Phật giáo vốn coi cuộc đời là vô thường và vạn vật
là giả huyễn (chỉ như bóng trong gương, ảnh nơi đáy
nước, không thật có). Có sinh thời có tử, có hợp
thời có tan, có thành trụ thời có hoại diệt! Đó là
nguyên lư thường hằng, không bao giờ thay đổi! Nhiều
người lên án quan niệm của Phật giáo bi quan, yếm
thế v́ thường giải thích các sự kiện cuộc sống bằng
thuyến nhân quả, luân hồi, nhân duyên và các yếu tố
vô thường, qua đó chư vị hướng dẫn tâm linh Phật
Giáo khuyên tín đồ của ḿnh chịu nhẫn nhục, an phận.
Họ c̣n cho rằng giáo lư Phật giáo chỉ có mục đích ru
ngủ con người! Nếu quan niệm như vậy th́ hoàn toàn
sai lầm, không hiểu giáo lư Phật Thừa! Phật giáo rất
tích cực tiến thủ trong cuộc sống, người Phật tử
thuần thành sống từng giây từng phút trong tỉnh thức,
không sao nhăng, không bỏ phí thời gian để hướng
thượng, xây dựng, phục vụ chúng sinh và hoàn thiện
hóa bản thân. Danh từ chỉ hành động hướng thượng này
chính là Tinh Tấn và hành Bồ Tát Đạo! Mỗi chúng sinh
luôn luôn phải tinh tấn tu học, để thoát ra khỏi bể
khổ nguồn mê, thoát ra khỏi sinh tử luân hồi, để cầu
Phật quả!
Chính v́ lẽ ấy, người Phật tử tin tưởng vào ḍng
sinh mệnh dài vô tận, thời gian sinh sống tại thế
gian chỉ là những chặng đường để họ học hỏi, tu tập,
hoàn thiện hóa cho đến khi giác ngộ hoàn toàn! Nếu
sự sinh ra đánh dấu khởi điểm một cuộc hành tŕnh,
th́ cái chết chỉ cho sự hoàn măn cuộc hành tŕnh kia,
để rồi sau đó lại bắt đầu cuộc hành tŕnh mới, cuối
cùng đắc Nhất Thiết Trí (thành Phật), hóa độ chúng
sinh và nhập diệt vào niết bàn tịch tịnh!
Hoà Thượng Quảng Độ đă có bài thơ Giấc Mơ Sinh Tử
như sau:
Cuộc đời như một giấc mơ
Tỉnh ra mái tóc bạc phơ trên đầu
Tít mù xanh thẳm hàng dâu
Gió tung cát bụi biết đâu lối về
Sống là thật hay là ảo mộng?
Chết đau buồn hay chính thật yên vui?
Cứ hằng đêm tôi nghĩ măi không thôi
Chẳng biết nữa ḿnh sống hay là chết?
Hoàng lương nhất mộng phù du kiếp
Sinh tử bi hoan thuộc giác chi
Sống chết là cái chi chi?
Lư huyền nhiệm, ngàn xưa mấy ai từng biết
Có lẽ sống cũng là đang chết
Sống trong tôi và chết cũng trong tôi
Chết đeo mang từ lúc thai phôi
Đâu có phải đến nấm mồ mới chết
V́ lẽ ấy tôi không sợ chết
Vẫn ung dung sống chết từng giây
Nh́n cuộc đời sương tuyết khói mây
Ḷng thanh thản như chim hoang, người gỗ
Giữa biển trầm luân, gió dồi sóng vỗ
Thân tùng kia xanh ngắt từng cao
Sống với chết nào khác chiêm bao
Lư nhất dị hào quang bất diệt
Cũng có lẽ, chết hẳn rồi mới biết
Sống đau buồn mà chết thật an vui
Xin đừng sợ chết ai ơi.
Khi đứa bé sinh ra, thường có bao nhiêu người vây
quanh để giúp đỡ! Các bác sĩ, y tá, bà mụ đỡ, người
cha và đương nhiên có bà mẹ... họ làm tất cả để bé
chào đời được an lành, để bé được bảo đảm vệ sinh và
mai sau có sức khỏe tốt!
