Tng Thư Pht Hc

    

Long Thơ Tịnh Độ
Dịch giả: HT Thích Hành Trụ
 

Thay Lời Tựa

Nói về đạo, th́ không có đạo nào lớn bằng đạo Phật. Nói về lư, th́ không có lư nào thâm cho bằng lư Phật. C̣n nói về tu, th́ không tu nào dễ cho bằng tu Phật.

Người thế gian chỉ biết đạo lư của Phật khó hiểu chớ không biết pháp môn của Phật dễ tu, nghe nói Đức Phật Thích Ca tu nhiều kiếp mới thành, lại cho là khó, mà ít ai dám tu Phật.

Thù bất tri, pháp của Ngài tự tu rất khó, mà pháp dạy chúng sinh tu th́ lại rất dễ.

Nguyên Đức Thích Ca trước khi Ngài chưa tu, th́ Ngài cũng là một cá nhân ở trong cơi sinh tử như ta vậy. Cũng có nhiều kiếp hưởng phước mà sinh làm Trời, làm Tiên, làm Người, làm A Tu La và cũng có nhiều kiếp thọ tội mà đọa vào đường địa ngục, đường ngạ quỷ và đường súc sinh, lăn lộn biết bao nhiêu kiếp, thay đổi biết là mấy thân, khổ sướng nhục vinh không phương xiết kể.

Đến khi Ngài đầu thai làm con của vua Tịnh Phạn Đầu Đà Na, th́ Ngài chợt nghĩ sự đời, tỉnh cơn mộng mị, biết hồng trần là cuộc giả dối, gớm thân thể là vật nhớp nhơ, chán mùi danh lợi, bỏ phú quư mà đi tu, nghe có thầy thuyết pháp ở xứ nào cũng đến nghe và hay tin có thầy giảng đạo ở nước nào th́ cũng tới học. Đó là cái phương châm xu hướng của Ngài. 

C̣n đến như pháp môn của Ngài tu hành, th́ chỉ có pháp khó, chớ chưa có pháp dễ như pháp môn Tịnh độ.

V́ cơi Tịnh độ do nơi bổn nguyện của Phật A Di Đà sáng lập, mà Phật A Di Đà gốc là đồng tu với Ngài một lượt. Khi Ngài chưa thành Phật, th́ Đức A Di Đà cũng chưa thành Phật. (Hồi kiếp vô lượng quá khứ trở về trước, có một thuở Đức A Di Đà và Đức Thích Ca đồng tu một lượt. Lúc Vô Tránh Nhiệm tức là tiền thân của Đức A Di Đà làm vua, th́ Ngài kết bạn rất thân mật với một vị đại thần tên là Bảo Hải, tức là tiền thân của Đức Thích Ca. Khi ấy có Phật Bảo Tạng ra đời mà hóa độ chúng sinh, hai vị đồng tới chỗ của Phật Bảo Tạng mà phát Bồ đề tâm. Vua Vô Tránh Nhiệm nguyện rằng : Tôi nguyện tu pháp Đại thừa ứng hóa về Tịnh độ, chớ chẳng nguyện về cơi Uế độ. Nếu tôi chứng đặng bậc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, th́ tôi nguyện độ chúng sinh trong cơi Tịnh độ không có mọi điều khổ năo. Bằng chẳng đặng như vậy, th́ tôi thề không thành Phật. C̣n ông đại thần Bảo Hải th́ nguyện úng hóa nơi cơi Uế độ túc là cơi Ta bà này, mà độ những chúng hữu t́nh).

Nếu Đức A Di Đà chưa thành Phật, th́ làm sao có Tịnh độ. Bởi chưa có Tịnh độ, nên Đức Thích Ca phải tu các pháp khó như là : pháp tŕ giới, pháp tham thiền, pháp nhập định, và pháp chỉ quán; nếu đủ cả lục độ vạn hạnh, gồm hết chúng đức quần lư, trải không biết bao nhiêu vị thứ giai cấp, tốn không biết bao nhiêu lao khổ công phu.

