|
Lời Đầu Sách
Ngày xưa Tổ Liên Tŕ rất mến
mộ hai quyển Bảo Vương Tam muội luận của Phi Tích
Pháp sư và Niệm Phật Trực chỉ của Diệu Khấu Thiền sư,
nhiều lần t́m kiếm nhưng chưa được gặp. Về sau, Lăo
Túc Vạn Dung ở đất Cổ Ngô t́nh cờ gặp được một bản ở
trong đám sách tạp nhạp của Thần Miêu. Hai quyển
luận này được in chung, tuy b́a ngoài đă hư, nhưng
chữ bên trong vẫn c̣n nguyên vẹn, Ngẫu Ích Đại sư
tuyển hai quyển này vào Tịnh độ Thập yếu. Từ đó hai
bộ luận trên được xem là những bộ luận trọng yếu của
Tông Tịnh độ.
Trong mùa kiết hạ vừa qua,
chúng tôi ở Phước Huệ Ṭng Lâm đă dịch ra để giảng
dạy chúng. Chúng tôi đă dịch và giảng thẳng từ bản
chữ Hán được ghi âm lại chung với lời giảng từng
đoạn. V́ thế, chúng tôi phải so lại với bản chữ Hán
để tránh đi việc nhầm lẫn giữa chánh văn và chú giải.
Luận Bảo Vương Tam Muội, lời
văn súc tích, ư nghĩa u huyền, người muốn tu tam
muội rất khó thâm nhập, nên ban đầu chúng tôi có ư
ghi thành chú giải. Nhưng lời giải quá dài, cần phải
in nhiều tập. Trong hoàn cảnh khó khăn về in ấn,
chúng tôi chỉ xin ghi phần chánh văn của bản luận.
Về chú giải chúng tôi sẽ cố gắng hoàn thành và cống
hiến quư vị sau. Dù vậy, chúng tôi cũng ghi lại phần
giảng ngũ trùng huyền nghĩa để người đọc có thể dễ
dàng trực nhận chỉ thú. Phật pháp cao siêu, nghĩa
Tam muội vô lượng, hẳn trong phần sưu tập sẽ c̣n
nhiều sơ sót. Dám mong chư vị thiện tri thức cao
minh vui ḷng góp ư để lần tái bản sau được hoàn hảo
hơn. Rất đa tạ.
Hồng Nhơn cẩn bút
Luận Bảo Vương Tam Muội
Phần huyền nghĩa
Đề luận là cương yếu của toàn
bộ luận như cổ áo đối với cái áo, chớp lưới đối với
toàn cái lưới, muốn lấy áo cần nắm cổ áo, toàn bộ
chiếc áo đều lên, nắm chóp lưới, cả chiếc đều tóm
lại. V́ thế, Tổ Thiên Thai khi giải thích các bộ
kinh luận thường lập năm lớp huyền nghĩa để người
đọc có cửa ngơ khi muốn vào tác phẩm.
1.- Giải thích đề luận:
Niệm Phật : Niệm là nhớ
rơ không quên, Phật là bậc giác ngộ, người không
giác gọi là mê, không mê gọi là giác. Bậc giác ngộ
là ư chỉ bậc hoàn toàn không có mê. Giác có nhiều
bậc : Nếu nói từ xưa đến nay vốn không mê th́ gọi là
Bản giác, nếu nói đă mê rồi nay mới giác ngộ th́ gọi
là Thỉ giác. Nếu nói một lần giác ngộ là vĩnh viễn
suốt thời vị lai, không c̣n mê lại gọi là Cứu cánh
giác. Bản giác chỉ cho pháp thân, Thỉ giác chỉ cho
bát nhă, Cứu cánh giác chỉ cho giải thoát. Nói chữ
Phật là bí tạng của ba đức kể trên.
Phàm người niệm Phật cần phải
biết cái nào là năng niệm, cái nào là sở niệm và
cũng phải biết cái không phải năng và không phải sở.
Năng niệm thuộc về Tâm, Sở niệm thuộc về Phật, lại
cũng phải biết ngoài cái năng niệm không có cái sở
niệm, tức ngoài tâm không có Phật; ngoài cái sở niệm
không có năng niệm, tức ngoài Phật không tâm (gương
và ảnh). Ngoài tâm không Phật, toàn Phật là tâm,
ngoài Phật không tâm, toàn tâm là Phật. Nên nói :
Phật là Giác, Giác là Tâm. Sở dĩ nói ngoài tâm không
Phật v́ tâm không mê, nói ngoài Phật không tâm, v́
Phật là Giác. Niệm Phật cũng có ba thứ : Niệm Bản
giác là niệm vị lai Phật có bảy môn ở quyển thượng
của luận này. Niệm Thỉ giác là chung cho chư Phật ba
đời, bảy môn thuộc quyển hạ. Niệm Cứu kính giác là
niệm hiện tại Phật, sáu môn thuộc quyển trung.
Tam muội : Tam muội là
tiếng Phạn, nói cho đủ là Tam muội da. Trung Hoa
dịch là Chánh thọ, Chánh định hay Điều trực định.
Chánh thọ có nghĩa là không nhận bất cứ vật ǵ.
Chánh định là v́ khác với bất định của phàm phu,
chẳng phải thiên định của tiểu thừa, chẳng phải tà
định của ngoại đạo nên gọi là chánh định. Điều trực
định là chỉ chỗ tâm và cảnh phù hợp ở trạng thái hợp
nhất. Chúng ta khi mới tu định, hôn trầm và tán loạn
tấn công, nhiều điều phiền lụy, lần lần điều phục,
lâu dần tâm thuần thục, mới có thể nhiếp cảnh về tâm,
tâm vào trong cảnh, tâm thẳng cảnh thông cùng nhau
hợp nhất, nên gọi là điều trực định.
Niệm Phật Tam muội có thể bao
gồm hết trăm ngàn thứ Tam muội, nên gọi là vua của
các Tam muội. Trăm ngàn Tam muội tuy nhiều nhưng
không ngoài ba thứ Tam muội : 1. Sa ma tha tức là
Chơn đế tam muội. 2. Tam ma bát để tức là Tục đế tam
muội. 3. Thiền na tức là Trung đế tam muội. Tam muội
tuy nhiều nhưng không ngoài ba thứ tam muội kể trên.
Trong luận Niệm Phật Tam muội này, bảy môn ở quyển
Thượng, niệm Bản giác Phật tức là Chơn đế Tam muội.
Bảy môn ở quyển Hạ, niệm chung chư Phật ba đời là
niệm Thủy giác Phật tức Tục đế Tam muội. Sáu môn ở
quyển Trung là niệm Cứu cánh giác Phật tức Trung đế
Tam muội. Niệm Phật có 4 thứ chẳng đồng : 1. Quán
tưởng niệm Phật như trong thập lục Quán kinh. 2.
