Cùng Chung Lăn Chuyn Bánh Xe Pháp

                  

 
 

TỊNH ĐỘ

Lá Thư Tịnh Độ
n Quang Pháp Sư
Ḥa Thượng Thích Thiền Tâm Dịch

Thơ đáp Cư Sĩ Bao Sư Hiền

Hỏa hoạn ở Ôn Châu nghe qua thê thảm! Tai trời nạn nước thật không biết đâu là cùng! Cảnh khổ ấy đủ làm bằng chứng cho lời kệ: 'Ba cơi không an, dường như nhà lửa' trong Kinh Pháp Hoa, và cũng là một duyên nhắc nhở rất thiết cho sự tín, nguyện, niệm Phật cầu sanh về Cực Lạc.

Niệm Phật chẳng quy nhất, do bởi không tha thiết đối với việc sống chết luân hồi. Nếu tưởng ḿnh bị nước cuốn lửa thiêu không ai cứu vớt, hoặc đang ở vào giờ phút lâm chung sắp đọa địa ngục, th́ tâm tự quy nhất, chẳng cần phải t́m phương pháp chi nhiệm mầu. V́ thế, trong kinh thường nói: 'Nên nghĩ sự khổ nơi địa ngục, phát ḷng Bồ Đề.' Đây là lời chỉ dạy rất thiết yếu của đấng đại giác Thế Tôn, tiếc v́ người đời không chịu thật tâm tưởng nghĩ đến. Sự khổ nơi địa ngục sánh với thảm họa nước lửa, c̣n gấp không lường, không ngằn lần đau đớn hơn! Tưởng đến lửa thiêu nước cuốn th́ sợ hăi, nghĩ đến địa ngục lại thờ ơ đó là người trí lực kém tối không thể quan sát rơ ràng sự khổ. Giả sử được một phen tận mắt trông thấy cảnh ấy, chắc bất giác lông tóc dựng đứng, xương lóng đều rung, không tự kiềm chế được.

Thơ đáp Cư Sĩ Bộc Đại Phàm

Từ xa đón bức văn chương, riêng ḷng không khỏi hổ thẹn! Ấn Quang từ nhỏ thiếu học, nên kiến thức mù mờ, bấy lâu nổi trôi đất khách, chỉ ăn gởi ở Phổ Đà. Hôm nay không ngờ được các hạ, một bậc hiểu sâu tâm tông Nho, Phật, từng tham vấn các phương tri thức, học hạnh siêu quần chẳng xem là quê mùa để lời hỏi đến, lại quá v́ khen ngợi, khiến cho người bối rối không an. Thầm nghĩ các hạ học vấn rộng răi, thấy hiểu cao xa, đâu có lẽ c̣n hoài nghi với mấy điều tầm thường như thế, chắc là không ngoài bản ư muốn làm gương mẫu để dẫn phát cho kẻ đồng tu đó thôi. Tuy nhiên các hạ đă lấy biết làm không biết, tôi cũng chẳng ngại ǵ lấy không biết làm biết, xin tùy lời giải đáp, đâu dám bắt chước ông quan già phê án, mà chính là học tṛ dâng nạp vở thi. Vậy những lời bày tỏ sau đây, nếu có sai lầm, xin nhờ phủ chính.

1. Niệm Phật tuy quí tâm niệm, nhưng cũng không nên bỏ sự đọc tụng ra tiếng, v́ thân, miệng, ư giúp đỡ lẫn nhau. Dù rằng tâm có thể nhớ nghĩ, song nếu thân không lễ kính, miệng chẳng tŕ tụng, th́ cũng khó được lợi ích. Như người đời khi khiêng đồ vật nặng c̣n phải dùng tiếng giúp sức, huống là việc muốn nhiếp tâm để chứng Tam Muội hay sao? Cho nên Kinh Đại Tập nói: 'Niệm lớn thấy Phật lớn, niệm nhỏ thấy Phật nhỏ.' Cổ đức cũng bảo: 'Niệm lớn tiếng th́ thấy thân Phật cao lớn, niệm nhỏ tiếng th́ thấy thân Phật bé nhỏ.' Với hạng phàm phu, tâm thường hôn trầm, tán loạn, nếu không nhờ sức thân lễ miệng tụng, tất khó được nhứt tâm.

2. Chỗ chân lư thực tế mới không c̣n sanh diệt, ngoài ra, trong Phật sự có pháp nào chẳng phải là sanh diệt? Bậc Đẳng Giác Bồ Tát phá bốn mươi mốt phẩm vô minh, chứng bốn mươi mốt phần bí tạng cũng không ngoài sự lấy, bỏ, sanh, diệt, huống nữa là việc niệm Phật đối với phàm phu ư? Nhưng sanh diệt tuy là cội sanh tử, mà cũng là gốc Bồ Đề, có sanh diệt hay không, chỉ do nơi người mà thôi. Nhiếp cả sáu căn, nối liền tịnh niệm, chính là đem sự sanh diệt bỏ giác hiệp trần, đổi thành sự sanh diệt bỏ trần hiệp giác, để kỳ chứng được Phật tánh chơn như không sanh diệt vậy.

3. 'Niệm niệm * Tịnh Độ mới được văng sanh' là thuộc về thân phận của bậc văng sanh thượng phẩm. Nếu chấp định nghĩa này tự cầu thượng phẩm th́ c̣n chi hay hơn, bằng chấp định để dạy hạng căn cơ trung, hạ, tất cả sẽ làm trở ngại sự thăng tấn của người chẳng ít. Tại sao thế? V́ lẽ họ cho pháp này quá cao, rồi cam phận thấp kém, không chịu tu tŕ. Lại, phép niệm Phật tuy thuộc ư thức, nhưng cũng đủ cả các thức, trong kinh văn há chẳng nói: 'nhiếp cả sáu căn' đó ư? Sáu căn đă nhiếp th́ sáu thức để làm ǵ? Tức như chuyển câu niệm Phật vào hàm tàng thức cũng không ngoài công dụng của sáu thức.

4. Đoạn luận vấn về mục 'Niệm Phật tương tục, dao chém chẳng đứt' vẫn không c̣n ngờ; nhưng v́ các hạ chưa phân biệt giới hạn của Thiền Tông, Tịnh Độ, và tự lực, tha lực, nên thành một khối hoài nghi. Pháp môn Niệm Phật là nương nhờ sức Phật ra ba cơi, sanh về Tịnh Độ, nay đă chẳng phát nguyện tất cũng không có ḷng tin. Nếu không tín nguyện, chỉ niệm danh hiệu Phật, vẫn thuộc về tự lực, và b*i thiếu tín nguyện nên không thể thông cảm với sức hoằng thệ của đức A Di Đà. Thảng như trừ được phiền năo kiến, tư, c̣n có thể văng sanh, nếu chưa trừ, hoặc trừ chưa hết, th́ gốc nghiệp vẫn c̣n và phải bị luân hồi. Về điều này ông Ngũ Tổ Giới, Thảo Đường Thanh là những bằng chứng xác thật. Phải biết, nếu bỏ tín nguyện mà niệm Phật, th́ có khác nào sự tham cứu của nhà tu thiền. Và nếu được văng sanh, chẳng hóa ra nhân quả không phù hợp hay sao? Ngài Ngẫu Ích bảo: 'Được sanh cùng chăng, toàn do nơi ḷng tín nguyện có, không; phẩm vị cao thấp, đều b*i công tŕ danh sâu, cạn' là một luận án chắc chắn không thay đổi. Trong Kinh A Di Đà, câu: 'Một ḷng không loạn' là nương theo đoạn công đức y, chánh, * văn trước khuyên sanh ḷng tin, và nối theo đoạn: 'Nếu có chúng sanh nào nghe kinh này, phải nên phát nguyện cầu sanh về nước kia' chính là bảo phải phát nguyện. Hơn nữa, về điểm tín nguyện, trong mấy đoạn văn sau cũng lập lại nhiều lần. Các hạ cắt đứt mấy đoạn văn ấy, chỉ nh́n vào câu 'một ḷng không loạn' xem sự nhất tâm có tín nguyện cùng không tín nguyện đồng như nhau, nên mới thắc mắc về chỗ: 'Niệm Phật đến tŕnh độ dao chém chẳng đứt tức là thuần nhứt rồi, tại sao lại không được văng sanh?'