Nhưng ít ai biết đến, khi người sắp ĺa đời cũng cần
sự giúp đỡ rất nhiều, lại nhiều hơn gấp bi so với sự
giúp đỡ hài nhi chào đời! Ngoài những giúp đỡ thể
xác như thuốc thang, chăm sóc, người hấp hối c̣n cần
sự giúp đỡ tâm linh vô cùng bức thiết. Thông thường
th́ sự việc sinh ly, tử biệt, khiến cho thân nhân
của người sắp mất đau đớn, mất b́nh tĩnh, khóc lóc,
vật vă, kêu réo... vv... Họ biết đâu chính những
hành động không sáng suốt này chỉ có hại, chứ không
có lợi ích ǵ cho tư lương lên đường của người sắp
ĺa thế gian kia!
Chúng tôi xin tŕnh bày các điểm chính yếu sau đây,
để Phật tử chúng ta có phản ứng đúng đắn khi gặp
trường hợp phải độ người hấp hối:
Câu hỏi 1: Người ta phải làm ǵ để giúp đỡ cho
người sắp ra đi?
1. Thân quyến phải tuyệt đối b́nh tĩnh, không
được kêu khóc ầm ĩ đển làm phiền đến người hấp hối.
Thân quyến phải hiểu rằng: Cái chết không chừa bất
cứ ai cả, nó rất b́nh thường, cái chết là một phần
của sự sống vậy! Khóc lóc cũng không thể lôi kéo
được người hấp hối sống lâu thêm được. Bối rối ầm ĩ
chỉ tạo cho thần thức của người hấp hối rối loạn, bi
lụy, và qua đó, có thể ảnh hưởng đến hậu kiếp của họ,
họ có thể sanh vào ba đường ác (Ngạ Quỷ, Súc Sanh và
Địa Ngục).
2. Người thân phải lập tức mời các vị Sư hướng dẫn
tâm linh tới, để quư Thầy, Cô có thể hướng dẫn, hộ
niệm hoặc trấn an người đang hấp hối! Nếu nơi nào xa
chùa quá, th́ mời ban hộ niệm của cộng đồng hoặc các
vị thiện tri thức có kinh nghiệm hướng dẫn đưa người
về cơi Phật! Nếu không thể mời được ai, th́ chính
người thân của người hấp hối phải b́nh tĩnh để giúp
đỡ họ ra đi trong thanh thản. Người thân nếu có khả
năng th́ đọc chú Đại Bi, chú Cát Tường, cầu an cho
tâm hồn người hấp hối được lắng đọng, hướng về điều
lành. Chú Đại Bi c̣n có khả năng xua đuổi ma quỷ đến
lôi kéo linh hồn người sắp ra đi! Nếu người thân
không có khả năng tụng kinh cầu an, chú Đại Bi, th́
nên dùng giọng từ ái kể lại cho người hấp hối, những
việc thiện đắc ư nhất của họ! Giống như khi xưa ngài
Xá Lợi Phất dùng cách này, nhắc lại cho ông Cấp Cô
Độc nghe chuyện ông ta đă hộ pháp, và cúng dường Kỳ
Viên cho Phật thuyết Pháp ra sao! Những lời nhắc nhở
này có tác dụng, giúp cho người sắp mất an tâm, phát
tâm hướng thiện, hướng thượng, quên bớt sự đau đớn
của thân xác, không khởi tâm sân giận, để phải sinh
vào ác đạo! Người thân cũng nên lắng nghe tâm nguyện
của họ, song nên hướng dẫn họ chỉ nên hướng tới tâm
nguyện thiện! Quan trọng nhất, toàn thể con cháu
phải niệm không gián đoạn sáu chữ Nam Mô A Di Đà
Phật! Khi người hấp hối sắp trút hơi thở cuối cùng,
th́ chuyển sang đồng đọc chín chữ Nam Mô Tiếp Dẫn
Đạo Sư A Di Đà Phật! Phải tụng chín chữ này măi,
tụng hàng giờ sau khi người thân đă ra đi!
3. Phương pháp khác có thể ứng dụng, là thỉnh những
cuốn băng casette do quư Thầy tụng Kinh A Di Đà,
tụng Chú Đại Bi, bật máy với âm thanh vừa đủ, để
người sắp ra đi nghe suốt ngày đêm.
4. Nếu người sắp mất là Phật tử thuần thành, họ có
thể giữ tâm thanh thản, không vọng loạn, và nhất tâm
tụng niệm sáu chữ Nam Mô A Di Đà Phật, hoặc Nam Mô
Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật! Họ nh́n vào ảnh, tượng
Phật A Di Đà, quán nguyện Ngài tới tiếp dẫn về Tây
Phương Cực Lạc! Nhưng sự hộ niệm cũng rất cần thiết!