Quán tượng niệm Phật như trong Bát Nhă kinh. 3. Tŕ
danh niệm Phật như A Di Đà kinh. 4. Thật tướng Niệm
Phật như trong Phổ Hiền Quán kinh. Ở đây chỉ nói về
tŕ danh niệm Phật. Người muốn tu tŕ danh niệm
Phật trước tiên phải dùng chuổi, ghi mỗi niệm rơ
ràng, phân định thời khóa, giữ chắc không cho thiếu
sót. Nếu người mới phát tâm không chịu lần chuổi cho
là không cần chấp tướng, muốn học theo lối viên dung
tự tại, rơ ràng người ấy ḷng tin không sâu, chỗ
thực hành không đắc lực, v́ tâm sinh tử không thiết,
dù rằng tôn và giáo đều thông, nhưng đến khi mạng
chung, không được chút nào lực dụng, chừng vô thường
đến mới hối tiếc, ăn năn đâu c̣n kịp nữa!
Người niệm Phật muốn được Tam
muội phải luôn luôn ǵn giữ chánh niệm, khi niệm
Hồng danh, tiếng ra từ miệng, tai nhận rơ ràng,
miệng và tai thông đồng, tiếng và tâm khế hợp, lâu
dần thuần thục, không biết có tâm năng niệm và ông
Phật sở niệm, niệm mà không niệm, không niệm mà niệm,
tuy thọ cái tên niệm mà không có tất cả cái thọ gọi
là niệm Phật Tam muội. Kẻ phàm phu không tŕ danh
hiệu Phật nên tâm không định, ngoại đạo th́ tà kiến,
nhị thừa th́ ch́m trong cái không. Quyền thừa th́
trệ một bên đều không phải là chánh định. Chỉ có
người niệm Phật được nhất tâm bất loạn mới được gọi
là chánh định. Từ lúc tán tâm ban đầu niệm lâu tâm
sẽ trở về một nên gọi là Điều trực định.
Bảo Vương : Chữ bảo có
nghĩa là quí báu. Vương có nghĩa là thống lănh tự
tại. Như các thứ vàng, bạc, lưu ly, san hô, hổ phách,
mả năo, trân châu ....đều gọi là quư báu. Trong các
thứ báu này, chỉ có châu ma ni là quư báu hơn cả,
nên cổ nhân nói : Một hạt châu ma ni có thể đè bẹp
hết ngàn loại châu báu trong biển nên gọi là vua
trong các thứ quư báu. Ở đây ví muôn ngàn loại châu
báu như muôn ngàn tam muội, ví châu ma ni như niệm
Phật Tam muội. Tựa đề này dùng pháp dụ lập đề nên
gọi Niệm Phật Tam Muội Bảo Vương.
Luận tiếng Phạn là A Tỳ Đạt
Ma, Trung Hoa dịch là Vô Tỷ Pháp nghĩa là pháp không
thể so sánh là danh xưng chung của Luận tạng. Yếu
thích : Nhằm giải rơ những chỗ bí áo trong luận tập
nên dịch giả giải thích những điểm cốt yếu.
2.- Hiển thể:
Chữ Thể có nghĩa là tính chất
hay chủ. Danh đề là khách, thể chính là chủ. Thể là
thật chất, danh đề là giả danh. Danh đề là phần năng
thuyên (1) của thể, thể là phần sở thuyên (2) của
danh đề. Phàm tất cả danh đề, lời nói, văn tự đều
thuộc phần năng thuyên, đều giống như ngón tay chỉ
mặt trăng, như cái nôm để bắt cá. V́ vậy trước tiên
phải giải danh đề rồi sau đó mới chỉ bày chỗ sở
thuyên của thể, nhờ văn ngôn năng thuyên mà ngộ được
tánh thể của sở thuyên, như nương theo hướng ngón
tay mà thấy mặt nguyệt, nhờ có nôm mà bắt được cá.
Luận này lấy tịch chiếu bất
nhị làm thể. Ư muốn chỉ chỗ tịch (lặng lẽ) mà chiếu
(soi sáng) như ngọn đèn lặng lẽ mà hằng chiếu sáng.
Trong lời tựa của kinh Di Đà Sớ Sao nói : 'Tánh linh
minh rỗng suốt, lặng lẽ thường hằng, không đục không
trong, không lưng không mặt. Chơn thể rộng lớn thay
! Không thể nghĩ bàn được. Nó chính là tự tánh của
chúng ta'. Trong đoạn trên, câu đầu chỉ rơ cái chiếu,
tức tịch mà chiếu. Câu kế nói tịch, tức chiếu mà
tịch. Hai câu nếu hợp lại để quán th́ chiếu tức là
tịch, tịch tức là chiếu. Chữ tức trong quán này là
nghĩa bất nhị (không hai). Môn thứ 20 của luận này
nói : 'Định này đức Như Lai gọi là Thắng định, là
Vua Tam muội, là Tạng Quang Minh, là hạt châu trừ
tội, là đèn diệt tà kiến, là bản đồ cho người lạc
đường, là ấn vàng của Vương Tử, là Tánh của Tam Bảo,
là Đại Huệ Quang Minh. Tất cả đều chỉ cái thể của
Tịch chiếu bất nhị này.
3.-Minh Tôn:
Tôn chỉ là chỗ cốt yếu của tu
hành, là điều kiện tất yếu để trở về bản thể. Nếu
người tu hành không rơ tôn chỉ th́ làm sao có thể
lảnh hội được diệu thể không thể nghĩ bàn, nên trước
đă hiển thể, sau phải minh tôn. Trước hiển thể là
chỉ bày Tánh đức, c̣n minh tôn là chỉ bày chỗ Tu đức.
Nên biết, Tu đức nếu có công mới hiển bày được Tánh
đức.
Luận này lấy nhân quả cùng
thời làm Tôn. Có người cho rằng Thể tức là Tôn, Tôn
tức là Thể. Thực ra Thể thuộc về Tánh Đức không phải
nhân, không phải quả, c̣n Tôn thuộc về Tu Đức có
nhân có quả, v́ trước tu là nhân, chứng được là quả.
Tuy vậy Tôn Đức và Tánh Đức không phải một, không
phải hai, nên không thể nói là một, cũng không thể
nói là khác. Cũng như cột kèo của cái nhà là giềng
mối của cái nhà, nhờ có cái nhà mà ta có một khoảng
trống do cột trụ tạo ra, nhờ có cột kèo mà ta có
khoảng trống để che mưa đở nắng, nhưng không thể nói
kèo cột là khoảng trống của nhà v́ kèo cột không
phải một, lại cũng không nói khoảng trống là kèo cột
v́ khoảng trống và kèo cột không phải hai. Kèo cột
dụ Tôn, khoảng trống dụ Thể. Nếu nói là một th́ có
nhiều lầm lẫn, v́ bỏ kèo cột ra th́ không có khoảng
trống cái nhà, ĺa khoảng trống th́ không thấy kèo
cột, hai cái đó không thể ĺa được nên gọi là chẳng
phải khác. Nói Thể và Tôn khác nhau th́ lầm lỗi rất
lớn, nếu Tôn khác với Thể th́ Tôn không thể hiển Thể,
Thể nếu khác với Tôn th́ không phải là Thể của Tôn.
Nói nhân quả cùng thời là v́
nhân gồm biển quả, quả thấu nguồn nhân, nhân quả hợp
nhau nên gọi đồng thời. Trong Phổ Hiền Quán kinh nói
: 'Nhân của Đại thừa là thật tướng của các pháp, và
quả của Đại thừa cũng là thật tướng của các pháp.'