5. Ngoài câu niệm Phật, nếu có niệm khác tức là xen tạp. Những niệm ấy rất nhiều khó kể hết được, chỉ nêu phần chánh như: niệm cầu đại triệt, đại ngộ, niệm mong được đại tổng tŕ, v.v... chớ không phải chỉ cho sự phát nguyện là xen tạp. Nên biết pháp môn Tịnh Độ lấy Tín Nguyện, Hạnh làm tông chỉ. Hạnh như cỗ xe, Nguyện như người phu xe, Tín như kẻ dẫn đường, đủ cả ba mới thành tựu sự tấn thú của xe. V́ thế người tu Tịnh Độ hôm sớm phải phát nguyện. Lại chớ nên chấp nê rằng những lúc không niệm Phật, hoặc khi phát nguyện là cắt đứt, xen tạp, tịnh niệm không thành. Thử hỏi: tâm niệm ấy có từng trải qua những cảnh thấy, nghe, mặc áo, ăn cơm, cùng các sự cử động khác hay không? Nếu có, với mấy điều này đă không thấy cắt đứt, xen tạp, sao lại cho những việc kia là tạp loạn? Cho nên, dù niệm Phật đến cảnh cảnh giới 'một niệm muôn năm' cũng không ngại ǵ tới sự kh*i cư hằng ngày. Bằng tuyệt nhiên không cả, hoặc ra chỉ có pháp thân Bồ Tát mới đảm đương nổi. Nhưng các bậc Đại Sĩ tuy * yên một chỗ mà hiện vô số thân trong cơi vi trần, làm vô lượng Phật sự, nếu quả có xen h* tạp loạn, th́ chắc không biết là bao nhiêu? chư Phật, Bồ Tát có thể đồng thời khắp đến mười phương, song đây chỉ là một việc, thật ra tâm ta vẫn đủ các lư, ứng muôn sự, không phải như thế mà thôi đâu!

6. Ước theo nghi thức xưa nay, sự phát nguyện thường * vào khoảng sớm mai và tối. Nhưng cũng có người khi niệm Phật xong thời nào, liền hồi hướng phát nguyện ngay lúc ấy. Các hạ đă hiểu sâu tánh, tướng mà c̣n cho rằng: 'niệm Phật và niệm cầu sanh không thể đi đôi', th́ dường như đối với viên lư sự vô ngại, chưa được tin chắc. Lại bảo: 'Nếu có thể đi đôi tất tâm niệm sẽ chia làm hai: một nửa về Phật, nửa về nguyện, thế th́ một người ưng thành hai vị Phật.' Xin hỏi, cơn b́nh thường, có lúc nào các hạ đương lúc mắt thấy sắc mà tai vẫn nghe tiếng cho đến ư vẫn suy nghĩ hay không? Nếu quả có thế, tại sao riêng với việc này các hạ hăy c̣n ngờ? Vậy nên biết, tâm niệm công dụng không lường; tám thức há chẳng phải là thể dụng của một tâm ư? Kia đă không thành tám vị Phật, tại sao đây lại thành hai vị Phật?

7. B́nh sanh tuyệt không tín nguyện, khi lâm chung khó được nhờ sức Phật. Đă nói: 'Lúc nghiệp lành dữ đồng thời đều hiện', th́ chẳng những câu niệm Phật không hiện không được văng sanh, dù có hiện cũng không được văng sanh. Tại sao thế? V́ không phát nguyện văng sanh, v́ không cần Phật tiếp dẫn. Kinh Hoa Nghiêm nói: 'Giả sử nghiệp ác có h́nh tướng, mười phương hư không chẳng thể dung chứa.' Cổ đức bảo: 'Tâm nghiệp rất nhiều, ngă về mối nặng như người mắc nợ, chủ mạnh kéo đi.' Nay nghiệp lành dữ đều hiện, b*i không tín nguyện, tất phải bị nghiệp lực lôi cuốn mất sự chủ trương. Thế th́ biết, nương cậy sức ḿnh, dù hoặc nghiệp c̣n một mảy tơ cũng không thoát khỏi sanh tử, lựa là nhiều ư? Niệm Phật đến nhứt tâm mà không tín nguyện, trong vô số người, hoặc may có được một vài kẻ văng sanh. Rất không nên đem điều ấy giáo hóa làm mất căn lành Tịnh Độ của tất cả chúng sanh đời sau. V́ nếu chỉ nương tự lực niệm cho đến nghiệp dứt t́nh không, chứng Vô Sanh Nhẫn th́ khắp thế gian khó được một đôi người. Thảng như ai nấy đều y theo thuyết này mà tu tŕ, không chú trọng đến tín nguyện, tất vô lượng chúng sanh sẽ nổi ch́m trong biển khổ, bặt nẻo thoát ly, ấy cũng v́ một lời nói gây nên tổn hại. Mà người chủ trương thuyết trên kia lại c̣n nghênh ngang tự đắc cho rằng lời ḿnh rất cao; đâu biết đó là cuồng ngôn làm dứt mất huệ mạng Phật, khiến chúng sanh lầm lạc nghi ngờ! Thương thay!

Pháp môn Tịnh Độ phải xem là đặc biệt, không nên đem sánh với giáo nghĩa thông thường. Ví như đức Phật chẳng mở môn này, chắc trong đời mạt pháp không có ai thoát khỏi đường sanh tử! Bộ Di Đà Yếu Giải của ngài Ngẫu Ích, lư sự đều đến chỗ cực điểm, nếu các hạ y theo đó hành tŕ, th́ ngày kia trên phẩm vị văng sanh không ai sánh kịp. Người xưa tu hành đều có thể chứng đạo, trái lại người đời nay ít kẻ minh tâm. „y b*i căn cơ có thấp kém ư? Hay là do ḷng cung kính, khinh mạn khiến nên như thế? Tôi xem nhiều truyện kư, thấy những bậc cao nhân đều trọng kinh tượng như Phật sống, sự kính sợ của các Ngài dù cho tôi trung, con thảo, cũng không thể phư*ng phất được một đôi phần. V́ ḷng thành kính cùng cực, nên các vị ấy có thể dứt hoặc chứng chơn, vượt thẳng lên cơi thánh. Thử xem một việc Nhị Tổ Thần Quang đứng hầu dưới tuyết, chặt cánh tay cầu pháp * Thiếu Lâm, cũng đủ thấy ḷng thành kính của Ngài dường nào! Người đời nay xem tượng Phật như gỗ đất, kinh Phật như giấy cũ, dù có ḷng tin thọ tŕ, chẳng qua là đọc tụng làu thông nơi đầu mồm mà thôi, có điều thật ích ǵ đáng bàn luận! Tuy rằng như thế cũng gieo được viễn nhân, nhưng tội khinh lờn thật không thể tư*ng nghĩ! Các hạ là bậc luận giỏi học nhiều, khi đề xướng Phật Pháp, xin nhắc nhở điều này, để mọi người cùng được lợi ích. Như thế, pháp môn và chúng sanh sẽ hân hạnh biết bao!

Thơ đáp Cư Sĩ Cừu Bội Khanh (1 - 2)

- 1 -


Sự nóng giận như thế là do tập tánh từ kiếp trước. Nay các hạ đă biết nó chỉ vô ích, lại thêm có hại, th́ đối với tất cả việc trái ư đều nên dùng độ lượng rộng răi như trời biển mà bao dung. Đó là phương pháp dùng ḷng quảng đại để chuyển biến tánh hẹp ḥi. Nếu không đối trị th́ tập tánh giận hờn càng ngày càng tăng thêm, sự tai hại không phải ít.

Đến như niệm Phật, phải tùy nơi tinh thần sức khỏe của ḿnh mà niệm ra tiếng lớn, nhỏ, niệm thầm, hoặc niệm theo lối Kim Cang (chỉ sẽ động môi, niệm có tiếng nhưng người ngoài không nghe được), sao lại quá dùng sức để cho mang bệnh ư? Tâm quá mănh liệt ấy cũng c̣n lỗi dục tốc đó! Nay đă không niệm ra tiếng được, cũng có thể niệm thầm trong tâm, sao lại chỉ hạn có mười niệm? Vả lại, khi bệnh nằm nơi giường, tấm ḷng đâu thể vắng lặng như hư không, nếu tưởng nghĩ việc khác, thôi thà tốt hơn là chí tâm niệm Phật! Nên đem việc cần yếu giao phó cho người nhà, thường tưởng rằng ḿnh sắp chết, sắp đọa địa ngục, trong ḷng tuyệt không vướng vít một điều ǵ. Rồi dùng tâm thanh tịnh ấy tưởng nhớ tượng Phật, thầm niệm danh hiệu, và kiêm tưởng niệm thánh tượng cùng danh hiệu đức Quán Âm. Quả được như thế, quyết định nghiệp chướng sẽ tiêu trừ, căn lành thêm lớn, tật bệnh mau thuyên và thân tâm yên ổn. Căn bệnh của các hạ vẫn thuộc về túc nghiệp, bởi duyên niệm Phật mănh liệt nên phát hiện, không phải hoàn toàn do quá dùng sức mà có ra. Giả sử không gặp nhân duyên niệm Phật quá sức ấy, nó cũng sẽ phát hiện bằng một nhân duyên khác. Giữa đời, người không niệm Phật rất nhiều, đâu phải tất cả đều không đau yếu, suốt đời mạnh khỏe đó ư? Hiểu rơ điều nầy, sẽ chẳng c̣n nhận lầm cho rằng niệm Phật thành bệnh, kết cuộc chỉ có tổn hại không được lợi ích.

