Cùng Chung Lăn Chuyn Bánh Xe Pháp

                  

 
 

TỊNH ĐỘ

Lá Thư Tịnh Độ
n Quang Pháp Sư
Ḥa Thượng Thích Thiền Tâm Dịch

Thơ đáp Ly Tẩu

Vừa rồi Hải Thi Đạo Nhơn ở Gia Hưng có chuyển đến cho tôi phong thơ của các hạ. Xem xong, biết các hạ từ lâu đă gia công tu Tiên, chỗ sở đắc rất thâm, nay lại muốn hỏi môn Tịnh Độ là pháp cứu cánh trong đạo Phật. „y có thể gọi là người từ kiếp trước đă trồng sâu căn lành đối với Phật Pháp, nên không chấp theo sự câu kiến của thần Hà Bá, mà biết nghĩ t́m trong biển giáo, bến giải thoát hoàn toàn. Nhưng các hạ đă quen biết với Hải Thi Đạo Nhơn, sao không hỏi người, lại bỏ chỗ cao minh t́m nơi thấp kém, e rằng có phụ với sở vọng chăng? Hải Thi vốn là bậc kiêm thông tông giáo, gồm tu Thiền Tịnh, chính là chiếc thuyền đại nguyện trong biển sanh tử đó. V́ người quá khiêm tốn, nên lấy chữ thi tự đặt tên, thật ra nếu trong biển sanh tử mà gặp được cái tử thi ấy, quyết sẽ mau lên bờ giác, yên ổn trở lại quê nhà. Như thế chẳng hơn t́m hỏi „n Quang là kẻ dung tăng, đối với pháp môn kém phần hiểu biết hay sao? Nhưng các hạ đă tưởng lầm hỏi đến, tôi cũng xin tùy chỗ thiển kiến đáp lại, hoặc may có thể v́ người giải chút nghi ngờ chăng?

Thiết nghĩ trong thể đạo Phật, Tiên, vẫn đồng nguồn, nhưng về chi phái thật ra cách nhau xa khác. Đạo Phật dạy người trước tiên tu phép quán Tứ Niệm Xứ, quán thân không sạch, thọ là khổ, tâm vô thường và pháp vô ngă. Khi được biết thân, thọ, tâm, pháp là không sạch, khổ, vô thường, vô ngă, đều giả dối như mộng huyễn, th́ tánh chơn như sẽ tự hiện bày. Đạo Tiên ước về lúc chánh truyền ban đầu, cũng không chuyên chủ nơi sự luyện đơn vận khí để cầu trường sanh, nhưng người sau tu hành lại lầm cho đó là tông chỉ chơn chánh. Đạo Phật bao trùm tất cả pháp, chẳng những đối với vấn đề thân tâm tánh mạng, phát huy rơ ràng, mà các việc nhỏ của thế đế như hiếu, đễ, trung, tín, lễ, nghĩa, liêm, sỉ, cũng không bỏ sót. Duy về việc luyện đơn vận khí, trong Phật Pháp tuyệt không nói đến một chữ, lại c̣n răn cấm là khác nữa. V́ lẽ bên Tiên th́ khiến cho người giữ ǵn thân tâm làm chân thật, bên Phật lại chỉ rơ thân tâm vốn giả dối, theo duyên sanh diệt, không phải là bản hữu chân tâm. Phép luyện đơn chẳng phải không bổ ích, song chỉ có thể làm cho người sống lâu, nhẫn đến thành Tiên sanh lên trời, nếu nói về sự giải thoát luân hồi th́ vẫn c̣n là việc mộng. Các hạ đă biết Tiên có số kiếp, Phật thọ không cùng, th́ trong lúc tuổi cao nầy, phải chuyên tâm gắng sức nơi pháp môn Tịnh Độ. Việc tham học thiền, giáo, nên giản lược qua, bởi các pháp ấy rộng lớn sâu xa không dễ ǵ nghiên cứu, dù t́m đến chỗ cùng cực, cũng phải trở về môn Niệm Phật mới có thể trong hiện đời giải quyết được sự sanh tử. Phàm những kinh luận về Tịnh Độ, các hạ phải gấp gấp t́m xem, y theo đó thực hành, tin chắc lời của Phật, Tổ, không nên v́ chỗ ḿnh chưa hiểu đến vội đem ḷng nghi. Nếu có thể đầy đủ cả Tín Nguyện Hạnh, tự nhiên sẽ được nhờ sức từ của Phật tiếp dẫn về Tây Phương. Một khi đă văng sanh th́ gần đức Di Đà, bạn cùng hải chúng, lần lần chứng quả vô sanh, lên ngôi Bổ Xứ. Chừng ấy nh́n lại việc thành Tiên làm kẻ tùy thuộc cho Thiên Đế, sánh với địa vị hiện tại, thật cách nhau như vực thẳm trời xa!

Quyển Mộng Đông Ngữ Lục và các thuyết của Bành Thiệu Thăng mà các hạ nói, chắc là sự trộm văn sửa đổi của nhà luyện đơn, không phải chính thật trong nguyên thơ. Bởi nhà luyện đơn cũng có kẻ cho ngồi vận khí là tham thiền, nên mới nói 'niệm Phật cùng tham thiền đồng, chỉ hơi khác với đạo pháp.' Câu 'chỉ hơi khác với đạo pháp', chính là bên đạo gia thêm vào. Trừ câu này ra, toàn văn tuy nghĩa lư không quá sai lầm, nhưng vẫn lủng củng mơ hồ. Trong Mộng Đông Ngữ Lục tuyệt không có văn nầy, ấy là do nhà luyện đơn trộm lấy văn nghĩa biên chép ra, sự thật chính họ cũng không hiểu nữa. Nhưng nay chẳng cần biện rơ việc ấy làm chi, xin t́m xem quyển Mộng Đông Ngữ Lục sẽ tự biết. Đến như chỗ họ dẫn những lời của Bành Nhị Lâm cư sĩ cũng đồng với việc trên đây, song sự sai lầm lại càng nhiều hơn. Đoạn nói: 'Bốn chữ A Di Đà Phật dễ niệm, chỉ cần mỗi niệm nối nhau một ḷng không loạn, mới có thể nhất khí tuần hoàn. Chừng ấy tinh khí thần gom lại một chỗ, lâu ngày thành xá lợi tử, lâu nữa kết làm bồ đề châu mà thành Phật.' Trên đây là đem phép niệm Phật làm phép luyện đơn. Nhị Lâm cư sĩ quyết không nói những lời ấy. Đó là do hạng chánh nhăn chưa mở, nên lấy chánh làm tà. Mấy quyển Huệ Mạng Kinh, Tiên Phật Hiệp Tông của họ viết ra, sự sai lầm lại càng quá lắm. Hạng người tà ngụy ấy dẫn lời của người, cải đầu sửa đuôi để chứng minh cho lư thuyết ḿnh. Tội trạng khinh miệt chánh lư, vu khống bậc tiền hiền, mê hoặc người đời của họ thật không bút mực nào tả ra cho xiết! Những kẻ đó chỉ cầu hư danh trong một thời, đâu dè về sau phải chịu nhiều sự khốn khổ, nên đức Như Lai gọi là hạng người đáng xót thương!

Đến như chỗ luận về phép 'hồi quang phản chiếu', tuy không đến đỗi trở ngại, song câu 'hai mắt chăm nh́n đầu ngón tay' chắc có lẽ dẫn lầm câu 'hai mắt chăm nh́n nơi chót mũi.' Hoặc khi đó là cách thức của Nhị Lâm cư sĩ lập ra, nhưng chắp tay lâu không khỏi mỏi nhọc, đâu bằng quán ánh sáng trắng nơi chót mũi được tự tại an vui hơn? Bởi người mới tập định, niệm khó quy nhất, nếu thường quán nơi chót mũi th́ tâm không c̣n chạy theo cảnh bên ngoài. Đây là phép quán thiển cận của kẻ sơ cơ vậy. Quyển Mộng Đông Ngữ Lục do cư sĩ Tiền Y Am trích những đoạn chuyên chỉ Tịnh Độ trong bộ Mộng Đông Di Tập in ra, cho lưu thông ở phương nam, để giúp sự đ̣i hỏi của những người từ lâu mong mến bộ ấy mà không được gặp. Toàn tập ở Bắc Kinh mới đủ, phương nam duy có quyển lược bản của Tiền Y Am sao ra mà thôi. Quyển Ngữ Lục ấy lời lẽ tinh diệu, là một tác phẩm đứng vào bậc nhất từ ngài Ngẫu Ích và Tĩnh Am về sau. Với quyển này, nếu các hạ có thể đi đến cùng, tin chắc không nghi, quyết sẽ cảm được sen vàng nở trong ao báu, khi lâm chung thác chất nơi đó mà làm khách mới ở cơi Tây Phương. Quyển Di Đà Yếu Giải là cây kim chỉ nam của người tu Tịnh Nghiệp, kinh này ở phần đầu bộ Tịnh Độ Thập Yếu. Tịnh Độ Thập Yếu là thành phần của những giáo pháp rất hợp lư hợp cơ do ngài Ngẫu Ích sưu tập trong các kinh sách Tịnh Độ viết ra, gồm có mười loại nên gọi là Thập Yếu. Đại Sư để quyển Di Đà Yếu Giải ở trước là tỏ ư tôn trọng kinh.

