|
Trí tuệ Di Đà soi sáng cảnh phù vân. Thật vậy, với
kinh nghiệm bản thân, đời sống tôi ngày nay được an
lạc, phần lớn đă đặt niềm tin vào pháp niệm Phật,
nên sự tu tập được sung măn và phát triển, tâm t́nh
thanh thản không chút lo âu. Trong những nghịch cảnh
tôi được thông suốt và vượt qua. Lúc thiếu thời, gia
đ́nh tôi không may gặp nhiều điều gia biến. Cha mẹ
mất sớm; thời Pháp thuộc, ở làng quê mọi người sống
trong cảnh luôn bị đe dọa, hà hiếp, chạy trốn. Gia
đ́nh sống hiền lành theo truyền thống của tổ tiên,
thờ cúng ông bà và các đạo trong đó đạo Phật là căn
bản. C̣n đi học, tôi nhớ có mấy cuốn kinh nhật tụng
mà tôi đọc hàng ngày; ngoài ra có mấy cuốn kinh giải
nghĩa Lục Tự mà tôi luôn nghiền ngẫm, chỉ hiểu một
ít nghĩa đen mà thôi, chưa biết rơ tư tưởng sâu sắc.
Thường ngày khi đọc kinh xong, tôi đọc ra tiếng "Nam
Mô A Di Đà Phật" một hơi đến khi mệt mà thôi. Hồi
nhỏ khi làm phụ việc đồng áng, tôi thường niệm thầm
lục tự Di Đà liên tục măi. Chỉ biết niệm Phật như
vậy là tiêu trừ bao nghiệp chướng mà chính tôi và
gia đ́nh phải chịu cảnh đau thương. Thật ra, thời
gian ấy rất đau khổ: cha, bác, dượng bị Tây giết, và
gia đ́nh ḿnh cũng như trong xóm bị hoành hành luôn,
tạm thời giảm bớt thương đau; chỉ biết niệm Phật để
được gia tŕ cho mọi gia biến tiếp theo, tai qua nạn
khỏi. Thời gian đó tôi chỉ nhớ đến niệm Phật nhiều
hơn là hận thù với kẻ đă hai gia đ́nh ḿnh, nên ḷng
được thanh thản, ít bị chao đảo. Ánh sáng Di Đà đă
soi rọi mọi ưu phiền, thù hận, và ḍng tâm thức bớt
vẩn đục. Ảnh hưởng hai câu:
Lục Tự Di Đà Vô Biệt
Niệm,
Bất Lao, Đàn Khải Đáo
Tây Phương, tức là
Đọc sáu Chữ Di Đà mà
không vọng tưởng,
Không nhọc, một khải
đàn (một khải tay) là đến Tây Phương
Mỗi khi đọc sách hay nói chuyện tôi thường đọc hai
câu này. Nay lớn lên, nhiệt tâm nghiên cứu sâu hơn
đạo Phật nhất là triết lư Phật giáo, tôi có cơ hội
hiểu rơ Phật giáo hơn. Mấy vấn đề căn bản kết cấu
tâm sau đậy giúp tôi liễu tri được Phật Pháp.
I.
Kết cấu của Tâm
a). Nhận Diện (Sensation).
Ngủ giác quan là phương tiện
tiếp xúc với trần cảnh để nhận diện ảnh hay hay bóng
dáng của trần cảnh. Đó là chúng ta cảm giác được
h́nh ảnh của sự vật qua ngũ giác quan mà thôi. Thí
dụ, khi ta thấy con ḅ là thấy h́nh ảnh con ḅ ở
vơng mạc cuả mắt mà thôi. Đó là CẢM GIÁC. Nhắc lại,
(Về thị giác) khi ta nh́n con ḅ, h́nh ảnh con ḅ
hội tụ ở vơng mạc của mắt, truyền dẩn bởi thị giác
thần kinh lên năo, lức đó ta mới nhận diện được h́nh
ảnh con ḅ. Khi có thời gian th́ sự vật chạy dài
trong không gian, với ảnh ta vừa thấy đó không c̣n
là ảnh thật nữa (Sắc tức thị không: Sắc lập tức (Một
sát na) biến thành không thật nữa. Hể có thời gian
th́ có không gian. Sự vật huyễn hóa theo thời gian
và ảnh không c̣n thật trong không gian. Vậy, khi
nhận diện được h́nh ảnh (thấy), ấn tượng chấn động
lực(nghe), không khí hay hơi (ngửi), ấn tượng kích
thích (nếm), h́nh ảnh tiếp giáp của da hay cơ thể (xúc)
là thể không của đối tượng qua tiền ngũ căn. Thí dụ,
như thị giác, sự vật chiếm cứ trong không gian (hư
không) một dung thể không: sự vật và dung thể không
của nó khắng khít nhau như một, th́ thể không của nó
là h́nh ảnh sự vật được hội tụ ở vơng mạc mắt khi
mắt nh́n sự vật. Do đó khi thấy sự vật cụ thể ở
trong không gian là thấy h́nh ảnh của nó ở vơng mạc
của mắt mà thôi.