Ấn Quang cùng các hạ chưa gặp mặt nhau lần nào mà có những lời thành thật chí thiết hôm nay v́ xem các hạ như người thân thuộc. Bởi kẻ tu hành vẫn thể theo ḷng từ bi của Phật, muốn cho người hữu duyên đều được văng sanh ngay trong hiện đời. Pháp môn niệm Phật, nếu các hạ chưa tường tất, mỗi ngày nên xem qua vài thiên Văn sao để làm sự dẫn đạo cho đường tu. Thế mới không uổng một phen tri ngộ nhau trong thơ từ qua lại.
 

- 2 -


Các hạ đă tin nơi tôi, nên làm y theo lời tôi mới có thật ích. Chẳng thế th́ tuy có tín tâm, chỉ gieo nhân lành về sau mà thôi. Chúng ta ở trong ṿng sống chết luân hồi trải qua nhiều kiếp, gây nên nghiệp ác vô lượng vô biên. Nếu chỉ nương sức tu tŕ của ḿnh, mong dứt hết phiền năo, hoặc nghiệp để thoát nẻo luân hồi, việc ấy c̣n khó hơn lên trời. Như có thể tin pháp môn Tịnh Độ của đức Phật chỉ dạy, dùng ḷng tín nguyện chơn thiết niệm danh hiệu Phật A Di Đà cầu sanh Tây Phương, th́ không luận nghiệp lực lớn, nhỏ, đều được nương nhờ từ lực văng sanh Cực Lạc. Ví như một hột cát nhỏ để vào nước liền ch́m, trái lại, tảng đá dù nặng ngàn muôn cân, được chở trên chiếc thuyền to, cũng có thể đem đi nơi khác. Tảng đá là dụ cho nghiệp lực sâu nặng của chúng sanh, thuyền to là dụ cho từ lực rộng lớn của đức A Di Đà. Nếu không niệm Phật, chỉ nương sức tu tŕ của ḿnh để thoát sanh tử, phải đợi đến địa vị nghiệp dứt t́nh không mới được. Chẳng thế th́ dù có dứt được phiền hoặc chỉ c̣n như một sợi tơ, cũng không thể giải thoát. Đó là dụ cho hột cát tuy rất nhỏ, nếu không có vật ǵ chở, khi để vào nước tất phải bị ch́m. Các hạ nên sanh ḷng tin, niệm Phật cầu sanh về Tây Phương đừng khởi những tư tưởng ǵ khác. Quả được như thế, th́ tuổi thọ chưa hết bệnh sẽ mau lành, v́ công đức chí thành niệm Phật, có thể dứt trừ ác nghiệp đời trước, như vầng hồng đă hiện, sương tuyết liền tan. Nếu số phần đă măn, tất được văng sanh, v́ do tâm niệm chuyên nhất nên đạo cảm ứng giao thông, nhờ Phật xót thương tiếp dẫn. Như các hạ tin hiểu thấu đáo những lời trên đây, th́ sống cũng được nhiều an vui, chết cũng được lợi ích hơn.

Ḷng nóng giận là tập tánh từ kiếp trước, muốn đối trị, nên tưởng như ḿnh đă chết. Thế th́ mặc ai bôi hương thoa lọ, nơi ta nào có can ǵ? Dù gặp những cảnh trái ḷng đến đâu nữa, cũng cứ tưởng rằng ḿnh đă chết, tự nhiên tánh giận hờn không thể nổi lên. Đây là món 'cam lồ pháp thủy' của đức Như Lai truyền dạy, để rửa hết kết nghiệp của tất cả chúng sanh. Nay tôi v́ các hạ thuật lại, không phải tự tôi đặt điều ức thuyết. Nếu không niệm Phật cầu về Tây Phương, tuy sanh lên chỗ cực tôn quí như trời Phi Phi Tưởng, khi phước báo đă hết, vẫn bị luân chuyển trong sáu đường. Như dùng hết ḷng thành khẩn niệm Phật, dù sắp đọa vào địa ngục A Tỳ, cũng có thể nhờ Phật tiếp dẫn. Vậy muôn lần xin chớ tự coi là thấp kém, cho rằng ḿnh nghiệp nặng e không được văng sanh. Nếu cố giữ quan niệm ấy th́ quyết định chẳng được sanh Tây Phương, v́ bởi thiếu sự tín nguyện chơn thiết nên không do đâu để cảm đến Phật.

Quán Thế Âm Bồ Tát thành Phật đă từ lâu, chỉ v́ ḷng từ bi sâu thiết nên hiện thân trong chín pháp giới, dùng đủ phương tiện để độ thoát chúng sanh. (Chín pháp giới: Bồ Tát, Duyên Giác, Thanh Văn, trời, người, A Tu La, súc sanh, ngạ quỉ, địa ngục). Riêng về pháp giới cơi người, Bồ Tát lại hiện nhiều thân sai khác, hoặc làm vua, quan, hoặc làm thường dân ẩn dật, hoặc làm phụ nữ, hoặc làm kẻ ăn xin... không nhất định. Vị chân tượng của Bồ Tát tốt đẹp nhiệm mầu, người đời không thể h́nh dung được, nên khi vẽ ra phần nhiều giống với người nữ, chớ chẳng phải Bồ Tát nguyên là nữ thân. Nếu muốn cúng dường, nên đến đường Bắc Kinh, xóm Trường Khang, chỗ lưu thông Kinh Phật, thỉnh bức tượng Tây Phương Tam Thánh thứ bản đá, mua khung kính đem lồng vào. Như thế là vẹn toàn, v́ có đủ đức Phật A Di Đà, Quán Âm và Thế Chí. Nơi pḥng ngủ nếu không được tinh khiết, nên đem tượng Phật thờ ở tịnh thất, mỗi ngày qua lạy và chiêm ngưỡng một đôi lần, th́ trong tâm có thể ghi nhớ!

Niệm Phật tuy quí ở sự thanh khiết, nhưng với người bệnh có nhiều điều không thuận tiện, chỉ đem hết ḷng thành niệm thầm hoặc ra tiếng, công đức cũng đồng nhau. V́ đức Phật vẫn rộng ḷng thương xót, như cha mẹ đối với con. Khi con có bệnh không đem những nghi thức b́nh thường quở trách, mà c̣n xoa rờ thân thể gội rửa chỗ hôi nhơ. Nếu khi con bệnh đă mạnh, mà c̣n bắt cha mẹ hầu hạ như khi đau yếu, đó là trái phép, trời đất sẽ không dung. Vậy các hạ không nên cho rằng nằm nơi giường bệnh niệm Phật thầm là có tội lỗi. Người mạnh khỏe khi nằm nghỉ c̣n nên niệm thầm, huống chi là người bệnh ư?

Cư Sĩ Cao Thiệu Lân (1 - 2)

- 1 -

Trong bức thơ gửi đến, thấy nói cư sĩ đang nhiếp tâm niệm Phật, lạy Kinh Pháp Hoa, và gắng trừ lỗi mà chưa được như ư, nghĩ muốn y theo phép công quá cách để tự kiểm điểm mỗi ngày. Bao nhiêu điều ấy, đủ chứng sự tu hành của cư sĩ gần đây là thiết thật v́ ḿnh, không như những kẻ tự khi dối người, phô trương bề ngoài để cầu danh dự. Như thế c̣n ǵ hay hơn, tôi xin tùy hỷ.

Phép lễ tụng tŕ niệm, phải lấy ḷng thành kính làm chủ. Nếu thành kính cùng cực, dù ở địa vị phàm phu công đức chưa được viên măn, nhưng kết quả cũng khó nghĩ bàn! Trái lại th́, tuy lễ tụng, xét ra khác ǵ múa hát, dù có bày nét khổ, vui, thương cảm, đều là giả trang v́ chẳng phải tự nơi đáy ḷng phát lộ. Nếu có công đức, chẳng qua là si phước ở cơi trời, người, mà chính đó là chỗ y cứ để gây nghiệp ác, gieo nên quả khổ vô lượng về sau. Nên đem điều nầy tỏ khắp với đồng bạn, khuyên nhau chơn thật tu hành để sự lợi ích được lan rộng. Cách thức lạy kinh của cư sĩ lập ra, về lư vẫn không ngại, nhưng về sự, nếu lạy suông, phải niệm: 'Nam Mô Đại Thừa Diệu Pháp Liên Hoa Kinh, Pháp Hoa Hội Thượng Phật, Bồ Tát.' Niệm xong cúi xuống lạy, vừa tưởng bài kệ lễ kinh:

Pháp tánh chơn không tợ hư không,
Pháp Bảo thường trụ khó nghĩ bàn!
Nơi trước Pháp Bảo hiện bóng con,
Như pháp một ḷng nương kính lạy.