Không c̣n ǵ quư giá bằng sự ra đi êm ái của một
người với nụ cười trên môi, và trong tiếng hộ niệm
vang đều của quư Thầy, Cô và thân bằng quyến thuộc!
Câu hỏi 2: Người ta phải làm những ǵ sau khi
người hấp hối trút hơi thở cuối cùng?
Khi người hấp hối đă trút hơi thở cuối cùng,
người thân cần làm ngay những công việc sau:
1) Đặt thi thể nằm ngay ngắn lại, tránh xê dịch quá
nhiều, không được thay quần áo hoặc tắm rửa, kỳ cọ
nặng tay trong ṿng 12 tiếng đồng hồ.
2) Vuốt mắt để gương mặt người quá cố được an tịnh!
3) Dùng khăn sạch ấm lau sơ gương mặt, bỏ răng giả
(nếu có) đă rửa sạch vào miệng người mất, nắn nhẹ
cho miệng khép kín! Có nhiều trường hợp người mất
không ngậm miệng, người ta phải dùng miếng vải hoặc
tấm khăn buộc chằng từ càm lên đỉnh đầu để miệng
khép kín! Nếu miệng của tử thi đến khi liệm vẫn
không khép kín, theo kinh nghiệm dân gian, người ta
có thể dùng 7 miếng vàng nhỏ, 7 hạt nếp và một miếng
ngọc bích nhỏ bỏ vào miệng, nếu người quá cố là đàn
ông. Hoặc 9 miếng vàng nhỏ, 9 hạt nếp và một miếng
ngọc bích nhỏ cho đàn bà... miệng người quá cố sẽ từ
từ tự ngậm lại! Có người bỏ tượng Phật, ảnh Phật nhỏ
hoặc mảnh giấy viết câu thần chú Um Ma Ni Pat Me Hum
vào miệng tử thi.
4) Đặt hai bàn tay người vừa mất chắp trên bụng họ,
hăy dùng một xâu chuỗi niệm Phật đặt ṿng giữa hai
bàn tay của người ấy giống như khi c̣n sống họ
thường lần tràng hạt vậy.
5)Trong pḥng đặt thi thể của người quá cố phải an
tịnh, không được có tiếng khóc than, chỉ có tiếng
niệm Phật của quư Tăng, Ni và thân nhân của người
quá cố, bằng tâm thiết tha quán tưởng đến Tây Phương
Cực Lạc của đức Phật A Di Đà, đến Tây Phương Tam
Thánh (Phật A Di Đà, Quán Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí
Bồ Tát). Nếu không có cách nào hơn, có thể mở máy
cassette tụng kinh Phật, đặt trong Linh Đường (pḥng
để xác), nhưng cách này không được tốt bằng tụng
trực tiếp như tŕnh bày ở trên.
5. Sau khi người ta trút hơi thở cuối cùng, thần
thức, linh hồn người đó c̣n ở lại trong thân thể một
thời gian, có thể vài tiếng đồng hồ đến 3, 4 ngày!
Chính v́ vậy, người đó dù không c̣n sống, không nói,
không thở nữa, nhưng vẫn nghe được, hiểu được những
việc xảy ra xung quanh! Không được làm ǵ nặng tay
để gây đau đớn, và sân giận cho họ, trong suốt thời
gian này. Thân nhân phải cố gắng tránh cho người vừa
mất, phải chịu cận tử nghiệp (nghiệp tạo ra trước
khi thần thức rời khỏi thân xác) xấu. Tại v́ cận tử
nghiệp vô cùng quan trọng cho hương linh. Nếu cận tử
nghiệp tốt (được khai thị bởi chân thiện tri thức,
chợt hiểu ra được lẽ huyền vi sống chết, tâm không
tham luyến, trí không điên đảo, buông bỏ tất cả),
hương linh có thể từ phàm chuyển nên thánh. C̣n cận
tử nghiệp xấu, hương linh sẽ bị sa vào ba đường ác
(Địa Ngục, Ngạ Quỷ, Súc Sanh), hoặc nếu được sinh
vào cơi người, cũng là người ngu si, sân hận, bệnh
hoạn, khốn khó trong hậu kiếp. Theo kinh nghiệm của
Cổ Đức, người thiện tri thức có thể sờ vào 6 chỗ sau
đây: 1) Đỉnh đầu, 2) Hai mắt, 3) Ngực nơi trái tim,
4) Lỗ rốn nơi bụng, 5) Hai đầu gối và 6) Gan bàn
chân! Đến khi 6 chỗ ấy đều lạnh ngắt như những chỗ
khác, th́ bấy giờ thần thức người đó mới thật sự rút
lui khỏi thể xác, các nghi lễ tẩm liệm có thể bắt
đầu. Có bài kệ rằng: Đỉnh đầu về cơi Phật; Xuất mắt
được lên Trời; Tim ấm, lại sinh Người; Bụng rốn làm
Ngạ Quỷ; Đầu gối đọa Súc Sinh; Bàn chân sa Địa Ngục!
