Liên Tŕ, khiến cho ḿnh lẫn
người cùng thoát sanh tử, u - hiển cùng sanh Tây
Phương, Tịnh Độ hưng, nhưng Tông phong chẳng
đọa. Chúng sanh có phước, quốc vận thường tốt
đẹp. Đúng là “dời hoa quyến bướm tới, mua đá
được mây giăng”. Viết thư này ḷng thành như
đại hạn mong mưa, mong mỏi niềm vui cùng về Liên
Bang, mong rủ ḷng khoan dung th́ may mắn cho
pháp môn, may mắn cho chúng sanh lắm.
2. Thư bàn luận cùng bạn hữu về cương yếu của
việc giảo chánh kinh điển
Kinh Phật nghĩa lư vô cùng, tùy theo kiến
giải của mỗi người mà tự trước thuật, chứ chỉ là
một kinh mà thôi. Phán định là Biệt, Viên,
Chung, Đốn khác nhau là do tâm duyên quán nên
giải thích sai khác. Huống chi sau này bậc đại
hạnh đạo Thiền, ai nấy đều thích nghe thuyết
Trực Chỉ, cho là thân thiết, thống khoái, dễ
được lợi ích. Do vậy, đa số dùng ư Tổ để giải
thích ư kinh, ép lời Phật theo lời ḿnh, phế
sạch sự tướng, chuyên bàn bổn phận. Hoặc dùng
lời cơ phong[17]
để phân tích, hoặc giải thích là biểu thị pháp,
chỉ có thể chẳng trái nghịch Tâm tông[18]
th́ đều [xem là] đáng hỗ trợ lời Phật nói. Dẫu
chẳng thể độ khắp ba căn, xứng Phật bổn hoài,
cũng có thể lợi ích một loại căn cơ khiến họ
theo đường trở về nhà, lại hiển lộ ư nghĩa sâu
thẳm, cao xa của kinh. Phật lư viên thông, pháp
pháp quy chân, mỗi mỗi hợp đạo. Bởi cái tâm ấy
như thái hư không, không ngằn mé, chẳng v́ con
người sống mỗi nơi khác nhau mà chia thành Nam,
Bắc, Đông, Tây. Như châu Ma Ni, chẳng phải màu
xanh, vàng, đỏ, trắng… khi gặp xanh bèn hiện sắc
xanh, gặp vàng hiện sắc vàng, nhưng xanh hay
vàng không phải là màu sắc vốn có của nó. Màu
sắc vốn có của nó chẳng ĺa xanh hay vàng; nếu
muốn ĺa xanh hay vàng để t́m màu sắc vốn có của
châu, nếu không phải là bậc đại sĩ “Ngũ Uẩn đều
không” sẽ không thể làm được.
Như Hoa Nghiêm Luận của Lư Trưởng Giả, như Pháp
Hoa Kích Tiết của ngài Hám Sơn, như Tam Tông
Thông của ông Tăng Phụng Nghi[19]
và Thiền Tông lấy niệm Phật làm câu thoại đầu để
khán, và thuyết coi y báo, chánh báo của Tịnh Độ
như bổn phận v.v… chẳng được nhất loạt đánh giá
những sách ấy theo cách thức thông thường bên
Giáo, cho những sách đó là lầm lạc rồi bèn sửa
đổi đôi chút. Bởi lẽ những thuyết ấy thuộc riêng
về một tông, gộp hết thảy pháp để chỉ quy hướng
thượng. Nếu sửa đổi th́ mạch văn của phần trước
phần sau bản chú giải sẽ bị đứt đoạn, và ư nghĩa
giáo lư phần trước, phần sau chẳng c̣n phù hợp
nữa. Vừa bị sửa đổi đôi chút th́ cả hai đàng đều
mất. Khoét thịt thành vết thương, chỉ tổn hại vô
ích. Cứ để cho bản lai diện mục của nó được lưu
thông hậu thế. Ví như lan mùa Xuân, cúc mùa Thu,
mỗi loại riêng phô sắc, tận trung hành hiếu,
cùng chấn hưng cương thường. Sư ở tại Hải Sơn,
bảo lời chú giải kinh Pháp Hoa của ngài Hám Sơn
có những chỗ chẳng hợp với ư chỉ kinh; đó là v́
Hám Sơn đa phần ước theo bổn phận để bàn lẽ Trực
Chỉ.
Hơn nữa, chuyện giảo chánh kinh thật không
dễ dàng. Chỉ sợ Sư không rảnh rỗi để làm, ủy cho
người khác làm. [Người làm chuyện này] cần phải
có kiến thức lỗi lạc, mười phần tinh tế, lại
phải đôi ba lượt tra xét kỹ càng, thêm siêng tra
cứu, mới ḥng sửa đúng những sai ngoa, khiến cho
những lỗi tệ được sạch hết, thiên chân hiển lộ
triệt để. Nếu không, thà cứ theo đúng dạng mà vẽ
hồ lô, mới khỏi đến nỗi làm mất đi sự chân xác
vốn có vậy.
3. Thư gởi Dung Minh đại sư
Cổ nhân nói: “Thân người khó được, khó
sanh vào chính giữa đất nước, Phật pháp khó
nghe, sanh tử khó giải quyết xong”. Chúng ta
may được thân người, sanh chính giữa đất nước,
được nghe Phật pháp. Điều bất hạnh là tự thẹn
nghiệp chướng sâu nặng, không sức đoạn Hoặc để
mau thoát tam giới, liễu sanh thoát tử. Nhưng
lại may mắn được nghe đức Như Lai ta tâm bi
triệt để nói ra pháp môn Tịnh Độ đại quyền
phương tiện khéo lạ khiến cho hàng phàm phu sát
đất được đới nghiệp văng sanh. Thật không c̣n
may mắn nào lớn hơn được nữa! Nếu không phải là
từ vô lượng kiếp đến nay đă trồng thiện căn sâu
dầy, há nghe được pháp chẳng thể nghĩ bàn này ư?
Chẳng gấp sanh ḷng tin chân thật, phát nguyện
cầu sanh ư?
Nay thấy tứ chúng xuất gia, tại gia hảo tâm, đa
phần chuộng cao ưa xa, chẳng chịu nghiêm túc
chuyên tu Tịnh nghiệp. Toàn là do thiện căn đời
trước cạn mỏng, đời này chưa gặp người thông
suốt, tuy ông hơi có niềm tin đối với Tịnh Độ,
nhưng chẳng hiểu rơ lư Tịnh Độ đến nơi đến chốn.
Lại ở nơi vắng vẻ Phật pháp không lưu truyền
đến, tôi thật ngại ông thường ngày cùng người
đời thù tạc, lâu ngày chầy tháng, cũng bị đồng
hóa, “gần mực th́ đen, gần lửa th́ cháy”,
thế khó tránh khỏi! Phải luôn luôn nỗ lực, nếu
có thể hăy niệm niệm nơi đạo, dù bận hay rảnh,
chẳng ĺa danh hiệu Di Đà. Thuận cảnh, nghịch
cảnh, chẳng quên văng sanh Tây Phương th́ có thể
tùy duyên thường trụ nơi quê cha đất mẹ. Nếu
không thể như thế, nên đến Tịnh nghiệp đạo tràng
nơi khác và thân cận Tịnh nghiệp tri thức, mới
chẳng phụ bạc mọi điều may mắn lớn lao vừa nói ở
trên cũng như niềm may mắn không ǵ lớn lao hơn
là được nghe pháp môn Tịnh Độ.