Ngài tu một kiếp chưa thành, th́ tu đến hai kiếp, ba kiếp cho đến trăm ngàn muôn ức kiếp, dơng mănh tinh tấn, thề không trở lui. 

Cập kỳ nhân tṛn quả măn, phần tự giác xong rồi Ngài bèn lấy Phật nhăn xem thấy cơi Tịnh độ của Đức Phật A Di Đà đă mở, cảnh giới rất vui và thấy chúng sinh ở trong quốc độ Ta Bà thọ không biết bao nhiêu điều thống khổ, ra vào nhà lửa, lặn mọc sông mê, biển t́nh ái ch́m ngay, xe luân hồi quay măi, làm cho Ngài đau ḷng xót mắt, mới tính đem chánh giáo ra bố hóa mà giác ngộ cho đời. Cho nên kể từ khi Ngài thành đạo, đến lúc nhập Niết Bàn tính trước sau là bốn mươi chín năm, th́ thuyết pháp hơn ba trăm hội.

Mỗi hội đều có phát minh tôn chỉ, hoặc tôn chỉ Đại thừa hoặc tôn chỉ Tiểu thừa, hoặc tôn chỉ Thiền quán, hoặc tôn chỉ Tịnh độ, bảo người nghe rồi nghĩ, nghĩ rồi tu, lư nào cũng lư tỏ tâm tánh, môn nào cũng môn thoát sinh tử, đối với chúng sinh th́ không một lời ǵ là dối gạt, không một sự gọi là thiệt hại. Ngài chỉ sợ chúng sinh có phần nhiều không đủ căn tri, nghe không hiểu, tin không thấu, rồi sinh ḷng nghi báng mà phải chịu trầm luân.

Thế th́ lực tự tu của Ngài hết sức mạnh mẽ, chỗ đắc đạo của Ngài hết mực thâm diệu, nguyện độ sinh của Ngài hết mực rộng lớn.

Nếu tưởng như lịch Tổ hồi trước, sinh nhầm đời chánh pháp và đời tượng pháp, th́ không có ai tu như Ngài đặng, huống chi đương lúc thời kỳ mạt pháp này đâu có một người nào phưởng phất. Nếu đă không phưởng phất, th́ làm sao tu các pháp khó như Đức Thích Ca cho nổi, mà hy vọng cho thấu cái địa vị thành Phật.

V́ Ngài biết trước như vậy, nên trong giáo pháp của Ngài tuy nói đủ tám vạn bốn ngàn pháp môn mà rốt lại th́ chỉ khen có một môn Tịnh độ là phương tiện dễ dàng hơn hết.

Nếu Ngài đă khen Tịnh độ là dễ, mà Ngài lại c̣n nói mấy pháp khó kia ra làm chi ? Đó chẳng qua là tùy theo căn tánh của chúng sinh hoặc ưa tu pháp khó hoặc ưa tu pháp dễ, nên Ngài phải nói đủ hai bên như vậy, rồi tùy ư ai muốn tu pháp nào cũng đặng.

Tu pháp khó hay là tu pháp dễ, rồi cũng đều thành Phật. Tu tuy khác nhau, mà đến cái hiệu quả thành Phật th́ cũng in như nhau.

Thí như có một cảnh đế đô ở tại xứ nào đó, lắm thú xinh lịch vui vẻ, ai nghe nói th́ cũng muốn du lịch tới chơi. Song khi ra đi hoặc có kẻ muốn do theo đường bằng, đi xe lửa xe hơi, hay là muốn do theo đường biển, đi ghe đi tàu, đặng cho khỏe chơi và mau tới, hoặc có người lại ưng do theo đường hiểm, trèo non lội suối, dăi tuyết dầm sương bất kể năm ngày, cứ thủng thỉnh đi hoài, chừng nào tới cũng đặng.

Vậy th́ cảnh tuy là một, mà đường sá khác nhau, tùy ư ai muốn đi đường nào cũng đặng. Đi đường bằng th́ dễ, đi đường biển th́ khó. Nếu khó đi th́ lâu tới, c̣n dễ th́ mau tới. Sự tới mau hay là tới lâu chẳng đồng như vậy nhưng rốt lại th́ cũng đồng tới một chỗ. Nếu đă đồng tới một chỗ th́ đi đường khó sao bằng đi đường dễ là tiện hơn.