Xá Lợi, vốn tiếng Phạn, dịch nghĩa: thân cốt hoặc linh cốt, là kết tinh của sức tu giới định huệ, không phải do luyện khí thần mà thành. Đó cũng là biểu tướng của người tu đến cảnh tâm cùng Phật hiệp. Nhưng xá lợi chẳng phải chỉ do thịt, xương, tóc biến thành trong lúc thiêu thân, mà sự xuất hiện của nó có nhiều trường hợp khác nhau. Như thuở xưa có vị cao tăng đang khi tắm gội bỗng được xá lợi. Tuyết Nham Khâm Thiền Sư lúc cạo đầu, tóc Ngài biến thành một xâu xá lợi. Có kẻ chí tâm niệm Phật, xá lợi từ trong miệng vọt ra. Một người thợ khắc văn Long Thơ Tịnh Độ, xá lợi hiện trong bản cây. Có vị tín nữ thêu Phật, thêu kinh, được xá lợi dưới mũi kim. Lại có kẻ đi xa về, ngậm ngùi thương cảm tế lễ trước tượng, nơi tượng bỗng hiện ra xá lợi. Thiền Sư Trường Khánh Nhàn, khi tịch rồi thiêu hóa, nhằm lúc trời nổi gió lớn, khói bay xa ba bốn mươi dậm, khói đến chỗ nào nơi ấy đều có xá lợi, lượm gom lại được hơn bốn thạch. Thế th́ biết xá lợi do đạo lực hóa hiện, nhà luyện đơn không rơ, lầm tưởng là luyện tinh khí thần kết thành. Bởi họ thấy những danh tướng trong Phật Pháp, không chịu t́m hiểu căn nguyên, vội đem phụ hội một cách sai lạc vào sự luyện đơn của ḿnh. Chỉ nghe nói chứng quả bồ đề mới được thành Phật, chưa từng có việc luyện tinh khí thần, trước thành xá lợi tử, sau kết làm bồ đề châu mà thành Phật bao giờ! Tánh và mạng của nhà luyện đơn nói, đều là lối tu chấp trước trên thần thức, sắc thân. Họ không hiểu lẽ ấy, trở lại chê đạo Phật chỉ tu tánh không biết tu mạng, đâu dè việc làm của họ chính là chỗ phá trừ bên Phật giáo. Về việc nầy, các hạ t́m xem đoạn quán Tứ Niệm Xứ trong Kinh Phật sẽ tự rơ.

Bồ Tát Quán Thế Âm từ kiếp lâu xa về trước đă thành Phật, hiệu là Chánh Pháp Minh. V́ ḷng từ bi sâu thiết, nên tuy ở cơi Thường Tịch, Ngài hóa h́nh nơi ba cơi: Thực Báo, Phương Tiện, Đồng Cư; tuy thường hầu cận đức A Di Đà, mà vẫn khắp hiện thân Phật, Bồ Tát, Thanh Văn, Duyên Giác, cho đến thân lục đạo trong mười phương pháp giới. Những việc lợi ích, Ngài đều làm, chúng sanh đáng dùng thân nào được độ, Ngài hiện thân ấy mà nói pháp. Non Phổ Đà chính là nơi ứng tích của Bồ Tát. V́ muốn cho chúng sanh có chỗ bày tỏ ḷng thành, đức Quán Thế Âm mới thị tịch tại núi này, đâu phải Bồ Tát chỉ ở Phổ Đà mà không ở những nơi khác ư? Như chỉ duy một vầng trăng trên trời mà bóng in khắp ngàn muôn sông hồ, từ biển cả cho đến giọt sương, những nơi có nước trong là có trăng hiện. Song nếu nước đục, bóng trăng sẽ mờ khuất. Tâm tánh ta ví như nước, nếu chúng sanh một ḷng chuyên niệm đức Quán Thế Âm, Bồ Tát liền dùng đủ cách thuận, nghịch, ẩn, hiển, khiến cho được lợi ích. Trái lại, nếu không chuyên nhất, tức là nước tâm lờ đục, tất nhiên khó mong nhờ Ngài cứu độ. Nghĩa nầy rất thâm, xin xem đoạn 'Phổ Đà Sơn Chí', trong bộ Văn sao của tôi sẽ tự rơ. Bồ Tát khi c̣n ở trong nhân, do quán tánh nghe mà chứng viên thông, lúc ở trên quả, do quán tiếng chúng sanh xưng danh hiệu mà t́m đến cứu độ, nên gọi là Quán Thế Âm. Lại, Bồ Tát đạo pháp rộng lớn không ngằn, tùy theo căn tánh của tất cả chúng sanh, nói đủ pháp để giáo hóa, không riêng lập một môn nào, nên pháp môn của Ngài gọi là Phổ Môn.

Trên đây là việc thiển cận, v́ các hạ chưa nghiên cứu đến, nên không rơ. Tôi cũng tùy lời hỏi mà đáp, thật ra đó không phải là môn Tịnh Độ, một giáo pháp có thể đem lại cho các hạ sự ích lợi hoàn toàn. Nhưng nếu nói rơ việc ấy ra đây, lại e ḷng ḍng thêm phí giấy mực. Các hạ nên thỉnh Kinh Vô Lượng Thọ, Kinh Quán Vô Lượng Thọ, Tịnh Độ Thập Yếu, Tịnh Độ Thánh Hiền Lục, Triệt Ngộ Ngữ Lục mà xem, sự lư tu chứng thế nào, trong ấy có nói đủ tất cả.

Thơ đáp Cư Sĩ Mă Khế Tây (1 - 3)

- 1 -


Thời khóa niệm Phật nên tùy chỗ thích hợp riêng của mỗi người mà lập. Theo nghi thức ở Niệm Phật đường của các chùa hiện nay, đều trước tụng Kinh A Di Đà, kế tụng ba biến chú Văng Sanh, xong lại đọc bài kệ khen Phật, đến cuối bài, tiếp niệm 'Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới, Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật', rồi đứng dậy đi quanh theo bàn Phật mà niệm. Phép đi nhiễu quanh phải từ đông qua nam, tây qua bắc, đó gọi là thuận, là tùy hỷ và như thế mới có công đức. - Tây Vức rất trọng phép đi nhiễu, nước ta cũng dùng phép nầy, kiêm cả sự lễ bái để tỏ ḷng kính thành. Nếu đi từ đông qua bắc, tây qua nam, tức là trái ngược, có tội lỗi, điều nầy cần nên biết. Đi nhiễu quanh niệm Phật được một lúc, rồi ngồi xuống niệm thầm, ước một khắc lại niệm ra tiếng. Khi sắp xong, qú niệm Phật mười câu, Quán Âm, Thế Chí, Thanh Tịnh Hải Chúng, mỗi thánh hiệu đều ba lần, kế đọc bài văn phát nguyện, tụng Tam Tự Quy Y, rồi lễ Phật lui ra. Người tại gia, nếu chỗ nơi chật hẹp khó đi vi nhiễu, th́ qú, đứng, hoặc ngồi niệm cũng được. Tóm lại, phải tùy tiện theo cảnh duyên, tinh thần, sức khỏe của cá nhân mà định, nếu nhờ người khác lập pháp thức cho, e không được hoàn toàn.

'Niệm mà không niệm, không niệm mà niệm', là cảnh giới của người đă niệm đến tŕnh độ tâm Phật hợp nhau. Đến lúc ấy, tuy thường niệm Phật nhưng không có tướng khởi ḷng động niệm, tuy không khởi ḷng động niệm, mà vẫn hằng xưng niệm, hoặc ức niệm. (Chưa đến lúc tương ứng, nếu chẳng khởi động tâm niệm mà niệm, th́ không niệm được). Không niệm đây, đừng nhận lầm là chẳng niệm Phật, v́ đó là chỉ cho trạng thái tuyệt sự khởi tâm động niệm, thật ra th́ mỗi câu Phật hiệu vẫn nối nhau không hở dứt. Cảnh giới ấy không dễ ǵ được, chớ nên nhận lầm. Phép quán tưởng tuy tốt, nhưng cần phải biết tượng Phật ḿnh thấy, thuộc về duy tâm hiện; nếu nhận lầm là cảnh ngoài, có khi ma dựa phát cuồng. Duy tâm hiện là tượng Phật tuy rơ ràng, song không phải h́nh tướng chất ngại, thật có, nếu nhận định như thế th́ thành cảnh ma. Lúc niệm Phật mắt nhắm hay mở, cũng thuộc về việc tùy nghi... Kiêm tŕ thánh hiệu Quán Âm, rất được chỗ nương tựa, tất cả mọi người đều nên tu như thế. Khi làm việc, không giữ được tịnh niệm, v́ chưa đến cảnh giới một ḷng chẳng loạn. Như thế tất khó khỏi sự ngăn cách, bởi một tâm không có hai dụng. Nên thường định tâm soi vào trong.