Đế pháp sư (tức ngài Đế Nhàn) chuyên tu Tịnh
nghiệp, tôi cho rằng ông ta ắt được lợi ích lớn
lao. Bởi lẽ những tâm nắm giữ đạo tràng đă đều
chết sạch không sót, cái tâm niệm Phật lại càng
khẩn thiết đến cùng cực. Chỉ e ông ta đă đạt
tam-muội sâu xa, tôi c̣n chưa thể nhất tâm, ngày
sau mặt mũi nào gặp gỡ ông ta. V́ thế, với việc
nhân chẳng nhường, tôi lại toan bế quan. Nói
chung vẫn ở Phổ Đà, không biết sẽ ở chắc chắn
nơi đâu. Sợ ông bỏ lỡ pháp môn Tịnh Độ th́ đáng
tiếc một phen hộ quan[20]
ba năm nhọc nhằn, nên khôn ngăn đôi co như thế.
Mong thấu hiểu sâu xa nỗi ḷng thô lậu canh cánh
th́ may mắn lắm thay.
4. Thư gởi sư Ngộ Khai
Trộm nghe pháp môn Tịnh Độ là pháp phơi
bày thông suốt rốt ráo bản hoài của chư Phật,
vượt trỗi hết thảy Thiền, Giáo, Luật, thống
nhiếp hết thảy Thiền, Giáo, Luật. Nói đại lược
th́ một chữ, một câu, một sách có thể bao quát
không c̣n sót. Nói rộng th́ dù những lời huyền
diệu thuộc Tam Tạng mười hai bộ kinh, diệu nghĩa
của các tổ sư năm tông[21]
cũng không thể diễn tả trọn. Dẫu cho chúng sanh
trọn khắp đại địa cùng thành Chánh Giác, hiện
lưỡi rộng dài, dùng sức thần thông, sức trí huệ,
vi trần nói, cơi nước nói, sôi nổi nói, nói
không gián đoạn, há có thể nói hết được ư? Ấy là
v́ Tịnh Độ vốn chẳng thể nghĩ bàn. Thử xem bộ
kinh lớn Hoa Nghiêm, vua toàn Tam Tạng, cuối
cùng quy trọng nguyện vương. Áo điển Pháp Hoa
mầu nhiệm đứng đầu các kinh, nghe đến liền được
văng sanh, địa vị bằng bậc Đẳng Giác.
C̣n như ngàn kinh vạn luận, đâu đâu cũng chỉ quy
là có lư do vậy. Văn Thù phát nguyện, Phổ Hiền
khuyến tấn; Như Lai thọ kư trong kinh Đại Tập
rằng: “Trong đời Mạt Pháp, nếu không nhờ pháp
này không thể đắc độ”. Trong luận Tỳ Bà Sa,
ngài Long Thọ dạy giản dị là “đạo dễ hành,
mau thoát sanh tử”, nên văng thánh tiền hiền
ai nấy đều hướng về, há vô ích sao? Đúng là giáo
pháp cả một đời [đức Phật] đều đặt để nơi pháp
môn Niệm Phật. Không chỉ như thế, phàm hết thảy
cảnh giới được tiếp xúc bởi sáu căn như núi,
sông, đại địa, sáng, tối, sắc, không, thấy,
nghe, hay, biết, sắc, thanh, hương v.v… có pháp
nào không phải là văn tự xiển dương Tịnh Độ?
Lạnh - nóng đắp đổi, già - bệnh đưa đẩy, lụt,
hạn, binh đao, dịch bệnh, bè lũ ma, tà kiến, có
thứ ǵ chẳng phải là lời cảnh sách lay tỉnh con
người sớm cầu văng sanh? Nói rộng ra há có thể
hết được hay chăng?
Nói một chữ thống nhiếp trọn hết th́ chính là
chữ Tịnh. Tịnh đến cùng cực ắt sáng suốt, sao
không đạt đến Diệu Giác. Một chữ này há dễ đảm
đương? Nghiên cứu bài tụng về Lục Tức Phật[22]
ắt sẽ biết!
Một câu là Tín - Nguyện - Hạnh. Không có Tín sẽ
chẳng thể khởi Nguyện, không có Nguyện sẽ chẳng
thể dẫn dắt Hạnh. Không có diệu hạnh tŕ danh sẽ
không thể thỏa măn sở nguyện ḥng chứng được Tín
ấy. Hết thảy kinh luận Tịnh Độ đều phát minh ư
chỉ này.
Một kệ là kệ tán Phật[23],
nêu chánh báo để nhiếp y báo; nêu lên hóa chủ để
bao gồm đồ chúng. Tuy chỉ có tám câu nhưng đă
nêu trọn đại cương của ba kinh Tịnh Độ.
Một sách là Tịnh Độ Thập Yếu, mỗi chữ đều là lời
hướng dẫn trong đời Mạt Pháp, mỗi lời đều là
gương báu của Liên Tông. Buồn khóc ứa lệ, mổ tim
vẩy máu, xứng tánh phát huy, tùy căn cơ mà chỉ
bày. Dẫu có ví là vớt người chết đuối, cứu kẻ
đang bị lửa thiêu cũng không thể sánh ví được
nỗi ḷng thống thiết của bộ sách ấy. Bỏ cuốn
sách này đi th́ chánh tín không thể do đâu mà
sanh, tà kiến không do đâu mà diệt! Trong cuốn
sách ấy, quan trọng nhất là sách Yếu Giải. Sách
này chính là hướng dẫn tốt lành trên đường hiểm
để người sơ tâm nhập môn đoạn nghi sanh tín, chỉ
bày nẻo ắt phải theo để về được bảo sở[24].
Sách Tịnh Độ Hoặc Vấn của ngài Thiên Như, sách
Trực Chỉ của ngài Diệu Hiệp, thật là những bậc
công thần đột phá kiên nhuệ nhất.
Hăy nên biết pháp môn Tịnh Độ có đủ bốn pháp
giới, tất cả sự tướng đều là pháp giới sự sự vô
ngại, đọc rồi tu, chẳng thể chấp Lư phế Sự. Nếu
chấp th́ cả Lư lẫn Sự cùng mất. Giống như người
biết Ư căn tối thắng nhưng phế bỏ năm căn th́ Ư
căn cũng không có chỗ nào để lập được. Chỉ có
dùng Sự để rơ Lư, dùng Lư để dung Sự mới ḥng
không lầm lỗi. Như nói đến yếu chỉ Tịnh Độ th́
toàn Sự chính là Lư, Lư - Sự viên dung, liền khế
hợp bản thể. Sớm biết Sư đă no đẫy cỗ vua, vẫn
miệt mài hiến món rau cần, chẳng qua là để biểu
thị tấc dạ đứa con cùng quẫn[25]
mong trở về nhà, đồng thời muốn tẩy sạch tội
khiên báng pháp trước kia[26].