Lại tưởng toàn bộ kinh và chư Phật, Bồ Tát ở trong kinh đều phóng ánh sáng soi đến thân ḿnh cùng các loài hữu t́nh trong pháp giới. Nếu lạy từng chữ, phải niệm: 'Nam Mô Đại Thừa Diệu Pháp Liên Hoa Kinh (...) tự Pháp Bảo.' Cứ lạy chữ nào th́ niệm chữ ấy, từ chữ: 'Như, thị, ngă, văn...' cho đến hết bộ kinh đều niệm như thế. Nhưng phép quán tưởng chẳng phải dễ, nếu hiểu lư không rành hoặc tâm thức rối loạn, sợ e bị những việc ma. Điều cần yếu phải lấy sự chí thành cung kính làm chủ, nếu quán tưởng được th́ quán, bằng không, nên đem hết ḷng thành mà lạy, công đức cũng vô lượng. Theo chương tŕnh của cư sĩ đă lập: đối trước kinh mà lạy, khi lạy xuống tưởng kệ, lúc đứng lên niệm Phật, quán Phật..., tốt hơn là nên để kinh trước bàn Phật cúng dường rồi chuyên nhất lễ Phật A Di Đà. Chớ cho rằng công đức duyên tưởng một vị Phật không rộng lớn bằng duyên tưởng nhiều vị Phật. Nên biết Phật A Di Đà là pháp giới tạng thân, bao nhiêu công đức của chư Phật trong mười phương pháp giới, nơi một đức Phật A Di Đà đều đầy đủ cả. Ví như lưới châu của trời Đế Thích, ngàn châu hiện đủ trong một hột châu, một hột châu in bóng khắp ngàn châu, mỗi châu đều dung nhiếp lẫn nhau, không dư không thiếu. Nếu bậc Đại Sĩ tu hành đă lâu, không ngại ǵ duyên cảnh rộng nhiều, cảnh càng nhiều tâm càng chuyên nhất. Trái lại kẻ mới học đạo, nếu duyên cảnh nhiều tâm thức sẽ rối loạn, và người chướng sâu huệ cạn có khi c̣n bị những việc ma. V́ lẽ ấy, Thế Tôn ta và chư Tổ đều bảo phải một ḷng chuyên niệm Phật A Di Đà, đợi khi nào chứng được Tam Muội th́ trăm ngàn pháp môn, không lường diệu nghĩa thảy đều đầy đủ. Người xưa nói: 'Tắm được biển cả, tức là dùng nước trăm sông; đến điện Hàm Ngươn c̣n hỏi Trường An chi nữa?' Lời này có thể gọi là một tượng trưng rất đúng cho lẽ trên đây vậy.

Đến như sự dứt dữ làm lành, thành thật kiểm điểm lấy ḿnh, tuy không chi hay hơn phép công quá cách; nhưng nếu tâm không chuyên chú nơi sự thành kính, dù mỗi ngày có ghi công chép lỗi cũng là việc suông. Sổ công quá cách ở vùng này chưa thấy có. Cứ theo chỗ hiểu của tôi, chỉ nên giữ ḷng thành kính trong tất cả thời, đừng để một niệm không tốt nổi lên, khi đối đăi với người phải luôn luôn ǵn ḷng trung thứ. Được như thế, dù vọng niệm có thoạt khởi cũng liền tự biết, biết rồi liền trừ, tất ba nghiệp không bị lôi cuốn vào đường lầm lạc. Những kẻ tiểu nhơn bề ngoài hiền lành, trong ḷng ác độc, cho rằng không ai biết ḿnh; đâu ngờ người phàm dù không biết, song bậc tu hành đắc đạo, thấy hiểu rơ ràng. Lại, chư thiên, quỉ thần tuy chưa đắc đạo, nhưng nhờ quả báo có tha tâm thông, nên cũng hiểu biết được. Nói ǵ là các bậc Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát và chư Phật, tha tâm đạo nhăn thấy suốt ba đời như xem nơi ḷng bàn tay đó ư? Muốn không biết, chỉ có ḿnh không biết th́ được, nếu ḿnh biết th́ trời đất, quỉ thần, Phật, Bồ Tát tất rơ biết. Hiểu nghĩa này, tuy ở nơi nhà tối, chỗ vắng cũng không dám móng niệm ác. Kẻ ngoan cố nếu được biết lư trên đây cũng tự hổ thẹn, lựa người chơn tu hay sao? Như muốn bớt lỗi phải ghi nhớ điểm này, hằng đem ḷng kính sợ. Nhưng đây là ước theo chỗ hiểu biết cạn cợt của t́nh đời mà nói, thật ra tâm ta cùng mười phương pháp giới đồng thể dung hợp, v́ ta mê nên sự thấy biết chỉ cuộc ở riêng ḿnh. Mười phương chư Phật chứng suốt tạng tâm, tất cả chúng sanh trong pháp giới khởi ḷng động niệm, các Ngài đều thấy biết rơ rệt như h́nh tượng in bóng trong gương. Đó là v́ chư Phật đă vào bản thể b́nh đẳng chân như, ḿnh và người không khác.

Nếu cư sĩ rơ suốt nghĩa này, có thể tự dè dặt sợ hăi, giữ ḷng kính thành, trước tiên c̣n gắng sức trừ vọng, lâu ngày vọng niệm sẽ tiêu ṃn không khởi nữa.
 

- 2 -


Được thơ, biết gần đây cư sĩ tu tŕ thân thiết, xét ḿnh sửa lỗi noi dấu thánh hiền, chẳng phải cầu lấy hư danh, tôi lấy làm vui đẹp! Muốn học Phật, Tổ, thoát sanh tử, những điểm đầu tiên là: hổ thẹn, sám hối, dứt dữ, làm lành, giữ trai giới và thường tự răn nhắc. Lại cần phải đạt đến chỗ thật, hết sức mà làm, bằng không th́ thành sự dối ở trong giả dối. Cho nên, biết không khó, làm mới chính là khó! Nhiều bậc thông minh giữa đời, v́ nói có làm không, thành thử luống qua một kiếp, uổng chơi non báu đi về tay không, thật rất đáng đau tiếc! Vọng niệm lẫy lừng là do bởi chưa chơn thiết giữ ǵn chánh niệm, nếu cứ chuyên chú một cảnh th́ vọng tưởng sẽ đổi thành chánh trí. Cho nên, trị đắc sách th́ giặc cướp đều là con đỏ, trị thất sách tuy kẻ tâm phúc cũng hóa oan gia. — địa vị phàm phu, ai lại không có nghiệp hoặc? Nhưng khi b́nh thường nếu đề pḥng trước, lúc gặp cảnh duyên, phiền năo mới không bạo phát; dù phát khởi cũng có thể liền tự biết mà dứt trừ. Những cảnh làm duyên để khởi phiền năo rất nhiều. Nhưng mạnh nhứt là tiền của, sắc đẹp và chuyện ngang trái bất thường. Nên biết của tiền phi nghĩa hại hơn rắn độc, th́ không c̣n ḷng tham muốn khi thấy của. Giúp đỡ người chính là xây đắp nền phước đức cho ḿnh về sau, biết như thế, khi có ai hoạn nạn cầu cứu, không v́ tiếc của không cho, mà khởi ḷng phiền năo. Về sắc đẹp, lúc đối trước người xinh tốt như hoa, tợ ngọc, cho đến kẻ kỹ nữ, nên tưởng đó là chị, hoặc em ruột, sanh ḷng cứu độ xót thương, tất không bị sắc làm động niềm ái dục. — gia đ́nh, chồng vợ phải kính nhau như khách, nên xem thê thiếp là người ơn giúp đỡ lẫn nhau và v́ sự nối dơi ḍng họ, mới không bị sắc dục hại ḿnh. Đến như gặp việc ngang trái nên sanh ḷng xót thương dung thứ cho kẻ không biết lỗi lầm, chớ tranh chấp hơn thua. Lại tưởng rằng: kiếp trước ḿnh đă từng làm khổ hại người, hôm nay bị việc này là trả nợ tiền khiên; nghĩ như thế tự nhiên vui vẻ, không sanh ḷng nóng giận muốn báo cừu. Song, những phương pháp trên đây là để áp dụng với kẻ sơ cơ, nếu bậc Đại Sĩ tu hành đă lâu, bao nhiêu phiền năo đổi thành tạng tâm sáng suốt, muôn cảnh vẫn không thật tánh, những việc tổn hại lợi ích đều tự nơi người mà thôi.