Xét như nói trước đó, th́ những người tu Phật mà chẳng tu Tịnh độ, thiệt là uổng biết bao nhiêu, v́ pháp môn Tịnh độ đủ sự và đủ lư.

Lư, tuy quá mắc, mà sự th́ quá rẻ; dầu kẻ hạ phàm tu cũng chắc đặng văng sinh, mà nếu văng sinh th́ chắc đặng thành Phật.

Tu pháp môn Tịnh độ dễ như chim lướt gió xuôi, thuyền bơi nước thuận, chẳng hề mệt sức mà lại đi chắc đến nơi, về chắc đến chốn, không đợi nhiều kiếp khổ tu nhọc chứng.

Vậy nên chúng tôi thường đem sự lư biện bạch rơ ràng để phát dương một pháp rất có lợi ích cho đời, mà cống hiến đại đồng nhân giả.

Nhưng ngặt thay ! Trong thế gian có nhiều người không biết Lư, mà nghi Sự lại cho là không có Tịnh độ, không có văng sinh. Như có ai hỏi làm sao biết rằng không có Tịnh độ và văng sinh, th́ họ đáp lại rằng : Bởi không thấy, nên biết là không có. Than ôi ! Kiến thức như thế mà lại phán đoán tới cái đạo vô thượng !

Vậy xin hỏi lại một điều này : Giả sử có một người nghèo khổ từ bé đến lớn, cứ ở nhà côi cút mà làm ăn, không hề bước chân đi chơi, không thấy đặng các vật tốt đẹp quư báu, nhà cửa sang giàu, cùng các nơi thành phố, đến khi có người khác du ngoạn đă thấy đủ những vật ấy, rồi trở về nói lại, mà người nghèo đó không tin, nhất định không cho là có sự thật.   

Vậy người nghèo ấy tỉnh hay là mê, khôn hay là dại ?

C̣n nói rằng các vật tốt đẹp quư báu đó, tuy người nghèo ấy không thấy mà người du ngoạn kia có thấy, chớ cảnh Tịnh độ có ai thấy đâu, th́ lại càng thêm mê muội.

Bởi cảnh Tịnh độ không có sắc tướng, cũng như tâm của ta không có h́nh mạo. Như đă không h́nh sắc, th́ con mắt thịt của người thế gian làm sao thấy đặng. Nhưng con mắt thịt tuy không thấy, mà con mắt tâm thấy. 

Hễ tâm của ta thường tri mến và thường quán tưởng nơi cơi Tây phương, th́ con mắt vô h́nh của tâm chắc thấy cảnh vô tướng của Tịnh độ.

Thí như chúng ta, trong khi hằng ngày, thường để yù về một cảnh xinh lịch nào đó cứ nhớ tưởng hoài, th́ đến khi ban đêm cảnh ấy chắc có hiện ra trong giấc chiêm bao, làm cho ta đẹp ư vui ḷng, cũng ăn uống, cũng chuyện tṛ, đủ các thứ như hồi c̣n thức vậy. Đó có phải là do nơi tâm mà hiện ra hay không ?

Nếu chấp cảnh ấy là cảnh giả trong lúc chiêm bao, chớ không phải cảnh thiệt, nên khi ngủ thời thấy đến khi thức th́ không thấy, th́ lại càng lầm nữa.

Bây giờ trước nói về trong thân tâm rồi sau sẽ bàn đến ngoại cảnh. Thân, tức là h́nh hài cốt cách; c̣n Tâm, túc là tư tưởng tinh thần.