5. Thư trả lời sư Hải Thự
Bạn bè gởi cho tôi bài văn gợi ư đăng trên tờ
Thời Sự Tân Báo, Quang tôi mong tọa hạ phát huy
đạo Phật, Tổ nhiệm mầu để kết pháp duyên. Tọa hạ
nêu lên bảy đề tài:
1) Chấp tâm ở bên trong:
2) Trực chỉ kiến tánh là tâm, không phải
là nhăn.
3) Sắc Ấm vốn là Như Lai Tạng Diệu Chân
Như Tánh.
4) Nhăn Nhập vốn là Như Lai Tạng Diệu Chân
Như Tánh.
5) Mười hai xứ vốn là Như Lai Tạng Diệu
Chân Như Tánh.
6) Địa đại châu biến (trọn khắp)
7) Nhất tâm nhị môn.
sai Quang tôi soạn luận, bảo là để làm khuôn
mẫu. Quang tôi tuổi nhỏ kém học vấn, lớn lên vô
tri, lại thêm túc nghiệp sâu nặng. Vừa sanh ra
đă mắc bệnh mắt, gần hơn mười năm qua, hết thảy
kinh luận đều chẳng thể đọc, chỉ chấp tŕ Phật
hiệu, sám trừ túc nghiệp; mong cậy vào Phật từ
lực, mau sanh về Tây Phương mà thôi. Làm sao có
thể soạn luận, huống ǵ làm khuôn mẫu cho được?
Khiêm cung tự chăn giữ ḿnh quả thật c̣n tốt
hơn, chứ ư kiến sai lầm, sao có thể tŕnh bày
tường tận cho được? Phàm muốn phát huy những chỗ
sâu thẳm của kinh Lăng Nghiêm, của Luận Khởi
Tín, sao không lấy ư Thích Ca Như Lai và Mă Minh
Bồ Tát, cùng những chú giải kinh này, luận này
của lịch đại cổ đức? Trái lại, c̣n toan lấy ư
Quang tôi làm khuôn phép. Khác nào nhà Nho muốn
phát huy học vấn truyền thừa[27]
của nhị đế tam vương, Khổng, Mạnh, nhưng không
lấy Tứ Thư Ngũ Kinh, Thập Tam Kinh làm khuôn
mẫu, lại lấy câu ca tiếng hát của tiều phu, mục
đồng làm khuôn mẫu; người dệt vải muốn dệt gấm
cổ hồi văn chẳng lấy cách thức của người dệt gấm
làm mẫu mực, lại lấy cách thức của người bện
chiếu cói làm khuôn mẫu. Sao lại điên đảo đến
nỗi như thế!
Tuy vậy, con người giao tiếp với nhau, chỉ quư ở
chỗ ai nấy tận hết sức mà thôi. Xưa có đứa bé
trai ôm cát cúng Phật, Phật liền tán thán thâu
nhận, bởi lẽ cát là thứ mà sức đứa trẻ có thể lo
liệu được. Ḷng thành cúng cát và sự cúng dường
trân tu diệu vị bằng nhau chẳng khác. Nay Quang
tôi đem cát là thứ ḿnh dễ sắm sửa được dâng lên
tọa hạ. Dẫu biết là vô dụng, giăi bày ḷng
thành, cũng có thể dùng để trải đất, mong diệt
được tội cấu của ḿnh, tăng trưởng ruộng phước
cho tôi. Do vậy, bèn đem bảy đề tài gộp cả lại,
để bàn luận hàm hồ cho xong trách nhiệm, luận
rằng:
Chấp tâm ở bên trong, bên ngoài, hay trung
gian v.v… chính là t́nh kiến của phàm phu. Chấp
tâm nhất định chẳng ở bên trong, bên ngoài, hay
trung gian cũng là t́nh kiến của phàm phu. “Trực
Chỉ Kiến Tánh là Tâm chứ không phải là Nhăn”
không đúng, dùng ngọn để tỏ bày cái gốc, chỉ ra
sóng chính là nước, đó là chân trí. V́ sao? Do
Ngũ Ấm, Lục Nhập, Thập Nhị Xứ, Thập Bát Giới,
Thất Đại[28],
mỗi mỗi đều là Như Lai Tạng Diệu Chân Như Tánh
trọn khắp pháp giới. Nếu có chỗ nào tồn tại và
chỗ nào đó không tồn tại th́ chẳng phải là Như
Lai Tạng Diệu Chân Như Tánh v́ không trọn khắp.
Bởi lẽ Như Lai Tạng Diệu Chân Như Tánh chứa
đựng, nuôi dưỡng chúng sanh, bao quát có, không,
thế gian, xuất thế gian, không một pháp nào có
thể vượt ra ngoài, không ở trong đó được! Dùng
phàm t́nh để nh́n th́ chẳng những Ngũ Ấm, Lục
Nhập, Thập Nhị Xứ, Thập Bát Giới, Thất Đại đều
thuộc về sanh diệt, đều chẳng phải là Chân Như,
mà ngay cả đoạn Hoặc chứng Chân, thành Đẳng
Chánh Giác cũng chẳng vượt ra ngoài sanh diệt
được!
Nh́n bằng Thánh Trí th́ chẳng những đoạn Hoặc
chứng Chân, thành Đẳng Chánh Giác cố nhiên thuộc
về Chân Như, mà ngay cả Ngũ Ấm, Lục Nhập, Thập
Nhị Xứ, Thập Bát Giới, Thất Đại toàn thể là Chân
Như. Vốn từ trước đến nay, chưa hề có được mảy
may tướng sanh diệt nào. Luận cao hơn nữa th́
Chân cũng chẳng lập v́ Như vốn vô danh. Nhất tâm
c̣n chẳng có, huống ǵ có hai môn để luận nữa ư!
Đấy là Chân Như rốt ráo, Như Lai Tạng Diệu Tánh
Chân Như rốt ráo. Tâm rốt ráo chính là cái được
gọi là “Ngũ Uẩn đều không, độ các khổ ách;
viên măn Bồ Đề trở về cái không thể đạt được”
vậy! Một phen bàn luận như trên chính là hai
mươi năm trước Quang tôi ngẫu nhiên mộng tưởng
viết ra, nay vâng theo nhă ư, hiến lên tọa hạ.
C̣n như nói phải luận từng phần, tỏ tường văn
nghĩa, ngữ mạch, chỉ thú th́ không phải là
chuyện Quang tôi [vốn là kẻ] tâm mục suy đồi,
học vấn hoang đường có thể lo liệu được nổi.
Thỉnh cầu chư cổ đức và các vị giảng sư hiện
thời th́ họ sẽ có thể tŕnh bày thông suốt bản
hoài của tọa hạ, hợp với chí vốn có của tọa hạ
vậy.
