|
Trong các hành môn của đức Phật đă chỉ dạy, môn
nào cũng có pháp nghi riêng biệt, từ cách thờ
cúng, lễ bái, tŕ tụng, sám hối, phát nguyện v.v...
Như Mật Tông lại c̣n sự lập đàn, kiết ấn nữa.
Riêng về tông Tịnh Độ, tôi thấy có nhiều người
không biết nghi thức hành tŕ cho đúng pháp. Lại
có những vị không hiểu nghĩa chữ Hán, thành ra
khi tŕ tụng chỉ đọc suông theo thông lệ, khó
phát ḷng thành khẩn, không thể chuyển hướng tâm
niệm của ḿnh y như lời văn. Nghĩ v́ ḍng đời cứ
măi trôi qua, người sau càng ngày lại càng ít am
hiểu văn từ Hán Việt, nên theo lời yêu cầu của
một số đông, tôi soạn dịch nghi thức tu Tịnh Độ
ra Việt văn để giúp bạn đồng tu.
Về pháp nghi Tịnh Độ, có ba bậc: thượng, trung,
hạ. Để không quá đơn giản và khỏi phiền toái,
tôi căn cứ theo pháp nghi của ngài Từ Vân trong
Tịnh Độ Thập Yếu, soạn dịch nghi thức theo bậc
trung. Về cách tŕ danh, vẫn có nhiều đường lối,
theo chỗ kinh nghiệm và so với thời cơ, tôi chọn
pháp Thập Niệm Kư Số.
Về pháp nghi Tịnh Độ, thuở xưa chia làm năm môn,
tôi ước kết lại thành ba môn: lễ bái, tŕ tụng
và phát nguyện hồi hướng. Vả lại, pháp môn Tịnh
Độ có chuyên tu và kiêm tu; có vị chuyên niệm
Phật, có vị lại kiêm tụng kinh, tŕ chú, sám hối
hoặc tham thiền. Theo Ấn Quang Pháp Sư, th́
người tu tịnh nghiệp phải lấy sự niệm Phật làm
phần chính, mấy món kia làm phần phụ, phần chính
cố nhiên phải giữ cho nhiều hơn. Riêng về tụng
kinh, tŕ chú, nếu dùng để giúp cho phần niệm
Phật và chí tâm hồi hướng, cầu văng sanh, cũng
có thể gọi là chuyên tu.
Trên pháp môn tŕ danh, sự hơn kém thật ra không
phải ở nơi nghi thức, mà ở chỗ: âm thanh rành rơ
hay lờ mờ, tâm niệm thành khẩn hay thờ ơ tán
loạn, công tŕ tụng sâu nhiều hay cạn ít. Nếu
người biết tu th́ một lượt chiêm lễ, một câu
xưng danh, công đức cũng hơn kẻ không biết tu
rất nhiều. Tuy nhiên, nếu không có pháp nghi cho
đúng, th́ công đức hành tŕ th́ cũng khó phát
huy đến chỗ viên măn. Và v́ thế tôi mới soạn ra
nghi thức nầy.
Xưa và nay cách nhau, chúng sanh căn cơ sở thích
đều sai khác, tôi không dám gọi việc làm nầy là
hợp với mọi người, cũng không dám cho nghi thức
đây là hơn những pháp nghi đă có, chỉ tùy chỗ
mong cầu mà lạo thảo viết ra vậy thôi.
Liên Du Thích Thiền Tâm
Lời Bạt
Trong quyển nầy, ta thấy Ấn Quang Pháp Sư, về
cách khuyến hóa, chỉ dùng lời lẽ b́nh thường
chân thật, mà điểm cốt yếu duy ở một chữ thành.
Người học đạo biết đặt chân từ chỗ b́nh thật đi
vào, th́ không c̣n vọng cầu xa xôi; có chí thành
khẩn thiết tất dễ cảm thông với Phật. Sự huyền
diệu của đạo chính là ở chỗ đó. Cho nên thuở xưa,
một vị Tổ Sư đă bảo: 'Tâm b́nh thường là đạo.'