Trong thế gian, bất kỳ kẻ trí người ngu. Vả ỷ lại nơi tư tưởng tinh thần mới có sống có biết, mới có suy nghĩ chuyện nọ, hành vi sự kia. Song chẳng hiểu tại sao mà đương khi thức, th́ biện biệt như vậy; c̣n đến lúc ngủ th́ mê muội vô tri, thân của ḿnh cũng không biết, nhà cửa của ḿnh cũng không biết, cũng không biết tới cha mẹ vợ con, và cũng không biết tới phải dơ tốt xấu, hết thảy đều không biết cả.

Vậy khi ấy, tinh thần tư tưởng ở đâu, mất hay c̣n, không hay là có ?

Như nói c̣n nói có, th́ làm sao không biết chi hết. C̣n như nói mất nói không, th́ làm sao thân lại c̣n sống ?

Đó là nói về tinh thần tư tưởng trong giấc ngủ. C̣n trong khi thức th́ xét coi tinh thần là cái ǵ, tư tưởng là thứ chi ? Nó có h́nh mạo hay không ?

Như nói rằng nó có h́nh, th́ làm sao không thấy. C̣n nếu nói rằng nó vô h́nh, th́ làm sao lại có đi đứng vận động.

Nếu chấp cái đi đứng vận động đó là thuộc về thân, khi chết rồi sao thân không đi đứng vận động nữa ? Vậy nó ở vào chỗ nào ? Như nói rằng tinh thần tư tưởng ở tại tâm hay là ở tại năo, th́ mấy người chết đó, tâm và năo cũng c̣n, mà sao không có cái tri biết.

Lại nữa, nó với thân là một vật, hay là hai vật ?

Như nói rằng một vật, th́ nó nguyên không có khi nào tiêu diệt, mà nếu đă không tiêu diệt, th́ đáng lẽ nó c̣n hoài, và thân cũng c̣n hoài mới phải, chớ sao thân lại có chết. C̣n như nói rằng hai vật th́ làm sao thân đâu nó đó, nó biết tức là thân biết, thân biết tức là nó biết, chớ không phân nhau đặng. Lại thân với tinh thần tư tưởng ly nhau hay là hiệp nhau ?

Như nói rằng ly nhau, th́ thân nương theo cái ǵ mà biết đau biết mạnh, biết đói biết no, và biết hành động những các công việc nọ kia.

C̣n như nói rằng hiệp nhau, th́ trong khi ngủ, cái ǵ ly xác đi chơi mà có chiêm bao đó. Ấy là vật ở trong ḿnh mà c̣n chẳng biết thay, huống chi biết được cảnh thiệt cảnh ở ngoài.

Tâm và Thân đă biện giải rồi, bây giờ nói qua cảnh. Tâm tuy đối với cảnh, nhưng cảnh thiệt sinh nơi tâm.

Nếu cảnh đă sinh nơi tâm th́ đâu phải là tùy theo lúc thức hay là lúc ngủ mà có thiệt có giả. Bởi thức cũng là tâm, mà ngủ cũng là tâm. Tâm khi thức đă chẳng khác với tâm khi ngủ, th́ cảnh khi ngủ, lại đâu khác với cảnh khi thức.

Nếu chấp cái cảnh trong chiêm bao, đến chừng thức dậy chẳng thấy nó mà cho nó là giả, th́ cái cảnh trong khi thức, đến chừng ngủ mê cũng không thấy nó, lại đâu đặng cho nó là thiệt.

Vả lại đem cái cảnh chiêm bao ngó thấy mà so sánh với cái cảnh khi thức ngó thấy, th́ hai cảnh ấy nguyên chẳng khác nhau, v́ khi thức thấy đủ trời đất núi sông và cỏ cây người vật th́ trong lúc chiêm bao cũng thấy đủ như vậy.

Nói tóm lại, hễ khi thấy cảnh ǵ th́ lúc chiêm bao cũng thấy cảnh nấy. Lại trong khi ḿnh thấy cảnh ấy, ḿnh đâu có biết rằng ḿnh là chiêm bao. Nếu đă chẳng biết là chiêm bao, th́ tức là cảnh thiệt, mà nếu cảnh chiêm bao đă thiệt, th́ cảnh Tịnh độ làm sao lại giả ?

