Cùng Chung Lăn Chuyn Bánh Xe Pháp

     
 

TỊNH ĐỘ

---o0o---

100 Bài Kệ Niệm Phật
Triệt Ngộ Đại Sư
Thích Thiền Tâm
 
     
 

Hán: 1

Nhứt cú Di Đà
Ngă Phật tâm yếu
Thụ triệt Ngũ thời
Hoàng cai Bát giáo

Việt: 1

Một câu A Di Đà
Tâm yếu của Phật ta.
Dọc năm thời thấu suốt
Ngang tám giáo trùm xa.

Lược giải:

Một câu niệm Phật là tâm yếu của đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni. Tâm yếu, cũng gọi là tông, là yếu chỉ tức sắc tức không của cảnh giới chân tâm, không thể dùng lời nói và tư tưởng để luận bàn suy nghĩ được. Năm thời là: Hoa Nghiêm, A Hàm, Phương Đẳng, Bát Nhă, và thời Pháp Hoa. Tám giáo là: Tạng, Thông, Biệt, Viên, Đốn, Tiệm, Bí mật và Bất định giáo. Dọc là chỉ cho chiều cao thuộc thời gian. Ngang chỉ cho chiều rộng thuộc không gian. Ư nói câu niệm Phật rất mầu nhiệm, về nghĩa lư bao trùm Năm thời Tám Giáo, về cao rộng suốt cả Thời gian, Không gian.
 

Hán 2:

Nhứt cú Di Đà
Ư chỉ như hà?
Bạn tri âm thường ít
Mộc nhĩ thiên đa!

Việt 2:

Một câu A Di Đà
Ư chỉ diệu bao nhiêu?
Bạn tri âm thường ít
Kẻ tai gỗ riêng nhiều !

Lược giải:

Như bài kệ trên đă dẫn, ta thấy đại khái ư chỉ của câu niệm Phật cao diệu như thế nào! Cho nên Thành Thời Đại Sư đă nói trong một Đề Từ: " Mà trong A Di hồng danh thâm. Ngh́n muôn khôn t́m ra tri âm! Thiên Như ḷng từ soi chân đăng. Đưa người mau ra ṿng mê lầm...Ôi câu hồng danh mầu thâm xa. Sâu cùng chư tông làng thiền na. Buông ra thâu vào đều như như. Tương tư mơ đầy trời Liên hoa !" Điệu đàn niệm Phật cao siêu mầu nhiệm như thế, trừ ra bậc tri âm, chớ kẻ tai gỗ làm sao nghe thấu? V́ thế nhiều kẻ đă lầm đánh giá Niệm Phật là pháp thấp kém chỉ để cho kẻ ngu dốt, hạng người già cả tu hành. Thất đáng cảm xót v́ cảnh ít tri âm, như lời một bậc tiền bối đă than

Nga nga hồi chí tại cao sơn
Dương dương hồ ư tại lưu thủy
Đàn bá nha ít kẻ tri âm
Những nghe qua xót trộm lại đau thầm
Chung Kỳ mất đập cầm không muốn khảy!
 

Hán 3:
Nhứt cú Di Đà
Đại ư phân minh
Xà sanh cung ảnh
Dược xuất kim b́nh.

Việt 3:

Một câu A Di Đà
Đại ư thật phân minh
Rắn sanh từ cung ảnh
Thuốc lấy ở kim b́nh.

Lược giải:

Một người tới nhà bạn thân chơi, cố giao rót trà ra chén mời uống. Lúc ấy vào khoảng đầu đêm, ánh đèn chấp chóa in bóng cung treo gần bên vào chén giống như con rắn đang lăn quăn chao động. Trong lúc không kịp suy nghĩ, người ấy uống vội hết chén trà, rồi chợt sanh ḷng nghi là ḿnh đă nuốt con rắn nhỏ vào bụng, nhưng không dám nói. Về đền nhà anh lo sợ, rồi phát bịnh. Sau bạn đến thăm, hỏi biết duyên cớ, mời đến nhà để dĩa đèn và chén trà chỗ cũ, chỉ cây cung treo gần bên, người ấy mới dứt hết mối nghi và lành bịnh. Thuở xưa người Ấn Độ khi luyện thuốc quí, thường dùng gương dầy hoặc ngọc thủy tinh tụ ánh sáng mặt trăng để lấy nước. Luyện xong lại cất thuốc vào b́nh bạc hoặc b́nh vàng, cho tăng thêm hiệu lực linh nghiệm. Đây ư nói câu niệm Phật rơ ràng là pháp viên đốn đi thẳng vào chân tâm, ngay lúc niệm Phật tức đă thể hiện Phật tánh, ví như thuốc quí lấy ra từ b́nh vàng. Kẻ không biết lầm hiểu niệm Phật là pháp Quyền giáo để dứt trừ vọng tưởng, hoặc pháp Tiệm giáo để gieo lần thiện căn. Như thế có khác ǵ anh chàng lờ lạc nghi ngờ lầm bóng cung là rắn đâu ?
 

Hán 4:

Nhứt cú Di Đà
Danh dị phương tiện
Phổ nhiếp quần cơ
Bàng thông nhất tuyến.

Việt 4:

Một câu A Di Đà
Phương tiện cực mầu lạ
Nhiếp khắp hết căn cơ
Rẽ thông vào Bát nhă.

Lược giải:

Ấn Quang Đại sư nói: "Tu các môn khác phải nhiều đời mới thoát luân hồi, và theo như Khởi Tín Luận th́ phải trải qua một muôn đại kiếp tu hành liên tục mới vượt lên ngôi Bất thối chuyển. Ví như quan chức phải từ phẩm bậc nhỏ lần lượt thăng đến ngôi Tể tướng. Riêng môn Niệm Phật là phương tiệm mầu lạ để mau thành Phật một đời được đới nghiệp văng sanh thoát khỏi luân hồi, một kiếp đă bước lên ngôi Bất thối chuyển. Ví như Thái tử khi mới sanh ra, đă tôn qúi vượt hẳn quần thần "Môn Niệm Phật lại nhiếp tất cả căn cơ, dưới từ loài qủy súc, hạng ngu tốt dốt nát tật nguyền, trên đến bậc Đẳng giác Bồ Tát như Văn Thù Phổ Hiền cũng có lời nguyện cầu sanh Tịnh độ. Chữ "Nhất tuyến" đây là chỉ cho môn thiền Trực chỉ, tức đường lối thẳng vào Bát nhă chân tâm. Ngài Triệt Ngộ dùng từ ngữ này, bởi ngài là một "đại thiền sư". Lại "Nhất tuyến" cũng hàm chỉ cho đường lối đặc sắc nhiệm mầu của môn Tịnh Độ.
 

Hán 5:

Nhứt cú Di Đà
Khai văng sanh môn.
Thị đa phước đức
Phi thiểu thiện căn.

Việt 5:

Một câu A Di Đà
Mở đường lối văng sanh
Đó là nhiều phước đức
Chẳng phải ít căn lành.

Lược giải:

Từ khi Vi Đề Hy phu nhân chán cơi đời trược ác, cầu sanh về thế giới đẹp an vui, đức Thích Tôn mới nói ra môn Tịnh độ mở đường lối văng sanh, để hành giả được dễ dàng thuận tiến trên bước đường giải thoát. Muốn làm một bậc thượng thiện nhân cao quư ở cơi đẹp mầu như thế giới Cực Lạc, phải là người có nhiều phước đức căn lành. Theo kinh Vô Lượng Thọ: Chúng sanh nào đời này nghe nói Phật A Di Đà và cơi Cực Lạc, phát ḷng tín nguyện, chí thiết niệm Phật cầu văng sanh. Những chúng sanh đó trong tiền kiếp đă từng gặp nhiều đức Phật, và gieo trồng nhiều phước đức căn lành rồi.
 