6. Thư gởi sư Căn Kỳ chùa Tứ Minh Quán Tông
Nhận được thư và sách Hiển Cảm Lợi Minh
Lục[29],
khôn ngăn hoan hỷ, biết Đế Công giảng kinh lần
này, so với lần trước càng cảm thấy rạng rỡ hơn
nữa. Nhân đó bèn đọc một lượt xong, liền đưa cho
người khác. Có nhiều chỗ thấy nghe, thật quá
quái lạ; riêng cho rằng: “Đế Công đă chứng thánh
quả, Quan Đế c̣n chưa minh tâm”. Quang tôi nghe
vậy, bảo: Chuyện này phải nh́n từ chỗ dụng tâm
của họ Bạch và họ Quan mà xét th́ cả Sự lẫn Lư
đều thỏa đáng, trọn không mắc lỗi lạm thánh
khuất hiền.
Bạch Công hăy để đó không bàn tới. C̣n Quan Đế
lúc c̣n sống là bậc đại trượng phu phú quư không
dâm, khi nghèo hèn không thay đổi, oai vũ không
khuất phục được. Mất đi, quy y với ngài Trí Giả,
nguyện v́ Già Lam hộ tŕ Phật pháp. Từ ngài Trí
Giả đến nay đă hơn một ngàn ba trăm năm, Quan Đế
làm chủ nhân của mọi tùng lâm trong thiên hạ. Có
nhiều bậc Pháp Thân đại sĩ nương nguyện hoằng
pháp, Quan Đế đều thân cận hộ tŕ từng vị; có lẽ
đến nay vẫn c̣n chưa hết, vậy mà vẫn phải cầu Đế
Công khai thị dứt khoát. Chẳng lẽ người thông
minh như Đế Quân[30]
mà lại ngu độn chẳng được lợi ích nơi pháp như
thế ư?
Rất có thể là nay nhằm thời Mạt Pháp, Tăng đa
phần thuộc loại tệ hại, chỉ biết chuyện lănh thọ
đại giới bèn gọi là Tăng. Chứ c̣n danh nghĩa, sự
nghiệp của Tăng đa số trọn chẳng biết ǵ. Người
tại gia có tín tâm, nếu có thể nghiên cứu Phật
pháp, cuối cùng đều coi rẻ tăng lữ. C̣n những kẻ
không tin, thấy các ông Tăng du hành trong nhân
gian, tạo đủ mọi nghiệp, bèn nói: “Tăng đều như
thế, Phật pháp vô ích cho nước, có hại cho đời”.
Do có những thứ tri kiến ngă mạn, tà kiến, hèn
kém như thế, Quan Đế tâm hộ pháp thiết tha, thấy
kinh sư (kinh đô) là chỗ đất trọng yếu trong
thiên hạ, cao nhân danh sĩ đều tụ về đó, bèn
hiện thân thuyết pháp, thỉnh Đế Công khai thị
ḥng trấn áp phàm t́nh ngă mạn, tà kiến của hàng
tại gia, chấn động ư niệm xấu xa không hổ, không
thẹn của những ông Tăng hèn kém.
Cổ nhân nói Như Lai chẳng bỏ phước nhỏ nhặt như
mũi kim đâm, nói: “Như ông già tám mươi múa may
để dạy con cháu’’. Quang tôi đối với Quan Đế
cũng nghĩ thế. Tuy là suy bậy đoán ṃ, nếu chất
vấn Quan Đế và Đế Công, các ngài đều gật đầu mỉm
cười, chẳng hé môi: “Không, không phải như thế!”
Luận như trên là ước theo Tích mà luận. C̣n bàn
về Bổn của Quan Đế và Đế Công th́ chỉ có Quan Đế
và Đế Công tự biết, Quang tôi làm sao suy lường
b́nh luận cho được!
Căn Mẫn tuy đạo tâm khẩn thiết, e là chưa thấu
hiểu quy củ, không hiểu cách thức dụng công, xin
hăy dạy hắn tu hành tùy sức, chớ nên gắng gượng
quá đáng đến nỗi thân tâm đều bệnh, sẽ khó tự
đạt được lợi ích nơi pháp. Nghe ông X… chẳng
khéo dụng tâm, đến nỗi thổ huyết không ngừng. Do
vậy, trở thành bỏ phế, lơ là. Với những người sơ
học đều nên bảo cho biết ư này.
7. Thư gởi ṭa báo Phật Học
(lược trích)
Đại Giác Thế Tôn trong vô lượng kiếp lột
da làm giấy, chẻ xương làm bút, trích huyết làm
mực, lấy tủy làm nước để lưu thông thường trụ
Pháp Bảo ḥng phổ độ hết thảy chúng sanh. Một
cuốn Phật Học Tùng Báo khiến cho Phật pháp được
lưu thông trong nước lẫn ngoài nước, mọi hàm
thức cùng chứng Nhất Thừa. Nhưng thế tục đọc
sách trọn chẳng kính dè. Sáng dậy chẳng súc
miệng, vào nhà xí chẳng rửa ráy, hoặc bỏ sách
nơi chỗ ngồi, giường chơng, hoặc dùng gối đầu,
đêm nằm xem, bỏ chung với đồ lót. Sách để đọc
nơi bàn th́ bỏ lẫn lộn cùng tạp vật. Coi lời lẽ
của thánh hiền giống như giấy tờ cũ nát, trọn
chẳng dè dặt, chẳng mảy may kính nể. Thậm chí
phụ nữ nhà thư hương, sách để đọc trong khuê
pḥng toàn là kinh truyện; tôi tớ những nhà giàu
có lau chùi đồ đạc toàn dùng [giấy in] văn
chương. Đủ mọi nỗi khinh nhờn khó thể kể hết.
Thói tệ tích tập lâu ngày, quen đi chẳng xét.
Nếu chẳng riêng nêu họa phước, quyết định khó
tránh khinh nhờn, chưa từng được ích, trước hết
đă phải chuốc lấy đại tội. Thương kẻ vô tri nên
phải chỉ bày ngăn ngừa trước.
Theo ngu kiến, những h́nh ảnh ngoài b́a có thể
không cần phải in, ghi tên bên cạnh như các sách
in theo cách thức thông thường. Chính giữa trích
mấy câu kệ, hoặc ghi mấy câu văn xuôi, ít th́
mấy câu, nhiều th́ hơn mười câu, nên dùng chữ
đơn giản, trong sáng, [kích thước] chữ phải thô
to, răn nhắc cho người xem phải để tâm trân
trọng, đừng làm bẩn. Đạo mầu độ sanh của Đại
Giác pháp vương kính th́ được phước, khinh ắt
chuốc họa!