Nếu cảnh Tịnh độ đă chẳng giả, th́ chắc là có, mà nếu đă chắc có, th́ sao lại cho là không ?

Vậy chúng ta phải biết rằng thân của chúng ta sau khi chết rồi, h́nh chất tuy mất mà tinh thần chẳng mất và nghiệm trong khi chiêm bao, xác thân nằm tại giường mà thần hồn dạo chơi khắp xứ, vật ǵ cũng thấy, chuyện ǵ cũng thấy, chuyện ǵ cũng biết.

Nếu chiêm bao đă có thấy và có biết, th́ chết rồi chắc cũng có thấy có biết như vậy. Nếu đă có thấy và có biết, th́ tức có thân và có tâm, mà cũng tức là có đối cảnh có văng sinh. Nếu chẳng sinh nơi cảnh xấu, th́ cũng sinh nơi cảnh tốt, hay là chẳng sinh nơi cảnh sạch th́ cũng sinh nơi cảnh nhơ, chớ lẽ nào lại không ? 

Tại tinh thần của người đương khi c̣n sống tư tưởng về cảnh nào th́ đến chừng chết, văng sinh về cảnh nấy, cũng như ban ngày có tưởng sự ǵ, th́ tối lại cũng chiêm bao sự ấy. Vậy th́ nói sao không có văng sinh, không có Tịnh độ, mà pḥng phải nghi ?     

Vả lại pháp môn Tịnh độ chẳng những dễ tu hơn các pháp của các đạo khác nữa.

Đại để như tu Tiên, th́ phải xa lánh cơi hồng trần, ở nơi hang sâu núi thẳm, tu đơn dưỡng hống; luyện thần hườn hư, làm đủ các pháp bí mật.

C̣n tu Trời, th́ mười nghiệp ác của thân khẩu và ư hằng ngày không đặng phạm; mười nghiệp thiện của thân, khẩu, và ư hằng bữa cũng không đặng kém; tu hết những phước nhỏ và lớn, mà không đặng để ư rằng ḿnh có làm phước, chưa hết mấy tội lớn và nhỏ mà không đặng tự ỷ rằng ḿnh chắc khỏi tội.

Tu làm sao cho phước lớn bằng Trời và đức hiệp với Trời, th́ mới gọi là tu Trời. - Cách tu Tiên và tu Trời như vậy th́ xét lại coi có khó hay không ?

Nếu tu Trời mà chẳng trọn bề phước thiện như đă nói trên đó, th́ Thanh y đồng tử chẳng rước về Thiên đường. C̣n nếu tu Tiên mà chẳng đặng ra khỏi trần lụy, vào cảnh hư vô, th́ tất phải làm con quỷ mê hồn, con ma khổ xác.

Xét lại coi xưa nay mấy ai tu Tiên mà đặng thành Tiên bao giờ, chỉ thấy có mấy người mê tin nghe theo tà thần, và tà sư, rồi tự vị rằng ḿnh có tiên phong đạo cốt, y theo mấy quyển sách ngụy tạo như là Chỉ huyền, Khuê chỉ, Huệ mạng, Huệ cảnh, Huỳnh đ́nh v.v… 

Tu theo mấy quyển sách ấy, th́ thêm tức ngục, nhức đầu, lớn bụng, mù mắt, bại tinh và thổ huyết mà Tiên đâu chẳng thấy, chỉ thấy mang cái xác bệnh, làm báo cha mẹ vợ con cực khổ mà thôi. Đó là nói về bên Tiên bên Trời khó tu và khó thành.   

C̣n dẫu tu Tiên và tu Trời mà thành về đặng Thiên đường, chứng đặng Tiên quả đi nữa, th́ đến khi hết phước, cũng c̣n hườn thọ luân hồi, v́ Trời và Tiên c̣n ở trong vọng giác chớ chưa phải chân giác, c̣n ở trong Tam giới chớ chưa phải Niết Bàn.

Nếu đă chưa phải chân giác và Niết Bàn, th́ không thể ǵ thoát khỏi hai đường sinh tử. Nếu muốn thoát khỏi đường sinh tử, th́ phải tu pháp môn Tịnh độ.

