Cùng Chung Lăn Chuyn Bánh Xe Pháp

     
 

TỊNH ĐỘ

---o0o---

Đèn Di Đà Ba Ngọn
Phổ Nguyệt
 
     
 

Trí tuệ Di Đà soi sáng cảnh phù vân. Thật vậy, với kinh nghiệm bản thân, đời sống tôi ngày nay được an lạc, phần lớn đă đặt niềm tin vào pháp niệm Phật, nên sự tu tập được sung măn và phát triển, tâm t́nh thanh thản không chút lo âu. Trong những nghịch cảnh tôi được thông suốt và vượt qua. Lúc thiếu thời, gia đ́nh tôi không may gặp nhiều điều gia biến. Cha mẹ mất sớm; thời Pháp thuộc, ở làng quê mọi người sống trong cảnh luôn bị đe dọa, hà hiếp, chạy trốn. Gia đ́nh sống hiền lành theo truyền thống của tổ tiên, thờ cúng ông bà và các đạo trong đó đạo Phật là căn bản. C̣n đi học, tôi nhớ có mấy cuốn kinh nhật tụng mà tôi đọc hàng ngày; ngoài ra có mấy cuốn kinh giải nghĩa Lục Tự mà tôi luôn nghiền ngẫm, chỉ hiểu một ít nghĩa đen mà thôi, chưa biết rơ tư tưởng sâu sắc. Thường ngày khi đọc kinh xong, tôi đọc ra tiếng "Nam Mô A Di Đà Phật" một hơi đến khi mệt mà thôi.   Hồi nhỏ khi làm phụ việc đồng áng, tôi thường niệm thầm lục tự Di Đà liên tục măi. Chỉ biết niệm Phật như vậy là tiêu trừ bao nghiệp chướng mà chính tôi và gia đ́nh phải chịu cảnh đau thương. Thật ra, thời gian ấy rất đau khổ: cha, bác, dượng bị Tây giết, và gia đ́nh ḿnh cũng như trong xóm bị hoành hành luôn, tạm thời giảm bớt thương đau; chỉ biết niệm Phật để được gia tŕ cho mọi gia biến tiếp theo, tai qua nạn khỏi. Thời gian đó tôi chỉ nhớ đến niệm Phật nhiều hơn là hận thù với kẻ đă hai gia đ́nh ḿnh, nên ḷng được thanh thản, ít bị chao đảo. Ánh sáng Di Đà đă soi rọi mọi ưu phiền, thù hận, và ḍng tâm thức bớt vẩn đục. Ảnh hưởng hai câu:

                                Lục Tự Di Đà Vô Biệt Niệm,

                               Bất Lao, Đàn Khải Đáo Tây Phương, tức là

 

                               Đọc sáu Chữ Di Đà mà không vọng tưởng,

                              Không nhọc, một khải đàn (một khải tay) là đến Tây Phương

Mỗi khi đọc sách hay nói chuyện tôi thường đọc hai câu này. Nay lớn lên, nhiệt tâm nghiên cứu sâu hơn đạo Phật nhất là triết lư Phật giáo, tôi có cơ hội hiểu rơ Phật giáo hơn. Mấy vấn đề căn bản kết cấu tâm sau đậy giúp tôi liễu tri được Phật Pháp.

 

I. Kết cấu của Tâm

a). Nhận Diện (Sensation).

Ngủ giác quan là phương tiện tiếp xúc với trần cảnh để nhận diện ảnh hay hay bóng dáng của trần cảnh. Đó là chúng ta cảm giác được h́nh ảnh của sự vật qua ngũ giác quan mà thôi. Thí dụ, khi ta thấy con ḅ là thấy h́nh ảnh con ḅ ở vơng mạc cuả mắt mà thôi. Đó là CẢM GIÁC. Nhắc lại, (Về thị giác) khi ta nh́n con ḅ, h́nh ảnh con ḅ hội tụ ở vơng mạc của mắt, truyền dẩn bởi thị giác thần kinh lên năo, lức đó ta mới nhận diện được h́nh ảnh con ḅ. Khi có thời gian th́ sự vật chạy dài trong không gian, với ảnh ta vừa thấy đó không c̣n là ảnh thật nữa (Sắc tức thị không: Sắc lập tức (Một sát na) biến thành không thật nữa. Hể có thời gian th́ có không gian. Sự vật huyễn hóa theo thời gian và ảnh không c̣n thật trong không gian. Vậy, khi nhận diện được h́nh ảnh (thấy), ấn tượng chấn động lực(nghe), không khí hay hơi (ngửi), ấn tượng kích thích (nếm), h́nh ảnh tiếp giáp của da hay cơ thể (xúc) là thể không của đối tượng qua tiền ngũ căn. Thí dụ, như thị giác, sự vật chiếm cứ trong không gian (hư không) một dung thể không: sự vật và dung thể không của nó khắng khít nhau như một, th́ thể không của nó là h́nh ảnh sự vật được hội tụ ở vơng mạc mắt khi mắt nh́n sự vật. Do đó khi thấy sự vật cụ thể ở trong không gian là thấy h́nh ảnh của nó ở vơng mạc của mắt mà thôi.