Mặt b́a trong nên dùng chữ nhỏ, tŕnh bày rơ
cuốn sách này tuy gọi là báo, nhưng thật ra
giống như kinh Phật. Vả nữa, phần đầu có in
tượng Phật, Bồ Tát, những bài văn bên trong hoặc
là trích dẫn kinh văn, hoặc nêu bày ư nghĩa
kinh, chẳng giống như ngôn ngữ cơi tục, đáng nên
kính trọng tột bậc. Lại dẫn những đoạn kinh
luận, truyện kư nêu chứng cớ tội phước của việc
kính trọng hay khinh nhờn kinh điển, ngơ hầu kẻ
biết tốt - xấu chẳng đến nỗi giữ nguyên thái độ
cũ, lầm tạo ác nghiệp. Cứ hai số hoặc mỗi số lại
thay đổi, hoặc xen kẽ thay đổi một lần, hoặc
vĩnh viễn không đổi chỉ dùng một loại văn tự đều
được. Nếu có thay đổi th́ chỉ được đổi văn,
không được đổi nghĩa, ngơ hầu do thầy nghiêm mà
đạo được tôn trọng vậy. B́a sau cuốn báo đừng in
chữ để khỏi bị bôi dơ ḥng tỏ ḷng kính trọng.
Vị tổ thứ hai mươi mốt ở Tây Thiên (Ấn Độ) là
tôn giả Bà Tu Bàn Đầu (Vasubandhu) tự nói trong
kiếp xưa khi sắp chứng Nhị Quả, nhân v́ lầm lỗi
dựa ḿnh vào h́nh Phật vẽ trên vách nên bị thoái
thất hết sạch. Tôi nói: “Bậc Nhị Quả c̣n mất
quả vị. Nếu là phàm phu ắt vĩnh viễn mất thân
người, thường ở trong ác đạo chẳng c̣n ngờ chi”.
Ví như kẻ cự phú phạm phải đại tội, dốc sạch
của cải trong nhà để chuộc tội chết, c̣n kẻ
nghèo ắt lập tức bị chém đầu. Chuyện này được
chép nơi chương ghi về vị tổ thứ hai mươi là Xà
Dạ Đa tôn giả trong sách Truyền Đăng Lục. V́ thế
biết tội khinh mạn chẳng phải nhỏ.
Càn là đại phụ, Khôn là đại mẫu[31],
trong bốn biển cùng là đồng bào, triều Thanh tuy
thuộc giống Măn Châu, rốt cuộc là cùng một cha
mẹ. Huống nữa thánh đức của các đời đáng sánh
cùng trời cao đất dầy; dẫu Nghiêu, Thuấn, Vũ,
Thang cũng không hơn được thế! Gần đây, chiến
tranh, đói kém liên miên, bị lân quốc hùng mạnh
áp bức, hiến pháp, chánh trị dẫu đổi mới, vẫn có
chút sai ngoa; nhưng xét đến ḷng nhân của vua
th́ vẫn y như cũ. Chỉ v́ cảnh duyên không tốt
đẹp hơn, đến nỗi bị lật đổ. Nay đă thành chế độ
cộng ḥa, đúng là phải nên coi như cùng một thể.
Luận về chánh thể th́ nhiệt liệt khen ngợi chế
độ cộng ḥa, luận về triều Thanh trước kia th́
tán dương ḷng nhân của hoàng đế. Ví như vị tân
quan sau khi nhậm chức, chẳng ngại dựng bia lập
đền để phô bày cái đức của vị quan cũ. Sau khi
chế độ cộng ḥa được thành lập, hơn hai trăm năm
vỗ về tài bồi [của triều Thanh] há có thể quên
ngay? Tôi thấy trong số báo thứ ba, có những lời
lẽ [lên án] như độc đoán, chuyên chế, nô lệ v.v…
ḷng rất ấm ức. Phàm đất nước ta từ khi mở cơi
đến nay, bậc đại thánh nhân kế thừa ngôi trời
cai quản thiên hạ cũng chưa chắc đă không lo
nghĩ đến điều đó; có thể là v́ các ngài sợ dân
hung bạo, chẳng tuân hành hiệu lệnh, thành ra
đến nỗi loạn vong. Đấy là bản tâm của việc thánh
nhân truyền ngôi lại cho con cháu; há phải đâu
Phục Hy, Thần Nông, Thang, Vũ muốn hưởng lợi ích
riêng! Nếu không vậy th́ chẳng đủ để chấn chỉnh
cương thường, dứt bặt mầm mống tranh chấp, cũng
là do thời thế khiến thành như vậy; chứ không
phải là các bậc thánh như Phục Hy, Thần Nông
không có đức hổ thẹn! Ngày nay mọi người là của
chung, cộng ḥa rất mực b́nh trị cũng là do thời
thế khiến thành ra như vậy, phải đâu người đời
nay tốt đẹp hơn các vị thánh Phục Hy, Thần Nông
v.v…
Hăy nên đề cao cộng ḥa, bất tất phải chỉ trích
triều Thanh đời trước th́ mới phù hợp với bản
chất của cộng ḥa, tránh khỏi cái tội khinh miệt
cổ thánh. Nước Tỳ Da Ly thời Phật áp dụng cách
này. Trong các kinh, Như Lai cũng chưa hề chê
trách Luân Vương đời đời truyền nhau là sai.
Đúng như Khổng tử đă nói: “Quân tử truyền cho
thiên hạ là v́ không có con nối dơi, không ai là
không vậy”. Ư nghĩa giống như ở đây. Nghĩa
giống như ở đây là v́ thích nghi với thời thế.
Mùa Hạ mặc áo mỏng, mùa Đông mặc áo cừu, khát
uống, đói ăn, chẳng thể bảo là sai, cũng chẳng
thể chấp chặt một pháp. Chỉ cầu sao cho thích
nghi th́ sẽ có đại lợi, không chút điều tệ nhỏ.
Nhưng nhân tâm bất nhất, vẫn c̣n có những bài
đăng chứa đựng ư tứ ấy, mong hăy sửa chữa cho
được hoàn thiện, ngơ hầu đời sau đọc đến bội
phục tấm ḷng đại công vô tư của các vị.
Phật pháp giữ chí nguyện b́nh đẳng, tất cả ngôn
luận chỉ nhằm đề cao Lư, trọn chẳng thiên vị. Do
vậy, xưa nay những bậc đại thánh đại hiền không
ai chẳng dốc ḷng đề cao vậy. Lư thế gian lẫn
xuất thế gian chẳng vượt ngoài hai chữ “tâm
tánh”, chuyện thế gian hay xuất thế gian chẳng
ngoài hai chữ “nhân quả”. Chúng sanh ch́m đắm
trong chín giới, Như Lai chứng Nhất Thừa, nhưng
tâm tánh chẳng tăng - giảm mảy may. Sở dĩ thăng
- trầm thật khác, khổ - vui khác biệt vời vợi là
do tu đức nơi nhân địa khác nhau, đến nỗi thọ
dụng quả địa mỗi người mỗi khác.