Đến như luận về pháp môn Niệm Phật th́ Tín, Nguyện, Hạnh là tông yếu. Ba món nầy đầy đủ, quyết định được văng sanh. Về phần Tín, Nguyện, nên để tâm chú trọng, phải một ḷng cầu về Tây Phương, chớ mong kiếp sau trở lại làm người hưởng sự giàu sang. Chẳng những không muốn thọ thân vua ở cơi trời, người, dù cho thân một vị cao tăng nghe một hiểu ngàn, được đại tổng tŕ, mở rộng pháp hóa làm lợi ích chúng sanh, cũng xem như gốc tội không khởi niệm ưa thích (v́ đó là ngộ chớ chưa phải chứng, vẫn c̣n bị luân hồi và có thể đọa lạc). Được như thế th́ tín nguyện của ta mới cảm đến Phật, và thệ nguyện của Phật mới có thể nhiếp thọ ta. Nên biết cơi Cực Lạc chẳng những sức phàm phu không thể đến, mà chính bậc thánh Tiểu Thừa cũng không đến được, v́ nơi ấy là cảnh bất tư ngh́ của Đại Thừa. Bậc tiểu thánh hồi tâm về Đại Thừa mới có thể đến, c̣n phàm phu nếu không tín nguyện cảm Phật, dù cho có tu tất cả thắng hạnh và hạnh mầu tŕ danh cũng không thể văng sanh. Cho nên, tín nguyện rất là cần yếu. Ngài Ngẫu Ích nói: 'Được sanh cùng chăng, toàn do tín nguyện có hay không; phẩm sen cao thấp, đều bởi tŕ danh sâu hoặc cạn.' Đây là một luận án sắt, dù ngàn Phật ra đời cũng không thay đổi. Với lẽ này, nếu cư sĩ nhận chắc, mới có phần nơi cơi Tây Phương.

Như niệm Phật khó quy nhất, phải nhiếp tâm niệm kỹ. Phép nhiếp tâm không ǵ hơn chí thành, tha thiết, nếu không chí thành mà muốn quy nhứt ấy là điều rất khó. Đă chí thành niệm c̣n chưa thuần, phải lắng tai nghe. Không luận niệm thầm hay ra tiếng, đều phải niệm khởi từ nơi tâm, tiếng ra từ nơi miệng rồi lại vào tai (dù niệm thầm nơi ư vẫn có tướng miệng niệm). Tâm và miệng rành rẽ, tai nghe rơ ràng nhiếp tâm như thế, vọng niệm tự dứt. Nếu làn sóng vọng tưởng nổi trào quá mạnh, nên dùng phép Thập Niệm Kư Số đem hết tâm lực chuyên vào câu niệm Phật, th́ vọng tưởng bị đàn áp không có chỗ xen hở để nổi lên. Phép này nhiếp tâm rất tuyệt diệu, thuở xưa những vị hoằng dương tông Tịnh Độ chưa nói đến là v́ căn cơ người thời ấy c̣n sáng lẹ, không cần dùng cách này vẫn có thể niệm Phật được quy nhứt. „n Quang tôi v́ tâm khó điều phục, nhiều phen dùng thử mới biết là hay, nguyện cùng những người độn căn đời sau y theo tu tập để được đồng sanh về Cực Lạc. Thập Niệm Kư Số là khi niệm Phật phải ghi nhớ rành rẽ từ một đến mười câu, hết mười câu liền trở lại một, cứ như thế xoay vần măi. Nhưng phải niệm trong ṿng mười câu mà thôi, không được hai hoặc ba mươi câu, lại không nên lần chuỗi, chỉ dùng tâm ghi nhớ. Nếu nhớ niệm luôn một mạch mười câu thấy khó, th́ phân làm hai đoạn, từ một đến năm, từ sáu đến mười. Nếu hoặc c̣n thấy kém sức lại chia làm ba hơi, từ một đến ba, bốn đến sáu, bảy đến mười. Cần để ư: Niệm, nhớ và nghe phải rơ ràng, vọng niệm mới không xen vào được. Dùng phép này lâu, sẽ được nhất tâm. Nên biết phép Thập Niệm Kư Số cùng phép Thập Niệm của ngài Từ Vân, về phần nhiếp vọng th́ đồng, phần dụng công lại rất khác. Phép Thập Niệm tùy theo hơi người dài ngắn, không luận được bao nhiêu câu Phật, cứ một hơi kể là một niệm. Về phép này mỗi buổi sớm mai, chỉ dùng trong mười niệm mà thôi, nếu quá số ấy lâu ngày sẽ thành bị lao hơi. Phép Thập Niệm Kư Số th́ niệm một câu biết một câu, mười câu biết mười câu, từ một đến mười rồi trở lại, dù cho mỗi ngày niệm cho đến mấy muôn câu cũng ghi nhớ như thế. Niệm như vậy không những trừ được vọng, lại có thể dưỡng thần, v́ tùy sức tùy ư, hoặc chậm hoặc mau, không chi trở ngại. Lại, so với cách niệm lần chuỗi ghi số, phép Thập Niệm Kư Số lợi ích hơn nhiều v́ lần chuỗi thân mơi nhọc, tinh thần xao động, c̣n cách này th́ thân nhàn mà tâm an. Chỉ những khi nào làm việc, hoặc khó kư số, nên khẩn thiết niệm suông, đợi lúc xong việc lại nhiếp tâm kư số. Như thế th́ vọng tưởng không c̣n tung hoành, tâm cảnh an trụ vào câu niệm Phật.

Đức Đại Thế Chí Bồ Tát nói: 'Nhiếp cả sáu căn, tịnh niệm nối luôn, được Tam Ma Địa, đây là bậc nhứt.' Lời này với hạng lợi căn th́ không cần luận, nếu kẻ độn căn như chúng ta, bỏ phép Thập Niệm Kư Số mà muốn nhiếp sáu căn, nối tịnh niệm, thật khó vô cùng! Cách niệm Phật lần chuỗi chỉ nên dùng trong những khi đi đứng, c̣n lúc tịnh dưỡng thần, nếu lần chuỗi th́ do tay động, thần cũng không an, lâu ngày có thể sanh bịnh. Khác hơn thế, phép Thập Niệm Kư Số lúc đi, đứng, nằm, ngồi đều dùng được, nhưng khi nằm chỉ nên niệm thầm, nếu ra tiếng đă không cung kính lại bị lao hơi, nên nhớ kỹ.

Cư sĩ tuổi đă năm mươi, nếu muốn được giải thoát trong hiện đời, phải chuyên chú nơi môn Tịnh Độ. Kinh Kim Cang, Pháp Hoa nên tạm gác một bên, đợi khi nào lư Tịnh Độ thông suốt, niệm Phật được nhứt tâm rồi sẽ hay. Nếu bây giờ vừa nghiên cứu vừa tu hành, e cho thời gian có hạn, trí lực không kham, bên nào chẳng thành bên nào, hai sự lợi ích cùng bị mất cả.

Thơ đáp Cư Sĩ Châu Trí Mậu (1 - 3)

- 1 -

Được thơ, biết ngươi sanh ḷng tin, muốn quy y Phật Pháp. Song, quy y Tam Bảo phải dứt điều ác, làm việc lành, gắng giữ trọn luân thường, phát ḷng tín nguyện cầu sanh về Tây Phương. Lại phải có ḷng thương xót hộ sanh, đừng giết hại, và tŕ lục trai hoặc thập trai. Nếu chưa có thể dùng thanh đạm trọn đời, cũng chớ nên quá tham trong sự ăn uống. Như thế mới không trái với tâm từ bi của Phật. Ngươi tên Châu Mộc, vậy nay ta đặt cho pháp danh là Trí Mậu. Bởi tâm tánh ví như cây, do lửa phiền năo thiêu đốt nên cây ấy héo khô. Nếu có trí huệ th́ phiền năo không sanh, và cây tâm tánh tự nhiên tốt tươi thạnh mậu.

Muốn thọ năm giới, trước nên xét lại tâm ḿnh, như có thể giữ được mà không phạm, th́ hỏi cư sĩ Hóa Tam về cách tự thọ giới trước bàn Phật, y sẽ chỉ lại cho. Đă quy hướng Phật Pháp, phải xem kỹ Văn Sao của ta, y theo thực hành, mới không bị kẻ dung thường làm mê hoặc, khiến cho sanh tâm cầu phước báo đời sau, hoặc mong thành Tiên rồi tu phép luyện đơn vận khí. Nếu có thể lănh hội ư nghĩa trong bộ Văn Sao, th́ dù có trăm ngàn ngoại đạo cũng không thể lay chuyển được tâm ngươi. Chớ cho rằng bộ ấy không đủ y cứ, phải biết những lời trong đó đều do theo ư nghĩa Kinh Phật, hoặc thành ngôn của các bậc Tổ Sư, thiện tri thức mà thuật lại, không phải tự ta bịa đặt viết ra.

Nên nhận xét kỹ, sự lợi ích sẽ được nhiều.