Hán 6:

Nhứt cú Di Đà
Lâm chung Phật hiện
Tứ biện thân tuyên
Lục phương cộng tán.

Việt 6:

Một Câu A Di Đà
Khi lâm chung Phật hiện
Tứ biện khó thân tuyên
Sáu phương đồng khen ngợi.

Lược giải:

Liên Tŕ Đại Sư nói: "Một câu A Di Đà gồm: Đại thiện căn, đại phương tiện, đại phước đức, đại trí huệ, đại giải thoát, đại từ bi. Câu niệm Phật đă có nhiều công đức lớn như thế, nên người niệm Phật mau diệt nhiều tội chướng, mau sanh nhiều phước huệ, khi lâm chung quyết định Phật sẽ hiện thân tiếp dẫn sanh về Cực Lạc. Cho nên chư Phật sáu phương hiện ra tướng lưỡi rộng dài, tiêu biểu cho sự tuyên thuyết pháp môn tối thượng thừa, mà ngợi khen công đức không thể nghĩ bàn của Tịnh độ. Đă là pháp môn công đức không thể nghĩ bàn; th́ đức Thích Ca Mâu Ni và chư Phật dù đă dùng Tứ biện tài là: Từ vô ngại biện, Nghĩa vô ngại biện, Pháp vô ngại biện và Lạc thuyết vô ngại biện, cũng không thể tuyên dương ngợi khen cho hết được.
 

Hán 7:

Nhứt cú Di Đà
Thành Phật tiêu chuẩn
Dĩ niệm Phật tâm
Nhập Vô sanh nhẫn

Việt 7:

Một câu A Di Đà
Là thành Phật tiêu chuẩn
Dùng tâm hạnh niệm Phật
Chứng vào Vô sanh nhẫn.

Lược giải:

Niệm Phật chẳng riêng khi lâm chung được sanh về cơi Phật mà thôi. Trong hiện tại nếu hành giả nhiếp cả sáu căn , giữ cho tịnh niệm nối luôn, và có thể ngay đời này được ngộ đạo, chứng vào Vô sanh pháp nhẫn. Cho nên gọi: Niệm Phật là tiêu chuẩn thành Phật.
 

Hán 8:

Nhứt cú Di Đà
Chứng tam bất thối
Chỉ thử nhất sanh
Tiện bổ Phật vị

Việt 8:

Một câu A Di Đà
Chứng ba ngôi Bất thối
Chỉ trong một đời này
Được bổ lên Phật vị

Lược giải:

Ba ngôi bất thối chuyển là: Vị bất thối, Hạnh bất thối, và Niệm bất thối. Cứ theo Thiên Thai Giáo, chứng được đệ nhất bất thối tâm trụ, mới lên ngôi vị bất thối. Chứng thập hồi hướng, lên ngôi hạnh bất thối. Và chứng sơ địa mới vào ngôi niệm bất thối. Nhưng ước theo đường lối phổ thông của Đại thừa giáo th́: Phá được kiến tư hoặc mới lên ngôi vị Bất thối. Phục đoạn Trần sa hoặc, lên ngôi hạnh bất thối. Và tiến phá vô minh hoặc mới vào ngôi niệm bất thối. Như thế chứng được ba ngôi bất thối thật không phải dễ! Theo các giáo môn khác, tất phải tu tập trải A Tăng kỳ số kiếp mới chứng nhập được. Với pháp môn tịnh độ, khi được văng sanh kể như vĩnh viễn không c̣n bị thối chuyển nữa. Điều này, theo kinh giáo, gọi là Xứ bất thối. Từ Xứ bất thối, địa vị tam bất thối là cầm chắc trong tay, lần lượt sẽ tiến lên Phật qủa. Cho nên kinh Di Đà nói: là bậc A bệ bạt trí (Bất thối chuyển)". Chư thiện nhơn ở Cực lạc sống lâu vô lượng vô biên A Tằng kỳ kiếp, chỉ trong một kiếp sanh về nơi đó đă dư thời gian chứng lên ngôi Nhứt sanh bổ sứ, được bổ và Phật vị rồi.
 

Hán 9:

Nhứt cú Di Đà
Măn thập đại nguyện
Khởi đắc Phổ Hiền
Thác giáo liễu biện!

Việt 9:

Một câu A Di Đà
Tṛn đầy mười thập nguyện
Đâu phải đức Phổ Hiền
Dạy lầm cho xong chuyện!

Lược giải:

Trong kinh Hoa Nghiêm, phẩm Nhập Bất Tư Ngh́ Giải Thoát Cảnh Giới, sau khi đức Phổ Hiền nói mười đại Nguyện vương, ngài liền tự phát thệ và khuyên Thiện Tài đồng tử cùng hải chúng Bồ Tát trong biển thế giới Hoa Tạng, đều nên niệm Phật hồi hướng về Cực lạc. Lời phát thệ như sau:

Tôi nguyện khi lúc sắp mạng chung
Dứt trừ tất cả điều chướng ngại
Diện kiến đức Phật A Di Đà
Liền được sanh về Cơi An Lạc.

Tại sao thế? V́ muốn vào cảnh giới Bất tư ngh́ giải thoát, muốn thành tựu các công đức, muốn chứng Phật qủa phải thật hành mười đại nguyện vương, và muốn không bị nhiều chướng duyên làm cho thối chuyển, muốn sớm mau hoàn măn mười Đại nguyện vương ấy, tất phải cầu sanh Cực Lạc! Cho nên lời đức Phổ Hiền khuyên dạy chư Bồ Tát niệm Phật cầu về Cực Lạc không phải là điều dạy bảo cạn cợt lạc lầm, nói suông rồi cho xong chuyện! Mà chính đó là lời khuyên dạy tối quan yếu, bao gồm ư vị rất sâu sắc, phải suy gẫm nhiều mới thấu hiểu!
 

Hán 10:

Nhứt cú Di Đà
Bạch ngưu giá cảnh
Kỳ tật như phong
Hành bộ b́nh chánh

Việt 10:

Một câu A Di Đà
Xe gác ách trâu trắng
Chạy lẹ như gió bay
Bước đi thật bằng vững.

Lược giải:

Câu niệm Phật, đối với bậc cao, th́ có niệm đồng với không niệm. Và mặc dù không nghĩ rằng ḿnh là người hay niệm, đức Phật là vị được niệm, tâm niệm hằng rỗng không, nhưng cũng chẳng ngại ǵ câu niệm Phật thường hiển lộ rành rẻ rơ ràng. Như chư Bồ Tát, Tổ sư vẫn đi đứng, nằm ngồi, vẫn ăn cơm mặc áo, vẫn thuyết pháp tụng kinh, mà không thấy có các tướng ấy. Các ngài làm pháp hữu vi mà tâm vô vi, tâm tuy vô vi vi song vẫn làm tất cả pháp hữu vi. Như thế mới chẳng đọa vào lỗi "không và có", tiến lên cảnh giới Đại thừa. Cho nên đức Lục Tổ đă bảo:

Không niệm, niệm mới chánh
Có niệm, niệm thành tà
Có, không đều chẳng tưởng
Ngồi được Bạch ngưu xa.