Xiển dương Phật pháp thật chẳng phải là chuyện
dễ: Chỉ bàn về lư tánh thời hàng trung hạ căn
chẳng thể được lợi ích. Chuyên luận nhân quả th́
bậc thượng thượng thường chán nghe đến. Sách này
phân ra mười môn cách thức khác biệt, tốt nhất
là cùng nêu lên cả Sự lẫn Lư, theo đuổi cả Đốn
lẫn Tiệm, ngơ hầu hợp cả ba căn, lợi căn lẫn độn
căn đều được lợi ích. Nên đăng tải những chuyện
do học Phật được đắc lực xưa nay, những sự tích
đại trung, đại hiếu, thuần nhân, thuần nghĩa, và
chuyện họa phước do cung kính Tam Bảo hay hủy
báng Tam Bảo, và những lời lẽ tốt lành yên đời
dẫn dắt cơi tục của bậc cao nhân, những lời bàn
luận chí lư về kiêng giết, phóng sanh. Những
loại sau số báo nào cũng đăng tải th́ ngu phu,
ngu phụ cũng được lợi lạc, mà hạng thông thạo
giỏi giang do ngộ lư cũng muốn thực hiện. Từ đấy
chẳng dám lắc đầu, bịt tai, lại c̣n gấp gáp ưa
thích muốn nghe. Nhưng nhân quả và tâm tánh nếu
tách rời nhau th́ cả hai cùng bị tổn thất, gộp
lại th́ cả hai cùng tốt đẹp. V́ thế, ngài Mộng
Đông nói: “Kẻ khéo bàn tâm tánh chẳng thể bỏ
ĺa nhân quả; nhưng kẻ tin sâu nhân quả cuối
cùng ắt hiểu rơ tâm tánh. Lư này thế tất nhiên
phải như vậy”.
Nhưng chúng sanh Mạt Pháp căn cơ hèn tệ, các
pháp Thiền, Giáo chỉ cậy vào tự lực, khế ngộ c̣n
khó, huống hồ liễu thoát? Chỉ có pháp môn Tịnh
Độ cậy vào Phật lực, chỉ cần đầy đủ ḷng tin
chân thành, nguyện thiết tha, dẫu là Ngũ Nghịch,
Thập Ác cũng có thể vĩnh viễn thoát khỏi luân
hồi, cao dự hải hội. Đối với pháp tối thượng
thừa chẳng thể nghĩ bàn này nên bàn cả Lư lẫn
Sự, khuyên răn ăn chay, bố thí, rền tiếng hải
triều, tưới mưa đại pháp, phá tà chấp của bọn Lỗ
Xuyên, nối tiếp pháp mạch của các vị như Liên
Tŕ v.v… ngơ hầu thiên hạ đều cùng được lợi ích
nơi Phật pháp, khiến cho đại địa cùng cảm đức
của các vị, pháp tràn ngập hoàn vũ. Cơi đời lại
trở về thời đại Đường Ngu[32],
đạo thông đến cả những loài vô h́nh trong trời
đất; ân thấu tới những dị loại bay, lặn.
Nếu luận về sự suy vi của Phật pháp th́ thật ra
không phải là vào cuối đời Minh. Vào cuối triều
Minh, các tông đều suy. Từ thời Vạn Lịch[33]
trở đi, đột nhiên hưng thạnh, tông Hiền Thủ th́
có ngài Liên Tŕ, Tuyết Lăng chấn hưng mạnh mẽ
Viên Tông. Tông Thiên Thai th́ có ngài U Khê,
Ngẫu Ích tận lực hoằng dương Quán đạo[34],
Thiền Tông th́ ngài Huyễn Hữu[35]
có bốn vị đệ tử, nhưng Thiên Đồng, Khánh Sơn
pháp khắp thiên hạ. Tông Tào Động th́ có Thọ
Xương, Bác Sơn, đời nào cũng có cao nhân. Luật
Tông được ngài Huệ Vân trung hưng, thật đáng là
Ưu Ba[36],
ngài Kiến Nguyệt nối gót, vốn là Ca Diếp. Nhưng
Diệu Phong, Tử Bách, Liên Tŕ, Hám Sơn, Ngẫu Ích
đúng là những bậc siêu quần bạt tụy, đời Mạt
Pháp chẳng dễ thấy. Tuy chẳng bằng thời kỳ hưng
thạnh đời Đường, đời Tống, nhưng có thể nói là
Phật nhật lại được sáng ḷa.
Kịp đến khi nhà Đại Thanh mở nước, tôn sùng,
kính trọng càng nhiều, những bậc ẩn dật chốn lâm
tuyền đa số được lễ kính như ngài Ngọc Lâm, Hám
Phác, Mộc Trần v.v… Thanh Thế Tổ (Thuận Trị)
tuân phụng Phật chế, mở rộng phương tiện, bỏ lệ
thí tăng[37],
cho được tùy ư xuất gia, nhân đó truyền hoàng
giới, chế ra Hộ Giới Điệp, từ nay vĩnh viễn miễn
độ điệp. Phật pháp bị suy thật sự bắt nguồn từ
đây. Đương thời cũng có cao nhân đông đảo xuất
hiện, tợ hồ hữu ích. Thanh Thế Tông (Ung Chánh)
dùng phương tiện đại quyền nương nguyện, kiến
trung lập cực[38],
phát huy ngôn luận huệ mạng của Phật, Tổ, tinh
thâm rộng răi, nhập tạng[39],
lưu thông không cần phải nói nữa. Ngoài ra, vua
c̣n soạn Ngự Chế Giản Ma Biện Dị Lục, tám quyển,
bốn tập; bạn tôi là Nhậm Thị, khất thực ở kinh
đô t́m được cuốn này ở một chợ sách, gởi cho ông
Dương Nhân Sơn, bảo gởi sang Đông Dương (Nhật
Bản), in kèm vào trong bản Đại Tạng mới in. Tôi
cho rằng khi sách ấy được phát hành, những người
hiếu cổ thích lạ đọc thử sách ấy, chẳng những
hữu ích cho tánh mạng, mà học thức văn chương
đột nhiên cao lên gấp bội. Ôi! Hưng thạnh thay!
Thanh Thế Tông thật sự làm cho pháp được lưu
truyền nơi Chấn Đán (Trung Hoa), là người độc
nhất vô nhị trong các hoàng đế. Vua đă như vậy
th́ tể quan, tăng lữ ắt biết được đại khái. Từ
đời Cao Tông (Càn Long) trở đi, bậc triết nhân
ngày càng hiếm hoi, ngu phu ngày càng lắm, lại
thêm binh lửa liên miên, khiến nhiều hạng thô
bỉ, bại hoại, vô lại xen lộn vào pháp môn. Tự
ḿnh đă không biết ǵ về Phật pháp, làm sao có
thể dạy đồ chúng tu hành! Từ đấy mỗi ngày mỗi
tệ, đời sau chẳng bằng đời trước; đến nay Tăng
tuy không ít, nhưng kẻ biết chữ mười người chưa
được một, mong chi hoằng dương đại giáo, lợi
khắp quần sanh nữa ư? Do vậy, bậc cao thượng,
ngoại trừ những vị kiếp trước có đại căn, trông
thấy Tăng chẳng biết đạo bèn chán ghét, chẳng dự
vào Tăng chúng.