b). Nhận Thức (Perception).
Khi chúng ta cảm giác h́nh ảnh
sự vật th́ lúc đó chúng ta mới nhận biết được
(perceive) tên sự vật. Sự vật có tên mà ta nhận thức
đó là GIÁC THƯC (hay Tâm Thức: Consciousness hay
Perception) chạy dài theo thời gian. Khi nhận thức
ngay niệm đầu một sát na và không có kéo dài thời
gian nữa là ta có giác thức nguyên sơ (niệm đầu) hay
là chơn thức (pure perception or true
consciousness). H́nh ảnh con ḅ là thể không được
nhận thức bởi tâm trí (tâm trí cũng cùng thể không.)
Tâm và vật đồng thể không, nên sự nhận thức mới
thành h́nh. Lục căn phối hợp với lục trần (thể không)
sanh ra lục thức. Lục thức không có thực thể, Phật
gọi là lục tặc, v́ thức là nghiệp. Ḍng tâm thức
luôn trôi chảy không ngừng nghỉ. Nó không có khởi
điểm cũng như kết thúc và nó dính nhiều pháp trần
làm cho ḍng tâm thức luôn ô nhiễm và vẩn đục.
c). Tri Thức (Cognition).
Trong đời sống hằng ngày, ta
thường nhận thức sự vật bằng ngũ giác quan. Khi ta
tri nhận (cognize) sự vật đă nhận thức, ta có tri
thức (Cognition). Trong quá tŕnh tri nhận sự vật
trong hiện tại (Với cảm giác), quá khứ hay tương lai
(với ư thức), cả ba thời chúng ta tri nhận được sự
vật mới có GIÁC TRÍ (hay Tâm Trí). Giác Trí nầy là
Tư Tưởng, Suy Nghĩ, Lư Luận v.v. theo thời gian. Nó
là sự lập lại của tâm thức hay tri nhận các thức nên
nó tạo ra nghiệp thức. Nên ta có thể gọi là tâm
duyên ư mă v́ tư tưởng chúng ta lúc nào cũng ẩn hiện
trong tâm trí từng giây từng phút liên tục, chỉ trừ
có những động lực khác hay pháp môn có khả năng chận
dừng được vọng tưởng đó.
c). Giác Trí Tuệ (Pure
Cognition).
Khi Phật thành đạo là do đạt
được Trí Tuệ hay Giác Trí Tuệ th́ các pháp giải
thoát được thiết lập thực hành Giác Trí Tuệ trong
các thời thiền tập. Thực ra Giác Trí Tuệ có th ể
thực hiện trong tứ oai nghi. Vậy Giác Trí Tuệ là tri
nhận đầu nguồn của Giác Trí và xa ĺa nó ngay. Nói
rơ hơn là khi chúng ta nhận thức niệm đầu của Cảm
Giác (Sensation) để có Giác Thức nguyên sơ (Pure
Perception hay first consciousness), lập tức tri
nhận Giác Thức nguyên sơ ấy để được Giác Trí
(Cognition là Giác Trí có thời gian) và xa ĺa giác
trí ngay mới có Giác Trí Tuệ (Vô thời gian). V́ Giác
Trí Tuệ là Tri Thức Nguyên Thủy (Pure Cognition) của
Chân Trí (Vô thời không). Thí dụ, chúng ta thấy con
voi là giác thức hay tâm thức, v́ thấy h́nh ảnh đối
tượng hay con vật trước (Cảm Giác) rồi nhận thức
(perceive) con vật đó là con voi (hay biết được là
con voi, biết nầy thấy biết của căn, luôn luôn đi
kèm theo cảm giác, nên thấy con voi, biết tên đối
tượng là cái thức hay tâm thức hay giác thức. Nên
thức là thực tại duyên khởi hay giả danh mà thôi).