Trước nói Thể là chỉ Ông Phật sở niệm. Nay nói Tôn
là chỉ cho Tâm năng niệm, đă biết Phật thông cả ba
đời là biết Cảnh dọc trùm ba phía, Tâm niệm chư Phật
là biết Tâm ngang khắp mười phương, Tâm và Cảnh
không hai, không có ngang dọc, Tâm Cảnh rơ ràng cũng
ngang cũng dọc, như con mắt của Ma Hê Thủ La Thiên
giống ba góc h́nh tam giác đều, không ngang không
dọc, không cùng không khác. Trong luận nói : Lưới
châu của Đế Thích chưa mở ngàn viên ngọc chiếu bày,
lưới vừa mở toang, muôn mắt đều mở. Đầy biển cả phải
dùng trăm sông, niệm được Phật danh chắc thành Tam
muội.
4.- Luận dụng:
Dụng là lực dụng. Đa số kinh
điển Tịnh độ lấy việc ĺa khổ được vui làm lực dụng,
thường cho cơi Ta bà bị năm món trược làm khổ, được
về An dưỡng được năm thứ thanh làm vui. Chỉ có luận
này lấy khổ vui đều quên làm lực dụng. Nếu chỉ niệm
Phật hiện tại, như trong chương Thế Chí niệm Phật
Viên Thông nói : 'Các đức Như Lai trong mười phương
thương nhớ chúng sanh như mẹ nhớ con, chúng sanh
niệm Phật như con nhớ mẹ, khi con nhớ mẹ như mẹ nhớ
con th́ mẹ con nhiều kiếp không hề xa nhau. Tâm
chúng sanh nhớ Phật, niệm Phật, hiện tiền hoặc tương
lai chắc được thấy Phật, không cần dùng phương tiện,
tự được tâm mở tỏ. Nhơn địa tu hành của tôi, dùng
tâm niệm Phật được vô sanh pháp nhẫn, nay ở thế giới
này tiếp dẫn người niệm Phật về cơi Tịnh độ'. Ĺa
cái khổ của thế giới này về chỗ vui của Tịnh độ là
lực dụng hầu hết các kinh luận Tịnh độ. Luận này th́
trước niệm Phật vị lai, kế đó niệm Phật hiện tại,
sau đó niệm chung chư Phật ba đời đều là Phật. Ư nói
rằng : Chúng sanh đều là Phật, chúng sanh và Phật
không hai. Đă nhận chúng sanh và Phật không hai cảnh
giới, th́ không có ḷng ghen ghét. Không ghét th́
không có cái khổ để muốn xa ĺa, không yêu th́ không
thấy cái vui có thể được, v́ cơi tịnh và cơi uế vốn
không hai, nên dùng khổ vui đều quên làm lực dụng.
Trong quyển thứ nhất của Luận này, Ngài Văn Thù dạy
người nữ nói : 'Tánh Bồ đề vốn không, thân cô cũng
không.' Phật bảo Trưởng Giả Tử nói : 'Nếu quán thân
thật tướng, quán Phật cũng vậy, th́ các pháp hữu vi
liền thành vô vi. Ở chỗ có chưa từng có, ở chỗ không
chưa từng không, lo ǵ Phật có tướng? Tâm có niệm
!' Trong đoạn này ư nói thánh trí bồ đề và thân phàm
t́nh của ông không khác; chỉ cho thánh phàm không
hai. Ở chỗ có chưa từng có, ở chỗ không chưa từng
không, chỉ không trụ ở hai bên. Lo ǵ Phật có tướng,
tâm có niệm, trong Đạo chẳng an, lực dụng như thế
thật mầu nhiệm.
5.-Phán giáo.
Tổ Thiên Thai Trí Giả Đại sư
dùng năm thời tám giáo để giải thích một đời thuyết
giáo của đức Như Lai. Năm thời gồm có thời Hoa
Nghiêm, A Hàm, Phương Đẳng, Bát Nhă, Pháp Hoa Niết
Bàn. Để dễ nhớ, cổ nhân có bài kệ :
Hoa Nghiêm tối sơ tam thất
nhật
A Hàm thập nhị, Phương Đẳng
bát.
Nhị thập nhị niên Bát Nhă đàm,
Pháp Hoa, Niết Bàn cọng bát
niên.
Tạm dịch :
Hoa Nghiêm trước nhất 21 ngày
A Hàm mười hai, Phương Đẳng
tám.
Bát Nhă nói suốt hai mươi hai
Pháp Hoa, Niết Bàn, tám năm
dài.
Tám giáo là tạng, thông, biệt,
viên, đốn, tiệm, bí mật và bất định. Trong kinh có
thí dụ về luyện sữa như sau : Kinh Hoa Nghiêm dụ
sữa mới nặn ra; kế đó từ sữa cho ra lạc, thời A Hàm
dụ cho lạc; kế đó từ lạc cho ra sanh tô, Phương Đẳng
dụ sanh tô; từ sanh tô cho ra thục tô, Bát Nhă dụ
thục tô; từ thục tô cho ra đề hồ, Pháp Hoa, Niết bàn
dụ cho đề hồ thượng vị. Luận này, ngay trong câu hỏi
đầu khách đă hỏi : 'Con đường thẳng tắt thành đạo là
cái hạnh bất khinh trong Pháp Hoa Tam muội, cái Tôn
của Ban Chu là niệm Phật tam muội, đều được gọi là
cái cửa của vô thượng thâm diệu Thiền, nguyện nghe
chỗ nhiệm mầu ấy?' Như thế, luận này thuộc cơ thuần
Viên độc diệu, Giáo tướng thuộc Vô thượng đề hồ Bồ
tát tạng.
Phần thích luận
Thời Nhà Đường, núi Tử Các, Chùa Thảo Đường,
Tuyển luận: Sa Môn
Thi Tích
Dịch giả: Sa Môn
Hồng Nhơn
A Phần tựa
Có người khách cao ngạo đến
thiền thất của tôi (Ngài Phi Tích) trước đảnh lễ rồi
hỏi : Con đường thẳng tắt thành đạo là cái hạnh Bất
Khinh trong Pháp Hoa Tam muội, cái Tôn của Ban Chu
trong niệm Phật Tam muội đều là cửa ngơ thâm diệu
thiền, nguyện nghe chỗ nhiệm mầu ấy?
Đáp : Tâm ông hy vọng
rất cao, nên lời hỏi rất hay ! Ông sắp bước vào bến
rồng vô sanh, muốn dở cánh bằng đến Đồ Nam. Tôi biết
ḿnh không xuất sắc nhưng cũng gắng gượng mở ra hai
mươi môn nói về tôn chỉ này. Quyển thượng có bảy môn
niệm vị lai Phật. Quyển trung có sáu môn niệm hiện
tại Phật. Quyển hạ có bảy môn chung niệm cả ba đời
đều là Phật.
B. Phần chánh tôn
I.. Quyển Thượng. Quyển
thượng gồm có bảy môn, nói về niệm Bản Giác tức niệm
Ông Phật ở vị lai.
1. Niệm Ông Phật ở vị lai
mau thành Tam Muội
Nếu Tâm có hai th́ sanh ra
nhiều vọng tưởng, nhiều vọng tưởng tuy không thật,
nhưng bị mê lầm làm trở ngại, việc trở ngại không
giải thích là điều lo của Thánh nhân.