Phàm lưu truyền Phật pháp chẳng phải là một sáng
một chiều mà được; ắt phải thâm mưu viễn lự, tùy
cơ đặt bày cách thức, những ǵ Phật chế định cố
nhiên chẳng thể không tuân, nhưng những phương
cách chế định theo thời cũng không thể không
nghiên cứu cặn kẽ, nhằm dự pḥng thời thế biến
đổi, mới không đến nỗi nghiêng ngửa chẳng thể có
sức như Phật pháp ngày nay vậy. Nếu các vị không
thừa dịp nh́n nhận nhạy bén, tôi e lúc này,
trong nước Chấn Đán không c̣n nghe tiếng tăm,
dấu vết Phật pháp nữa! Ôi chao! Nguy hiểm thay!
Phật pháp cao sâu, chẳng phải do sự thấy biết
nông cạn mà ḥng nh́n trộm được. Nếu muốn biết
sâu xa, ắt phải từ Giáo mà vào, rồi mới đến
Thiền Tông th́ mới khỏi bị tệ hại. Bọn Tống Nho
như Châu, Tŕnh, Trương, Châu v.v… đời trước cố
nhiên có linh căn, nhưng thoạt đầu thân cận toàn
những bậc tông sư Trực Chỉ, đối với một buổi
giảng, một công án tợ hồ lănh hội được sự hư
linh bất muội, nhưng đối với ư nghĩa “đầy
đủ các lư ứng với vạn sự”
thật sự chưa triệt ngộ tự tâm, bèn tự cho là đă
đắc, vạch đất làm giới hạn, chẳng chịu tiến lên.
Ấy là do dậm chân tại con đường nghĩa lư, trọn
chưa từng thật sự tận lực tham cứu. Lại thấy nhà
Thiền pháp nào, chuyện nào cũng chỉ quy hướng
thượng. Do vậy, dù có xem kinh giáo cũng đem ư
nhà Thiền ra để giải thích, để hiểu, bảo Phật
pháp chỉ có vậy mà thôi. Với những lư thật, sự
thật, nhân quả họa phước cũng dùng ư kiến chỉ
quy hướng thượng để lănh hội, đến nỗi mê muội tự
tâm, bác không nhân quả. Cướp lấy vật của người
ta cho là gia bảo; nhặt lấy những thứ sót thừa
của Phật pháp để chống đỡ môn đ́nh Nho Giáo. Lại
sợ hậu sinh đề cao họ Thích, bèn khéo bày phương
cách, lập kế trộm linh[40],
ngang ngược bày lời phỉ báng, phô bày họa hại,
nhốt kín hậu sinh vĩnh viễn chẳng thoát ra được.
Lại c̣n sợ hậu sinh chưa chết ḷng trọn ư [tin
theo], bèn lấy bản thân để giảng giải: “Ta trước
kia cầu đạo, cũng từng thân cận Thích, Lăo,
nhưng đều không đạt được ǵ. Sau trở về cầu nơi
sáu kinh bèn được. Từ đấy, phá ṿng Thích, Lăo,
mỗi mỗi thấy thấu suốt, theo thuyết thành ư
chánh tâm của chư tử, dốc sức tu dưỡng, thật
đáng làm bậc sư biểu cho cửa Nho!”
Nhưng do ư niệm phù tŕ môn phái quá nặng, đến
nỗi từ chỗ đáng biểu dương cảm phục, lại thành
ra biến sở trường của người ta thành sở đoản,
cái ḿnh có được là từ người ta, lại nói ngược
người ta không bằng ḿnh, khiến cho thành ư
chánh tâm dù dốc ḷng thực hiện chẳng thể viên
măn hoàn bị, cắt đầu xén đuôi. Ôi! Đáng buồn đến
thế! Cư sĩ Nhất Thừa bảo là “khách vào nhà
quơ giáo, ồn ào lấn chủ”. Lời ấy thật xác
đáng, nhưng nếu không nêu rơ căn nguyên, người
trong ải (tức những kẻ chấp vào học thuyết Tống
Nho) sẽ chẳng chịu phục. Nên đem chỗ “chư
tử học Phật được lợi ích và do dùng ư nhà Thiền
hiểu lầm giáo nghĩa, do vậy, không tin nhân quả,
chẳng tin luân hồi, không những nghịch Phật mà
c̣n trái nghịch cả kinh Nho; lại c̣n bảo là cầu
đạo nơi Thích, Lăo đều chẳng được, về sau từ sáu
kinh được ích” tŕnh bày, biện luận cặn kẽ, rơ
ràng th́ chứng cớ ăn cắp đầy đủ, chẳng những kẻ
bế quan bội phục mà c̣n ngay lập tức ra khỏi
cửa. Dẫu cho chư tử sống lại cũng sẽ nhận lỗi tự
trách, không thể già hàm căi bướng, từ đây, huệ
phong quét sạch mây chướng, Phật nhật lại sáng
tỏa vũ trụ.
8. Trả lời thư cư sĩ Bộc Đại Phàm
Xa nhận tờ mây, thật hổ thẹn sâu xa. Bất
Huệ[41]
tôi tuổi nhỏ kém học vấn, lớn lên vô tri, lênh
đênh nẻo khách, ăn bám Phổ Đà. Không ngờ các hạ
xưa đă vâng lời Phật phó chúc, thừa nguyện tái
lai, lănh hội được tâm tông cả Nho lẫn Phật,
thấu hiểu tột cùng bí tạng Tánh - Tướng, tham
học khắp kẻ Tăng người tục, là bậc hào kiệt lỗi
lạc chuyên tu Tịnh nghiệp. Bậc đại nhân rộng
lượng chẳng hiềm hạ ḿnh hỏi đến. Hỏi tới kẻ cắt
cỏ mà khiêm tốn quá sức khiến người không c̣n
chỗ dung thân. Ví thử đại địa có kẽ nứt, ắt sẽ
triệt để rúc sâu vào, dám đâu ngửa đáp. Thường
nghĩ các hạ học vấn rộng như thế, kiến giải cao
như thế, mấy câu Ngài nêu ra đó nghĩa lư thật
thiển cận, há lẽ nào thật sự hoài nghi chẳng
quyết đoán được ư? Chắc có lẽ là muốn phát khởi
đồng nhân đó thôi. Các hạ liễu tri làm như vô
tri, Bất Huệ tôi cũng không ngại ǵ lấy không
biết làm biết. Do vậy bèn căn cứ theo từng khoản
mà phê phán, thuận theo lời lẽ mà mổ xẻ. Chẳng
dám bắt chước vị quan già đời phán án, bất quá
chỉ như khóa sinh nộp quyển đó thôi. Tŕnh bày
lời mọn giăi bày như trong phần sau có được hay
chăng? Mong ngài rủ ḷng sửa lại cho đúng.
Niệm Phật tuy quư là tâm niệm, nhưng chẳng thể
bỏ miệng tụng. V́ ba thứ thân - khẩu - ư hỗ trợ
cho nhau. Nếu tâm nghĩ nhớ, thân chẳng lễ kính,
miệng chẳng tŕ tụng, cũng sẽ khó được lợi ích.