Nhưng, trên đường giải thoát, các tông khác tuy
cũng dùng tâm b́nh thường thanh tịnh làm căn bản,
song chỉ nương ở tự lực, riêng môn Tịnh Độ đă
chuyên dùng tự lực lại kiêm chú trọng về tha lực.
Như bên tông Thiền tuy tham cứu câu niệm Phật,
nhưng chỉ dùng đó để ngăn làn sóng vọng tưởng,
trở về tâm thanh tịnh; bên tông Mật như phái Lạt
Ma giáo ở Tây Tạng, cũng có người chuyên tŕ
danh hiệu của một đức Phật, một bậc Bồ Tát hay
một vị thần, song họ chỉ xem đó là một câu chú,
hoặc một đấng ủng hộ mà thôi. Tuy nhiên, nếu đem
so sánh, ta thấy bên Mật có điểm thắng hơn bên
Thiền, v́ bên Mật trong khi tu niệm đă biết giữ
ba nghiệp thanh tịnh (tam mật tương ưng) để tiêu
trừ vọng tưởng đồng thời lại dùng công đức, năng
lực của chân ngôn hay hiệu Phật, giúp sức phá
tan hoặc nghiệp, để mau chứng quả Bồ Đề. Nhưng
đó là những lối tu hành của bậc thượng căn, hơn
nữa chúng sanh từ kiếp vô thỉ đến nay gây nên
nghiệp chướng vô lượng vô biên, dù có tu được,
cũng khó hy vọng trong một đời phá hết phiền
hoặc, thoát đường sanh tử. Và một khi nghiệp
hoặc c̣n chừng một mảy tơ, cũng bị luân hồi, mà
đă luân hồi tất dễ quên mất túc căn, bị trần
cảnh mê mờ lôi cuốn vào trong lục đạo! Khác hơn
thế, môn Tịnh Độ bậc căn cơ thượng, trung, hạ
đều có thể tu; cách tu chỉ dùng tâm thanh tịnh
làm nền tảng, rồi từ nơi đó khởi công năng chí
thành khẩn thiết niệm danh hiệu Phật cầu sanh
Tịnh Độ. Nếu đủ ḷng tín nguyện tŕ danh, không
luận người đă dứt hết phiền năo, dù cho kẻ
nghiệp nặng như biển cả non cao, trong một đời
cũng được Phật tiếp dẫn sanh về Tịnh Độ. Khi
niệm Phật chí thành, trong ấy có ba năng lực:
sức Phật, sức Pháp và sức công đức không thể
nghĩ bàn của tự tâm. Sức Phật là được Phật phóng
quang nhiếp thọ, thường thường hộ tŕ. Sức Pháp
là hồng danh A Di Đà vẫn đầy đủ muôn đức, chí
thành niệm một câu tất sẽ tiêu tội nặng sanh tử
trong tám mươi ức kiếp, phước huệ tăng thêm. Sức
công đức của tự tâm là tâm ta có đủ mười pháp
giới, trong khi ta niệm Phật thành khẩn, th́
pháp giới ác bị tiêu ngưng, pháp giới lành biến
chuyển lớn măi cho đến khi thành thục, kết quả
lúc mạng chung sẽ hóa sanh trong liên bào nơi
cơi Tây Phương. - đây, ta cần nên phân biệt có
hai lối niệm Phật tương tợ như Tịnh Độ mà không
phải thuộc về tông Tịnh Độ: 1/ Niệm Phật tương
tục mong đàn áp vọng tưởng chứng ngộ bản tâm,
không cầu văng sanh, giống như tông Thiền. 2/
Niệm Phật như tŕ một câu thần chú, mong Phật
ủng hộ cho xa ĺa ma chướng, tiêu hoặc nghiệp,
hiện đời phước huệ tăng thêm, mà không cầu văng
sanh, giống như tông Mật. Niệm Phật như thế là
lạc với đường lối của Tịnh Tông, chỉ được kết
quả nhỏ mà mất sự lợi ích lớn. Nếu người biết
tŕ niệm hiệu như giữ ǵn bổn mạng, chỉ tha
thiết cầu sanh Tây Phương, th́ tuy không cầu dứt
phiền năo mà phiền năo tự tiêu, không cầu sanh
phước huệ mà phước huệ tự nhiên thêm lớn, cho
đến không cầu chứng ngộ mà hoặc sớm hoặc chầy
cũng được chứng ngộ; kết quả trong một đời sẽ
thoát ṿng luân chuyển, lên vị Bất Thối nơi cơi
bảo liên. Thế th́ chỉ thành tâm niệm Phật cầu
văng sanh, trong ấy đă có đủ Thiền và Mật rồi.