Mỗi người đều phải giữ bổn phận, như ngươi trên có bà nội, cha mẹ, dưới có vợ cùng em dại, chức nghiệp lại nhàn nhă rất dễ tu tŕ. - hoàn cảnh ấy chẳng thiết thật dụng công, c̣n muốn xuất gia làm chi? Có chắc rằng ngươi xuất gia, lại được cơ duyên tốt như thế để chuyên tâm tu hành chăng? Nên biết, xuất gia có bổn phận của kẻ xuất gia, đâu phải bỏ tất cả công việc? Như „n Quang đây xem ra như người vô sự, nhưng cũng bị bận buộc hầu hết tháng năm, không rỗi rảnh để chuyên tâm niệm Phật, huống là kẻ khác ư? Vậy nên tùy sức tu tŕ, đừng tưởng nghĩ việc chi ngoài bổn phận.

Đó là hạnh phúc cho ngươi, mà cũng là điều ta mong ước.
 

- 2 -


Người tu hành rất cần yên tâm tịnh dưỡng. Ngươi tên Tịnh Am, sao chẳng xét tên nhớ nghĩa, cứ sanh thêm việc để cho mọi người lờn chán, chính ḿnh lại vương lấy các chứng: uất hơi, xây xẩm, đau đầu? Nếu ngươi c̣n chẳng biết tự trọng, tất rồi sẽ thổ huyết, nhẹ th́ thành phế tật, nặng hoặc đến thân mạng không toàn. Chừng đó lại để cho người đời mai mỉa rằng ngươi học Phật tu hành, chẳng những không lợi ích c̣n bị tổn thêm! Rồi cũng từ nguyên nhân ấy, một hạng kém hiểu biết sanh ḷng phỉ báng, bảo: Đó là sự tai hại của Phật Pháp. Họ lại t́m đủ cách ngăn trở kẻ khác tu niệm, phá mất căn lành của người, mấy ai t́m hiểu lỗi ấy do ngươi không thật hành đúng theo Phật giáo. Vậy ngươi phải biết điều hay dở, gắng giữ tṛn bổn phận người tu, làm sao cho được sự cảm thông trong thầm lặng. Bệnh của ngươi đều do chính ḿnh chuốc lấy, không tự xét tỉnh, lại c̣n hỏi ai?

Vậy ngươi nên mau cải lỗi và nhiếp tâm niệm Phật, kinh điển cũng tạm đ́nh lại đừng xem. Cứ y theo lời ta, độ một vài tháng sẽ được b́nh phục. Nếu chẳng thế, th́ xin tuyệt nghĩa thầy tṛ, ngày khác có gặp nhau cũng đồng như người đi đường mà thôi!
 

- 3 -

Danh là bề ngoài của sự thật. Có thật có danh vẫn không lấy làm vinh, v́ đó thuộc về bổn phận. Không thật có danh, đă nhiều thẹn nhục, huống chi c̣n muốn đăng lên báo để khêu động tai mắt của khách bốn phương? Việc ấy nếu làm ra, mọi người sẽ nghi ngờ bàn luận, tất trở thành cái thật án trộm danh khi đời. Ngươi chỉ biết một, chẳng biết hai, nên ta phải đôi phen giải bày chỉ rơ. Với Phật Pháp, ngươi tuy có ḷng tin sâu, nhưng lại ưa phô trương, kết giao, du ngoạn; đó là điều chướng ngại lớn cho sự tu hành. Vả lại ngươi tuổi mới hơn hai mươi, mà đă kết giao nhiều như thế, sau này khi học Phật được tinh thông, chắc mỗi ngày không có lúc nào rỗi rảnh. Nên yên tịnh trầm lặng, sự lợi ích sẽ vô cùng!

Phải gắng dè dặt và tự kiểm thúc lấy!

Thơ đáp một Cư Sĩ ở Dơng Giang

Sắc dục là chứng bệnh chung của người đời. Chẳng những hạng người trung, hạ bị nó làm mê, mà bậc thượng căn nếu không kiêng sợ giữ ǵn, cũng khó khỏi mang hại. Xưa nay biết bao trang tuấn kiệt có thiên tư làm thánh hiền , chỉ v́ phá không nổi lớp cửa ấy, trở thành kẻ hèn ngu bất tiếu! Vô số loài hữu t́nh cũng v́ đó mà sa đọa vào tam đồ. Trong Kinh Lăng Nghiêm, đức Phật bảo ngài A Nan: 'Nếu chúng sanh ở sáu đường trong các thế giới, dứt được ḷng dâm, th́ không c̣n bị xoay vần theo ṿng sống, chết. Ngươi tu Tam Muội, v́ cầu ra khỏi trần lao, nếu chẳng trừ ḷng dâm, tất không thể nào giải thoát.' Với người học đạo, vấn đề trọng đại là sự sống chết, nếu không mau thống trừ căn bệnh kia, làm sao ĺa nỗi khổ luân hồi? Như pháp môn niệm Phật tuy là đới nghiệp văng sanh, song nếu đem ḷng dâm cố kết, tất sẽ cách ngăn với Phật, đạo cảm ứng khó giao thông. Muốn dứt mối họa ấy, không chi hơn khi thấy tất cả người nữ, đều tưởng là thân thuộc, oan gia và nhơ nhớp.

Tưởng như thân thuộc là thế nào? Khi thấy người người nữ tuổi cao th́ tưởng là mẹ, lớn hơn ḿnh tưởng là chị, nhỏ hơn tưởng là em, nhỏ hơn nữa, nên tưởng là con. Người ḷng dục dù mạnh, quyết không dám đối với mẹ, chị, em và con, sanh niệm bất chánh. Đó là dùng luân lư ngăn dục tâm khiến cho không phát khởi.

Tưởng như oan gia là thế nào? Người đời, theo t́nh thường khi thấy sắc đẹp liền động ḷng luyến ái. Do tâm mê nhiễm ấy, nên đọa vào ác đạo nhiều kiếp chịu khổ không được thoát ly. Thế th́ vẻ kiều mị đẹp tươi, sánh với cọp, sói, rắn rít cùng các thứ thuốc độc, c̣n hại gấp trăm ngàn lần! Đối với mối oan gia rất lớn ấy, c̣n quyến luyến ưa thích, há chẳng phải là ngu mê quá lắm ư?

Tưởng nhơ nhớp là thế nào? Sắc đẹp chỉ là một lớp da mỏng bên ngoài. Nếu banh lớp da ấy ra, th́ dẫy đầy những xương, thịt, máu, mủ, đờm, dăi, phẩn uế, hôi tanh nhơ nhớp không ai muốn nh́n! Những thứ không đáng ưa đó, chỉ v́ một làn da mỏng giấu che, làm cho người lầm sanh ḷng yêu mến. Như chiếc b́nh đẹp đựng đồ hôi nhơ, không ai cầm lấy để ngắm, xem. Lớp da của mỹ nhân chẳng khác chi chiếc b́nh đẹp kia, trong ấy nhơ nhớp c̣n hơn phẩn, đâu nên chỉ ưa thích bề ngoài, quên hẳn bề trong, lầm sanh vọng tưởng ư? Nếu không răn dè sợ hăi, thống trừ tập tánh ấy, tất bị vẻ đẹp mỏng manh phỉnh gạt, mũi tên ấy sẽ ghim sâu vào xương tủy, làm sao tự nhổ ra? Lúc b́nh thường đă như thế, mà muốn sau khi chết chẳng đọa vào bào thai, việc ấy không thể có. Nhưng vào bào thai người c̣n khá, vào thai loài súc thú mới ra thế nào? Thử suy nghĩ kỹ điều nầy, tâm thần tự nhiên kinh động sợ hăi! Song, muốn cho khi thấy cảnh không khởi ḷng nhiễm, trước phải thường tưởng ba điều trên, th́ lúc đối cảnh mới khỏi bị lay chuyển. Bằng chẳng thế, dù không thấy cảnh, ư vẫn mơ tưởng triền miên, cũng vẫn bị tập khí dâm dục ràng buộc. Cho nên, đối với nữ sắc phải xét nhận thấu đáo, quét sạch tập quán dục nhiễm, mới có phần tự do.

Mỗi ngày, ngoài chức phận của ḿnh, cư sĩ gắng chuyên tâm niệm Phật và đem hết ḷng thành kính tha thiết sám hối tội nghiệp từ vô thỉ đến nay. Như thế, lâu ngày sẽ có sự lợi ích không thể nghĩ bàn mà chính ḿnh không tự biết. Kinh Pháp Hoa nói: 'Nếu có chúng sanh nào nhiều dâm dục, thường niệm cung kính Quán Thế Âm Bồ Tát, sẽ được ĺa dục', cho đến nhiều giận hờn, ngu si cũng như vậy. Thế th́ biết, nếu chí thành niệm thánh hiệu đức A Di Đà, tất cũng được tiêu trừ ba món hoặc: tham, giận, mê. Lại, hiện nay là thời buổi nhiều hoạn nạn, ngoài giờ niệm Phật, nên niệm thêm thánh hiệu đức Quán Âm. Như thế, sẽ được sự chuyển biến rất mầu nhiệm trong âm thầm, mới khỏi cảnh khi túc nghiệp hiện ra không phương trốn tránh. Phải t́m xem những sách: giới dâm, nhân quả, báo ứng, xa ĺa bạn bè du đăng th́ tâm hạnh mới được chánh đáng, vững vàng và tịnh nghiệp mới có thể thành tựu.