Cần nhận rơ: Không và Có trên đây, chẳng phải là không niệm Phật tụng kinh. Đây chính là niệm Phật đi vào cảnh giới chân không, chẳng tưởng nghĩ rằng ḿnh có niệm hay không niệm. Với bậc kém hơn, tuy chưa thể ứng dụng được như thế, nhưng biết niệm Phật tức là đă tiến lên đường tu bằng phẳng, bước đi an ổn vững vàng, lần siêu vào cảnh giới Đại thừa. Như đă ngồi trên xe bạch ngưu, bước đi của nó thật bằng vững, không c̣n lo ngại chi nữa !
 

Hán 11:

Nhứt cú Di Đà
Như Lai tạng tâm
Thủy ngoại vô lăng
Khí nguyên thị kim

Việt 11:

Một câu A Di Đà
Là tâm tạng Như Lai
Ngoài nước đâu có sóng
Xuyến, vàng vốn chẳng hai!

Lược giải:

Có một tu sĩ hỏi vị thượng tọa: "Niệm Phật để làm ǵ?". Ngài đáp: "Niệm Phật để thành Phật!" Tu sĩ ấy mỉm cười lui về, ư không công nhân. Tu sĩ đó không công nhận, v́ ông chưa hiểu, và chưa ứng dụng được hạnh niệm Phật đi ngay vào Phật cảnh, tức vào tâm tạng của Như Lai. Theo trí phân biệt, ông chỉ chấp nhận và chỉ có thể ứng dụng câu niệm Phật để trừ vọng tưởng, lần lần chứng vào chân như mà thôi. Nếu theo tâm chấp tướng phân biệt, người ta thấy sóng với nước, xuyến cùng vàng khác nhau. Nhưng thật ra, các thứ đó chẳng phải một, cũng chẳng phải hai. Nếu các hành giả niệm Phật từ thí dụ này để t́m hiểu, tất sẽ xóa tan niệm phân biệt, dung ḥa tâm với cảnh, thể nhập pháp môn bất nhị, đi ngay vào tạng tánh Phật, đại khái ư nghĩa như thế. Thuở xưa, một hành giả khi chứng ngộ vào cảnh giới này đă có bài kệ:

Bước đường vô vị đă cùng rồi
Thấy sóng là đâu chỉ nước thôi
Ông Triệu siêu quần chi lắm đó
Mặt mày trông cũng thế mà thôi.
 

Hán 12:

Nhứt cú Di Đà
Diệu chân như tánh
Xuân tại hoa chi
Tượng hàm cổ cảnh.

Việt 12:

Một câu A Di Đà
Lộ tánh diệu chân như
Sắc xuân nơi hoa sáng
Muôn tượng ẩn gương xưa.

Lược giải:

Thuở xưa, một vị Tăng tụng kinh Pháp Hoa đến câu: "Chư pháp tùng bản lai. Thường tịch diệt tướng" (Các pháp từ xưa nay. Tự tướng thường tịch diệt), bỗng sanh nghi không hiểu. Sau mấy năm tham thiền, ông chợt tỏ ngộ, liền viết tiếp thêm hai câu: "Xuân đáo bách hoa khai. Hoàng Oanh đề liễu thượng" (Xuân đến trăm hoa nở, Oanh vàng kêu liễu biếc!). Câu niệm Phật đă thuần, hành giả sẽ thấy tánh chân như mầu nhiệm lồ lộ hiện bày, không thể dùng lời nói luận bàn, dùng tâm tư nghĩ suy phân biệt được. Cảnh trạng ấy sự sắc xuân hiện nơi trăm hoa đua nở sáng tươi, như oanh vàng kêu hót líu lo trên cành liễu sanh biết, chỉ dùng tâm thiên nhiên mới thể hợp được cảnh thiên nhiên. Nếu nghĩ suy phân biệt, tức là phiền năo vọng động rồi, đâu c̣n chi là sáng suốt, trong đó in cảnh non nước trời mây, gương cùng cảnh tượng dung nhập nhau không nghĩ là đây là kia, là một là khác. Người niệm Phật khi ngộ vào tánh diệu chân như cũng như thế. Thời cận đại ở Trung Hoa, một đêm Hư Vân thượng nhân đang ngồi tịnh ngoài trời dưới ánh trăng sáng, vị Thiền sư đồng tham bước đến ướm hỏi thử:

Mắt cá vẫn nhiều, châu khó nhận
Móng mây dễ lẩn ráng tươi hồng!

Thượng nhân liền đáp:

Gương hàm muôn tượng không kim cổ
Chẳng thuộc âm dương sáng đại đồng.

Thiền sư nghe xong, gật đầu mỉm cười rồi bỏ đi.
 

Hán 13:

Nhứt cú Di Đà
Thanh tịnh thật tướng
Tuyệt nghị, tuyệt tư
Nan danh, nan trạng.

Việt 13:

Một câu A Di Đà
Cảnh thật tướng sạch trong
Tuyệt bàn, tuyệt suy nghĩ
Khó nói, khó h́nh dung.

Lược giải:

Lập lại ư trên, hành giả niệm Phật khi đi sâu vào tam muội, thể thật tướng của chân tâm lồ lộ hiện bày. Cảnh giới này chỉ đem tâm thanh tịnh khế hợp, không thể dùng lời nói diễn tả, dùng tâm niệm phân biệt để nghĩ ngợi phan duyên. Bởi thế nên khi Thủy Lăo Ḥa Thượng đến tham khấu với ư niệm cầu hỏi về chân tâm, vừa mới cúi lạy đă bị đức Mă Tổ đạp cho té lăn tṛn. Thế mà Ḥa Thượng tỏ ngộ, vỗ tay cười ha hả. Sự tỏ ngộ ấy chỉ đương nhân tự hiểu, như người uống nước lạnh nóng riêng ḿnh biết lấy mà thôi. Cũng với y chỉ này, thuở xưa một vị tôn đức đem bài kệ như sau ướm hỏi các môn nhân:

Có pháp không sau trước
Vô h́nh vốn lặng trang
Hay làm chủ muôn vật
Chẳng theo bốn mùa tàn.

Một đệ tử nghe xong, vội ứng tiếng thưa: "Đó là chân tâm!" Liền bị tôn đức rầy quở bác phá.
 

Hán 14:

Nhứt cú Di Đà
Viên dung pháp giới
Thục thể toàn chân
Giao la vô ngại.

Việt 14:

Một câu A Di Đà
Dụng thông tṛn pháp giới
Soi lặng thể toàn chân
Xen giăng khắp vô ngại.

Lược giải:

Như trên đă nói, khi hành giả chứng Niệm Phật tam muội, căn trần dứt bặt tự tánh Di Đà dung thông tṛn sáng khắp pháp giới. Cảnh tượng ấy lặng lẽ mà chiếu soi, chiếu soi mà lặng lẽ, toàn thể đâu đâu cũng là chân thật. Trong chân thể ấy, hằng sa vô biên thế giới xen giăng nhau, như vô số hạt châu nơi các mắt lưới của trời Đế Thích. Chân cảnh này rất đỗi sâu mầu, trong tứ pháp giới, thuộc về Sự sự vô ngại pháp giới, trong Thập huyền môn, thuộc về Nhân đà la vơng cảnh giới môn.
 

Hán 15:

Nhứt cú Di Đà
Đại viên trí cảnh
Thân độ ảnh hàm
Trùng trùng yêm ánh.

Việt 15:

Một câu A Di Đà
Gương Đại Viên trí cảnh
Thân độ bóng hàm nhau
Lớp lớp mầu lập lánh.