Rồi chúng ta tri nhận (dùng ư trí) giác thức ấy để
có giác trí. Vậy khi chúng ta nhận thức niệm đầu của
con voi (thấy biết con voi đầu tiên) là ta có giác
thức nguyên sơ, lập tức ta tri nhận (Hay Biết:
Cognize chớ không phải là perceive) giác thức nguyên
sơ ấy để có giác trí tuệ và phải xa ĺa cái biết ấy
nữa th́ mới có giác trí tuệ toàn diện.
Đúng ra,
tóm lại tôi có thể hiểu được:
H́nh ảnh đối tượng trong vơng
mạc mắt là bào ảnh của nó. Bào- Ảnh hay
Như-Là-Tính-Thể của sự vật là đối tượng nhận thức
của Tâm. Tính- Thể của Tâm và Như-Là-Tính-Thể của sự
vật đều đồng thể không, nên sự nhận thức mới thành
h́nh. Sự vật có thể xem là sản phẩm của Tâm. Nếu sự
vật không được tính-thể hóa c̣n gọi Như-Là-Tính-Thể
để đồng Tính-Thể của Tâm th́ sự nhận thức không thể
hiện được. Đó là quy luật: Đồng thanh tương ứng,
đồng khí tương cầu, đồng thể tương thông.
Bào thể của sự vật hay
Như-Là-Tính Thể là phản ánh Tính-Thể của Tâm. Đặc
tính Bào Thể chính là Đặc tính của Tâm.
Như-Là-Tinh-Thể và Tinh-Thể là Một.
Tri giác một đối tượng b́nh
thường theo tiền ngũ căn là một nhận thức sai lầm v́
tri giác đó c̣n nằm trong phạm vi thời không. Biết
gặp Thực Tướng của vạn hữu là nhận thức vượt khỏi
thời không như đă tŕnh bày ở phần Giác Trí Tuệ. Như
vậy Tri Thức Đúng cái Tri Thức sai lầm của tiền ngũ
căn là Giác Ngộ (Biết Gặp) Thực Tướng của sự vật. Từ
nhận định trên, tôi xin phát biểu ba pháp niệm Phât
sau đây:
II.
Ba Ngọn Đèn của Di Đà hay Ba Pháp Niệm Phật
1- Niệm Phật bằng Tướng (Tự
Tính Giả Lập)
Niệm ra tiếng là thể hiện tác
động của căn trần. Miệng niệm ra tiếng lục tự, căn
tai nghe tiếng lục tự. Khi ta đọc lục tự ít ra ta đă
nghe tiếng lục tự phát ra và căn tai ta nghe, đó là
động tác vạch sóng giữa ḍng tâm thức mà nắm bắt lục
tự. Khi ta theo dơi tiếng lục tự là ta tập trung vào
tiếng đọc đó, ḍng tâm thức ngoài lục tự đă phủ định
(tha tính không); nghĩa là khi ta niệm Phật là mọi
vọng tưởng tạm thới không quấy rối trong tâm ta, dù
không hoàn toàn ngăn chận hết tâm viên ư mă, ít ra
ta đă thanh lọc phần ư tưởng vẩn vơ và làm cho tâm
bớt vọng động. Niệm Phật theo Căn Trần là lối chủ
thể tác động với đối tượng là trần là hiện tượng (tướng)
ở ngoà tâm. Đối tượng ngoài là một thực tại giả lập,
nó không có tự tính và không chắc chắn, hay thay đổi
nên nó dễ bị vọng tưởng xen vào.
2.- Niệm Phật bằng Thức (Thực
Tại Tùy Thuộc)
Khi ta niệm lục tự thầm trong
tâm, tiếng được thầm hội chỉ làTưởng Thức. Mặc dù
tưởng thức cũng ở trong tâm được ư tác động để tưởng
niệm cũng cùng ở chung một tâm, và dầu cho tưởng
thức và ư tác động chung ḍng nhất nguyên, nhưng nó
cũng chỉ là tưởng thức của lục tự là một thực tại
tùy thuộc ở chung ḍng nhất nguyên tương đối mà thôi.