 

b). Nhận Thức (Perception).

Khi chúng ta cảm giác h́nh ảnh sự vật th́ lúc đó chúng ta mới nhận biết được (perceive) tên sự vật. Sự vật có tên mà ta nhận thức đó là GIÁC THƯC (hay Tâm Thức: Consciousness hay Perception) chạy dài theo thời gian. Khi nhận thức ngay niệm đầu một sát na và không có kéo dài thời gian nữa là ta có giác thức nguyên sơ (niệm đầu) hay là chơn thức (pure perception or true consciousness). H́nh ảnh con ḅ là thể không được nhận thức bởi tâm trí (tâm trí cũng cùng thể không.) Tâm và vật đồng thể không, nên sự nhận thức mới thành h́nh. Lục căn phối hợp với lục trần (thể không) sanh ra lục thức. Lục thức không có thực thể, Phật gọi là lục tặc, v́ thức là nghiệp. Ḍng tâm thức luôn trôi chảy không ngừng nghỉ. Nó không có khởi điểm cũng như kết thúc và nó dính nhiều pháp trần làm cho ḍng tâm thức luôn ô nhiễm và vẩn đục.

 

c). Tri Thức (Cognition).

Trong đời sống hằng ngày, ta thường nhận thức sự vật bằng ngũ giác quan. Khi ta tri nhận (cognize) sự vật đă nhận thức, ta có tri thức (Cognition). Trong quá tŕnh tri nhận sự vật trong hiện tại (Với cảm giác), quá khứ hay tương lai (với ư thức), cả ba thời chúng ta tri nhận được sự vật mới có GIÁC TRÍ (hay Tâm Trí). Giác Trí nầy là Tư Tưởng, Suy Nghĩ, Lư Luận v.v. theo thời gian. Nó là sự lập lại của tâm thức hay tri nhận các thức nên nó tạo ra nghiệp thức. Nên ta có thể gọi là tâm duyên ư mă v́ tư tưởng chúng ta lúc nào cũng ẩn hiện trong tâm trí từng giây từng phút liên tục, chỉ trừ có những động lực khác hay pháp môn có khả năng chận dừng được vọng tưởng đó.

 

c). Giác Trí Tuệ (Pure Cognition).

Khi Phật thành đạo là do đạt được Trí Tuệ hay Giác Trí Tuệ th́ các pháp giải thoát được thiết lập thực hành Giác Trí Tuệ trong các thời thiền tập. Thực ra Giác Trí Tuệ có th ể thực hiện trong tứ oai nghi. Vậy Giác Trí Tuệ là tri nhận đầu nguồn của Giác Trí và xa ĺa nó ngay. Nói rơ hơn là khi chúng ta nhận thức niệm đầu của Cảm Giác (Sensation) để có Giác Thức nguyên sơ (Pure Perception hay first consciousness), lập tức tri nhận Giác Thức nguyên sơ ấy để được Giác Trí (Cognition là Giác Trí có thời gian) và xa ĺa giác trí ngay mới có Giác Trí Tuệ (Vô thời gian). V́ Giác Trí Tuệ là Tri Thức Nguyên Thủy (Pure Cognition) của Chân Trí (Vô thời không). Thí dụ, chúng ta thấy con voi là giác thức hay tâm thức, v́ thấy h́nh ảnh đối tượng hay con vật trước (Cảm Giác) rồi nhận thức (perceive) con vật đó là con voi (hay biết được là con voi, biết nầy thấy biết của căn, luôn luôn đi kèm theo cảm giác, nên thấy con voi, biết tên đối tượng là cái thức hay tâm thức hay giác thức. Nên thức là thực tại duyên khởi hay giả danh mà thôi). Rồi chúng ta tri nhận (dùng ư trí) giác thức ấy để có giác trí. Vậy khi chúng ta nhận thức niệm đầu của con voi (thấy biết con voi đầu tiên) là ta có giác thức nguyên sơ, lập tức ta tri nhận (Hay Biết: Cognize chớ không phải là perceive) giác thức nguyên sơ ấy để có giác trí tuệ và phải xa ĺa cái biết ấy nữa th́ mới có giác trí tuệ toàn diện.