Cố gắng! Cố gắng!

Thơ đáp hai Cư Sĩ Ngạn Như, Dật Như

Xem thơ, thấy nhị vị tỏ ư phiền muộn v́ việc đời buộc ràng, không biết làm sao được giải thoát. Mọi người đều có bổn phận, duyên sự tuy nhiều nhưng nếu tâm điềm nhiên không chuyển theo cảnh, th́ đương lúc bận buộc cũng được giải thoát an nhàn. Cảnh trạng ấy như đài gương soi h́nh, h́nh đến không trở ngăn, h́nh đi chẳng lưu luyến. Nếu không hiểu nghĩa này, dù cho bỏ hết việc đời, nơi tâm cũng c̣n vương vấn, rộn ràng chẳng yên. Người học Phật biết an theo phận ḿnh, giữ tṛn nhiệm vụ, th́ dù có tiếp xúc muôn duyên, mỗi ngày vẫn thung dung ngoài cảnh vật. Đó chính là nghĩa 'một ḷng không trụ, muôn cảnh đều nhàn' vậy.

Đến như niệm Phật, rất cần ở sự thoát ly ṿng sống chết. Đă v́ việc ấy tất đối với nỗi khổ luân hồi tự sanh chán nản, với sự vui Cực Lạc tự sanh mến ưa. Thế là trong một niệm đủ cả hai điều tín nguyện. Thêm vào đó ḷng chí thành khẩn thiết như con nhớ mẹ, th́ sức Phật, sức Pháp và sức công đức tín nguyện của tâm ḿnh, ba pháp đều vẹn toàn. Lực dụng ấy ví như vầng nhật giữa trời, dù có tuyết sương dầy đặc, không mấy chốc cũng tự ră tan. Người mới niệm Phật chưa đến lúc thân chứng Tam Muội, làm sao khỏi có vọng niệm? Nhưng nếu biết đem tâm soi vào trong, không theo vọng cảnh, cũng đă quí lắm rồi! Ví như hai chiến trận đối nhau, cần phải giữ thành lũy ḿnh cho chắc, đừng để bên nghịch xâm phạm, pḥng khi quân giặc kéo qua liền đón lại đánh. Lúc ấy phải đem binh chánh giác bao vây bốn bên, khiến cho đối phương không đường tẩu thoát, phải chịu quy hàng. Điều cần yếu là vị chủ soái phải thường thường tỉnh táo đừng biếng trễ, hôn trầm. Nếu phạm hai lỗi ấy, chẳng những không phá được giặc, trở lại bị giặc tiêu diệt. Cho nên người niệm Phật nếu không biết nhiếp tâm, th́ càng niệm càng sanh vọng tưởng. Nếu có thể nhiếp tâm, vọng niệm sẽ lần lần yếu bớt, cho đến khi tiêu tán không c̣n. Nên người xưa có lời kệ:

Học đạo dường như giữ cấm thành,
Ngày pḥng sáu giặc, tối tinh chuyên.
Tướng, quân, chủ soái đều theo lịnh,
Chẳng động đao thương nước được yên.

Thơ đáp Cư Sĩ Ngô Hi Chân

Môn niệm Phật ước có bốn pháp: Tŕ Danh, Quán Tưởng, Quán Tượng và Thật Tướng. Tựu trung, chỉ có pháp Tŕ Danh nhiếp cơ rất rộng, đă dễ tu lại không khởi các việc ma. Nếu muốn quán tưởng, phải xem kỹ Quán Kinh và hiểu rơ những lư: tức tâm là Phật, tâm tịnh Phật hiện, các cảnh đều duy tâm không nên chấp trước... Đă rơ cảnh không phải từ bên ngoài đến, không sanh chấp trước, th́ cảnh càng nhiệm mầu, tâm càng thuần nhất. Nếu được như thế, sự lợi ích của quán tưởng đâu phải kém nhỏ, tầm thường?

Trái lại, như cảnh quán chẳng thuần, lẽ đạo chưa thấu suốt, chỉ đem tâm vội gấp muốn thấy cảnh th́ toàn thể là vọng, đă không được thông cảm với Phật, c̣n làm nhân cho việc ma. Bởi do gấp muốn thấy cảnh, tâm càng thêm vọng động, khiến cho oan gia nhiều kiếp về trước nhân cơ hội đó hóa hiện cảnh giới để làm cho hành giả mê lầm. Lúc ban sơ dụng tâm đă không chơn, đâu biết đó là cảnh ma hiện, nên vui mừng khấp khởi, t́nh niệm chẳng yên. Nhân đó, ma liền dựa vào làm cho mê tâm mất tánh. Chừng ấy dù có Phật hiện thân cũng không biết làm sao cứu độ!

Vậy cư sĩ nên lượng xét căn cơ ḿnh, đừng quá ham việc cao xa, thành ra muốn lợi trở lại mang hại. Thiện Đạo Ḥa Thượng nói: 'Chúng sanh đời mạt pháp thần thức rối loạn, đem tâm thô quán cảnh nhiệm, quyết khó thành công.' Cho nên đức Phật thương xót, riêng mở môn Tŕ Danh, v́ sợ có kẻ không khéo dụng tâm, lạc vào ma cảnh. Tu theo phép Tŕ Danh rất dễ, chỉ giữ một niệm nối nhau sẽ được văng sanh. Lại sự chí thành khẩn thiết cũng là phương pháp mầu để trị tâm vọng và ma cảnh.

Cư Sĩ nên xét lại kỹ, và đem hết tâm lực cố gắng tu hành!

Thơ đáp Nhạc Tiên Kiều

Muốn trong hiện đời thật ích, phải y pháp môn Tịnh Độ, tín nguyện niệm Phật cầu sanh Tây Phương, tất sẽ thoát đường sanh tử. Nếu chẳng thế, đừng nói kẻ không được chơn truyền của Phật giáo không thể giải thoát, dù có được cũng tuyệt phần! V́ được chơn truyền là đại triệt đại ngộ không phải thật chứng. Chứng mới khỏi luân hồi, ngộ vẫn c̣n trong ṿng ấy. Tu các pháp môn khác, đều phải dứt hoặc chứng chơn mới thoát sanh tử. Riêng môn Tịnh Độ, chỉ cần đủ tin sâu, nguyện thiết, tŕ danh hiệu Phật, dứt các điều dữ, làm những việc lành, gồm tu cả hai phần chánh trợ, quyết định sẽ văng sanh. Hơn nữa, về phẩm vị c̣n được chiếm ngôi ưu thắng. Lại chẳng những người công hạnh tinh thuần quyết được sanh, mà kẻ phạm tội ngũ nghịch thập ác, khi sắp chết biết tỉnh ngộ, hết sức hổ thẹn, sợ hăi chí tâm niệm Phật vài câu liền mạng chung, cũng quyết được sanh. Bởi đức Phật ḷng từ rộng lớn, chuyên lấy sự độ sanh làm bổn phận. Nếu kẻ nào biết một niệm quay về, liền được nhiếp thọ. Đó gọi là 'nương nhờ sức Phật, đới nghiệp văng sanh.'

Người đời mạt pháp, nếu tu các môn khác, không y theo Tịnh Độ, chỉ được phước báo ở cơi trời, người và gieo nhân giải thoát nơi kiếp lâu xa về sau mà thôi. Do bởi chúng sanh đời nầy không đủ sức dứt hoặc nghiệp, nên gốc sanh tử hăy c̣n. Như thế làm sao khỏi mọc lại mầm mộng sanh tử?

Thơ đáp Cư Sĩ Phạm Cổ Nông

Pháp môn Tịnh Độ lấy Tín, Nguyện, Hạnh làm tông; Tín, Nguyện có rất sâu thiết, Hạnh mới được tinh cần. Khi tai họa gấp rút, siêng năng thành khẩn, lúc b́nh thường không việc, chậm trễ biếng lười, là sự tu hành không chí quyết, và đó cũng là bệnh chung của phàm phu. Nhưng sống trong t́nh thế hiện giờ, ví như người nằm yên trên đống củi to, ở dưới lửa đă phát cháy tuy chưa đốt đến thân, trong giây phút khói lửa sẽ mịt mù, không phương trốn tránh. Nếu c̣n lơ láo qua ngày, không chuyên chí cầu cứu nơi câu niệm Phật, sự thấy hiểu cũng là cạn cợt lắm!