Vần mầu nhiệm thông suốt mà
không lời, Pháp thân rỗng mà đủ tướng, không rơ
được tướng, không tṛn được lời, như thế ư chỉ một
vị, tuyệt cả nói năng th́ làm sao biết được chỗ qui
thú ?
Khi lưới của Đế Thích chưa mở,
ngh́n hạt châu đâu ai thấy được, chóp lưới vừa động,
muôn mắc lưới đều mở. Muốn đầy biển lớn phải dùng
nước trăm sông, niệm hiệu Phật chắc thành Tam muội,
một lời trùm khắp chính tại chỗ này, cũng như hạt
thanh châu bỏ vào nước đục, nước đục không thể
không trong, tưởng Phật đặt ở loạn tâm, loạn tâm
không thể không có Phật.
Người đời niệm quá khứ Thích
Ca, niệm hiện tại Di Đà, hoàn toàn chưa nghe niệm vị
lai chư Phật. V́ sao ? V́ không hiểu đức Như Lai
đối với cái Thô của chúng sanh mà nói cái Diệu của
chư Phật bèn cho chúng sanh ở ngoài Phật.
Kinh Tịnh Danh nói đă có mùi
hương hoa Chiêm Bồ không có mùi hương khác. Hoa có
loại đeo vào thân, có loại không đeo vào thân. Đây
là ư muốn chỉ bày Đại thừa. Chê Tiểu thừa v́ để bác
bỏ mờ mịt, chỉ bày Đại thừa đồng về với Bất Nhị.
Kinh Pháp Hoa là Vua của các kinh đă chỉ rơ pháp
Thinh Văn. Như thế, tất cả đều là hương Chiêm Bặc,
tôn chỉ của luận này là Đại và Tiểu Thừa không chấp.
Nếu chẳng phải người ấy (phá
chấp) tất cả đều cho Chư Phật là bậc rất cao (chí
tôn), c̣n chúng sanh là hàng rất thấp (chí ti). Nếu
có cao và thấp là các vọng đều sinh khởi, cung kỉnh
và khinh mạng lập ra th́ nhất chân pháp giới đều ẩn.
Người chấp chặt như thế ắt coi
vạn hữu như cỏ rác, coi thiên hạ như đồ chơi, khi
tràng ngă mạn đă lập nên th́ cao ngạo chê người, mắt
ngó mây xanh, tâm đạo trên thượng đế, không bao giờ
chịu hạ thấp.
Kinh Duy Ma nói : Thấy tất cả
đều nên cung kỉnh, dùng đồ cúng dường là hạnh tối
thắng. Kinh Lăng Già nói : Như Lai Tàng tự tính nó
vẫn thanh tịnh, chuyển 32 tướng vào trong tâm tưởng
của tất cả chúng sanh, như có bảo châu đại vô giá
gói trong áo dơ. Lại như người ăn xin rất hèn hạ
cùng đức Như Lai cao cả đều không sai khác, v́ thế,
niệm tṛn đủ chư Phật ba đời là khắp quán các đức
Thế Tôn trong mười phương. Trong lư thú Bát Nhă nói
: 'Tất cả chúng hữu t́nh đều là Như Lai Tạng, Bồ Tát
Phổ Hiền tự thể trùm khắp các nơi. Như người con gái
nghèo có mang một vị quốc vương, như hột gạo trong
bao tấm cám, cảnh ấy có thể biết, đâu có thể mắc vào
oan trái tám điều ngă mạn ư ? Mọi người đều khinh
lờn hào quang ngọc của chư Phật thời vị lai mà không
dám khinh lờn sắc vàng của chư Phật ở quá khứ và
hiện tại mà khởi ra gốc tội, ở trước Phật tương lai
v́ được thấy chư Phật đă qua và hiện tại. Chúng sanh
nếu chẳng phải là Phật, th́ Phật vị lai đâu có !
Nên biết mẹ nghèo nhờ con quí
mà sang, gạo nhờ cám mà được bảo toàn, điều ấy phù
hợp với tâm Bất Khinh Bồ Tát trong Kinh Pháp Hoa,
nếu được như vậy th́ niệm Phật Tam muội không cầu
mau mà tự thành tựu.
Pháp Hoa niệm Phật nguyên là
một môn. Như dùng linh chi nấu thành thuốc. Các
người tu tiên, xưa mỗi người ở một nơi không được
gọi là Tiên. Người uống thuốc tiên có phép lên mây
nên nhờ có thuốc mà nêu danh ở cơi Tiên. Người được
dự vào cơi Tiên, người và thuốc tuy khác nhau, nhưng
uống vào sẽ được thành tiên.
Nếu không có thánh nhân có ai
được đạo, pháp không có Phật giác ngộ đâu ai làm cho
ta tự ngộ. Pháp không có Phật th́ không ai ngộ, từ
đó niệm Phật Tam muội sinh ra, Phật không có pháp
không sáng tỏ, nên Pháp Hoa Tam muội khởi. Một vị
Tiên có hai danh xưng đều gọi là Tiên, niệm Phật
Pháp Hoa đều gọi là Phật huệ. Phật huệ đă đồng chắc
chẳng khinh Thiền Vô Thượng của Ban Chu, sự giác ngộ
từ đây khởi xướng.
2. Dâm nữ, phường trộm
đều chẳng nên khinh
Hỏi : Dâm nữ, phường
trộm cướp là hạng người cực ác, đâu có thể được cung
kỉnh như Phật ?
Đáp : Phương pháp độ
của Phật có cách đối đăi và cách quyết liễu.
A.-Về đối đăi : Đối với
người nữ dối trá, Phật nói Như Lai là chỗ chí chơn.
Phật là bậc đáng tôn sùng, người nữ là kẻ cần xa
ĺa. Xa ĺa có hai phần là tránh ḷng dục vọng và
dùng tâm buông bỏ.
Thứ nhất là tránh dục : Trong
Kinh Bồ Tát Quở Sắc Dục có dạy : 'Sắc gái đẹp là
xiềng xích của thế gian. Kẻ phàm phu yêu đắm không
thể tự ḿnh nhổ ra khỏi, nó chính là tai họa lớn của
thế gian, kẻ phàm phu bị vướng vào, đến chết cũng
không bỏ được, nó chính là tai họa đáng thương của
thế gian. Kẻ phàm phu gặp nó th́ không có tai ách
nào mà không đến'.
Hành giả đă bỏ được rồi, nếu
c̣n nhớ lại, không khác người trong ngục vừa mới ra,
lại nhớ ngục thất muốn vào. Như người cuồng vừa tỉnh
lại muốn cuồng trở lại, người bệnh được lành lại
mong ḿnh được thêm bệnh. Người có trí tuệ biết điều
đó là mê mờ điên đảo, người có niệm này sẽ chết
không biết ngày nào !
Kẻ phàm phu mê đắm nữ sắc, cam
ḷng làm nô bộc cho t́nh yêu sai sử, trọn đời gánh
vác những việc cay đắng khổ sở, tuy có ngàn mủi gươm
dao đưa đến họ cũng cam ḷng gánh chịu chẳng chút
than van.