Đúng ra, tóm lại tôi có thể hiểu được:

H́nh ảnh đối tượng trong vơng mạc mắt là bào ảnh của nó. Bào- Ảnh hay Như-Là-Tính-Thể của sự vật là đối tượng nhận thức của Tâm. Tính- Thể của Tâm và Như-Là-Tính-Thể của sự vật đều đồng thể không, nên sự nhận thức mới thành h́nh. Sự vật có thể xem là sản phẩm của Tâm. Nếu sự vật không được tính-thể hóa c̣n gọi Như-Là-Tính-Thể để đồng Tính-Thể của Tâm th́ sự nhận thức không thể hiện được. Đó là quy luật: Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu, đồng thể tương thông.

Bào thể của sự vật hay Như-Là-Tính Thể là phản ánh Tính-Thể của Tâm. Đặc tính Bào Thể chính là Đặc tính của Tâm. Như-Là-Tinh-Thể và Tinh-Thể là Một.

Tri giác một đối tượng b́nh thường theo tiền ngũ căn là một nhận thức sai lầm v́ tri giác đó c̣n nằm trong phạm vi thời không. Biết gặp Thực Tướng của vạn hữu là nhận thức vượt khỏi thời không như đă tŕnh bày ở phần Giác Trí Tuệ. Như vậy Tri Thức Đúng cái Tri Thức sai lầm của tiền ngũ căn là Giác Ngộ (Biết Gặp) Thực Tướng của sự vật. Từ nhận định trên, tôi xin phát biểu ba pháp niệm Phât sau đây:

 

II. Ba Ngọn Đèn của Di Đà hay Ba Pháp Niệm Phật

 

1- Niệm Phật bằng Tướng (Tự Tính Giả Lập)

Niệm ra tiếng là thể hiện tác động của căn trần. Miệng niệm ra tiếng lục tự, căn tai nghe tiếng lục tự. Khi ta đọc lục tự ít ra ta đă nghe tiếng lục tự phát ra và căn tai ta nghe, đó là động tác vạch sóng giữa ḍng tâm thức mà nắm bắt lục tự. Khi ta theo dơi tiếng lục tự là ta tập trung vào tiếng đọc đó, ḍng tâm thức ngoài lục tự đă phủ định (tha tính không); nghĩa là khi ta niệm Phật là mọi vọng tưởng tạm thới không quấy rối trong tâm ta, dù không hoàn toàn ngăn chận hết tâm viên ư mă, ít ra ta đă thanh lọc phần ư tưởng vẩn vơ và làm cho tâm bớt vọng động. Niệm Phật theo Căn Trần là lối chủ thể tác động với đối tượng là trần là hiện tượng (tướng) ở ngoà tâm. Đối tượng ngoài là một thực tại giả lập, nó không có tự tính và không chắc chắn, hay thay đổi nên nó dễ bị vọng tưởng xen vào.

 

2.- Niệm Phật bằng Thức (Thực Tại Tùy Thuộc)

Khi ta niệm lục tự thầm trong tâm, tiếng được thầm hội chỉ làTưởng Thức. Mặc dù tưởng thức cũng ở trong tâm được ư tác động để tưởng niệm cũng cùng ở chung một tâm, và dầu cho tưởng thức và ư tác động chung ḍng nhất nguyên, nhưng nó cũng chỉ là tưởng thức của lục tự là một thực tại tùy thuộc ở chung ḍng nhất nguyên tương đối mà thôi. Tác dụng của cách niệm Phật nầy là ở chỗ xâm nhập, tập trung và xoáy sâu trong ḍng tâm thức đang trôi chảy mà làm nổi bật lục tự để phá tan đám mây mờ của tâm trí. Lợi ích th́ nhiều hơn niệm bắng tiếng v́ thuận trong tứ oai nghi và khi đi ngủ.