Thế gian nâng vật nặng c̣n phải ḥ reo để giúp
sức, huống hồ muốn nhiếp tâm để chứng tam-muội
ư? Do vậy, kinh Đại Tập dạy: “Niệm lớn thấy
Phật lớn, niệm nhỏ thấy Phật nhỏ”. Cổ đức
nói niệm lớn tiếng th́ thấy thân Phật lớn, niệm
nhỏ tiếng sẽ thấy thân Phật nhỏ. Nhưng phàm phu
đầy dẫy phiền năo, tâm thường hôn trầm, tán
loạn, nếu chẳng nhờ vào sức lễ tụng của thân -
miệng, mà muốn đắc nhất tâm th́ không thể được.
Nơi Thật Tế Lư Địa mới là vô sanh diệt. Trong
cửa Phật sự, có pháp nào không phải là pháp sanh
diệt? Đẳng Giác Bồ Tát phá bốn mươi mốt phẩm vô
minh, chứng bốn mươi mốt phần bí tạng, cũng
không ra ngoài lẽ sanh diệt. Sanh diệt ấy chính
là gốc rễ sanh tử, mà cũng là gốc của Bồ Đề, tùy
thuộc người ta sử dụng như thế nào mà thôi!
Nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp nối chính là
đem cái sanh diệt “trái nghịch với giác, xuôi
theo trần lao” chuyển thành sự sanh diệt “trái
nghịch trần lao, hiệp với giác” để cầu chứng
được Chân Như Phật Tánh bất sanh bất diệt, niệm
niệm nơi Tịnh Độ mới có thể văng sanh, mà cũng
là thân phận Thượng Phẩm Văng Sanh. Nếu chấp
chặt nghĩa này để tự cầu thượng phẩm, c̣n ǵ
lành hơn? C̣n nếu chấp chặt vào nghĩa này để dạy
kẻ trung, hạ căn sẽ trở ngại sự tiến lên của
người khác không ít. V́ sao? Bởi họ ắt sẽ nghĩ
pháp này quá cao, bèn cam phận hèn kém, chẳng
chịu tu tŕ.
Hơn nữa, việc niệm Phật tuy thuộc về ư thức,
nhưng các thức đều đủ, chẳng thấy đoạn kinh văn
đă nói “nhiếp trọn sáu căn” trên đây hay
sao? Sáu căn đă nhiếp th́ sáu thức sẽ làm ǵ?
Những ǵ sáu thức đưa vào Hàm Tàng Thức (A Lại
Da Thức) cũng chỉ là chuyện này mà thôi. Đoạn
văn “đao chém không vào” vốn không
thể nghi, do các hạ chưa phân định giới hạn giữa
Tự Lực và Tha Lực, giữa Thiền Tông và Tịnh Tông
nên đến nỗi thành một khối nghi lớn. Một pháp
Niệm Phật là nương Phật lực thoát ra tam giới,
sanh về Tịnh Độ. Nay đă không phát nguyện, cũng
không có ḷng tin (có ḷng tin chân thật
ắt có nguyện thiết tha),
Tín lẫn Nguyện hoàn toàn không có, chỉ niệm Phật
tŕ danh th́ vẫn thuộc Tự Lực. Do không Tín -
Nguyện nên chẳng cảm ứng đạo giao với Di Đà
hoằng thệ. Nếu đoạn hết Kiến Tư Hoặc, có thể
được văng sanh. C̣n nếu hoàn toàn chưa đoạn và
đoạn chưa hết th́ nghiệp căn vẫn c̣n, làm sao
thoát khỏi luân hồi cho được? Ngũ Tổ Giới, Thảo
Đường Thanh[42]
v.v… chính là những bằng chứng xác đáng. Phải
biết: Nếu bỏ tín nguyện mà niệm Phật th́ chẳng
khác ǵ nhà Thiền tham cứu. Nếu được văng sanh
th́ nhân quả chẳng khế hợp nhau vậy! Ngài Ngẫu
Ích nói: “Được văng sanh hay không, hoàn toàn
do tín nguyện có hay không? Phẩm vị cao hay thấp
hoàn toàn do tŕ danh sâu hay cạn”, ấy là
lời phán định sắt đá.
Như kinh nói “nhất tâm bất loạn” là tiếp
ư đoạn kinh văn giảng về công đức y báo, chánh
báo ở tận phía trên, nhằm dạy cho sanh tín; c̣n
nếu thừa tiếp ư của đoạn văn gần đó, tức đoạn
“chúng sanh nghe vậy, phải nên phát nguyện,
nguyện sanh cơi ấy” th́ chính là dạy phải
phát nguyện. Đă thế, đoạn văn tiếp theo đó là
khuyến tín, khuyến nguyện, không ǵ chẳng đủ.
Các hạ cắt xén những đoạn văn trước, chỉ chấp
một câu, nên mới có mối nghi “không trọng phát
nguyện”. Lại c̣n xem “không tín nguyện nhất tâm”
và “có tín nguyện nhất tâm” b́nh đẳng như nhau,
nên mới thấy có đoạn kinh đao chém không vào, há
phải đâu không thuần nhất; sao lại nghi ngờ
chuyện “không tín nguyện tŕ danh không được
văng sanh”?
Hơn nữa, [luận về chuyện] ngoài việc niệm Phật
có niệm thứ hai xen tạp th́ khó thể nêu hết. Chỉ
nêu lên những cái chánh th́ như cầu đại triệt
đại ngộ, cầu được Đại Tổng Tŕ v.v… [chính là
xen tạp], chứ không phải phát nguyện là niệm thứ
hai. Phải biết một pháp Tịnh Độ lấy ba pháp Tín
- Nguyện - Hạnh làm tông. Hạnh như ḅ kéo xe,
Nguyện như người cầm cương, Tín như người dẫn
đường. Người dẫn đường và người đánh xe mới là
chánh yếu để quyết định sự tiến bước của con ḅ
kéo xe. V́ thế, sáng chiều phải hướng về Phật
phát nguyện. Hơn nữa, lúc không niệm Phật cũng
chớ câu nệ. Dẫu cho mỗi lần niệm cả vạn năm cũng
chẳng ngại có một ngày tạm ngưng. Nếu bảo “có
lúc không niệm, có lúc phát nguyện sẽ thành gián
đoạn, xen tạp, sẽ khó thành tựu” th́ thử hỏi một
tâm niệm ấy cũng từng thấy sắc, nghe tiếng, mặc
áo, ăn cơm, giở tay, động chân, có hay không?
Nếu có, với những chuyện ấy đă không gián đoạn,
xen tạp, sao riêng ḿnh chuyện này (tức chuyện
phát nguyện) lại có gián đoạn, xen tạp? Nếu
không, trừ phi là bậc Pháp Thân đại sĩ. Nhưng
bậc Pháp Thân đại sĩ ở yên một chỗ mà hiện thân
khắp trần sát[43];
những gián đoạn, xen tạp ấy c̣n nhiều không
xiết! Tâm có đủ các lư ứng với vạn sự, lẽ nào
chỉ tính đến phát nguyện và niệm Phật cùng một
lúc mà thôi! Ước theo sự tu tŕ thường ngày, nên
phát nguyện vào lúc sáng tối, cũng có khi niệm