Nếu hành giả có thể bỏ mà
không đoái hoài tới th́ phá được các gông cùm xiềng
xích, ghét mê, nhàm bệnh th́ ĺa được tai họa lo
nghĩ. Tâm được an ổn là tốt, đă được ra khỏi lao
ngục, vĩnh viễn không có hoạn nạn.
Người nữ có tướng yểu điệu dịu
dàng, lời nói như mật ngọt ru hồn, nhưng ḷng đầy
thuốc độc. Suối lặng nước trong là chỗ ở của giao
long, núi vàng hang báu là nơi cư ngụ của sư tử. Đây
là chỗ họa hại không nên ở gần. Nhà cửa không yên là
do người phụ nữ, tan nát ḍng họ là hại bởi người vợ
trong gia đ́nh. Người nữ thật là một kẻ giặc âm thầm
diệt hết trí huệ sáng suốt của con người.
Như lưới của người thợ săn đă
bủa ra rồi ít con thú thoát nạn, như lưới chim vào
rọ không thể bay ra, như lưới nhặt bọn cá bị lùa vào
không thể nào ra khỏi, như đường hầm tối, người mù
đi vào không thể trở ra, như thiêu thân thấy lửa đua
nhau lăn vào. V́ thế, người trí biết rồi nên xa lánh
th́ không chịu những điều tai hại. Sự mê hoặc tồi tệ
và xấu ác không ǵ bằng nữ sắc này.
Kinh Đại Bảo Tích nói : 'Người
bị các khổ như tên độc bắn trúng, cây nhọn đâm thân,
rớt xuống núi đao c̣n ít khổ hơn sự sai sử của người
nữ. Họ mượn hương hoa trang sức cho đẹp đẽ, để
người ngu thấy đó vọng khởi tham cầu, như chim lạc
ngoài bể mong được vào bờ, chết bị đọa vào địa ngục
A tỳ, hiện đời gặp nhiều thứ khổ vây quanh ḿnh, bạn
lành xa ĺa, cung Trời mất vĩnh viễn. Chẳng thà ta
liều vào ngục sắt nóng, chạy trên núi đao, nằm trên
đống than hồng, nguyện không bao giờ thân cận nữ
sắc. Như chim v́ t́m miếng ăn không tránh được lưới
rập, người tham ái với người nữ bị hại cũng thế. Như
cá ở trong nước, bơi lội trước lưới câu do ḿnh muốn
t́m mồi đâu ai hại ḿnh được. Người nữ như kẻ bắt
cá, lời dịu dàng dối gạt giống như lưới, người con
trai giống như con cá bị lưới hay câu cũng như vậy,
tự ḿnh muốn t́m đâu ai bắt ḿnh phải đến.'
Thứ hai là phương pháp
phóng tâm (tâm buông bỏ). Kinh Đại Bảo Tích dạy
: 'Nếu người một ḷng chuyên tinh tự giữ ḿnh, khi
tâm tham dục phát khởi liền phải tỉnh giác, dùng
phương tiện dẹp hết, lại làm tâm trở lại tịch tịnh
như cũ.'
Muốn trừ sạch hết phải làm sao
? Chúng ta phải nghĩ thế này : Tham dục này vốn
không là chẳng sạch, hăy t́m chỗ sanh chỗ diệt của
tâm dục này từ đâu mà đến, rồi đi về đâu, trong ấy
ai là người nhiễm, ai là người bị nhiễm, và ǵ là
pháp nhiễm ? Được như vậy mới có thể vào sanh tử
chốn trần lao mà không lo bị tai họa bởi tham, sân,
si, nên gọi là phóng tâm.
B.-Về quyết liễu : Nếu
người xa ĺa các vọng tưởng được rốt ráo, không
nhiễm, rỗng rang như hư không, th́ Phật quá khứ và
Phật hiện tại đâu chẳng phải là Phật ở vị lai. V́
sao ? V́ người muốn t́m hạt châu quư báu, vô giá
phải ở thương minh (biển sâu), muốn được của báu trí
huệ phải t́m từ trong phiền năo. Tướng ngũ nghịch là
tướng giải thoát, cơi Ma tức là cơi Phật. Nếu c̣n
nghe lời Phật mà vui mừng, nghe lời Ma mà nỗi giận
th́ chẳng phải là người giác ngộ được các pháp, muốn
đến Bắc phải hướng Bắc mà đi, không được có ư về
Nam, ngược đường mà đi, đâu được cùng người luận
đạo.
Xưa có một vị đại Tiên tên Lộc
Đế, dùng thần chú làm cạn cả nước, có cô dâm nữ dụ
được làm trời hạn đổ mưa. Người nữ ấy chính là Bà
Gia Du Đà La, vị lai sẽ thành Phật hiệu là Cụ Túc
Thiên Vạn Quang Tướng Như Lai. A Na Luật ngày xưa là
đầu đảng trộm cướp, một hôm vào chùa ăn trộm hạt
châu trên trán Phật, lấy mũi tên khơi ngọn đèn trên
bàn Phật, làm cho ánh sáng cháy măi không dứt. A Na
Luật Tàu dịch là Vô Diệt (không dứt cũng từ lư do
này). Ngài tương lai sẽ làm Phật hiệu là Phổ Minh
Như Lai. Hai vị Phật ở vị lai này đủ chứng minh rơ
ràng rằng dù phạm dâm hay phạm trộm cũng đều thành
Phật.
3. Tŕ giới, Phá giới đều
tướng như Phật.
Trong giới luật, về giới tướng
có hai loại: 1/ Giới của Thanh Văn gọi là Tăng giới,
2/ Bồ tát giới gọi là Phật Giới. Về Thinh Văn giới
có bảy chúng chẳng đồng:
1. Tỳ kheo giới gồm có 250
giới.
2. Tỳ kheo Ni giới gồm có 348
giới.
3. Thức Xoa
Ma Na học sáu pháp.
4. Sa Di
gồm có 10 giới.
5. Sa Di Ni
cũng có 10 giới.
6. Ưu Bà
Tắc (cư sĩ nam) gồm 5 giới.
7. Ưu Bà Di
(cư sĩ nữ) cũng có 5 giới
- Về Bồ tát
giới có 2 chúng tại gia và xuất gia: Căn cứ vào Kinh
Địa Trí, tại gia Bồ tát giới có 6 giới trọng và 28
giới khinh. Căn cứ vào kinh Phạm Vơng, xuất gia Bồ
tát gồm 10 giới trọng và 48 giới khinh. Giới Bồ tát
này cũng gọi là Kim Cương Quang Minh Bửu Giới, cũng
gọi là Tam Tụ Tịnh giới:
1. Nhiếp
luật nghi giới.
2. Nhiếp
thiện pháp giới.
3. Nhiêu
ích hữu t́nh giới.
Cách tŕ
giới: Bảy chúng đệ tử của Phật giữ ǵn giới hạnh ở
trong 4 oai nghi đi, đứng, ngồi, nằm, có mật thiết
quan hệ. Nếu ở trong 4 oai nghi này có một oai nghi
nào không tỉnh giác thận trọng là không thể tŕ. Chữ
tŕ đây có nghĩa là ǵn giữ vâng làm. V́ vậy trong
lúc đi đứng nằm ngồi không được lơi lỏng nên gọi là
tŕ.