Cho nên „n Quang Đại Sư thường nói: 'Pháp môn
Tịnh Độ thống nhiếp cả Thiền, Giáo, Luật, cao
siêu hơn Thiền, Giáo, Luật.'
Môn Niệm Phật xem giản dị mà có công năng rất
huyền diệu như thế, nên một hạng người học Phật
v́ nhận thức không thấu đáo, sanh tâm tự cao,
bài báng, khinh thường. Bởi thế, có kẻ dẫn câu
niệm Phật đem về lư tánh, cho lời nói trong các
kinh Tịnh Độ là tượng trưng. Lại có một hạng
người nhiều chủng tử ngoại đạo, đem sáu chữ niệm
Phật bố khắp chi thể, hoặc hợp câu niệm Phật với
phép luyện khí cho đi tuần hoàn trong châu thân,
hoặc dùng câu niệm Phật tụ hỏa nơi ấn đường. Họ
lại lầm cho đó là quí báu, chỉ mật thọ nhau
trong pḥng kín không dám tuyên dương, sợ e lạm
truyền. Sự lầm lạc ấy khiến cho nhiều người mang
chứng lớn bụng, mờ mắt, đau đầu, kết cuộc chỉ có
tổn hại không được lợi ích. Nên biết pháp môn
Tịnh Độ chính do đức Thích Ca Mâu Ni nói ra, sáu
phương chư Phật đều khen ngợi; các bậc Đại Bồ
Tát, Đại Tổ Sư như đức Văn Thù, Phổ Hiền, Mă
Minh, Long Thọ đều tuân giữ; các Kinh Đại Thừa
như Hoa Nghiêm, Pháp Hoa, Đại Bảo Tích, Đại Bát
Nhă đều tuyên dương. Kẻ ngoại đạo v́ tà kiến,
hủy báng môn Tịnh Độ, vẫn không đáng nói; hàng
Phật tử nếu sanh tâm tự cao hủy báng, tức là vô
t́nh hủy báng ngôi Tam Bảo, ngăn lấp con đường
giác ngộ của mọi người. Tại sao thế? V́ môn Tịnh
Độ là cửa mầu giải thoát duy nhất, yên ổn nhất
của chúng sanh đời mạt pháp; chính đức Phật đă
từng có lời huyền kư thuở xưa.
Trên đây, không phải tôi cố ư phân biệt môn Tịnh
Độ giữa các tông phái, hay thiếu mỹ cảm với
những kẻ đă lầm lạc, mà chính v́ tưởng niệm ân
sâu của Phật, muốn cho mọi người đồng được lợi
ích đó thôi. Tuy nhiên, trên đường đạo, sở thích
của mỗi người có khác nhau, khúc nhạc hương quê
chưa dễ cảm được ḷng du khách! Xem quyển nầy,
ai có mến Ấn Quang Pháp Sư, cũng nên theo Ngài
mà đọc bài ca quy khứ:
Phải nên phát nguyện, nguyện văng sanh,
Đất khách sơn khê mặc người luyến?
Tự không muốn về, về sẽ được,
Quê xưa trăng gió có ai tranh?
Người Bạn Sen,
Liên Du Thích Thiền Tâm |