Lược giải:

Đây là nói tiếp về công hạnh niệm Phật của hành giả khi chứng cùng cực chân cảnh tự tánh Di Đà. Chân cảnh này như thể gương tṛn sáng không ngằn mé, bao gồm muôn tượng sum la, gọi là Đại Viên cảnh trí. Trong thể Đại viên ấy, "Thân" thuộc về phần Chân như tịch chiếu môn. "Độ" thuộc về phần thế giới sanh diệt môn, đều hàm chứa h́nh bóng lẫn nhau. Sự hàm ảnh đó như mỗi hạt châu nơi mắt lưới của trời Đế Thích, đều ngậm chứa h́nh bóng của vô số hạt châu khác. Cảnh hàm ảnh giữa Không với Không, Sắc cùng Sắc, Sắc và Không xen lẫn ngậm bóng nhau ấy, thật là lớp lớp tầng tầng, lấp lánh vô ngại nhiệm mầu khó bề diễn tả.
 

Hán 16:

Nhứt cú Di Đà
Không Như Lai tạng
Vạn pháp vị h́nh
Nhất chân tuyệt tướng.

Việt 16:

Một câu A Di Đà
Là không Như Lai Tạng
Vạn pháp dứt h́nh dung
Nhất chân tuyệt sắc tướng.

Lược giải:

Tiếp theo ư nghĩa trên, cảnh giới tuy nhiên sum la như thế, song hành giả phải một tâm lặng lẽ thể nhập vào Không Như Lai Tạng. Tâm cảnh này dứt cả muôn pháp, tuyệt cả sắc tướng, chỉ là một thể nhất chân không c̣n phân biệt.
 

Hán 17:

Nhứt cú Di Đà
Viên măn Bồ Đề
Thiên cảnh vô thượng
Vân biết dữ tề.

Việt 17:

Một câu A Di Đà
Tṛn đủ Bồ Đề đạo
Ráng mây đều ở thấp
Lại không có trời cao.

Lược giải:

Khi hành giả đă thể nhập Không Như Lai Tạng, th́ đạo Bồ đề tṛn đủ, con đường giác ngộ đến mức cao tuyệt rồi. Cảnh giới ấy như trạng thái của người: "Một ḿnh nằm nghỉ trên đỉnh non cao". Khi xưa ông Khấu Chuẩn đời nhà Tống, thuở bé theo cha lên núi Thái Sơn, đă đắc ư đọc lên bốn câu thi cũng mường tượng như hai câu sau của bài kệ trên:

Bất dữ quần phong ngũ
Cảnh vô sơn dữ tề
Cử đầu hồng nhật cận
Hồi thủ bạch vân đề.

Tạm dịch:

Chẳng cùng muôn đảnh đồng bạn
Lại không một núi dám qua
Ngước mắt vầng hồng kề cận
Cúi đầu mây bạc thấp xa!

Nhưng đó chỉ là khẩu khí của một vị Tể tướng, v́ trên c̣n có vầng hồng, c̣n có Thiên Tử. Chưa bằng vua Hồng Vơ đời nhà Minh lúc du ngoạn núi này, cũng tức cảnh hai câu:

Nhứt thượng, nhứt thượng, cánh nhứt thượng
Vô hạn yên vân nhăn để thâu!

Tạm dịch:

Lên cao càng lúc càng cao tít
Vô hạn trời mây dưới mắt nh́n.

Đây mới thật là khẩu khí của một bậc Thiên Tử, đứng trên muôn dân. Có thể mượn hai câu sau này để tạm h́nh dùng cảnh tượng giác ngộ tṛn đầy cao tuyệt của một vị Pháp Vương đứng trên vạn pháp.
 

Hán 18:

Nhứt cú Di Đà
Đại bát niết bàn
Nhất luân minh nguyệt
Vạn lư không hàn!

Việt 18:

Một câu A Di Đà
Là cảnh Đại tịch diệt
Muôn niệm trống thanh lương
Chỉ một vầng minh nguyệt!

Lược giải:

Khi đă vào thể nhiệm mầu cao tuyệt của Không Như Lai tạng, hành giả niệm Phật ở cảnh giới mà nhà Thiền gọi là "Chẳng cùng muôn pháp làm bạn" (Bất dữ vạn pháp vi lữ). Cảnh giới này như vầng trăng tṛn sáng, chiếu soi muôn dặm, vắng lặng thanh thanh lương, là cảnh Đại tịch diệt hay Đại Bát Niết Bàn vậy. Đây cũng gọi là cảnh "Song vong", người chăn và trâu đều mất, phiền năo cùng pháp trừ phiền năo không c̣n. Như lời xưa đă diễn tả:

Soi lại người, trâu dă mất tung
Dặm ngàn vắng lạnh nguyệt linh lung!
Ư hay đoan bích như ai hỏi
Cỏ biếc hoa tư tươi tự thắm hồng!
 

Hán 19:

Nhứt cú Di Đà
Khai Bát nhă môn
Thập hư vạn pháp
Nhứt khẩu b́nh thôn.

Việt 19:

Một câu A Di Đà
Mở toang cửa bát nhă
Muôn pháp cơi thập hư
Một miếng nuốt tả cả.

Lược giải:

Bát nhă là trí huệ. Thập hư có nghĩa: cơi hư không ở mười phương. Một câu Phật hiệu, nếu niệm cùng cực, tất mở toang được trí huệ và bao hàm muôn pháp ở mười phương hư không. Muốn một tiếng nuốt trọn muôn pháp cơi thập hư, bên trong hành giả phải tiêu trừ bốn đại năm uẩn thuộc ngă chấp, bênngoài xả bỏ sáu trần cùng thời gian, không gian thuộc pháp chấp. Khi chuyên giữ một câu Phật hiệu, xả trừ quan niệm chấp thân tâm và thế giới như thế, đến lúc sức cực công thuần, tam của đương nhân bỗng mở rỗng rang, bao trùm muôn pháp khắp mười phương, như bọt nước ḥa tan đồng sức hàm chứa cùng biển rộng. Đó gọi là một miếng nuốt tất cả. Thuở xưa cư sĩ Bàng Uẩn đếm tham khấu đức Mă Tổ hỏi: "Thế nào là ư của Tổ Sư Đạt Ma từ Tây phương đến?". Mă Tổ đạp: "Đợi khi nào ông uống một hớp hết nước sông tây giang, ta sẽ nói cho biết!". Cư sĩ nghe xong bỗng đại ngộ. Hành giả niệm Phật nên theo dơi bước đại ngộ này, đừng quan thiệp vào lư giải.
 

Hán 20:

Nhứt cú Di Đà
Hỏa ốc môn khai
Tùng giả lư nhập
Khoái tùy ngă lai.

Việt 20:

Một câu A Di Đà
Mở cửa nhà đẹp cao
Gọi các hàng tùng giả
Mau theo ta đi vào.

Lược giải:

Hoa ốc đây, chỉ cho cảnh trang nghiêm của thế giới Hoa Tạng. Khi hành giả chứng được Niệm Phật tam muội rồi, tâm cảnh rỗng rang, lần lần đi sâu vào biển thế giới Hoa Tạng, gồm vô biên quốc độ mầu đẹp trang nghiêm. Tự ḿnh giác ngộ chứng được đức trí, lại dùng vô lượng phương tiện khuyên dẫn kẻ hữu duyên đồng bước theo vào nơi hoa ốc để thật hiện đức Bi...Đây là bản nguyện cao cả của người học đạo.
 

nghĩ bàn của môn Niệm Phật, khuyên chúng sanh nên phát nguyện cầu sanh về Cực lạc. Từ xưa đến nay, chư Tổ cũng đă dẫn kinh viết luận rất nhiều, để tán dương môn Tịnh độ. Tâm xót thương sâu rộng, lời khổ thiết khuyên răn của chư Phật, Bồ tát, Tổ sư như thế, thật đă hết ḷng hết sức. Ví như người đẩy thuyền chở nặng muôn hộc, giương cung cứng mạnh ngàn cân, sự dùng tâm vận lực đă đến mức điểm cuối cùng vậy.
 