Tỳ kheo có
250 giới: 4 giới đầu thanh tịnh gọi là tŕ căn bản
giới. C̣n 246 giới sau mỗi giới đều thúc liễm giữ
ǵn không cho mất gọi là Tỳ kheo toàn trí. Thầy Tỳ
kheo trước tiên ở trên giới đàn, Thầy Yết Ma 3 lần
tác bạch, bảy chứng sư v́ đại chúng chứng thành, gọi
là đă được giới thể. Ǵn giữ như thế cho đến thành
Phật, được Pháp thân đều từ giới này làm gốc.
Tỳ kheo ni
giữ 8 giới trọng, măi măi không phạm gọi là căn bản
giới thanh tịnh. C̣n 340 giới cũng phải bảo toàn
không mất gọi là giới phẩm hoàn toàn. Nếu giới phẩm
được hoàn toàn thanh tịnh th́ thành Phật có dư. C̣n
Thức Xoa Ma Na chỉ yếu có 6 pháp không phạm là đủ.
Sa Di và Sa Di Ni chỉ yếu 10 giới pháp thanh tịnh.
Trong 10 giới này chỉ có giới ăn phi thời có quan hệ
rất lớn không thể không tŕ, giới này nếu không tŕ
th́ tất cả các giới khó khỏi không phạm. Giới Ưu Bà
Tắc và Ưu Bà Di phải giữ 5 điều giới luật, ai cũng
biết rơ.
Phá giới:
Tỳ kheo trong 4 giới trọng, bị phạm một giới gọi là
phá căn bản giới, cũng bị mất giới thể, suốt đời
không được khôi phục. Các giới sau có bị phạm gọi là
phá chi mạt giới, cho đến rất nhỏ gọi là đột kiết
la. Ở cơi Trời Tứ Thiên Vương, một ngày một đêm bằng
nhân gian 50 năm. Ở Địa Ngục, một ngày một đêm bằng
ở Tứ Thiên Vương 50 năm. Cứ như thế tính thành năm
tháng. Người tội ở trong Địa ngục phải trải qua 500
năm mới ra khỏi ngục. Đây là thời gian của người phá
giới tội rất nhỏ, bị đọa vào Địa ngục. Sáu chúng sau
so sánh như trên th́ biết. Nếu người sau khi phá
giới phải sanh ḷng hỗ thẹn, đến trước vị A xà lê
chân thành thổ lộ, không được dấu diếm dù nhỏ bằng
sợi tơ. A xà lê sẽ hứa cho sám hối, nếu nhẹ th́ tác
pháp sám, tập hợp 20 vị Tăng, đối chúng phát lồ,
khóc lóc cầu xin, cứu kính không tạo tội mới, sau
khi tác pháp rồi, luôn luôn vâng lời Thầy dạy, hoặc
tŕ chú bao nhiêu biến, hoặc tụng kinh bao nhiêu
quyển, hoặc lễ sám bao nhiêu bộ, làm xong mới cho
vào chúng đồng tu. Nếu phạm căn bản giới sẽ không
được sám hối.
Thủ
Tướng sám: chẳng luận
tụng kinh lễ sám hoặc thời hạn 7 ngày, 49 ngày, 90
ngày hoặc đến 1 năm, 3 năm, cần phải thấy hảo tướng
như ánh sáng Phật, hoặc Phật đưa tay sờ đỉnh, hoặc
chư thiên tán hoa... được các tướng như thế, tội mới
sạch, gọi là Thủ Tướng sám.
Vô Sanh
sám: Quán sát tánh của
tội ấy, không ở trong, ngoài và chặng giữa, lại
không ở quá, hiện, vị lai. Cuối cùng tội từ chỗ nào
mà khởi? Tội không tự tánh, do nhân duyên sanh, đă
từ nhân duyên mà sanh rồi cũng từ nhân duyên mà
diệt. Từ nhân duyên mà sanh là người trong không
dùng tâm tàm quư (xấu hổ) làm nhân, ngoài nhờ bạn ác
làm duyên, do đó mà tạo ra các tội, nên gọi là sanh.
Từ nhân duyên mà diệt là người trong lấy việc tàm
quư (xấu hổ) phát lồ làm nhân, ngoài nhờ thiện tri
thức làm duyên, nên có thể diệt hết các lỗi lầm nên
gọi là diệt. Sáu chúng sau muốn sám hối khi phá giới
cũng theo ba pháp sám kể trên.
Tŕ Bồ tát
giới là người từ ở trong thân này đến khi thành Phật
không được phạm gọi là Tŕ.
1. Nhiếp
luật nghi giới là các ác đừng làm. Tất cả ác không
làm gọi là tŕ, đă làm gọi là phạm, nên gọi không
làm (chỉ) là Tŕ, có làm (tác) là Phạm.
2. Nhiếp
thiện pháp giới: Tất cả việc lành đều làm gọi là
Tŕ, không làm là Phạm nên gọi làm (tác) là Tŕ,
không làm (chỉ) là Phạm.
3. Nhiêu
ích hữu t́nh là không chúng sanh nào mà không độ.
Hai cái chỉ và tác ở trên đều là tự độ, cùng độ
người, nếu không độ người gọi là Phạm.
Chúng ta,
những người niệm Phật, phàm thấy bốn chúng đệ tử của
Phật không cần so tính tŕ giới hay phá giới, không
được vọng khởi phân biệt, dùng tâm b́nh đẳng như Bồ
tát Thường Bất Khinh trong Kinh Pháp Hoa thấy tứ
chúng liền sanh cung kỉnh, khen ngợi, lễ bái: 'Tôi
không dám khinh các Ngài, các Ngài đều sẽ làm Phật'.
Nên nói gặp mọi người đều sanh ư tưởng đang gặp
Phật.
Hỏi: Kinh
Phạm Vơng nói: 'Nếu người thọ giới Phật tức vào địa
vị của chư Phật.' Các hàng xuất gia là bậc mang giới
luật như trăng sáng, đeo châu anh lạc, dự vào địa vị
tam tôn, mô phạm cho bảy chúng. Nếu không tinh tŕ
giới luật, vọng động làm điên đảo, ô uế thiền môn.
Những người như thế, khinh chê đó cũng không lỗi,
đánh đó cũng chẳng tội ǵ?
Trong Kinh
Như Lai Tam Muội Hải, đức Phật v́ phụ vương mà nói:
'Ngày xưa có 4 vị Tỳ kheo phạm luật, lấy làm hỗ
thẹn, không biết nương tựa vào đâu. Bỗng nhiên trên
hư không có tiếng nói: 'Các Ông đừng nói rằng không
c̣n cách ǵ cứu! Không phải vậy, đức Không Vương Như
Lai, tuy đă vào Niết Bàn nhưng h́nh tượng hăy c̣n.
Các Ông nên vào tháp, một ḷng quán tưởng hào quang
trắng ở giữa chân mày của bảo tượng. Các Tỳ kheo
nghe theo rơ lệ mà nói rằng: 'Phật tượng c̣n diệt
được tội trọng như vậy huống hồ chân dung, khởi thân
đảnh lễ đầu mặt sát đất, các tội liền tiêu. Ngày nay
ở bốn phương đều thành chánh giác: phương Đông Phật
A Súc, phương Nam Phật Bảo Tướng, phương Tây Phật Vô
Lượng Thọ, phương Bắc Phật Vi Diệu Thinh. Bốn vị Tỳ
kheo phá giới này một ḷng quán bửu tướng, liền được
vào vị đấng Đại Hùng của đời. Người niệm Phật đâu
nên tự lầm và đem đến việc lầm lạc cho người khác.