Tịnh độ, nghĩa là cơi sạch, không có chút bợn nhơ uế nào cả. Đất ở trong cơi ấy, nguyên những ngọc lưu ly kết thành, c̣n nhà cửa đường sá, cho đến cảnh vật th́ toàn bảy thứ châu báu trang sức hết mực sang trọng tốt đẹp, và lại có chim rất kỳ thuyết pháp, hoa lạ diễn kinh, mắt thấy tai nghe, thanh tao vui vẻ, không phải cái t́nh huống phiền năo cực khổ như cơi thế gian này.

Đó là nói về cảnh. C̣n người, th́ trên có Đức Phật A Di Đà là ông vua Pháp, là một ngôi giáo chủ ở trong cơi ấy.

Tôi đại thần hầu hai bên Phật, th́ có đức Quan Âm, với đức Thế Chí. C̣n dưới th́ có hàng đệ tử của Phật, đủ các bậc Bồ Tát, La Hán, Thanh Văn và Duyên Giác, lại dưới nữa th́ có các Thánh, các Trời, các Long vương và các thiên thần hộ vệ.

Phong quang khác tục; nhân vật lạ đời, ấy là do cái từ lực của Đức Phật A Di Đà đối với các tư tưởng của chúng sinh mà tạo thành ra một cái thế gian ly kỳ, để nhiếp dẫn những người đọa lạc.

Vậy nên tư tưởng của chúng sinh hễ có cảm th́ tự lực của Phật ắt có ứng, nếu có cảm có ứng, th́ chắc có văng sinh.

Văng sinh, nghĩa là ly bỏ cơi Ta Bà qua sinh nơi cơi Tịnh độ. Nhưng cơi Tịnh độ tuy là một cảnh, mà văng sinh có chia nhiều phẩm khác nhau :

1 - Người thượng căn thượng trí hiểu lư Đại thừa giữ trọn giới luật, nhất tâm niệm Phật quán Phật trong một ngày không một phút nào là không niệm và không quán tưởng, cho đến trọn đời và đến khi lâm chung cũng vậy, không một khi nào là quên cái nguyện văng sinh về cơi Phật, tu được như thế th́ chắc chiếm đặng bậc thượng phẩm thượng sinh, mau đắc đạo thành Phật. Cũng như người thế gian tài trí siêu việt th́ phẩm hàm chắc đặng cao thăng, lộc vị chắc đặng mau lớn vậy. 

2 - Người trung căn trung trí, hiểu lư trung thừa, giới luật giữ đặng phân nửa, trọn đời cũng niệm Phật, phát nguyện cầu sinh, đến cái bậc nhất tâm bất loạn, th́ không b́ đặng với người thượng trí, tu như vậy th́ đến lúc lâm chung chắc sinh về hạng trung phẩm, ít nữa cách hai kiếp sẽ đặng thành Phật. Cũng như người thế gian, tài trí b́nh thường, phải do theo giai cấp mà bổ quan, lộc vị không đặng mau lớn. 

3 - C̣n người hạ căn hạ trí, đă không hiểu đặng đạo lư, không giữ đặng giới luật, mà niệm Phật cũng không đặng nhất tâm, khi tán tâm th́ nhiều lúc định tâm thời ít, tu như vậy th́ đến lúc lâm chung chắc sinh về bậc hạ phẩm, ít nữa cũng cách đến nhiều kiếp mới tỏ tánh đắc đạo mà thành Phật. Cũng như người thế gian đương khi tài chưa thành, trí chưa mở, th́ phải làm dân mà chờ thời, chớ không đặng vội trông đến sự làm quan vậy.

Song tuy làm dân nơi cơi Tịnh độ mà giải thoát đến đều sung sướng tột bậc, các cơi Thiên đường đâu có b́ đặng, v́ người ở nơi cơi Thiên đường hưởng hết phước th́ phải chịu đọa, c̣n người ở nơi cơi Tịnh độ th́ không có khi nào thối chuyển mà bị đọa nữa. 