- 2 -


Ngươi ư chí rất kém, tâm lại quá cao, tuy nói vâng lời ta, thật ra toàn là y theo thiên kiến của ḿnh. Trong môn Tịnh Độ, ḷng tin là cội gốc. Tin được chắc, kẻ phạm tội ngũ nghịch thập ác đều có thể văng sanh; tin chưa vững, bậc thông tông thông giáo c̣n hoặc nghiệp cũng không duyên phận. Ngươi đă chẳng phải là bậc thông tông giáo, có thể nương sức ḿnh trừ hoặc nghiệp để khỏi sanh tử, lại không tin nơi sức Phật và công đức của tự tánh đều không thể nghĩ bàn, th́ làm sao để giải thoát? Phải biết, nếu đủ tín nguyện sâu thiết cầu về Tây Phương, không người nào chẳng được văng sanh. Niệm Phật là pháp tṛn tắt mau lẹ để thoát nẻo luân hồi; với sự hướng thượng của môn nầy, người c̣n chưa biết, lại sanh ḷng háo thắng đi nghiên cứu Khởi Tín Luận! Luận Khởi Tín tuy là cương yếu của Phật Pháp, nhưng khó đem sự lợi ích cho người căn tánh kém và kẻ sơ cơ. Dù cho nghiên cứu Luận Khởi Tín được thông suốt không c̣n nghi, đến khi dụng công lại phải y theo phép niệm Phật cầu sanh mới là ổn thỏa. Nếu nói về lư giải, lại c̣n có những nghĩa của pháp tướng, thiền, giáo rất nhiệm mầu, ngươi làm sao thông suốt cho hết được? Tâm ngươi cao như thế, mà không biết hạn lượng sự cao theo sức ḿnh! Ngươi tự cho rằng 'căn tánh hèn kém, khó mong sanh về Tây Phương, chỉ cầu không đọa tam đồ cũng vui ḷng', đâu biết nếu chẳng được văng sanh, tương lai sẽ bị đọa vào ác đạo? Quan niệm ấy đă không hợp với giáo huấn của Phật, lại trái lời khuyên bảo của ta, mà gọi: 'vâng theo thực hành, một ḷng niệm Phật', là thế nào?

Nay ngươi chức nghiệp tầm thường, tư cách chưa phải là bậc cao thượng, sự lập chí như thế, thật khiến cho người đáng than thở và buồn cười? Nên dứt hẳn mối cao vọng cầu làm bậc đại thông gia ấy đi, rồi chuyên tâm nghiên cứu các kinh sách Tịnh Độ và xem lại mấy bức thơ ta gửi cho Cao Thiệu Lân, Từ Nữ Sĩ trong Văn Sao, y theo đó thực hành. Chớ nên v́ ḿnh căn tánh hèn kém mà nâng cao sự văng sanh, để việc ấy ra ṿng ngoài. Phải dùng câu niệm Phật làm bổn mạng ngươn thần, tùy lúc động tịnh đều nắm chắc đừng buông bỏ. Lại, những tâm niệm, hành vi phải giữ sao cho hợp với tông chỉ: dứt các điều ác, làm những việc lành. Ngoài ra, nếu có sức dư, không ngại ǵ tụng tŕ kinh chú, nên lấy sự chí thành làm cội gốc, đừng gấp muốn suốt thông nghĩa lư. Nếu trước vội muốn thấu hiểu, chẳng chuyên nơi sự tụng niệm chí thành, dù có thấu hiểu cũng không thật ích, huống chi khó thấu hiểu ư? Đến như các môn pháp tướng, thiền, giáo, nghiên cứu trọn đời cũng khó nắm được chỗ quy thú, dù được, c̣n phải dứt sạch hết hoặc nghiệp mới thoát khỏi luân hồi. Nói đến việc nầy, e rằng mộng không thành mộng đó thôi! Bộ Văn Sao của ta, ngươi xem chưa kỹ, nên lời nói ra, cao th́ tới mây xanh, thấp lại tận đáy biển thẳm. Trong ấy, luôn luôn nhắc đến những kinh sách nên xem, cách thức xem như thế nào, và sự khó được lợi ích của các môn pháp tướng, thiền, giáo. Sở dĩ có sự khó dễ v́ pháp môn Tịnh Độ nương nhờ sức từ của Phật, các pháp môn khác chỉ dùng sức ḿnh. Những môn kia đều là giáo lư thông thường, như sĩ phu trong đời do tài đức mà làm quan cao thấp. Môn Tịnh Độ là giáo lư đặc biệt, như thái tử mới sanh đă tôn quí hơn quần thần. V́ thế, hai bên không thể sánh nhau, mà phàm phu nghiệp chướng vẫn nhiều, há chẳng dè dặt trong sự lựa chọn pháp môn để tu hành ư?

Ngươi đă tự nhận năng lực kém hèn, kiếp người có hạn, sao c̣n măi theo cao vọng của ḿnh? Việc ấy ta không ép, nếu ngươi làm được bậc đại thông gia th́ cũng hân hạnh cho Phật giáo, sợ e khi làm chẳng xong, môn Tịnh Độ lại chưa tin chắc, rồi ra hỏng mất cả đôi. Giả sử đời nay có tu được chút ít công đức, kiếp sau nhất định sẽ lạc vào ṿng phước báo của thế gian. Ngươi thử nghĩ: người giàu sang đă mấy ai không tạo nghiệp? Như ngày nay vận nước nguy biến, dân chúng lầm than, đều do bởi ảnh hưởng phước báo của những người đời trước tu hành không trí huệ. Khi đă lạc vào kiếp sau, ngươi làm thế nào bảo đảm được ḿnh khỏi mê lầm, không đọa ác đạo? Nếu chẳng sanh về Tây Phương, một đời không đọa c̣n có thể, hai đời không đọa rất ít lắm đó!
 

- 3 -


Phật nói kinh chú rất nhiều, đâu có ai thọ tŕ cho hết được. Nên người xưa chỉ lựa những thứ cần yếu để làm nhật khóa. Sớm th́ tụng Lăng Nghiêm, Đại Bi, Thập Chú, Tâm Kinh, xong lại niệm Phật hồi hướng Tây Phương. Tối đến tụng Kinh Di Đà, văn Đại Sám Hối, Mông Sơn, rồi niệm Phật hồi hướng. Hiện nay các chùa đều bớt công phu, thời mai chỉ tụng Lăng Nghiêm, Tâm Kinh; thời hôm tụng Kinh Di Đà, văn Mông Sơn, cách ngày lại tụng Kinh Đại Sám Hối, Mông Sơn. Ngươi nói nghi nhật tụng trong ṭng lâm kinh chú rất nhiều, đó là những thứ phụ lục ngoài hai thời khóa. Người cư sĩ tại gia có thể y theo thời khóa của nhà thiền, hoặc tùy ư ḿnh lập riêng. Như sớm tối đều tụng Kinh Di Đà, chú Văng Sanh, niệm Phật; hoặc sớm tụng chú Đại Bi, niệm Phật, tối tụng Kinh Di Đà, chú Văng Sanh, niệm Phật, hay tŕ Kinh Kim Cang cũng được. Nhưng không luận tụng niệm kinh chú chi, đều phải niệm Phật hồi hướng, mới hợp với tông chỉ tu Tịnh Nghiệp.

Những điều ngươi bày tỏ, tuy cũng là ư tốt, song thật ra không có chủ định, chỉ theo hoàn cảnh đổi dời. Kinh nào, chú nào, lại chẳng ngợi khen công đức thù thắng? Theo quan niệm của ngươi, tụng kinh nầy sẽ mất kinh kia, tŕ chú này tất buông chú nọ, bỏ hết nghĩ tiếc uổng, tụng tŕ cả sức lại không kham. Như thế có được gọi là người chơn tu hiểu lư hay chăng? Suy rộng ra, nếu ngươi gặp nhà tu Thiền khen pháp Thiền, bác Tịnh Độ, cũng bắt chước họ tham thiền; cho đến các môn khác như: Thiên Thai, Mật Tông, Pháp Tướng, Hiền Thủ, mỗi khi gặp bậc tri thức đề xướng, tất ngươi sẽ mất chủ định bỏ đây theo kia. Chẳng biết ngươi căn tánh bậc nào, mà muốn thông suốt hết các pháp như thế? Ta chỉ e cho ngươi nghiệp sâu trí cạn, khi làm nhà đại thông gia không được, lại bỏ luôn cả pháp nương sức Phật văng sanh của môn Tịnh Độ, để lúc lâm chung nếu chẳng đi đến vạc dầu ḷ lửa, quyết lạc vào bụng ngựa thai lừa! Giả sử may mắn không mất thân người chăng nữa, lại do đời nay tuy có công tu song thiếu chánh trí, nên nhân đó hưởng được si phước, rồi tạo nghiệp ác, khi vô thường đến, cũng đi thẳng vào tam đồ. Chừng ấy muốn nghe tên trời, đất, cha, mẹ c̣n không được, huống nữa là biết pháp môn Tịnh Độ ư? Ngươi xem Văn sao của ta hiểu như thế nào? Phải biết, một câu A Di Đà Phật, nếu tŕ niệm đến chỗ cùng cực, thành Phật c̣n có dư. Ngươi cho rằng tụng Kinh Di Đà và niệm Phật, không thể diệt được định nghiệp hay sao? Phật Pháp cũng như tiền, tại người khéo dùng; ngươi có tiền, làm việc ǵ lại không được? Nếu ngươi có thể chuyên tu một pháp, cầu sự chi lại chẳng thành? Lựa là phải khăng khăng tŕ chú này tụng kinh kia mới được công đức như thế, ngoài ra không được những công đức khác hay sao? Nếu khéo thể theo lời ta, tự nhiên hiểu một việc rơ trăm việc; bằng chẳng thế, dù nói cho nhiều, tâm ngươi cũng không chủ định, nào có ích ǵ?