Kinh Đại
Tập nói: 'Nếu các vương thần đánh mắng những người
xuất gia tŕ giới hay phá giới, tội đồng chích một
trăm ức thân Phật ra máu'. Nếu thấy có người mặc áo
cà sa, không luận là tŕ giới hay phạm giới, chỉ
tưởng như Phật, người có tưởng Phật là người chứng
được Niệm Phật Tam muội vậy. Đây lời vàng của Phật
dạy và cũng là ư chỉ của Bồ tát Thường Bất Khinh
trong Kinh Pháp Hoa, đâu được chẳng tin ư!
Thà làm Tâm
của Thầy, đừng làm Thầy của Tâm, thấy xan tham quán
tưởng bố thí, thấy người phá giới quán tưởng tŕ
giới. V́ vậy mà ta không bị cảnh giới lục tệ trói
buộc, thành tựu Quán môn Lục Độ Ba La Mật. Nếu cố
tâm phân biệt, tự ḿnh nhận lấy tối tăm. Như có thể
thấu hiểu được chỗ nhận thức này th́ Niệm Phật Tam
muội thành tựu dễ dàng như nước chảy trong sông vậy.
4.
Hiện ở Địa Ngục Không Ngại Thọ Kư
Hỏi:
Như kẻ hiện ở nơi Địa ngục, hoặc Ngạ quỷ, Bồ đề tâm
khó có thể phát khởi, ḍng sông đă đục chưa biết kỳ
hạn bao giờ được trong, đâu được xem đồng như Phật?
Đáp:
Hái thuốc quí không phải lấy từ nhà trồng hoa, lấy
thuốc pháp không phải tự nhiên mà có được.
Kinh Thủ
Lăng Nghiêm nói về 4 thứ thọ kư:
1. Thọ kư
người chưa phát tâm.
2. Thọ kư
người mới phát tâm.
3. Thọ kư
bí mật.
4. Thọ kư
hiện tiền.
Nay kẻ hiện
ở Địa ngục, Ngạ quỷ, Phật thọ kư tương lai chắc phát
đại chí, gặp bạn lành, thực hành đạo Bồ tát, hoàn
thành bậc Chánh giác, chính là Phật thọ kư cho người
chưa phát tâm sẽ được thành Phật. Khi Phật nói bốn
hạng người được thọ kư, ngài Ca Diếp bạch Phật:
Chúng con từ nay đối với tất cả chúng sanh tưởng như
Thế Tôn, nếu sanh ḷng khinh, tự ḿnh bị hại. Phật
bảo, lành thay lời nói rất hay! Mọi người đều không
thể suy lường chúng sanh, chỉ có đức Như Lai là có
thể hiểu thấu đáo. Ta bảo các hàng Thanh văn và các
vị Bồ tát đối với chúng sanh nên sanh ư tưởng như
Phật.
Kinh Hoa
Nghiêm, Phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện nói: 'Muốn phá
trăm vạn cửa chướng, cần dùng tưởng chúng sanh như
Phật này. Phàm nhà chứa châu báu tuy chưa mở cửa,
không ngại ǵ nói có châu báu trong nhà. Hạt châu
trên trán che kín, không ngại ǵ nói châu ẩn trên
trán. Nếu không niệm chúng sanh là đương lai Phật,
ắt bị sáu trần khuấy nhiễu, lại bị ma quân, tự ḿnh
phá hoại thành lủy, bảo tồn cho nước địch, luôn luôn
khởi ḷng cừu oán. Hai bên chiến trận chưa yên,
trống trận c̣n thúc vang dội, đâu có thể nằm an nhàn
say ngủ. Người có thể ngộ sắc thanh là Phật, thời
chúng sanh đều là Phật ở tương lai, chắc không lập
tâm ở phàm cảnh trước đây, hoặc tưởng thân ḿnh là
bổn tôn, th́ quán môn thâm diệu của Du Già chơn
ngôn, không cần tính toán cũng có được.
Hỏi:
Những người ở Địa ngục là người chưa phát tâm, đức
Như Lai là một đấng Pháp vương v́ ḷng từ bi thương
xót mà thọ kư cho. Thật ra họ là người chưa ngộ th́
bao giờ mới tỉnh?
Đáp:
Cái nguồn của trường giang (sông dài) tràn đầy chừng
một chén; gốc của đại mê chỉ ở trong hai cái chấp
ngă và Pháp mà thôi. Nếu ngoài niệm mà lập ra vô
niệm, ngoài sanh lập ra vô sanh th́ sanh tử khác với
Niết bàn, th́ lời vàng của chư Phật cũng không dạy
được. Nếu biết rơ niệm mà vô niệm, sanh mà vô sanh,
th́ phiền năo tức Bồ đề, một tướng trang nghiêm nhân
đây mà có thể ngộ được.
Cũng như
đàn ong ở đỉnh núi đem về pḥng vẫn cho mật tốt; bảy
báu để trong giếng dơ đem lên không thể bỏ, mà không
cho là của quư? Sự quư báu gốc vốn nó đă có đủ,
không phải đợi đến bây giờ mới có. Chúng ta hăy xem
xét khắp tất cả chỗ mà ta duyên đến đều thấy đức Như
Lai th́ những thứ tham, sân, si làm sao sanh ra c̣n
được?
Trong Kinh
Như Lai Tạng dạy: 'Ta dùng Phật nhăn xem tất cả
chúng sanh trong tham, sân, si và các thứ phiền năo
đều có trí Như lai, mắt Như lai, thân Như lai đang
kiết già an ngồi, nghiễm nhiên chẳng động; cho đến
đầy đủ các đức tướng như ta không khác ǵ? Dùng chín
thí dụ để rộng nói rằng, tất cả chúng sanh đều có
Như lai Tạng. Trong lời giải thích bài tạng của luận
Thật Tánh dạy: 'Trong cành hoa héo có chư Phật,
trong thùng phẩn có vàng ṿng, trong đất có tạng
trân bảo, trong các trái củ có mầm non, trong chiếc
áo rách có tượng vàng ṛng, trong người con gái
nghèo xấu có mang chuyển luân vương, trong đám bùn
lầy có bảo tượng thượng diệu. Chúng sanh có đầy dẫy
các thứ tham, sân, si, vọng tưởng phiền năo, nhưng
trong cái cảnh trần lao đều có Như lai Tạng'. Qua
chứng minh trên chứng tỏ rằng hiện ở trong Địa ngục
không có trở ngại ǵ cho việc thọ kư.
Hỏi:
Bậc chí nhân (chí tôn) khi dụng tâm là các thứ phan
duyên đều dứt hẳn, c̣n chúng sanh phóng tâm chạy
theo duyên, đều thấy Như lai, chưa biết ở giáo lư
nào? Kinh điển nào?
Đáp:
Trong giáo lư có dạy: 'Người khởi tâm duyên khắp sáu
trần, ba nghiệp nhưng phát diệu nguyện vào cảnh giới
Phật, mỗi thứ duyên khởi không ĺa Như lai gọi là
thấy tất cả, chỗ thấy viên măn này không phải do mắt
mà thấy được.