Hán 21:

Nhứt cú Di Đà
Nhập vương tam muội
Tợ địa quân kinh
Như thiên phổ cái.

Việt 21:

Một câu A Di Đà
Vào tam muội Bảo vương
Như đất đều nâng đỡ
Tợ trời che khắp miền.

Lược giải:

Niệm Phật tam muội cũng gọi là Bảo Vương tam muội. Khi chứng được tam muội này, diệt vô lượng tội chướng, tăng vô biên phước huệ, độ vô số chúng sanh, đức hóa lan rộng khắp mọi nơi như trời che đất chở. Từ nơi Niệm Phật Bảo Vương tam muội này, Bồ tát rưới vô lượng mưa pháp độ khắp chúng sanh. Như trong kinh Hoa Nghiêm, Đức Vân Bồ tát đă bảo Thiện Tài đồng tử:

"Thiện nam tử! Chư đại Bồ tát có vô biên hành môn trí huệ thanh tịnh. Đó là: Môn Trí Quang Phổ Chiếu Niệm Phật, thường thấy các thứ cung điện nghiêm sạch nơi tất cả quốc độ của chư Phật. Môn Linh Nhứt Thiết Chúng Sanh Niệm Phật, tùy nơi tâm ưa thích của các chúng sanh, đều khiến cho được thấy Phật và được thanh tịnh. Môn Lĩnh An Trụ Lực Niệm Phật, khiến cho được vào mười lực của Như Lai. Môn Linh An Trụ Pháp Niệm Phật, khiến cho thấy vô lượng chư Phật được nghe pháp mầu. Môn Chiếu Diệu Chư Phương Niệm Phật, thấy trong tất cả thế giới, các Phật hải đều đồng nhau không sai khác. Môn Nhập Bất Khả Kiến Xứ Niệm Phật, thấy tất cả cảnh vi tế trong các việc thần thông tự tại của chư Phật. Môn Trụ Ư Chư Kiếp Niệm Phật, trong tất cả kiếp thường thấy các việc làm của Như Lai không tạm mất. Môn Trụ Nhứt Thiết Thời Niệm Phật, trong tất cả thời thường thấy Như Lai đồng ở gần bên không xa ĺa. Một Trụ Nhứt Thiết Sát Niệm Phật, trong các quốc độ đều thấy thân Phật vượt hơn tất cả không chi sánh bằng. Môn Trụ Nhứt Thiết Thế Niệm Phật, tùy nơi tâm ḿnh ưa thích, thấy khắp chư Như Lai trong ba đời. Môn Trụ Nhứt Thiết Cảnh Niệm Phật, khắp trong tất cả cảnh giới, thấy chư Như lai lần lượt hiện thân. Môn Trụ Tịch Diệt Niệm Phật, trong một niệm thấy chư Phật trong tất cả cơi thị hiện vào Niết bàn. Môn Viễn Ly Niệm Phật, trong một niệm thấy tất cả Phật từ chỗ ḿnh ở đi ra. Môn Trụ Quảng Đại Niệm Phật, tâm thường quán sát mỗi mỗi thân Phật đầy khắp tất cả các pháp giới. Môn Trụ Vi Tế Niệm Phật, khoảng một đầu lông có bất khả thuyết Như Lai xuất hiện, đều đến tận nơi mà thừa sự. Môn Trụ Trang nghiêm Niệm Phật, trong một niệm thấy tất cả cơi đều có chư Phật thành Đẳng chánh giác hiện sức thần biến. Môn Trụ Năng Sự Niệm Phật, thấy tất cả Phật hiện ra nơi đời phóng ánh sáng trí huệ, chuyển bánh xe pháp. Một Trụ Tự Tại Tâm Niệm Phật, tùy tâm ḿnh ưa thích, tất cả chư Phật đều biết và hiện ảnh tượng. Môn Trụ Tự Nghiệp Niệm Phật, biết tùy theo nghiệp lành chứa nhóm của chúng sanh, hiện ra ảnh tượng khiến cho giác ngộ. Môn Trụ Thần Biến Niệm Phật, thấy Phật ngồi trên hoa sen tươi nở rộng lớn đầy khắp pháp giới. Môn Trụ Hư Không Niệm Phật, quán sát Như Lai có nhiều thân như mây, trang nghiêm pháp giới và hư không giới...".

Môn Niệm Phật xuất sanh nhiều tam muội và lợi ích khắp chúng sanh như thế, nên gọi là Vương tam muội, và như trời che đất chở.
 

Hán 22:

Nhứt cú Di Đà
Đắc Đại tổng tŕ
Chuyển nhứt thiết vật
Sử thập nhị th́.

Việt 22:

Một câu A Di Đà
Khiến được Đại tổng tŕ
Chuyển hết tất cả vật
Sử dụng mười hai th́.

Lược giải:

Đại Tổng Tŕ là sự thông suốt nắm giữ tất cả pháp với tầm mức lớn lao rộng răi. "Muốn được tất cả, phải bỏ tất cả". Ví như tấm gương sáng lớn mà đem vật ǵ che áng ở trước, dù là một b́nh hoa đẹp, tất chỗ đó mất sự chiếu soi tự tại. Chơn tâm của chúng ta là tấm gương Đại viên cảnh trí, nếu chấp giữ một pháp nào, dù đó là Phật lư cao siêu mầu nhiệm, tất cũng sẽ bị kém mất sức chiếu soi tự tại, sự thông suốt tất cả pháp. Như thế làm sao được Đại tổng tŕ? Kinh nói: "Thấy biết mà giữ sự thấy biết là gốc vô minh. thấy biết không giữ sự thấy biết, đó mới chính Niết bàn". (Tri kiến lập tri, tức vô minh bản. Tri kiến vô kiến, tư tức niết bàn). Cho nên chuyên nhứt câu niệm phật, xả bỏ tất cả, hành giả quyết sẽ được Đại tổng tŕ, Đại tam muội.

Kinh Lăng Nhgiêm nói: "Nếu chuyển được vật, tức đồng với Như Lai". (Nhược năng chuyển vật, tức đồng Như Lai). Chúng sanh tâm thường hướng ngoại, không biết các pháp là huyễn, cho nên bị cảnh lục trần xoay chuyển, như con trâu lâm cảnh xỏ vàm dắt đi, hằng chịu sự phiền năo buộc ràng không được tự tại. Nếu quán xét các pháp là huyễn, giữ một câu Phật hiệu xoay chiếu vào trong, th́ tâm lần lần thanh tịnh tự tại, sẽ làm chủ được các pháp, không c̣n bị các pháp sai sử làm chủ nữa. Đó gọi là "chuyển vật" là đồng với Như lai. Trái lại, tức là bị vật chuyển, đồng với chúng sanh vậy.

Ấn Quang pháp sư bảo: "Một ḷng không trụ, muôn cảnh đều nhàn!" (Nhứt tâm vô trụ, vạn cảnh câu nhàn). Khi tâm trụ nơi các pháp, th́ thấy thời gian có lâu mau, bị cảnh giới làm cho loạn động, sanh niệm ưa, chán, ghét, thương, khổ, vui, cùng vô lượng phiền năo. Như trên, khi hành giả giữ câu niệm phật thanh tịnh, không để cho vật chuyển, th́ trong mười hai thời của ngày đêm, hằng được nhàn nhă tự tại, tùy ư sử dụng mọi sự, việc nào đáng làm trước hoặc làm sau đều theo tuần tự, chẳng khác vị đông y sĩ tùy nghi sử dụng các hộc thuốc của ḿnh.