Trong kinh nói rằng : “Bỉ Phật thọ mạng cập kỳ nhân dân vô lượng vô biên A tăng kỳ kiếp”. Nghĩa là : Thọ mạng của Phật A Di Đà và mạng của tất cả nhân dân trong nước Tịnh độ sống lâu đến vô lượng vô biên không có thế ǵ tính đặng. 

Vậy nên những người sinh về hạ phẩm tuy chưa mau đặng thành Phật, nhưng chỗ ở đă sạch, mạng lại sống lâu như vậy, th́ lo ǵ không có ngày tỏ đạo thấy tánh mà thành Phật. Đó là cái lư thông thường dễ biết; nhưng bởi tại người không xét mà nghi rằng cơi Tịnh độ là cảnh mơ màng, nói rằng cơi ấy không có người, và cũng không có vật, nên không chịu tu.

Phải chi cứ do trong cái tánh linh của ḿnh mà suy xét cho rơ ràng, th́ ngoài cảnh Tịnh độ đă chẳng tốn tiền, lại không mệt sức, bất tất thông hiểu đạo lư, bất tất luyện tập hằng ngày, bất tất cầu thầy điểm đạo, và cũng bất tất làm hạnh ǵ cho đặc biệt khác nữa.

Trong Kinh A Di Đà nói rằng : “Nhược hữu thiện nam thiện nữ chuyên niệm A Di Đà Phật danh hiệu, phát nguyện cầu sinh Tịnh độ, thị nhân chung thời, Phật lai tiếp dẫn tức đắc văng sinh”. Nghĩa là : Nếu thiện nam tín nữ cứ chuyên niệm danh hiệu Phật A Di Đà, thường phát nguyện cầu sinh về Tịnh độ, th́ những người ấy đến khi mạng chung, chắc có Phật đến tiếp dẫn, mà chắc đặng văng sinh. 

Lại trong Kinh Di Đà Sớ Sao nói rằng : “Tịnh độ pháp môn chí huyền chí diệu, bất tu dư hạnh nhi đắc lục Ba La Mật”. Nghĩa là : Pháp môn Tịnh độ rất huyền rất diệu, chẳng tu hạnh nào mà đặng tất cả sáu pháp Ba La Mật.

Trong kinh ấy lại nói rằng : “Đới hoặc văng sinh, thiệt vi phương tiện tối thắng đệ nhất”. Nghĩa là : Người tu Tịnh độ, đến khi lâm chung, tuy là tội nghiệp nặng nề, nhưng nhờ có Phật lực dắt khỏi sông mê, đem về Cực Lạc, thiệt là một pháp phương tiện siêu thắng hơn hết.

Mấy lời luận trên đó, nguyên không phải chúng tôi có cái ư riêng ǵ mà trọng pháp Tịnh độ, khinh pháp Thiền định và cũng không phải có cái chỗ lợi dụng ǵ mà binh Phật bỏ Trời và Tiên.

Chẳng qua là v́ đạo có cao thấp và pháp có khó dễ. Nếu chẳng biện biệt cho rơ, th́ nẻo xu hướng phải mơ hồ, dầu có cầu đạo cũng uổng công, có tu hành cũng nhọc sức đâu có lên đặng con đường giải thoát mà mong ra cho khỏi luân hồi.

Phổ nguyện những người tu hành ngày nay tất cả đừng có bày đặt sửa đổi chi hết, chỉ sửa cái ḷng tin về pháp môn Tịnh độ cho hẳn ḥi mà thôi, rồi cứ y theo nghi thức niệm Phật mà tu hành.

Vậy bộ LONG THƠ TỊNH ĐỘ bằng Hán văn này do ngài Vương Nhựt Hưu đă sưu tập.

Hôm nay thầy Tỳ Kheo Lê Phước B́nh dịch Hán văn ra Việt ngữ để cống hiến cùng quư bạn đồng tu Tịnh độ. Y theo tuần tự thứ lớp trong bộ sách này để làm nguồn cội chỉ giác con đường nào phải đi, để khỏi phải lầm lạc vậy.