 

.3.- Niệm Phật bằng Trí hay Tánh (Tự tính tuyệt đối)

Thật sự niệm Phật bằng Trí là chỉ dùng hai cách niệm Phật trên rồi chuyển thành trí. V́ niệm Phật bằng căn trần thức là niệm thực tại giả lập, và niệm Phật bằng thức là niệm thực tại tùy thuộc, tất cả hai phép trên chỉ niệm theo bóng dáng (thức) của lục tự mà thôi. Từ thực tại giả lập hay tùy thưộc ta chuyển thành trí tức thực tại tuyệt đối. Trí là cái biết của tâm nó toàn diện và thường hằng, nhiều hơn cái biết của căn trần hay căn thức v́ bị giới hạn ở các căn. Văy khi ta niệm lục tự ra tiếng hay niệm thầm, biết ta đang niệm. Biết (của Trí)) cái ḿnh biết (của Căn), tức là Tri Thức Đúng (Trí) cái tri thức sai làm của nhị nguyên (chủ khách) là đă giải thoát mọi phiền năo khổ đau.

 

Ư Nghĩa

Lúc nhỏ khi niệm Phật ra tiếng hay niệm thầm liên tục,  như vậy năng tri (niệm hay đọc) và sở tri (lục tự) vẫn c̣n là tâm thức. V́ niệm liên tục như như vậy không có kẻ hở , mọi vọng tưởng khó xen vào, (vô thời gian). Mọi khổ đau, nhiệt năo ít khuấy nhiễu tâm tôi, tuy c̣n chủ khách, c̣n nhân duyên (hay nhị nguyên đối đăi). Khi tôi niệm Phật bằng Trí (hay Tánh) th́ mọi nhân duyên hay năng sở đều song vong (không c̣n). Khi niệm (hay đọc) Nam Mô A Di Đà Phật , tôi biết đọc lục Tự. Khi tôi niệm thầm(đọc thầm) Nam Mô A Di Đà Phật, tôi biết niệm thức lục tự. Biết, tuệ tri, hay cái sáng suốt  là vô tự tính, là hư không, nên Biết sáng suốt vô thời không th́ không bị định luật nhân quả chi phối. Thấy Biết là pháp chơn thât, là thượng trí như Phật dạy trong  Đại Kinh Sáu Xứ từ nguyên thủy sau đây.

 

 III. Tu Tập với Thượng Trí

 

Này các Tỷ-kheo, thấy và biết như chơn tai; này các Tỷ-kheo, thấy và biết như chơn mũi; này các Tỷ-kheo, thấy và biết như chơn lưỡi; này các Tỷ-kheo, thấy và biết như chơn thân; này các Tỷ-kheo, thấy và biết như chơn ư; này các Tỷ-kheo, thấy và biết như chơn các pháp; này các Tỷ-kheo, thấy và biết như chơn ư thức; này các Tỷ-kheo, thấy và biết như chơn ư xúc. Do duyên ư xúc này khởi lên lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ; thấy và biết như chơn cảm thọ ấy, nên vị ấy không ái trước đối với ư, không ái trước đối với các pháp, không ái trước đối với ư thức, không ái trước đối với ư xúc. Do duyên ư xúc này khởi lên lạc thọ, khổ thọ, hay bất khổ bất lạc thọ; vị ấy không ái trước đối với cảm thọ ấy... tâm khổ năo được đoạn tận. Vị ấy cảm thọ thân lạc và tâm lạc. Kiến ǵ như chơn của vị ấy, kiến ấy là chánh kiến. Tư duy ǵ như chơn của vị ấy... hoạt mạng của vị ấy đi đến thanh tịnh tốt đẹp. Và Thánh đạo Tám ngành này đi đến tu tập và phát triển sung măn cho vị ấy. Do sự tu tập Thánh đạo Tám ngành này như vậy...Và này các Tỷ-kheo, thế nào là những pháp cần phải chứng ngộ với thượng trí ? Minh và giải thoát, những pháp này cần phải chứng ngộ với thượng trí.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.(HT.Thích Minh Châu Việt dịch)