Trong Phật Pháp, tu về các môn khác, tất phải đến chỗ hạnh khởi giải tuyệt mới thật có ích, chẳng riêng ǵ phép quán tưởng của Tịnh Độ Tông. Người tu thiền lấy một câu thoại đầu không nghĩa vị làm bổn mạng ngươn thần, để tất cả tâm trí vào đó, thường thường tham cứu chẳng kể ngày tháng, đợi đến khi tiêu hết t́nh kiến đối với cảnh trong ngoài, mới gọi là đại triệt đại ngộ. Đó chẳng phải là hạnh khởi giải tuyệt ư? Đức Lục Tổ bảo: 'chỉ xem Kinh Kim Cang cũng được tỏ ḷng thấy tánh.' Đó chẳng phải là hạnh khởi giải tuyệt ư? Chữ khởi đây phải hiểu nghĩa là cực. Duy dùng sức cùng cực mới có thể quên cả thân tâm thế giới, lặng suốt một màu. Nếu công chưa cùng cực, tuy quán niệm, song vẫn c̣n có kia đây, toàn là việc của t́nh phàm, toàn là sự thấy hiểu phân biệt, đâu được chân thật lợi ích? Cho nên người xưa khi tham thiền, đầu năo như cây khô, do đó đạo phong truyền rộng khắp nơi, đời sau c̣n ngưỡng mộ. Sự lợi ích ấy đều do ở nơi một chữ cực mà thôi.

Người đời nay ưa nói suông, ít hay thực hành. Tu tịnh nghiệp phải gồm cả lư sự, mà sự lại càng nên chuyên hơn. Tại sao thế? V́ người thông hiểu lư, toàn sự đều lư, trọn ngày sự tŕ tức là lư tŕ. Kẻ chưa rơ lư, khi nghe nói lư tŕ, cảm thấy nghĩa ấy mầu nhiệm, lại hợp với ư biếng trễ không thích phiền nhọc của ḿnh, liền chấp lư bỏ sự. Đâu ngờ khi bỏ sự, lư cũng thành ra việc suông! Mong các hạ đem việc tu hành kiêm cả sự lư khuyên bảo mọi người, công đức sẽ lớn lắm!

Thơ đáp Cư Sĩ Phạm Cổ Nông

Trung ấm tức là thần thức, chớ không phải thần thức hóa làm trung ấm thân. Đây chính là linh hồn mà người thế tục đă thường gọi. Cái thuyết trung ấm thân bảy ngày sống chết một lần và qua bốn mươi chín ngày phải đi đầu thai, không nên nê chấp. Nói trung ấm thân sống chết là chỉ cho trong tâm vô minh của kẻ kia hiện ra tướng sanh diệt, đừng nên quá quê thật, luận theo trạng thái sống chết của người đời.

Sự thọ sanh của thân trung ấm nơi sáu đường ba cơi, mau th́ chừng trong khoảng khảy ngón tay, lâu hoặc bốn mươi chín ngày hay nhiều hơn không nhất định. Những vong mới chết có thể hiện thân trước người quen thuộc, hoặc cùng tiếp xúc nói chuyện trong ban ngày hay ban đêm. Không phải chỉ riêng trung ấm thân mới được như thế, mà người đă sanh về cơi dữ, lành, đôi khi cũng có thể hiện h́nh cho bà con quen thuộc thấy. Đây tuy là ư niệm của người ấy hiện ra, song kỳ thật cơ quyền biến do tạo hóa thần kỳ sắp đặt, để tỏ cho đời biết: người chết hồn chẳng tan mất và quả báo lành dữ vẫn không sai. Nếu chẳng thế th́ kẻ dương gian không thể biết được việc âm ty, rồi do đó những tà luận mù quáng phụ họa nổi lên, bảo rằng chết là mất, không có nhân quả, đời sau, khiến cho người lành không gắng công tu đức, kẻ ác lại càng hung hiểm tung hoành. Thế th́ dù có lời Phật dạy, lấy đâu để chứng minh, và ai chịu tin nhận? Cho nên các sự hiện h́nh ấy đă chứng cho lời Phật không sai, nhân quả có thật, người lành thấy thế càng làm lành, mà kẻ dữ cũng bị t́nh lư đó chiết phục, không đến nỗi mười phần quyết liệt. Trời đất quỉ thần muốn cho người đời biết rơ việc ấy; nên mới có những sự người chết hiện h́nh nơi dương gian, kẻ dương gian xử đoán h́nh phạt dưới âm phủ, để phụ dực Phật Pháp và giúp đạo trị an. Lúc nầy rất nhiệm mầu và sự quan hệ cũng rất lớn. Những việc như thế, xưa nay sách vở chép cũng nhiều, song đều chưa nói rơ cơ quyền biến ấy do từ đâu, và có những ǵ quan hệ lợi ích?

Linh hồn tuy ĺa xác thân, nhưng vẫn c̣n có t́nh chấp về xác thân y như cũ. Đă có t́nh chấp ấy, tất phải cần dùng đến sự ăn mặc để tư dưỡng. Sở dĩ như thế, v́ phàm phu nghiệp chướng sâu nặng, chẳng biết ngũ uẩn vốn không, nên vẫn cùng người đời không khác. Nếu là bậc đại trí huệ, th́ liền thoát thể không c̣n nương tựa vào đâu, các sự khổ tiêu diệt, ngũ uẩn rỗng không, muôn đức trọn bày, chơn thân hiển lộ. Cảnh giới của thân trung ấm dị đồng không nhất định, nên sự thọ hưởng đều tùy theo t́nh chấp của mỗi người. Như việc đốt giấy áo, đối với người sống duy có quan niệm cấp cho áo, c̣n sự rộng hẹp vắn dài, đâu có thể mỗi mỗi đều phù hợp. Nhưng do nơi t́nh chấp của người sống và kẻ chết, nên những quần áo ấy vẫn vừa vặn như thường. Điều nầy có thể chỉ cho ta biết đại nghĩa: 'Tất cả các pháp đều do tâm chuyển biến.'

Người chết rồi, khi c̣n chưa thọ sanh trong sáu đường gọi là trung ấm thân. Nếu thọ sanh th́ chẳng c̣n là trung ấm thân, và sự dựa vào người mà nói việc khổ vui, đều là tác dụng của thần thức. Sự đầu thai tất do thần thức cùng tinh huyết cha mẹ ḥa hợp, nên lúc người đàn bà có mang, th́ thần thức đă có trong thai. Nhưng tại sao đôi khi người mẹ chuyển bụng, thấy có kẻ đi vào nhà rồi mới sanh? Đây là trường hợp lúc cha mẹ giao cấu, có linh hồn khác đến thay thế để thọ thai, đến khi cái thai đă thành, vong chánh mới đến, vong thay thế liền đi. Trong bộ 'Dục Hải Hồi Cuồng' quyển thứ ba, trang 8, 9, 10, 11, 12 cũng có nghi vấn nầy mà nguyên đáp không đúng lư; tôi xin v́ cải chánh, sau các hạ nên t́m tra lại sẽ rơ. Nguyên đáp trong ấy đưa ra tỷ dụ như vầy: 'Ví như trứng gà, có trứng có trống, có trứng không trống...' Không khi nào thần thức vào thai mà giống như trứng gà không trống. Bởi trứng không trống là trứng hư, không thể nở ra con, c̣n trường hợp trên, người mẹ vẫn sanh con như thường. Nay tôi lấy lư để biện minh, không sợ mang lỗi tiếm việt, nên v́ các hạ tŕnh bày. Thuở xưa, bà mẹ của ông Viên Trạch mang thai ba năm, có lẽ cũng thuộc về t́nh trạng thay thế đă nói trên. Nhưng đây là ước theo lối thông thường mà luận, phải biết nghiệp lực của chúng sanh không thể nghĩ bàn! Như người tu tịnh nghiệp đă thành, thân tuy chưa chết mà thần thức đă hiện nơi Tịnh Độ. Và kẻ nghiệp ác nặng, thân c̣n nằm trên giường bệnh mà linh hồn đă chịu h́nh phạt dưới cơi u minh. Thế th́ mạng tuy chưa dứt, thần thức đă đầu thai, đợi đến khi sắp sanh, toàn phần tâm thức mới phụ vào thai thể, lư nầy chẳng phải là không có, nhưng thông thường, sự thay thế thọ thai vẫn nhiều hơn.

Trong ba cơi, các pháp đều duy tâm hiện. Chúng sanh tuy mê chẳng biết, nhưng chính chỗ nghiệp lực không thể nghĩ bàn ấy, là chỗ tâm lực không thể nghĩ bàn, mà cũng là chỗ thần thông đạo lực của chư Phật không thể nghĩ bàn vậy. „n Quang tôi, hơn mười năm gần đây, v́ sức mắt yếu không xem nhiều được, nên không thể rộng dẫn kinh luận để chứng minh. Tuy nhiên, lư ấy vẫn chân thật, chẳng phải tôi dám đưa ra điều ức kiến, để rước lấy sự tội khiên. Sống chết là việc lớn của chúng sanh, nhân quả là đại quyền trong cơ giáo hóa. Mong rằng các hạ không tiếc lời văn quảng trường thiệt, một phen đem việc nhân quả báo ứng giúp cho mọi người đều chuyển phiền năo sanh tử thành bồ đề niết bàn. Như thế pháp môn cùng chúng sanh xiết bao hân hạnh!!