Phàm phu ở trong mê, ḷng tin không vững, nên thường có những việc khi tu hành khi tạo nghiệp, thoạt tin tưởng thoạt nghi ngờ. Đó cũng bởi lúc ban sơ người dạy không biết cách, nếu trước tiên đem việc nhân quả thiển cận chỉ bảo lần lần, th́ đâu đến đỗi có sự mê lầm trái ngược như thế! Nhưng tội đă qua tuy rất nặng, nếu hết ḷng sám hối sửa đổi, y theo sự hiểu biết chơn chánh, chí quyết tu tịnh nghiệp, lợi ḿnh lợi người, th́ tội chướng tiêu ṃn, tâm tánh sáng tỏ. Nên kinh nói: 'Trong đời có hai bậc anh dũng, một là người không tạo tội, hai là kẻ đă tạo mà biết sám hối.' Một chữ hối phải tự đáy ḷng phát lộ, nếu không thật tâm ăn năn chừa cải, dù nói lắm cũng là thừa. Ví như người đọc phương thuốc mà không chịu uống, làm sao bệnh được lành? Nếu có thể y theo cách trị dùng thuốc, chắc chắn bệnh sẽ tiêu trừ, thân tâm yên ổn. Chỉ lo cho kẻ lập chí chẳng bền, thành ra cảnh một ngày phơi nắng mười ngày để lạnh, rồi cũng luống có danh suông, không phần thật ích mà thôi!

Thơ đáp Cư Sĩ Châu Mạnh Do (1 - 10)

- 1 -


Từ thân của ngươi tuổi đă cao, đối với pháp môn Tịnh Độ chưa có thể nhận chân mà tu tŕ. Nên thường đem nỗi khổ trong sáu nẻo luân hồi, sự vui ở cơi Cực Lạc và những lẽ siêu thăng khó, sa đọa rất dễ, giảng nói cho người nghe. Nếu chẳng được về Tây Phương, đừng nói là ở cơi người không đủ trông cậy, dù sanh lên cơi trời hưởng sự vui vẻ lâu dài, một khi phước lực đă hết, vẫn trở lại đọa xuống nhân gian và ba đường ác mà chịu khổ. Nếu không biết Phật Pháp th́ cũng đành vậy, nay đă được hiểu Phật Pháp đâu nên đem sự lợi ích lớn lao ấy nhường cho người? Và đâu nỡ tự ḿnh cam chịu ch́m nổi măi trong biển khổ luân hồi, không mong ngày giải thoát ư? Ngươi nên thường giảng nói như thế, may ra có thể khiến cho lệnh từ phát được căn lành đời trước, tin chịu tu hành. Bồ Tát ra đời độ sanh đều thuận theo cơ nghi, trước tùy sở dục mà dắt dẫn, sau khiến cho vào trí Phật. Nếu ngươi có thể gắng tu hiếu đạo và đem pháp môn Tịnh Độ khuyên dẫn trong hàng quyến thuộc cùng tất cả người hữu duyên, để đồng làm bạn tốt nơi Liên Tŕ, th́ công đức lớn lắm?
 

- 2 -


Người đời khi có bệnh hoặc gặp những sự nguy hiểm tai nạn, thường thường không biết niệm Phật làm lành, lại lầm lạc muốn cầu cứu với quỉ thần. Do đó nên giết hại sanh mạng gây thêm tội nghiệp, thật rất đáng thương! Bệnh khổ cùng những tai họa, phần nhiều đều do nghiệp đời trước gây ra; nếu niệm Phật, sám hối, làm lành, th́ tội chướng sẽ tiêu, bệnh được mau mạnh. Loại quỉ thần kia chính họ hăy c̣n ở trong biển nghiệp, đâu có thể khiến cho người tiêu nghiệp? Dù cho hạng chánh thần có oai lực lớn chăng nữa, oai lực ấy so với thần lực của Phật, Bồ Tát chẳng khác chi lửa đom đóm sánh cùng ánh sáng mặt trời! Người Phật tử không chịu nương tựa Phật, Bồ Tát, trở lại cầu cứu với quỉ thần, đó là tà kiến.

Tất cả chúng sanh đều là cha mẹ đời quá khứ và chư Phật đời vị lai, nên thương xót hộ tŕ. Chớ noi theo tập tục sai lầm, mặc ư giết hại, rồi bảo rằng: phải cần có thức ngon bảo để phụng dưỡng song thân mới là đạo hiếu. Người chưa hiểu Phật Pháp, không biết sự lư luân hồi, nên mê mờ lầm lạc chẳng nói làm chi. Nếu kẻ đă nghe Phật Pháp, mà c̣n giết hại cha mẹ đời trước để phụng dưỡng cha mẹ đời nầy và dùng huyết nhục làm nhu cầu cho sự tang tế, chẳng những không phải hiếu thuận, lại chính là ngỗ nghịch vậy. Cho nên những bậc thông đạt, khi nghe được nghĩa chân thật của đạo Phật, đều không chịu làm theo quyền pháp ở đời, bởi pháp quyền tạm ấy do chiều thuận theo mê t́nh của thế gian mà lập, không phải là đạo lư thông suốt nhân quả ba đời của Như Lai. Nếu các người muốn nhận thức sâu hơn, hăy xem những bài 'giới sát' trong quyển Văn Sao của ta sẽ tự rơ.
 

- 3 -


Người niệm Phật khi có bệnh, phải một ḷng đợi chết, nếu thọ mạng chưa dứt, sẽ được an lành. V́ khi buông cả toàn thân mà niệm Phật, th́ nghiệp chướng tiêu rất mau, nghiệp tiêu tất nhiên bệnh được lành mạnh. Nếu chẳng buông bỏ muôn duyên, chỉ mong mau lành mạnh, thảng như bệnh không hết, th́ phần văng sanh sẽ phải mất, bởi v́ không có tâm nguyện cầu sanh. Như không hiểu rơ đạo lư này, đâu có thể nhờ từ lực của Phật tiếp dẫn ư? Về bệnh căn của lệnh từ, các ngươi nên khuyên người buông bỏ tất cả để cầu văng sanh. Như thọ mạng chưa dứt, th́ cầu văng sanh trái lại mau b́nh phục, v́ do dùng tâm chí thành, nên được nhờ sức Phật gia bị. Ngươi nên đem lời lẽ trên đây mà khuyên nhủ từ thân, đừng học theo thường t́nh, nói những điều không lợi ích.
 

- 4 -


Tiếp được thơ, biết lệnh từ chưa thật phát tâm cầu sanh Cực Lạc. Hiện thời người c̣n đang trong cơn bệnh, thôi hăy tạm hoăn đừng đề cập đến việc ấy. Chỉ nên khuyên người chí thành niệm Phật, để được nhờ từ lực gia bị, khiến cho thân tâm an vui. Đợi đến khi lệnh từ khỏe lại rồi, sẽ dùng lời lẽ khéo léo dẫn giải rành rẽ, làm cho người thật phát tâm cầu sanh th́ mới có lợi ích. Nhờ ngươi chuyển lời cùng lệnh từ, nói ta thăm người được an lành. Và nên nói lại rằng: ta khuyên người buông cả muôn duyên một ḷng niệm Phật, đó là điều cần yếu để tự cứu độ. Ngoài ra việc chi khác, để phần con cháu lo, nếu c̣n nghĩ tưởng đến, tức là có hại cho công phu niệm Phật của ḿnh vậy.
 

- 5 -


Châu Quần Tranh xem rơ:

Lệnh từ hiện đang có bệnh, quyết không nên đi vắng trong lúc người chưa lành. Nhưng ta xem t́nh trạng, e người chẳng hưởng thọ được lâu. Vậy phải dùng Mạnh Do và Trí Chiêu mỗi ngày thay phiên nhau ở bên giường bệnh mà niệm Phật, khiến cho người niệm theo, nếu không thể niệm th́ khuyên người yên lặng lắng nghe cũng được. Làm như thế, nếu lệnh từ thọ mạng đă hết, quyết định sẽ văng sanh, như số phần chưa măn, cũng được tiêu trừ nghiệp chướng thêm lớn căn lành.