Tựu chung, lục căn, lục trần, lục thức. bát chánh đạo, hay tất cả các pháp, kể că pháp niệm Phật, khi thấy biết các pháp như chơn như thật kể trên đều là sự nhận thức sáng suốt của Thượng Trí. Do sự niệm Phật bằng trí như trên là thấy (đọc hay niệm) lục tự biết như chơn lục tự. Có nghĩa là Chơn lục tự, là thấy (đọc hay niệm) chính lục tự trọn vẹn, không thêm không bớt chữ nào c̣n nguyên thủy , không biến thể theo thời gian tức chơn thức; biết (tri nhận) chơn thức đó là đă chuyễn thức thành trí rồi, không c̣n năng sở (năng sở là tâm thức). Nhắc lại, khi niệm lục tự, dây thần kinh dẩn truyền lên năo chấn động lực của chơn thinh hay chơn pháp từ chơn tai hay chơn ư để có chơn nhĩ thức hay chơn ư thức th́ đồng thời đă xúc chạm dây thần kinh, có nhân nhĩ xúc hay ư xúc; do các duyên xúc này khởi lên lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ. V́ chúng ta thấy  biết chơn cảm thọ không có thời gian, nên không có ái trước (trong A Lại Da thức) đối với tai, hay nhĩ thức, ư hay ư thức (nhĩ thức, ư thức  không lập lại), không có ái trước đối với các thinh, pháp (chấn động lực hay kích thích có sẵn tích tụ) và ái trước đối với nhĩ xúc, ư thức (Xúc có sẵn trong A-Lai-Da Thức: kư ức). Từ đó do các duyên xúc này khởi lên lạc thọ, khổ thọ , bất khổ bất lạc thọ mà không có ái trước đối với cảm thọ ấy. Giác Trí vô thời gian th́ Xúc Thọ Ái Thủ Hữu không khởi lên được. Giác Trí đó vô thời gian là Giác Trí Tuệ, Chơn Trí hay Thượng Trí. Niệm Phật bằng Tánh phải được chứng ngộ với thượng trí để được Minh Tâm và Giải Thoát khỏi Vô Minh.

 

IV. Kết Luận

Nhân ngày vía của Đức Phật Di Đà, tôi tưởng lại quá khứ, niệm Phật bằng tiếng hay niệm thầm  thuần thực cho đến nỗi trong giấc ngủ cũng c̣n nhớ niệm. Niệm như vậy, ḷng tôi giảm bớt đau khổ. Luôn miệng đọc hai câu, "Lục tự Di Dà vô biệt niệm, bất lao, đàn khải đáo Tây Phương", mà trong tôi rộn lên niềm vui thích khôn tả của cảnh Tây Phương. Hiện hữu tôi biết được niệm Phật bằng tánh mới hợp với hai câu trên; tức niệm, "Nam Mô A Di Đà Phật," biết có niệm, thôi, tiếp niệm khác cũng vậy. Niệm Phật không có vọng niệm th́ mới đúng. Ngay đó không năng sở, không có chủ khách, không nhị nguyên, không thời gian, mà chỉ có cái biết. Biết sáng suốt, tuệ tri, chánh trí (Vô thời gian) là vộ tự tính là hư không nên không có nghiệp thức nào vấn vương, lôi kéo cả. Ḍng tâm thức được thanh lọc, tánh vẩn đực không c̣n, tức là giải thoát mọi ràng buộc khổ đau luân hồi. Thắp sáng được ba ngọn đèn Di Đà này âu cũng giúp ích chúng vô lượng, từ đoạn tận khổ đau đến minh tâm và giải thoát.

 

-o0o-

 

Tham khảo

Kinh Sáu Xứ. HT. Thích Minh Châu Việt dich, đăng trên website Trung Tâm Phật Giáo Chùa Việt Nam tại Houston,

Phần Kinh Tạng: http://www.vnbc.org/TTPG/

 

 

 
 

-o0o-

 
 

 
   
 

Xin gởi bài mới và ư kiến đóng góp về Tạng Thư Phật Học qua địa chỉ: bientap@tangthuphathoc.net