Thơ đáp Cư Sĩ Phật Điển

Tiếp được thơ, biết cư sĩ tụng niệm tinh cần, ḷng tôi rất vui đẹp!

Những bóng đen theo cư sĩ nói, chẳng phải là bóng chư Phật, Bồ Tát, cũng chẳng phải h́nh ảnh kẻ oan gia đối đầu. V́ nếu Phật, Bồ Tát hiện thân, tất phải tỏ rơ có thể trông thấy mặt mày; c̣n nếu là kẻ oan gia th́ nó sẽ hiện ra tướng ghê gớm đáng sợ. Mấy bóng ấy có lẽ là những cô hồn hữu duyên từ kiếp trước, muốn nhờ sức tụng kinh niệm Phật của cư sĩ để siêu sanh về cơi an lành. Vậy sau thời khóa tụng hồi hướng, cư sĩ nên cầu nguyện luôn cho các vong ấy được tiêu trừ ác nghiệp, thêm lớn căn lành, nhờ sức từ của Phật văng sanh về Tây Phương. Như thế, các vong kia sẽ được lợi ích, không luống uổng một phen khổ sở mong cầu.

Người tu hành tâm phải có chủ tể, khi thấy cảnh giới xấu không nên sợ hăi, thấy cảnh giới tốt cũng không nên vui mừng. Được như thế th́ các cảnh giới trải qua đều là những thắng duyên trợ đạo. Nếu tâm không chủ định th́ các cảnh đều là chướng duyên. Lại, người tu hành phải lấy sự cung kính chí thành làm gốc, lấy từ bi khiêm tốn làm ḷng. Như thế th́ dù tâm hạnh chưa được hoàn toàn cùng Phật hợp nhau, cũng không đến nỗi trái với tâm hạnh của Phật, có thể gọi là người chơn tu, là đệ tử Phật.

Thơ gởi Cư Sĩ Tạ Dung Thoát

Nơi quê hương của các hạ được biết pháp môn Niệm Phật, là do Lâm Giới Sanh thỉnh kinh sách Tịnh Độ đem về truyền bá. Nếu trong đời trước các vị cư sĩ không trồng căn lành đối với pháp môn ấy, th́ đâu có thể lấy gương xưa làm thầy, sau khi nghe rồi liền sanh ḷng tín nguyện, tự tu và khuyên người ư? Và, đâu có thể trong ṿng không đầy mười lăm năm, đạo pháp lan rộng như thế ư?

Xét về thiên tư và cảnh duyên của các hạ đối với thời cơ pháp vận hiện nay, th́ chỉ nên giữ năm giới để hộ tŕ Tam Bảo, truyền Tịnh Độ mà khuyên chúng văng sanh, là hợp lư hợp thời và cần yếu hơn hết. Tại sao tôi lại nói như thế? V́, các hạ tuổi đă hơn bốn mươi, căn tánh chưa phải là bậc thượng, nếu muốn nghiên cứu Tạng Kinh, tham hỏi hàng tri thức, e cho pháp môn quá rộng, ngày tháng chẳng nhiều, rồi khi trở tay không kịp, có sự ăn năn. Lại hiện nay tuy có bậc tri thức, song tăng chúng phần nhiều đều ô lạm, bạn đồng hạnh ít người (đồng hạnh: bạn giúp đỡ về phần tu tập, có thể khiển trách lẫn nhau, khiến cho đạo hạnh tiến thêm), nếu khi chí hướng thượng suy kém, tất sự biếng trễ cũng nương theo, khó bề gắng gượng. Như tôi năm hai mươi mốt tuổi, từ cha mẹ xuất gia, cũng có thể gọi là lập chí mạnh và phát tâm chơn. Nhưng đến nay tuổi đă năm mươi ba, mà bên tông bên giáo đều không sở đắc chi cả. Nghĩ tủi thẹn luống phụ ơn mẹ cha, uổng làm con đức Phật! Song cũng may, đối với môn Tịnh Độ, khi mới xuất gia học Kinh A Di Đà, tôi đă sanh ḷng tin, thật chưa nhờ bậc tri thức nào chỉ dạy. V́ lúc đó thầy thọ nghiệp và các vị tri thức chỉ chuyên về sự tham cứu, những lời khai thị đều phá môn Tịnh Độ. Tôi lượng biết sức ḿnh, nên không lay chuyển theo ai, dù Phật, Tổ hiện thân cũng chẳng đổi ư, huống nữa là lời nói của bậc tri thức bên tông Thiền? Lại hiện nay, chánh yếu tà mạnh, việc hộ tŕ Phật Pháp, với tục th́ dễ, với tăng lại khó. Nếu các hạ giữ chắc năm giới, chuyên niệm Phật, về phần tu thân lời và hạnh hiệp nhau, th́ có thể truyền bá chánh pháp, làm lợi ích cho mọi người. Song chớ nên ở địa vị thầy mà tự cao, và thọ tiền của để lợi dưỡng. Phải đem lẽ chánh khuyên bảo những kẻ thân sơ, tất mọi người đều mến đức vâng theo lời. Đó gọi là: 'sửa ḿnh được chánh, tuy không bảo người cũng theo, như cỏ ở trước ngọn gió tất phải thuận chiều vậy.' Lệnh lang không tin đạo Phật, cũng chẳng nên ép, đợi khi nào cảnh ngộ đẩy đưa khiến cho tánh thiên chơn phát lộ, chừng ấy chỉ dùng một lời nhắc bảo, tự nhiên tấm ḷng của y sẽ phơi phới hướng về chánh pháp, khó nỗi cản ngăn.

Liên xă mới mở phải có quy tắc nhất định và thận trọng về việc cho người nữ dự vào. Chẳng nên bắt chước theo các nơi khác, thờ ơ không kiểm ước, để đến đỗi một pháp vừa lập trăm mối tệ sanh theo, điều ấy rất cần yếu. Không cơ duyên được lễ bái xá lợi và gần gũi ṭng lâm, việc ấy có hại ǵ? Nếu khi thấy tượng Phật, tưởng như Phật sống, thấy Kinh Phật, lời Tổ, tưởng như Phật, Tổ đối trước ḿnh chỉ dạy, tấm ḷng kỉnh sợ không dám biếng trễ, tức là trọn ngày được thấy Phật và gần gũi các bậc Bồ Tát, Tổ Sư, thiện tri thức. Như thế, xá lợi và ṭng lâm có thấm vào đâu? Về tập quán thô lỗ, đừng nói hàng cư sĩ, nếu người xuất gia mà không chơn tu, lại c̣n quá hơn thế tục. Muốn trừ bỏ tánh ấy, trước phải nhận rơ các pháp giữa đời đều là khổ, không, vô thường, vô ngă, hoặc nhơ nhớp, th́ ba ngọn lửa tham, giận, mê, sẽ dịu tắt lần. Nếu chưa dứt được, phải dùng ḷng ngay thật, xót thương, nhẫn nhục, tha thứ mà đối trị. Thảng hoặc c̣n chưa dứt, cứ tưởng rằng ḿnh đă chết, th́ bao nhiêu sự nóng bức đều hóa thành mát mẻ tươi nhuần. Kinh Báo Ân dạy phải lần lượt thọ giới, người xuất gia khi thọ giới cũng y theo thứ đệ: giới Sa Di, Tỳ Kheo và Bồ Tát. Nhưng người xưa thọ giới là phát tâm v́ dứt sự sanh tử, trái lại, người đời nay phần nhiều đều muốn cho ra vẻ một vị đại tăng, đắc giới hay không, chẳng cần nghĩ đến. V́ thế, mấy ông sư thiếu học thiếu tu bên ngoài, đều là những người đă thọ qua ba đàn đại giới cả. Sự tệ đó do bởi vua Thế Tổ nhà Thanh bỏ độ điệp, băi lệ thí tăng mà ra. Cho đến những kẻ xưng là thầy người, song chỉ cầu danh lợi, tham quyến thuộc, cũng xuất phát từ nguyên nhân ấy. Tôi e chư tăng ở quí địa không rơ điều nầy, bảo rằng độ người xuất gia là việc rất tốt, để cho hạng vô lại lẫn vào cửa Phật phá hủy chánh pháp, nên chẳng sợ tị hiềm mà nói thẳng ra.

Môn Tịnh Độ là pháp rất mầu nhiệm, viên đốn nhất trong một đời thời giáo của đức Như Lai. (Viên đốn: một pháp đủ tất cả pháp là viên, hiện đời tu, hiện đời giải thoát là đốn). Hạng phàm phu thấp kém đều được dự vào, bậc Đẳng Giác Bồ Tát cũng không thể vượt ra ngoài pháp ấy. Thật là con đường rất tắt để mau đi đến quả Phật cho thượng thánh hạ phàm. chư Phật, chư Tổ đều dùng môn nầy làm chiếc thuyền từ để độ khắp tất cả chúng sanh. Đối với một pháp như thế mà chẳng sanh ḷng tin, hoặc tin mà không chơn thiết, đó là người nghiệp chướng sâu nặng, không ưng được giải thoát, sẽ phải chịu khổ luân hồi không biết lúc nào ra khỏi. Khi đă ở trong ṿng sanh tử, dù có được làm thân trời, người cũng ngắn ngủi như lữ khách nghỉ nơi quán trọ. Trái lại, phần đọa vào ác đạo, thời gian rất lâu dài, như người ở yên nơi quê nhà. Mỗi khi tôi nghĩ đến điều này, bất giác cả sợ, nên chẳng nài mỏi nhọc, khẩn thiết tỏ với đồng nhân. Nay xin dẫn một bằng chứng rơ ràng, để các hạ phát thêm ḷng tín nguyện và đem ra khuyên bảo mọi người.