Về phần ngươi, nên đổi ư định lên núi Phổ Đà bằng cách vâng theo lời ta mà thực hành là tốt hơn. Như thế mới lưỡng toàn không hại. Hiện thời từ thân của ngươi bệnh chưa mạnh, rất không nên phát tâm nguyện xuất gia, nếu phát th́ đối với đời và đạo đều thành trái nghịch. Người sắp mạng chung, như được trợ niệm, chắc có phần văng sanh; nếu thiếu trợ niệm, hoặc dùng sự khóc lóc làm phát động những niệm t́nh ái giận hờn, th́ khó khỏi đọa lạc. Điều này rất quan hệ, nguy hiểm, nên nhớ kỹ. Nếu ngươi có thành tựu sự văng sanh cho mẹ, đó cũng là chánh nhân tịnh nghiệp của chư Phật trong ba đời. Và đó chính là làm Phật sự giữa trần lao, công đức ấy sánh với việc làm tầm thường, muôn phần rộng lớn. Phải bàn tính với Mạnh Do, thực hành phương pháp trợ niệm, và khuyên lệnh từ nên nghe theo những lời của ta. Đến như việc v́ mẹ giảng giải Phật Pháp, vẫn là điều rất hay, nhưng sự định tỉnh cùng an ủi cũng nên nhiều phần để ư.
 

- 6 -


Lệnh từ phát nguyện gởi tiền cho ta để tùy ư làm các việc công đức và giúp phần ấn loát bộ Văn Sao. Theo ư ta, làm việc công đức phải lấy sự mở mang trí thức của người làm điều cần yếu, nên ta định đem số tiền ấy in quyển Quán Âm Tụng để phổ biến khắp xa gần. Việc nầy có mục đích khiến cho mọi người được biết đức Quán Âm Đại Sĩ là đấng nương tựa của chúng sanh trong pháp giới. Đại Sĩ tùy loại hiện thân, t́m tiếng cứu khổ, và phụ giúp đức A Di Đà tiếp dẫn người niệm Phật sanh về Cực Lạc. Hiện nay nhân loại đang ở trong đường hoạn nạn, không biết phương pháp chi pḥng ngừa, nếu mọi người được xem quyển sách ấy, sẽ cảm ân đức của Đại Sĩ, muốn nhờ oai lực của Ngài để thoát khỏi tai họa. Và, một khi đă phát tâm tín ngưỡng nương tựa nơi Đại Sĩ, tất sẽ giữ ḷng từ thiện sửa lỗi làm lành, để mong cho được cảm thông với Ngài mà nhờ sự chở che giúp đỡ. Cơi đời chẳng yên, v́ ḷng người hiểm ác, nếu mọi người đều ngưỡng mộ đức từ bi của Đại Sĩ th́ thế giới lần lần chuyển ra cảnh vui vẻ thanh b́nh. Cho nên quyển sách này nếu được lưu thông, sự lợi ích sẽ vô cùng, sánh với các loại sách hữu ích tạm thời, thật cách nhau rất xa. Hơn nữa lệnh từ cũng nương nhờ công đức ấy, tiêu tội nghiệp, thêm phước huệ, khi sống được an vui, lúc chết sanh về Cực Lạc. Đến như quyển Văn Sao, mọi người xem rồi phát tâm làm lành niệm Phật rất nhiều, ở đây không thể nói hết.
 

- 7 -


Lệnh từ v́ sao bệnh không được lành? Âu là do túc nghiệp gây ra, khiến đổi quả nặng thành nhẹ, chuyển hậu báo làm hiện báo, để trả cho xong tất cả đó chăng? Thuở xưa, Huyền Trang Pháp Sư khi lâm chung cũng bị chút ít bệnh khổ, Ngài nghi ngờ cho những kinh ḿnh phiên dịch hoặc có chỗ sai lầm. Đang khi suy nghĩ như thế, thoạt thấy một vị Bồ Tát an ủi rằng: 'Do sự khổ nhỏ nầy, tội báo kiếp trước của ông đều được tiêu diệt, chớ đem ḷng hoài nghi.' Vậy ngươi hăy đem duyên sự này an ủi lệnh từ, khuyên người nên vui mừng, chớ sanh ḷng buồn giận. Như thế, quyết định có thể nhờ Phật gia bị, thọ mạng chưa dứt sẽ mau an lành, số phần đă măn được sanh về Cực Lạc. Con người trong cơn bệnh khổ, nên tưởng thối lui một bước, sẽ thấy an vui không cùng! Gần đây binh lửa liên miên, chúng ta may mắn chưa gặp tai nạn ấy, dù bị bệnh khổ c̣n có thể nhân đó tự thức tỉnh để t́m đường giải thoát. Trong trường hợp ấy chỉ nên cảm khích chuyên tu, tự nhiên sẽ được lợi ích. Thế chẳng hơn là oán trời trách người để gây thêm tội nghiệp cho ḿnh ư? Nên khuyên thân mẫu ngươi đừng ôm ḷng oán trách, gắng định tâm niệm Phật th́ nghiệp tiêu mau như tuyết gặp nước sôi. Ta từ khi trở về núi, mỗi ngày trong thời khóa tụng đều có hồi hướng cầu nguyện Tam Bảo gia bị cho lệnh từ, nếu thọ mạng chưa dứt, được mau an lành, như số phần đă măn, sớm sanh về Tịnh Độ.
 

- 8 -


Tiếp được thơ, biết lệnh từ đă niệm Phật văng sanh vào ngày mùng hai. Là đệ tử Phật, các ngươi phải y theo Phật Pháp khiến cho thần thức của từ thân được lợi lạc, chẳng nên quá buồn thương, thành ra kẻ c̣n người mất đều luống vô ích. Đến như việc tang tế phải dùng toàn đồ chay, chớ nên tùy theo tập tục. Dù có những người không hiểu Phật Pháp, bài xích nói là sai quấy, cũng mặc cho họ chê cười. Trong đám táng không nên quá phô trương bày vẽ, và làm Phật sự chỉ nên niệm Phật mà thôi. Anh em ngươi phải đốc xuất người nhà đều khẩn thiết niệm Phật, th́ thần thức của lệnh từ, cả trong gia quyến, cho đến bà con bè bạn, sẽ được sự lợi ích, chân thật. Nếu tài lực có dư, cũng nên làm các điều công đức; như sự độ dụng vừa đủ, chỉ lo xong việc táng là được. Chớ nên làm quá long trọng, để rồi sau phải thiếu thốn là điều không hay.
 

- 9 -


Được thơ, thấy lệnh từ khi lâm chung rất tốt. Đó âu cũng là sự hiệu nghiệm do căn lành bản nguyện của người, và công trợ niệm của anh em ngươi cùng trong quyến thuộc. Thuở b́nh sanh, con người có thể che giấu các việc, duy lúc sắp chết quyết không thể giả dối. Lệnh từ đă không ḷng ái luyến, có sắc vui tươi ngồi yên mà qua đời, nếu tịnh nghiệp chẳng thành thục, đâu được như thế ư? Mong anh em ngươi và toàn gia quyến nên niệm Phật để truy tiến. Như thế chẳng những thân mẫu các ngươi được lợi ích, mà công đức niệm Phật của chính ḿnh lại càng lớn thêm. Đức Phật đă dạy: 'Khi tụng kinh, tŕ chú, niệm Phật hoặc làm các công đức, nên hồi hướng cho pháp giới chúng sanh.' Lúc b́nh thời c̣n v́ chúng sanh không can thiệp chi đến ḿnh mà hồi hướng, huống chi mẹ mất đâu nỡ chẳng hết ḷng niệm Phật cầu nguyện cho người ư? Nếu có thể v́ chúng sanh hồi hướng, tức là hợp với thệ nguyện bồ đề của chư Phật, như đem một giọt nước gieo vào biển th́ giọt nước ấy đồng sự sâu rộng như biển cả. Như chưa được dung hợp cùng biển, đừng nói một giọt nước, dù cho sông dài hồ rộng, đối với biển vẫn cách biệt như đất với trời. Thế th́, khi đem công đức hồi thí cho cha mẹ và tất cả chúng sanh, chính là bồi cội phước cho ḿnh. Biết được nghĩa này, người hiếu thảo ḷng hiếu càng tăng thêm, kẻ kém hiếu tâm cũng phát ḷng thảo thuận.

Thỉnh chúng tăng tụng niệm trong bảy tuần thất, việc ấy rất tốt, nhưng khi đó anh em các ngươi cũng phải có người đồng tụng niệm theo. Những phụ nữ trong nhà bất tất phải theo thứ lớp đứng sau chư tăng mà tụng niệm, v́ e lâu ngày thân thiện nhau, sẽ gây mối hiềm nghi cho người ngoài. Hàng phụ nữ nếu có tụng niệm, nên ở sau màn hoặc lập riêng một chỗ khác, các cửa ra vào hai bên đều không thấy nhau. Đó là nêu khuôn phép và mở thông nghi thức cho người trong h+