Tóm lại, nếu khéo biết tu hành, th́ cách tự tại sử dụng trong mười hai thời, sự làm chủ xoay chuyển các pháp, cho đến chứng đắc cảnh giới Đại tổng tŕ, then chốt đều do ở nơi câu niệm Phật.
 

Hán 23:

Nhứt cú Di Đà
Tánh bản tự không
Tinh day cung Bắc
Thủy tận triều Đông.

Việt 23:

Một câu A Di Đà
Tánh thể vốn tự không
Các sao chầu Bắc đẩu
Muôn nước chảy về Đông.

Lược giải:

Một tín nữ đến thuật lại với bút giả: "Có vị Sư cô bảo con bỏ hết đừng nên niệm Phật nữa, hăy để ḷng yên lặng cho tâm không cảnh không, mới mau ngộ đạo!". Bút giả nói: "Các pháp đều như huyễn, câu niệm Phật cũng như huyễn, tự thể của nó đă là không rồi, cần ǵ phải bỏ? Nếu muốn chứng được tâm không cảnh không, mà c̣n ngại câu niệm Phật, c̣n bác bỏ sự tướng, th́ đó chính là thiên không hay ngoan không (cái không thiên lệch, trống rỗng, cứng chắc) của ngoại đạo, chớ chẳng phải ư nghĩa chân không của Phật pháp. Ư nghĩa chân không chân chánh của đạo Phật ở ngay nơi tất cả cái có thuộc mọi sự tướng, mà không chấp thấy là có (Chân không bất không, diệu hữu phi hữu). Chẳng phải riêng Sư cô ấy lạc lầm, trong hiện tại có rất nhiều vị tu học Phật pháp đă sa vào hầm hố đó. Thật là điều không may và đáng thương cảm!". Nay nhân tiện xin tạm mượn sự việc trên để giải thích về ư nghĩa "Tự không" của câu niệm Phật.

Theo quan niệm địa dư xưa, người Trung Hoa cho rằng vùng đất của loài người ở là một châu lớn, chỗ họ cư trú thuộc trung quốc. Phía Đông của châu ấy là biển cả, muôn ḍng nước ở lục địa đều chảy ra đó. Người Việt Nam hấp thụ văn hóa Trung Hoa, cũng đồng với quan điểm ấy. Bởi thế cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm mới có câu: "Hồng Nhật đông thăng tri đại hải. Bạch Vân tây vọng thị thần châu". Và theo thiên văn học xưa, người Trung Hoa bảo rằng các v́ sao đều chầu hướng về ngôi Bắc đẩu. Để dẫn giải cho Phật pháp, Triệt Ngộ đại sư cũng phương tiện mượn quan niệm thế gian ấy mà làm thí dụ. Bởi tất cả pháp đều từ nơi biển chân không lưu xuất, và đều tan về chân không. Bên tông tịnh độ gọi thể chân không đó là Tự tánh Di Đà. Bài kệ trên đại ư: Câu niệm Phật tánh vốn tu tiến chứng thể tánh ấy một cách viên măn, sẽ thức ngộ muôn pháp từ nơi đó mà lưu xuất, lại cũng qui nhập về nơi đó. Như sao Bắc đẩu làm chủ muôn sao, muôn sao chầu về Bắc đẩu, biển Đông dâng nước vào các sông ng̣i, nước sông ng̣i đều đổ về biển Đông vậy.
 

Hán 24:

Nhứt cú Di Đà
Pháp giới duyên khởi
Tịnh nghiệp chánh nhân
Bồ đề chủng tử.
Việt 24:

Một câu A Di Đà
Là duyên khởi pháp giới
Chánh nhân của tịnh nghiệp
Và chủng tử Bồ đề.

Lược giải:

Phật Pháp chia thành hai hệ: Không tông và Hữu tông. Không tông đề ra thuyết Chân như duyên khởi; Hữu tông đề ra thuyết A lại da duyên khởi. Dung nhập vào trung đạo, tức Nhứt chân pháp giới, th́ Không và Hữu chẳng khác, Chân như tức A lại da. Đây ư nói câu niệm Phật là huyễn hữu, cũng lại là chân không, duyên khởi điểm của nó từ nơi pháp giới. Vậy câu niệm phật là Pháp giới duyên khởi, gồm Chân như cùng Lại da duyên khởi, dung nhiếp cả Hữu Không. Bởi thế nên niệm Phật là chánh nhân của tịnh nghiệp. Tịnh nghiệp đây gồm bốn Tịnh độ mà tiêu điểm cuối cùng là cơi Thường Tịch Quang. Và niệm Phật cũng là hạt giống Bồ đề đưa đến sự toàn giác, gồm giác ngộ ḿnh, giác ngộ chúng sanh, hạnh giác ngộ đầy đủ.
 

Hán 25:

Nhứt cú Di Đà
Như cảnh chiếu cảnh.
Uyển chuyển hỗ hàm.
Trùng điệp giao ánh.

Việt 25:

Một câu A Di Đà
Như gương chiếu các gương.
Uyển chuyển ngậm bóng nhau
Điệp trùng giao chói sáng.

Lược giải:

Đời Đường, Hiền Thủ đại sư khi giảng kinh Hoa Nghiêm đến nghĩa: "Vô tận pháp giới trùng trùng Đế vơng". Ngài phương tiện dùng mười mặt gương tṛn lớn, để tám hướng và trên dưới mỗi chỗ một tấm, cách nhau độ hơn trượng và đều cùng đối diện. Chính giữa lại an bài cốt Phật, rồi thắp một ngọn đèn sáng để soi. Lúc ấy học chúng đều thấy trong mỗi mặt gương nổi hiện lớp lớp tượng Phật và ánh sáng. Nhân đó tất cả đều hiểu ư nghĩa: Biển quốc độ giao chiếu xen lẫn nhau lớp lớp điệp trùng, không cùng tận, không ngằn mé. Đây là cảnh tượng tang nghiêm của Hoa Tạng thế giới hải. Bài kệ trên ư nói: Câu niệm Phật sẽ đưa hành giả vào cảnh đại trang nghiêm không cùng tận đó. Cho nên niệm Phật chẳng phải là pháp thấp kém thông thường. Đă có bài kệ khen ngợi.

Niệm Phật vào tướng thật
Chứng biết Phật với Phật.
Cảnh vô tận trang nghiêm
Môn Đại ba la mật!
 

Hán 26:

Nhứt cú Di Đà
Tợ không hợp không.
Liễu vô ngân phùng
Khước hữu Tây Đông.

Việt 26:

Một câu A Di Đà
Như không hợp hư không.
Tuyệt không chút lằn dấu
Nhưng vẫn có Tây Đông.

Lược giải:

Đem một ly nước đổ vào chậu nước th́ nước cùng nước dung ḥa nhau, không làm sao t́m thấy lằn dấu. Khi trút nước ra, khoảng hư không trong ly hợp với hư không bên ngoài, cũng tuyệt không lằn dấu. Hành giả niệm Phật, nếu trong quên thân tâm, ngoài quên cảnh giới, chẳng thấy ḿnh là người hay niệm, Phật là vị được niệm, th́ tâm rỗng rang hồn nhiên, dung họp với thể tánh chân không. Tâm cảnh ấy chẳng phải vào ngoan không có chi, v́ như thế là lạc vào ngoan không của ngoại đạo. Trái lại, hiện tượng chân không ấy sáng suốt vô tận bao hàm muôn pháp, vẫn có đầy đủ màu sắc của cỏ cây, sông, núi, trời mây, vẫn có các phương hướng, cho đến cơi Ta bà thuộc phương Đông, cơi Cực lạc ở phương Tây. Đó mới đích xác tánh không chân chánh, cũng gọi là Như Lai nhứt thật cảnh giới.