Nếu tin cho thâm, niệm cho thiệt và nguyện cho chắc, th́ chẳng đợi đến khi chết mới thấy Tịnh độ, hiện đương c̣n sống đây mà trong khi ta tịnh tọa quán tưởng, hay là chiêm bao, th́ cũng thấy các lầu châu gác ngọc, thấy Phật và Bồ Tát, thấy La Hán và Thanh Văn, thấy đủ quốc độ nhân dân phong cảnh hy kỳ, dầu cơi Trời và cơi Tiên cũng không b́ đặng.

Đó cũng tại cái tư tưởng của ḿnh thanh tịnh như vậy, thí như bóng của ḿnh tốt, th́ chụp vào cái máy bóng cũng tốt, tiếng của ḿnh thanh, th́ thâu vào cái máy tiếng cũng thanh. 

Vả lại bóng với tiếng vốn là vật vô t́nh, mà tinh thần c̣n đặng y nhau như vậy, huống chi lấy cái tâm hữu t́nh, mà tưởng cảnh hữu t́nh, th́ làm sao lại không có cảm ứng.

Nên phải biết rằng tánh ta với tánh Phật hai tánh in nhau, như nước ḥa với nước, như dầu hiệp với dầu. Nếu ta niệm Phật, th́ Phật tiếp ta, dắt d́u ta về cơi Tây phương, dễ như con rận nương theo áo người đi xa ngàn dặm vậy. Nhưng không văng sinh là tại nơi người chớ không phải tại nơi pháp.

Xưa ngài Thiên Như Ḥa thượng nói rằng : “Chánh pháp tượng pháp chi hậu, chư kinh diệt tận, chi lưu A Di Đà Phật, tứ tự cứu độ mạt pháp chúng sinh, kỳ hữu bất tín giả ưng đọa địa ngục”. Nghĩa là : Sau khi chánh pháp qua rồi, th́ các kinh lần lần tiêu diệt, chỉ c̣n lại bốn chữ A Di Đà Phật để cứu độ chúng sinh, trong đời mạt pháp nếu ai không tin th́ phải đọa vào địa ngục.

Lại ngài Liên Tŕ Đại sư nói rằng : “Mạt pháp Tỳ kheo tín tâm bất như cư sĩ, cư sĩ bất như nữ nhân”. Nghĩa là : Trong đời mạt pháp, tín tâm của mấy thầy Tỳ kheo phần nhiều thua mấy ông cư sĩ; c̣n mấy ông cư sĩ phần nhiều lại thua trong hàng nữ lưu.

V́ cái tín căn của nữ lưu thậm hơn Tỳ kheo và Cư sĩ, nên tuy họ không hiểu chi về đạo lư, mà nghe đặng cái pháp niệm Phật th́ họ do cái tánh linh của họ, mà định y giáo phụng hành, không có cái lư thuyết nào đánh đổ họ đặng.

C̣n mấy thầy Tỳ kheo và Cư sĩ th́ tín căn không đặng quyết định, hay ỷ trí tư tưởng cao xa, hay làm sự thần kỳ mắc mỏ, nên cứu cánh văng sinh th́ ít mà bị đọa th́ nhiều. (A Di Đà Phật, xin hoan hỷ).

Nếu Tỳ kheo và Cư sĩ đă sẵn trí huệ như đây mà chuyên tu Tịnh độ th́ chắc đặng thượng phẩm thượng sinh.

Vậy hỡi ai ôi ! Ai là râu hùm cằm én, ai là đầu tṛn áo vuông, xin đừng quá nhượng cái đài tọa sen vàng mà để cho khách hồng quần chiếm hết. 

NAM MÔ TA BÀ GIÁO CHỦ ĐIỀU NGỰ BỔN SƯ

THÍCH CA MÂU NI PHẬT

THÍCH TỬ GIÁC MINH

     
 

Trở lại

 
   
   
   

Trở lại

Xin gởi bài mới và ư kiến đóng góp về Tạng Thư Phật Học qua địa chỉ email:

tangthuphathoc@gmail.com