Tác dụng của cách niệm Phật nầy là ở chỗ xâm nhập,
tập trung và xoáy sâu trong ḍng tâm thức đang trôi
chảy mà làm nổi bật lục tự để phá tan đám mây mờ của
tâm trí. Lợi ích th́ nhiều hơn niệm bắng tiếng v́
thuận trong tứ oai nghi và khi đi ngủ.
.3.- Niệm Phật bằng Trí hay
Tánh (Tự tính tuyệt đối)
Thật sự niệm Phật bằng Trí là
chỉ dùng hai cách niệm Phật trên rồi chuyển thành
trí. V́ niệm Phật bằng căn trần thức là niệm thực
tại giả lập, và niệm Phật bằng thức là niệm thực tại
tùy thuộc, tất cả hai phép trên chỉ niệm theo bóng
dáng (thức) của lục tự mà thôi. Từ thực tại giả lập
hay tùy thưộc ta chuyển thành trí tức thực tại tuyệt
đối. Trí là cái biết của tâm nó toàn diện và thường
hằng, nhiều hơn cái biết của căn trần hay căn thức
v́ bị giới hạn ở các căn. Văy khi ta niệm lục tự ra
tiếng hay niệm thầm, biết ta đang niệm. Biết (của
Trí)) cái ḿnh biết (của Căn), tức là Tri Thức Đúng
(Trí) cái tri thức sai làm của nhị nguyên (chủ khách)
là đă giải thoát mọi phiền năo khổ đau.
Ư Nghĩa
Lúc nhỏ khi niệm Phật
ra tiếng hay niệm thầm liên tục, như vậy năng tri (niệm
hay đọc) và sở tri (lục tự) vẫn c̣n là tâm thức. V́
niệm liên tục như như vậy không có kẻ hở , mọi vọng
tưởng khó xen vào, (vô thời gian). Mọi khổ đau,
nhiệt năo ít khuấy nhiễu tâm tôi, tuy c̣n chủ khách,
c̣n nhân duyên (hay nhị nguyên đối đăi). Khi tôi
niệm Phật bằng Trí (hay Tánh) th́ mọi nhân duyên hay
năng sở đều song vong (không c̣n). Khi niệm
(hay đọc) Nam Mô A Di Đà Phật , tôi biết đọc
lục Tự. Khi tôi niệm thầm(đọc thầm)
Nam Mô A Di Đà Phật, tôi biết niệm thức lục
tự. Biết, tuệ tri, hay cái sáng suốt là vô tự tính,
là hư không, nên Biết sáng suốt vô thời không th́
không bị định luật nhân quả chi phối. Thấy Biết là
pháp chơn thât, là thượng trí như Phật dạy trong
Đại Kinh Sáu Xứ từ nguyên thủy sau đây.
III.
Tu Tập
với Thượng Trí
Này các Tỷ-kheo, thấy và
biết như chơn tai; này các Tỷ-kheo, thấy và biết như
chơn mũi; này các Tỷ-kheo, thấy và biết như chơn
lưỡi; này các Tỷ-kheo, thấy và biết như chơn thân;
này các Tỷ-kheo, thấy và biết như chơn ư; này các
Tỷ-kheo, thấy và biết như chơn các pháp; này các
Tỷ-kheo, thấy và biết như chơn ư thức; này các
Tỷ-kheo, thấy và biết như chơn ư xúc. Do duyên ư xúc
này khởi lên lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ;
thấy và biết như chơn cảm thọ ấy, nên vị ấy không ái
trước đối với ư, không ái trước đối với các pháp,
không ái trước đối với ư thức, không ái trước đối
với ư xúc. Do duyên ư xúc này khởi lên lạc thọ, khổ
thọ, hay bất khổ bất lạc thọ; vị ấy không ái trước
đối với cảm thọ ấy... tâm khổ năo được đoạn tận. Vị
ấy cảm thọ thân lạc và tâm lạc. Kiến ǵ như chơn của
vị ấy, kiến ấy là chánh kiến. Tư duy ǵ như chơn của
vị ấy... hoạt mạng của vị ấy đi đến thanh tịnh tốt
đẹp. Và Thánh đạo Tám ngành này đi đến tu tập và
phát triển sung măn cho vị ấy. Do sự tu tập Thánh
đạo Tám ngành này như vậy...Và này các Tỷ-kheo, thế
nào là những pháp cần phải chứng ngộ với thượng trí
? Minh và giải thoát, những pháp này cần phải chứng
ngộ với thượng trí.