Thuở xưa có vị cư sĩ đến hỏi đạo một cao Tăng ở chốn sơn lâm. Bậc thượng nhân này không đáp duy trỏ mây trên trời cùng cái b́nh đựng nước của ḿnh. Tuy nhiên tuệ căn đă sẵn, vị cư sĩ liền nghộ vào thể đạo, tức thật tánh chân không, liền làm bài kệ, tŕnh lên rằng:

Luyện được thân h́nh tợ hạc h́nh
Ngàn thông tươi tốt mấy pho kinh.
Ta nay hỏi đạo không chi khác
Mây ở trời xanh, nước ở b́nh!
Niệm Phật đến chỗ vô niệm, sẽ dung hợp với tánh không bao la, t́m không thấy mối mang dấu vết, mà vẫn đầy đủ tất cả, không thêm bớt là như thế.
 

Hán 27:

Nhứt cú Di Đà
Nhứt Đại tạng kinh
Tung hoành giao thái
Tuyệt đăi u linh.

Việt 27:

Một câu A Di Đà
Là một Đại tạng kinh
Dọc ngang giao chói sáng
Tuyệt đối, thể u linh.

Lược giải:

Có một độ, bút giả vừa tụng xong bộ kinh Hoa Nghiêm, tâm niệm bỗng vắng lặng quên hết điều kiến giải, hồn nhiên viết ra bài kệ sau:

Vi trần phẩu xuất đại thiên kinh
Nghĩ giải thiên kinh không dịch h́nh!
Vô lượng nghĩa tâm toàn thể lộ
Lưu oanh hựu chuyển tịch thường thinh.
Bài kệ này có ư nghĩa: Chẻ hạt bụi cực vi để lấy ra tạng kinh rộng nhiều bằng cơi Đại thiên thế giới. Tạng kinh ấy đă từ điểm bụi cực vi nơi không tâm diễn ra, th́ t́m hiểu nghĩa lư làm chi cho mệt tâm h́nh? Tốt hơn là nên trở về chân tâm, bởi tâm này đă sẵn đầy đủ vô lượng vô biên diệu nghĩa, lúc nào cũng lồ lộ hiện bày. Ḱa chim oanh bay chuyền trên cành cây kêu hót, đang nói lên ư nghĩa chân thường vắng lặng ấy!

Câu niệm Phật cũng thế, nó bao hàm vô lượng vô biên nghĩa lư nghiệm mầu, đâu phải chỉ một Đại tạng kinh? Gọi một Đại tạng kinh chỉ là lời nói ước lược mà thôi. Khi niệm Phật dứt hết vọng tưởng, đi thẳng vào chân tâm hay vô lượng nghĩa tâm, th́ ánh sáng tự tâm phát hiện dọc ngang chói suốt bốn bề. Tâm cảnh ấy dứt hết sự đối đăi, u linh nhiệm mầu không thể diễn tả!
 

Hán 28:

Nhứt cú Di Đà
Nhứt Đại tạng luật.
Miết nhỉ tịnh tâm
Giới ba la mật.

Việt 28:

Một câu A Di Đà
Là một Đại tạng luật.
Chớp mắt vào tịnh tâm
Đủ Giới ba la mật.

Lược giải:

Câu niệm Phật đă bao hàm đầy đủ nghĩa lư của một Đại tạng kinh, th́ đối với một Đại tạng luật nó cũng như thế. V́ luật chẳng ngoài nhiếp giữ thân, khẩu, ư cho trong sạch. Và thân, khẩu, ư lại không ngoài tâm, nếu tâm thanh tịnh th́ ba nghiệp cũng đều trang nghiêm thanh tịnh. Luật nói: "Phật chế tất cả giới, mục đích để trị tất cả vọng tâm. Nếu không có tất cả vọng tâm, th́ cần chi dùng tất cả giới?" (Phật chế nhứt thiết giới, vi trị nhứt thiết tâm. Nhược vô nhứt thiết tâm, hà dụng nhứt thiết giới?)

Cho nên khi niệm Phật, thoáng chốc dứt hết vọng tưởng đi vào tịnh tâm, tức đă đầy đủ Giới ba la mật rồi. Ba la mật là "Bờ bên kia", là nơi giải thoát rốt ráo. Niệm Phật thanh tịnh, tức đă đầy đủ sự giữ giới đến bờ cứu cánh giải thoát vậy.
 

Hán 29:

Nhứt cú Di Đà
Nhứt Đại tạng luận.
Đương niệm tâm khai
Huệ quang như phúng.

Việt 29:

Một câu A Di Đà
Là một Đại tạng luận.
Đương niệm tâm mở thông
Ánh huệ tuôn vô tận.

Lược giải:

Như trên, câu niệm Phật đă bao hàm Kinh, Luật, tất nhiên đối với Luận cũng như thế. Kinh Viên Giác nói: "Trí tuệ sáng sạch vô ngại, đều từ nơi thiền định mà sanh". Niệm Phật thanh tịnh chính là thiền định, từ định phát sanh trí huệ. Đă có trí huệ th́ nguồn biện luận sẽ vô cùng. Tứ vô ngại biện cũng từ nơi niệm Phật thanh tịnh tâm cảnh mở sáng, mà tuôn trào như suối chảy.
 

Hán 30:

Nhứt cú Di Đà
Nhứt tạng bí mật.
Phát bản thần thông
Cụ đại uy lực.
Việt 30:

Một câu A Di Đà
Là một tạng bí mật.
Phát nguồn cội thần thông
Đầy đủ uy lực lớn.

Lược giải:

Câu niệm Phật đă gồm ba tạng của Hiển giáo lại cũng đủ thần thông uy lực của bí tạng Mật giáo. "Bản thần thông" là thần thông sẵn có, phát sanh từ nguồn gốc chân tâm, không phải do tập luyện mà được. Niệm Phật công thuần đến mức thanh tịnh, cũng như người có sẵn tiền muốn mua món ǵ cũng được. Dùng công đức niệm Phật để cầu an, cầu siêu, trừ tai nạn, trị đau bịnh, hàng tà ma, sám tội chướng, cầu phước huệ duyên lành, nguyện sanh lên cung trời hoặc về cơi Phật, cho đến cầu Đại Niết bàn cũng đều thành tựu. Tất cả uy lực thần thông cũng từ câu niệm Phật mà phát sanh. Như thuở xưa, Thiện Đạo đại sư khi niệm Phật, mỗi câu đều có một luồng ánh sáng phóng ra. Một Đại sư về Tịnh tông bên Nhật Bản, mỗi câu niệm hồng danh, trong miệng bay ra một vị Phật. Liên Tŕ đại sư lúc dân chúng nhờ đảo vơ, ngài chỉ ra ngoài đồng gơ mơ niệm Phật, đi tới đâu mưa rơi đến đó. Niệm Phật tùy ư phát ra thần thông uy lực là như thế.
 

Hán 31:

Nhứt cú Di Đà
Hồn toàn Đại tạng
Giới, định, huệ quang
Lưu xuất vô lượng!

Việt 31:

Một câu A Di Đà
Gồm toàn cả Đại tạng.
Giới, định, huệ ánh mầu
Tuôn ra không hạn lượng!