Những kinh chuyên nói về tông Tịnh Độ, có ba quyển: Phật Thuyết A Di Đà, Quán Vô Lượng Thọ và Vô Lượng Thọ Kinh. Ngoài ra, các kinh điển Đại Thừa phần nhiều đều phát minh pháp môn nầy. Như Kinh Hoa Nghiêm là khi đức Phật mới thành đạo, v́ các bậc pháp thân Đại Sĩ trong bốn mươi mốt vị: Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Thập Địa, Đẳng Giác, nói pháp cao cả về giới ngoại, hàng phàm phu và nhị thừa đều không thể biết được. Sau rốt, trong phẩm Nhập Pháp Giới, Thiện Tài đồng tử vâng lời dạy của đức Văn Thù, đi tham phỏng khắp các bậc tri thức. (Đồng tử: danh từ xưng tặng bậc dứt hoặc chứng chơn, phá vô minh trở về bản tánh, tâm hạnh trong sạch chân thật ví như kẻ đồng tử. Người đời không biết, vẽ h́nh tượng nhi đồng là sai lầm. Như đức Văn Thù, trong Kinh Hoa Nghiêm có chỗ gọi là Văn Thù Đồng Tử. Các kinh khác đôi khi cũng dùng danh từ nầy để xưng những bậc Bồ Tát). Ban đầu Đồng Tử ra mắt ngài Đức Vân nghe pháp môn Niệm Phật, liền chứng bậc Sơ Trụ. Kế đó lần lượt tham học mọi nơi đều được chứng, cho đến vị tri thức thứ năm mươi ba là đức Phổ Hiền. Bấy giờ, Bồ Tát Phổ Hiền dùng oai thần gia bị, khiến cho chỗ chứng của Đồng Tử bằng ḿnh và chư Phật, (đây gọi là Đẳng Giác Bồ Tát) rồi khuyên ngài Thiện Tài cùng hải chúng Bồ Tát trong cơi Hoa Tạng phát mười nguyện rộng lớn, đem công đức ấy hồi hướng về Tây Phương Cực Lạc, để cầu mau phương tṛn quả Vô Thượng Bồ Đề. Lại, chương Hạ Phẩm Hạ Sanh trong Kinh Quán Vô Lượng Thọ nói: 'Những chúng sanh tạo năm tội nghịch, mười điều ác, làm đủ những việc chẳng lành, sẽ phải đọa vào địa ngục, trải qua nhiều kiếp chịu sự khổ vô cùng. Nhưng nếu kẻ ấy khi sắp chết gặp bậc thiện tri thức khuyên bảo niệm Phật, liền vâng lời niệm đủ mười câu, tức th́ tội chướng tiêu trừ, được văng sanh.' Như Trương Thiện Ḥa, Trương Chung Qú, trong Long Thơ Tịnh Độ Văn chính là hạng người đó. Thế th́, trên như đức Văn Thù, Phổ Hiền là những bậc Đại Bồ Tát, dưới như kẻ phạm năm nghịch mười ác sắp đọa tam đồ, đều thuộc về cơ nhiếp hóa của môn Tịnh Độ. Bao nhiêu đó cũng đủ thấy pháp môn này quảng đại không bỏ sót một ai, và đức A Di Đà hạnh nguyện rộng sâu, xem chúng sanh b́nh đẳng. Tôi thường có đôi liễn:

'Bỏ đường tắt Tây Phương, chín cơi chúng sanh khó thể được tṛn nên quả giác.

Rời cửa mầu Tịnh Độ, mười phương chư Phật không vẹn toàn độ khắp hàng mê.'

Các hạ gắng phát ḷng mạnh mẽ tinh tiến, đảm đương pháp này. Nên đem những ngôn luận hợp cơ về sự truyền dương Tịnh Độ của người xưa, giảng lại cho trong thôn ấp nghe. Làm sao cho ở trần không nhiễm, nơi tục tu chơn, mới hợp với danh nghĩa hai chữ dung thoát. V́ dung thoát là lẫn với trần mà thoát khỏi trần vậy. Đó là ư kiến quê hèn của tôi, các hạ nghĩ thế nào? Xin suy gẫm lại.

Thơ đáp Cư Sĩ Tạ Thành Minh

Được thơ, biết nơi quí địa c̣n có tâm pháp của Nho, Phật, các hạ lại hết sức đảm đương, tôi rất lấy làm vui đẹp! Đến như những lời khen tôi, thật là đưa ngọn cỏ khỏi lầu cao, khoe mắt cá hơn châu ngọc, quá dùng theo lối khách sáo ngoài đời, khiến cho người xiết bao hổ thẹn! „n Quang vẫn một kẻ dung tăng, hằng đón lấy canh thừa cơm hẩm nơi nhà bậc phú trưởng giả để tự nuôi sống, nếu có ai không chê rằng nặng mùi, cũng đem để chia sớt cho nhau. Nhưng cư sĩ Từ Huất Như bảo rằng thức ăn ấy có ích cho người đói, nên mấy phen đem lời kẻ quê mùa nầy in ra lưu bố, tuy về ư có phần khả thủ, song văn chương không đáng để nh́n. Chẳng dè bộ Văn Sao của tôi lại làm lờn mắt xanh của các hạ, thật nghĩ cảm thẹn không cùng! Trong ấy, những điểm: chánh tâm, thành kính, dùng để đối trị sự t́m cầu bên ngoài, sự không biết kiêng sợ của người đời nay, cũng có đôi phần ích lợi cho kẻ sơ học. Nhưng, nếu bậc thông Tông hiểu Giáo được trông thấy, chắc không khỏi bắt nhợn ra. Tuy nhiên, nếu mửa hết những thức ăn khó tiêu của Tông Giáo, th́ canh thừa cơm hẩm ấy cũng có thể bồi bổ ngươn khí, đợi đến khi sức khỏe phục hồi, lại dùng thứ cao lương mỹ vị mới được thật ích.

Về các pháp môn: Luật, Giáo, Thiền, Tịnh, thứ nào hợp cơ, xin xem kỹ bài Tịnh Độ Quyết Nghi Luận trong Văn Sao của tôi sẽ tự rơ. Bậc đại thông gia tuy gồm tu Thiền, Tịnh, song tất lấy Tịnh Độ làm chủ. Nếu như hạng người thường không cần phải nghiên cứu khắp kinh luận sâu xa, chỉ nên làm lành dứt dữ, một ḷng niệm Phật cầu về Tây Phương mà thôi. Hạng người ấy vẫn sinh sống theo đời mà gồm tu đạo xuất thế, tuy tợ hồ b́nh thường không chi kỳ lạ, song được sự lợi ích chẳng thể nghĩ bàn! V́ kẻ quê mùa dốt nát chỉ dùng ḷng chơn thành tin tưởng niệm Phật, nên có thể thầm hợp cùng đạo mầu, cảm thông với trí Phật. Người thông hiểu giáo lư, nơi tâm thường hay tính toán suy lường, nên trọn ngày thức thần ở trong ṿng phân biệt, so lại không bằng sự chơn thành của hạng ngu tối kia. Cho nên, kẻ quê dốt niệm Phật rất dễ được lợi ích. Bậc đại thông gia như có thể buông bỏ tất cả cũng dễ được lợi ích; trái lại nếu chỉ suy lường nghĩa lư, chẳng những không đắc ích, e có khi trở thành bệnh, hoặc chưa được cho là được, lạc vào phái ngông cuồng.