Kinh Niết
Bàn dạy: 'Thanh văn có Thiên nhăn được coi là Nhục
Nhăn (mắt thịt), người học Đại thừa lấy nhục nhăn
(mắt thịt) làm Phật nhăn v́ hiểu rơ thân ḿnh có
Phật tánh'.
Kinh Thắng
Thiên Vương dạy: 'Các Đại Bồ tát dùng sức phương
tiện thực hành Bát Nhă Ba La Mật, đối với tất cả
pháp, tâm duyên tự tại. Duyên tất cả sắc nguyện được
Phật sắc không chỗ được. Duyên theo các tiếng nguyện
được vi diệu âm thinh của Như lai. Duyên các thứ
hương nguyện được thanh tịnh giới hương của Như lai.
Duyên các mùi vị nguyện được vị đệ nhất Trượng Phu
Tướng của Như Lai. Duyên các sự xúc chạm nguyện được
bàn tay mềm mại của Như lai. Duyên các pháp nguyện
được tâm tịch tịnh của Như lai. Duyên thân nguyện
được thân Phật. Duyên khẩu nguyện được Phật khẩu.
Duyên ư nguyện được ư b́nh đẳng của Như lai. Đại Bồ
tát thực hành Bát Nhă Ba La Mật không có một tâm một
hạnh nào luống qua mà không hướng vào Nhất thiết
Chủng trí, duyên khắp các pháp mà không chấp trước.
Quán thấy các pháp đều hướng về đạo Bồ đề; Bồ tát tu
tập các hạnh đều do ngoại duyên mà thành lập, cũng
như quả đất, trên đó nếu muốn đào ao, đào giếng liền
có nước mà dùng, nếu không chịu đào, không làm sao
mà có được nước? Cảnh giới thánh trí cũng thế, trùm
khắp tất cả pháp, nếu người nào siêng năng tu Bát
Nhă Phương Tiện th́ sẽ được Thắng trí Bát nhă, nếu
không chịu tu th́ làm sao có thể đạt được?
5.
Quán không, vô ngă chọn việc thiện mà theo.
Hỏi:
Tức phàm là thánh đều là vô ngă. Như thế vô ngă của
Tam giáo tức không khác, nghĩa ấy thế nào?
Đáp:
Tên của Tam giáo ban đầu đă không khác lư lại chẳng
đồng. Đức Phu Tử (Trọng Ni) ở trong Tứ Tuyệt có nói
đến Vô Ngă là ư khiêm nhường; Đạo Lăo nói vô ngă là
nói thời gian dài không có chủ; C̣n Đạo Phật nói vô
ngă là quán năm uẩn đều không.
Khổng giáo
và Lăo Giáo đều không hiểu rơ ngũ uẩn th́ làm sao
hiểu được Tứ Đế, Lục Độ Vạn Hạnh. Nói ǵ đến giai
cấp. Thánh Hiền tuyệt nhiên chưa nghe, nên kẻ sĩ tu
tâm cần phải chọn việc tốt nhất mà theo đó.
V́ việc Bất
thiện (chẳng lành) không ích lợi đối với chí chơn,
không ghi và quên luôn cả thiện và ác, làm trở ngại
cho Phật Pháp, đâu không phải từ đó mà ra nên Thánh
Nhân đơn giản (bỏ) mà không lấy. Niệm Phật Tam Muội
là bậc thiện tối thượng, là đầu của muôn hạnh, nên
gọi là vua Tam Muội.
6. Không chọn thiện không
bỏ ác
Hỏi: Nếu chọn thiện để
theo v́ sao không chọn cái thiện của Chư Phật và bỏ
cái ác của chúng sanh?
Đáp: Không cần đổi câu
hỏi lại, cũng thành câu đối đáp. V́ sao, v́ chọn
thiện mà theo th́ bao hàm cái ác mà thiện, tức vọng
mà chơn. Nếu có thể niệm Ông Phật ở vị lai, nói cái
sanh của Bồ Tát Thường Bất Khinh th́ trời đất là
một, muôn vật là một lông ngựa vậy.
Chúng sanh đều là Phật nên cơi
này thường thanh tịnh, khác nào Ngài Xá Lợi Phất xem
cơi này là đá, cát, ngói, gạch, đồng với cơi trân
bảo trang nghiêm của Phạm Vương, v́ vậy chọn chỗ chí
thiện là không ai có thể bỏ.
Kinh Pháp Hoa nói rơ diệu ư
tuyệt đối đăi: ‘Chúng sanh thấy kiếp cuối, khi lửa
lớn thiêu đốt, cơi ta đây yên ổn, trời người rất
sung túc, lầu nhà và vườn rừng, các thứ báu trang
nghiêm’.
Trong Kinh Thắng Thiên Vương
nói: ‘Chỗ Phật ở thật không phải cơi uế, v́ chúng
sanh phước mỏng nên thấy có bất tịnh’. Phàm năng lực
mạnh mẽ của Tam Muội, không thể dùng vọng tưởng muỗi
rệp (nhỏ nhít) mà có thể phá hoại. Gơ hồng chung
niệm mười niệm không gián đoạn, đối với tán tâm niệm
Phật có sai khác rất rơ. Niệm Phật A Di Đà là niệm
chung cả Chư Phật trong ba đời, niệm Chư Phật Bồ Tát
cũng như vậy. Luận Đại Thừa Khởi Tín dạy: ‘Y cứ vào
một hướng nên bị lầm chuyển (Tây cho là Nam) sự thật
phương hướng không có đổi. V́ thế, biết rơ được một
phương là các phương khác đều đúng, niệm một vị Phật
là Chư Phật hiện tiền. Đây chính là yếu nghĩa của
Pháp Môn Đại Thừa vậy.
7. Không thể ăn thịt tất cả
chúng sanh
Hỏi : Thịt là thứ để
cho người ăn, người niệm Phật cấm tuyệt là ư ǵ ?
Đáp : Quốc Vương Thi Tỳ
xă thân cứu con vịt đem toàn thân cân mới bằng,
người và cầm thú tuy khác, nhưng đều tham sống sợ
chết, nên đâu có thể ăn thịt nó, dùng béo thân ḿnh
để hại mạng nó đâu chẳng đáng sợ sao ? Nếu biết rằng
chúng sanh là Phật vị lai, th́ ai nở dùng dao giết
hại mạng chúng!
Kinh Thủ Lăng Nghiêm có bài
kệ: 'V́ lợi giết chúng sanh, v́ tiền lưới các vật.
Hai món đều nghiệp ác, chết vào ngục kêu than'. V́
thế, Phật dạy nếu đem tiền của bố thí th́ kẻ lưới
thú và những người làm hàng thịt tự nhiên không có.
V́ vậy, Tổ Long Thọ không khinh chim nhỏ, bậc cao
tăng không dám đạp trùng kiến. Nếu có người hỏi việc
này ta có thể đáp: Các chúng sanh lớn nhỏ cùng với
ta đồng ở trong bể sanh tử, các chúng sanh kia hoặc
có kẻ thành chánh giác trước ta, đâu thể dám khinh
lờn. Khinh c̣n không được, huống ǵ ăn máu thịt của
chúng.
Luận B |