Lược giải:

Bài kệ trên nói tổng quát về sự bao hàm các Đại tạng của câu niệm Phật. Các Đại tạng đây, gồm Kinh tạng, Luật tạng, Luận tạng, Tạp tập tạng và Bí mật tạng. Tạp tập tạng nói về các pháp Đại thừa cũng gọi Bồ tát tạng. Bí mật tạng gồm các phương thức đàn, ấn, chú, mở một lối tu đặc biệt, gọi là Kim cang thừa.

Đường lối chứng lên thánh đạo không ngoài căn bản giới, định, huệ, nhưng chỉ một câu niệm Phật đă gồm đủ. Niệm Phật nhiếp thân, khẩu, ư trong sạch là Giới. Niệm Phật thanh tịnh ḷng không loạn động là Định. Niệm Phật sáng suốt dứt hết vọng tưởng điên đảo là Huệ. Hành tŕ như thế, công càng dày, niệm càng sâu, th́ ánh nhiệm mầu của giới, định, huệ, càng sáng tỏ và chiếu xa đến nơi vô cùng tận!
 

Hán 32:

Nhứt cú Di Đà
Thằng bản thị ma.
Nại hà bất hội
Phiên nghi tác xà?

Việt 32:

Một câu A Di Đà
Dây gốc vốn là gai.
Tại sao không thể nhận?
Nghi là rắn lầm thay!

Lược giải:

Duy Thức Luận có đoạn thí dụ: Người nọ đi trong cảnh trời nhá nhem tối, chợt thấy một sợi dây to nằm uốn lượn, tưởng là con rắn, vội nhảy tránh la hoảng lên. Đến chừng nh́n kỹ lại mới biết ḿnh lầm, v́ đó chỉ là đoạn dây. Nếu người ấy thể nhận sâu thêm, sẽ thấy dây kia cũng không thật, v́ do những tơ gai nhỏ kết hợp thành.

Lầm dây là rắn, Duy thức học thí dụ cho tánh Biến kế sở chấp thuộc Phi lượng, tức chấp trước mọi sự và lượng định một cách sai lạc. Nhận ra là dây, thí dụ cho tánh Y tha khởi thuộc về Tỷ lượng. Y tha khởi là tánh chất nương nơi cái khác khởi hiện, như sợi dây nương nơi cái khác khởi hiện, như sợi dây nương nơi tơ gai mà có. Tỷ lượng là sự lượng định tương tợ của ư thức so sánh, như thấy dây tương tợ như rắn. Thể nhận sâu thêm, thấy dây cũng giả, chỉ do tơ gai kết hợp thành, thí cụ cho tánh Viên thành thật thuộc Hiện lượng. Viên thành thật là tánh bao la sáng suốt tṛn đầy xác thật. Hiện lượng là tâm lượng của trực giác không phân biệt. Đây mới là tánh lượng xác thật rốt ráo của chân tâm.

Sự ứng dụng về niệm Phật cũng thế. Nếu cho câu hồng danh là một pháp lành, dùng nó để tu cầu phước báu hư huyễn của cơi Nhơn thiên, đó thuộc về tánh Biến kế sở chấp và Phi lượng. Có người dùng câu niệm Phật như một thoại đầu hay phương tiện để dứt trừ vọng tưởng trở lại chân tâm, cũng c̣n thuộc về tánh Y tha khởi là Tỷ lượng. Như thể nhận niệm Phật tức là Phật, ngay câu hồng danh là phước, là huệ, là thật tướng, là chân tâm và Bồ đề Niết bàn, đó mới là tánh Viên thành thật thuộc Hiện lượng. Ứng dụng niệm Phật như thế mới đúng mức. Dùng với hai cách trước c̣n là khuyết điểm sai lầm. Bài kệ trên, Triệt Ngộ thiền sư muốn nêu cao sự diệu dụng về niệm Phật, để phá lối nhận thức sai lạc của một số người đối với pháp môn này.
 

Hán 33:

Nhứt cú Di Đà
Hản văn hản đổ.
Ảnh hiện cảnh lâm
Hưởng tuyên thiên cổ.

Việt 33:

Một câu A Di Đà
Rất ít nghe ít thấy.
Gương hiện bóng rừng cây
Trống trời tiếng vang dậy.

Lược giải:

Nơi cơi trời Đao Lợi có chiếc thiên cổ do Bồ tát hóa hiện. Khi chư Thiên mê say theo ngũ dục, trống ấy nổi lên tiếng ầm ầm để cảnh giác, và nói ra các pháp: Khổ, Không, Vô thường, Vô ngă. Thiên chúng nghe xong như chợt tỉnh, liền bỏ các thú vui, cùng nhau tụ họp lại Thiện pháp đường để giảng luận về đạo đức. Niệm Phật cũng có tác dụng giống như thế. Bởi công đức câu hồng danh, do sự nhiếp tâm xưng niệm, hành giả sẽ được tiêu trừ nghiệp chướng, lần lần đi đến chỗ giác ngộ.

Lại như tấm gương tṛn sáng vẫn lặng lẽ không phân biệt, mà hiện rơ bóng hoa cỏ, rừng cây với đầy đủ chi tiết. Hành giả niệm Phật đến mức tịch tĩnh vô phân biệt, th́ tấm gương ḷng tức Đại viên cảnh trí sẽ lần lần hiện ra sáng suốt lan rộng. Trong ấy cảnh y báo và chánh báo của mười phương đều ảnh hiện, đương nhơn có thể nhận biết rơ từng số điểm hạt mưa trong tam thiên thế giới. Như Di Lặc Bồ tát đă khai thị cho Hư Vân thiền sư: "Gương đại trí trang nghiêm. Hiện cảnh giới sum la. Trời người và phàm thánh. Thiện ác đều an lạc".

Công đức câu hồng danh rất ít nghe ít thấy như thế, song tiếc thay cũng rất ít người am hiểu suốt thông!
 

Hán 34:

Nhứt cú Di Đà
Vô khả thí dụ!
Cổ cảnh đương đài
Thủy ngân đọa địa.

Việt 34:

Một câu A Di Đà
Không thể thí dụ tất!
Gương xưa nơi đài cao
Thủy ngân rơi xuống đất.

Lược giải:

Công năng niệm Phật rất mầu nghiệm, không thể nào dùng thí dụ mà nói ra cho hết được! Về thể, th́ niệm phật sẽ phát hiện Đại viên cảnh trí, ảnh hiện mọi cảnh giới: như tấm gương xưa để nơi đài cao chiếu rơ và in bóng cảnh vật một cách không phân biệt. Đă vô phân biệt th́ làm sao dùng lời nói mà diễn tả thí dụ? Về dụng, câu niệm Phật viên dung không ngại, như hạt thủy ngân rơi xuống mặt đất liền lăn tṛn. Sự tŕ niệm hồng danh có đủ Thiền, Giáo, Luật, Mật, một ngàn bảy trăm công án, tám muôn tư pháp tạng. Nói rộng ra, lục độ vạn hạnh, tất cả hành môn đều dung thông hàm chứa trong câu niệm Phật.
 

Hán 35:

Nhứt cú Di Đà
Lăo bà tâm khổ!
Vận vạn hộc chu
Phát thiên quân nổ.

Việt 35:

Một câu A Di Đà
Ḷng thương xót khổ tân!
Đẩy thuyền nặng muôn hộc
Kéo cung mạnh ngàn cân.

Lược giải:

V́ ḷng đại từ đại bi, đức Thích Tôn cùng hằng hà sa số chư Phật ở sáu phương, đều hiện tướng lưỡi rộng dài, khen nói công đức không thể nghĩ bàn của môn Niệm Phật, khuyên chúng sanh nên phát nguyện cầu sanh về Cực lạ