Thế Tôn thuyết giảng như
vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn
dạy.(HT.Thích Minh Châu Việt dịch)
Tựu chung, lục căn, lục
trần, lục thức. bát chánh đạo, hay tất cả các pháp,
kể că pháp niệm Phật, khi thấy biết các pháp
như chơn như thật kể trên đều là sự nhận thức sáng
suốt của Thượng Trí. Do sự niệm Phật bằng trí như
trên là thấy (đọc hay niệm) lục tự biết
như chơn lục tự. Có nghĩa là Chơn lục tự, là
thấy (đọc hay niệm) chính lục tự trọn vẹn,
không thêm không bớt chữ nào c̣n nguyên thủy , không
biến thể theo thời gian tức chơn thức;
biết (tri nhận) chơn thức đó là đă chuyễn
thức thành trí rồi, không c̣n năng sở (năng sở
là tâm thức). Nhắc lại, khi niệm lục tự, dây thần
kinh dẩn truyền lên năo chấn động lực của chơn thinh
hay chơn pháp từ chơn tai hay chơn ư để có chơn nhĩ
thức hay chơn ư thức th́ đồng thời đă xúc chạm dây
thần kinh, có nhân nhĩ xúc hay ư xúc; do các duyên
xúc này khởi lên lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất
lạc thọ. V́ chúng ta thấy biết chơn cảm thọ không
có thời gian, nên không có ái trước (trong A Lại Da
thức) đối với tai, hay nhĩ thức, ư hay ư thức (nhĩ
thức, ư thức không lập lại), không có ái trước đối
với các thinh, pháp (chấn động lực hay kích thích có
sẵn tích tụ) và ái trước đối với nhĩ xúc, ư thức (Xúc
có sẵn trong A-Lai-Da Thức: kư ức). Từ đó do các
duyên xúc này khởi lên lạc thọ, khổ thọ , bất khổ
bất lạc thọ mà không có ái trước đối với cảm thọ ấy.
Giác Trí vô thời gian th́ Xúc Thọ Ái Thủ Hữu không
khởi lên được. Giác Trí đó vô thời gian là Giác Trí
Tuệ, Chơn Trí hay Thượng Trí. Niệm Phật bằng Tánh
phải được chứng ngộ với thượng trí để được Minh Tâm
và Giải Thoát khỏi Vô Minh.
IV.
Kết Luận
Nhân ngày vía của Đức
Phật Di Đà, tôi tưởng lại quá khứ, niệm Phật bằng
tiếng hay niệm thầm thuần thực cho đến nỗi trong
giấc ngủ cũng c̣n nhớ niệm. Niệm như vậy, ḷng tôi
giảm bớt đau khổ. Luôn miệng đọc hai câu, "Lục tự Di
Dà vô biệt niệm, bất lao, đàn khải đáo Tây Phương",
mà trong tôi rộn lên niềm vui thích khôn tả của cảnh
Tây Phương. Hiện hữu tôi biết được niệm Phật bằng
tánh mới hợp với hai câu trên; tức niệm, "Nam
Mô A Di Đà Phật," biết có niệm, thôi,
tiếp niệm khác cũng vậy. Niệm Phật không có vọng
niệm th́ mới đúng. Ngay đó không năng sở, không có
chủ khách, không nhị nguyên, không thời gian, mà chỉ
có cái biết. Biết sáng suốt, tuệ tri, chánh trí (Vô
thời gian) là vộ tự tính là hư không nên không có
nghiệp thức nào vấn vương, lôi kéo cả. Ḍng tâm thức
được thanh lọc, tánh vẩn đực không c̣n, tức là giải
thoát mọi ràng buộc khổ đau luân hồi. Thắp sáng được
ba ngọn đèn Di Đà này âu cũng giúp ích chúng vô
lượng, từ đoạn tận khổ đau đến minh tâm và giải
thoát.
-o0o-
Tham khảo
Kinh Sáu Xứ. HT. Thích
Minh Châu Việt dich, đăng trên website Trung Tâm
Phật Giáo Chùa Việt Nam tại Houston,
Phần Kinh Tạng: http://www.vnbc.org/TTPG/ |