Phép tham thiền chẳng phải là cơ duyên của người đời nay, dù có học cũng thành sự hiểu biết về văn tự, quyết không thể tỏ suốt tâm tánh. Tại sao thế? V́ thiếu bậc thiện tri thức dắt d́u chỉ định, lại người học chẳng biết tham thiền là thế nào, phần nhiều tuy gọi tham thiền, song thật ra là ngộ nhận. Trong bài luận 'Tông cùng Giáo không nên lẫn lộn' và 'Tịnh Độ Quyết Nghi', tôi đă chỉ phần đại khái về việc trên đây. Người đời nay, không luận căn cơ thượng, trung, hạ, đều phải ǵn luân thường, giữ ḷng thành kính, tin chắc lư nhân quả, làm những điều lành và chuyên niệm Phật cầu sanh về Tây Phương. Nhân quả là cái ḷ lớn để nung phàm luyện thánh trong đạo pháp thế và xuất thế gian. Nếu trước tiên không nghiên cứu về nhân quả, sau khi thông hiểu Tông Giáo, e cho c̣n sự lỗi lầm đối với vấn đề nầy, và đă lỗi lầm tất có phần sa đọa. V́ thế, chớ cho nhân quả là cạn cợt mà xem thường. Phàm phu v́ tâm lượng nhỏ hẹp nên không hiểu thấu những chỗ nói về nhân quả trong kinh, thật ra, các đấng Như Lai thành Chánh Giác, chúng sanh đọa tam đồ, đều chẳng ngoài đạo lư ấy. Nên lấy pháp thiển cận ở đời để làm phương tiện vào đạo mầu, như các thiên: Văn Xương Âm Chất, Thái Thượng Cảm Ứng chẳng hạn. Mấy quyển ấy, nếu xem kỹ và thực hành theo th́ mỗi người đều có thể thoát nẻo luân hồi, hoặc ít ra cũng làm được hạng dân lương thiện. Niệm Phật tuy trọng ở sự văng sanh, nhưng khi niệm đến cùng cực cũng ngộ được chân tâm, chẳng phải đối với đời hiện tại hoàn toàn không lợi ích. Thuở xưa, Thiền Sư Minh Giáo Tung mỗi ngày niệm thánh hiệu Quán Âm mười muôn câu, về sau những kinh sách ở đời, Ngài không đọc mà biết cả. Nên xem Tịnh Độ Thập Yếu, Tịnh Độ Thánh Hiền Lục, sẽ biết niệm Phật là nhiệm mầu. Về điều này, trong Văn Sao của tôi cũng thường nói đến. Các hạ bảo: 'Niệm Phật không được lợi ích ngay trong đời hiện tại', đó là bởi chính ḿnh chưa nghiên cứu các kinh luận của Tịnh Tông. Cho đến quyển Văn Sao của tôi, có lẽ các hạ cũng đọc qua như người chạy ngựa xem đèn, không tế tâm t́m hiểu.

Đến như giới luật, chẳng những chỉ riêng về h́nh thức bên ngoài, mà nếu không giữ ḷng thành kính cũng là trái phạm. Nhân quả chính là trụ cốt của luật, nếu không biết hoặc mù mờ đối với đạo lư nầy, tức đă trái luật, lỗi lầm. Người niệm Phật, như giữ được tâm niệm hợp với chánh lư, th́ trong một hạnh gồm đủ cả: Luật, Giáo, Tịnh, Thiền. Nên biết, tu các pháp môn kia đều phải dứt hết hoặc nghiệp không c̣n mảy tơ, mới được giải thoát. Riêng môn Tịnh Độ, nếu người trừ sạch phiền năo được văng sanh, tất mau chứng pháp thân, kẻ nghiệp chướng c̣n nặng, khi về Cực Lạc, cũng đă lên cơi thánh. So lại hai phương diện, một bên toàn dùng sức ḿnh, một bên nương nhờ sức Phật, sự hơn kém cách xa như vực với trời. Có nhiều kẻ thông minh, mỗi khi đọc sách về tông Thiền thấy có ư vị, liền tự cho ḿnh là thiền khách, muốn làm bậc cao nhân. Hạng ấy không biết Thiền, Tịnh là thế nào, lầm chuốc lấy lỗi tự tôn tự đại. Những kẻ có kiến giải như thế, quyết không nên bắt chước. Nếu noi theo, th́ với việc thoát sanh tử, e cho trải qua kiếp số như bụi cũng khó mong cầu.

Xin xem kỹ lại quyển Văn Sao của tôi sẽ tự rơ.

Thơ đáp Cư Sĩ Trạch Phạm

Hàng phụ nhân khi sanh sản, nên niệm Quán Thế Âm Bồ Tát, v́ đức Quán Âm tâm cứu khổ rất ân cần. Lúc ấy phải ra tiếng niệm to lên, không nên niệm thầm, v́ niệm thầm năng lực đă yếu, sự cảm thông cũng kém. Hơn nữa, trong khi dùng sức cho đứa con ra, nếu niệm thầm tất phải tổn hơi mang bệnh. Chẳng những sản phụ tự ḿnh niệm lớn, mà những người giúp đỡ trong pḥng sanh cũng niệm to lên. Và hàng quyến thuộc tuy ở nơi nhà, song cũng phải v́ sản phụ niệm danh hiệu Bồ Tát cầu nguyện giúp.

Rất không nên cho rằng: khi sanh sản lơa lồ không sạch, niệm sợ có tội. Nên biết, lư tuy hữu định, nhưng sự phải tùy cơ, chỉ căn cứ theo sự mà luận lư, chẳng nên chấp riêng bên lư để luận bàn. Ví như khi con cái té vào hầm phẩn hoặc nơi nước, lửa, kêu cha mẹ cầu cứu, cha mẹ liền chạy tới kéo lên, không khi nào ngại rằng con ḿnh thân thể chẳng sạch, áo mũ không chỉnh tề, mà không chịu cứu vớt để mặc cho nó chết. Ḷng từ bi của Bồ Tát c̣n thâm thiết hơn cha mẹ đối với con vô lượng muôn ngàn lần. Đang lúc chúng sanh bị khổ, cầu cứu, Bồ Tát chỉ có niệm cứu khổ, tuyệt không có niệm so chấp về thân h́nh. Vả lại việc sanh sản dĩ nhiên phải như thế, là lúc quan hệ đến mạng căn, không thuộc vào trường hợp có thể tỏ bày sự nghiêm kính sạch sẽ, thế th́ c̣n chấp chi sự nghiêm sạch cùng không? Nếu ở trường hợp làm được mà không làm, th́ thật là có tội. Trái lại, trong cảnh ngộ không thể tỏ bày tướng cung kính, th́ chỉ nên luận sự quy hướng, chí thành nơi tâm, không nên chấp những lễ mạo nghi thức trên h́nh tích. Bồ Tát không sự khổ nào chẳng cứu vớt, không tai nạn nào chẳng giúp đỡ xót thương, đâu có lư đối với hàng sản phụ mà bỏ sót ư? Dù trong kinh không nói rơ về việc nầy, ta cũng phải cứ theo lư suy hiểu tâm cứu khổ, để dứt sự khổ nạn lớn cho nhân sanh, và làm thỏa măn ḷng từ bi của Bồ Tát. Huống chi trong Kinh Dược Sư, Phật đă từng bảo người nữ nên niệm danh hiệu đức Dược Sư Như Lai trong khi sanh sản ư? Kinh văn ấy nói: 'Hoặc có người nữ đang khi sanh sản chịu nhiều sự khổ, nếu có thể chí tâm xưng danh lạy khen cung kính cúng dường đức Như Lai kia, (xưng danh th́ sản phụ có thể làm được, c̣n lạy khen cung kính cúng dường là thuộc về việc người thân quyến làm thay thế) th́ các sự khổ đều trừ. Đứa con sanh ra thân phần đầy đủ, h́nh sắc đoan chính, lợi căn thông minh, an ổn ít bệnh, người trông thấy đều vui mừng, sản phụ không bị loài phi nhân cướp đoạt tinh khí...' Thế th́ biết, khi sanh sản niệm danh hiệu Phật, Bồ Tát chẳng những không tội, mà mẹ con được an toàn, đă gieo trồng căn lành, lại có lợi ích lớn. Niệm Phật Dược Sư đă như thế, th́ niệm Quán Thế Âm Bồ Tát cũng như vậy. Hàng sản phụ niệm đă được lợi ích như trên, th́ các người khác suy ra có thể biết.

- Tỉnh Hồ Nam, vợ chồng cư sĩ Mă Thuấn Khanh và năm người con đều là đệ tử quy y của tôi. Năm Dân Quốc thứ 18, Mă có gởi thơ cho tôi thưa rằng: vợ y sanh năm đứa con gái, khi sanh hai lần trước c̣n b́nh an, đến lần thứ ba th́ bị huyết băng; lần thứ tư, thứ năm lại càng nhiều hơn nữa. Nay người vợ lại sắp sanh, thảng như có huyết băng, chắc là khó sống, cầu xin tôi chỉ bày phương pháp cứu tế và v́ đứa trẻ c̣n trong thai dự đặt pháp danh. Tôi liền bảo vợ chồng phải chí thành niệm Quán Thế Âm Bồ Tát, dù khi sanh sản lơa lồ không sạch cũng vẫn cứ niệm, lại phải niệm ra tiếng không nên niệm thầm. Khi thơ tôi gởi đến, vợ chồng xem rồi vâng lời, người vợ qua ngày sau th́ sanh, khi sanh cũng vẫn niệm, rốt cuộc mẹ con đều được mạnh khỏe b́nh yên. Sau khi vợ sanh, Mă liền hồi âm cho tôi biết; sự kết quả tốt đẹp ngoài ư định, Bồ Tát thật là đấng đại từ đại bi.

Lại, một đệ tử quy y của tôi, vài năm trước ở tỉnh Tứ Xuyên, nhân đến thăm người bạn, nghe trong nhà có đàn bà rên khóc bi thương, liề