Nghĩa là thần thức rút ra nơi đỉnh đầu, hơi ấm tụ
lại sau cùng nơi đó, người ấy được sinh về cơi Phật.
Hơi ấm xuất hiện cuối cùng ở mắt th́ linh hồn này
được sinh lên các cơi Trời hạnh phúc! Hơi ấm sau
cùng c̣n lại sau cùng ở trái tim, th́ thông thường
sau 49 ngày người ấy đi đầu thai làm Người trở lại
(cũng có trường hợp đầu thai ngay lập tức, hoặc ở
trong trạng thái linh hồn khá lâu)! Hơi ấm rút lui
cuối cùng ở lỗ rốn th́ người ấy sinh ra kiếp làm Ngạ
Quỷ đói khát. Thần thức xuất tại đầu gối th́ kẻ đó
bị đọa vào làm súc sinh! Và hơi nóng rút ra từ gan
bàn chân, linh hồn đó bị đọa vào địa ngục! Chư Tăng
khuyên chúng ta không nên sờ vào những chỗ đó của
người mới mất, v́ phàm phu chúng ta không đủ năng
lực đưa thần thức thoát ra ở những nơi cao như các
vị cao tăng, có thể v́ sự sờ mó ấy thần thức sẽ xuất
ra từ những chỗ xấu. Cho nên việc rước chư Tăng độ
người hấp hối vô cùng quan trọng.
6. Nếu thân nhân thấy người vừa mất được quư Thầy
cho biết, hơi nóng lưu lại cuối cùng ở đỉnh đầu, ở
mắt th́ hăy vui mừng, lạy tạ trời Phật, lạy thi thể,
rồi mở tiệc ăn mừng! Hai trường hợp này không cần
cầu siêu ǵ cả! Trường hợp thứ ba, thần thức ra từ
trái tim, phải tụng kinh Thủy Sám, tụng kinh Di Đà,
phóng sinh tạo phước cho linh hồn đó, cầu Quán Thế
Âm Bồ Tát tiếp dẫn người đó được sinh vào nơi gia
đ́nh tử tế, nơi thị thành phồn vinh, gần Chùa Chiền,
Chánh Pháp và các quốc gia tân tiến. Trường hợp thứ
tư và thứ năm phải tụng kinh Địa Tạng, để cầu Địa
Tạng Vương Bồ Tát cứu khỏi cảnh khổ Địa Ngục! Phải
mời nhiều Sư lập đàn cứu người đó thoát cảnh Ngạ
Quỷ. Thân nhân, con cháu phải tuyệt đối ăn chay,
tụng kinh, cầu nguyện liên tục đến 100 ngày! Cần nói
thêm, nếu thân nhân của hương linh làm điều thiện
(ấn tống kinh điển, mở cửa bố thí cho người nghèo,
lập đàn mời sư thuyết pháp, phóng sinh, xây chùa,
lập tháp...) và hồi hướng cho hương linh, hương linh
sẽ được hưởng một phần bảy công đức ấy.
Câu hỏi 3: Người ta phải làm ǵ khi tẩm liệm,
tống táng và cúng tế?
7. Khi tất cả 1 trong 6 chỗ như trên ở thi thể
người mất đă lạnh ngắt, có thể dùng nước thơm, ấm,
tắm rửa cho thi hài, thay quần áo sạch sẽ cho họ, và
tẩm liệm vào quan tài! Không nên dùng Nylon để tẩm
liệm, v́ sợ thi hài sẽ lâu phân hóa, nếu chôn xuống
đất! Nhiều nơi, người ta liệm bằng áo tràng của
Chùa, và có các Thầy làm phép, tŕ chú để ngừa tránh
ma quỷ lợi dụng thân xác của người chết, làm hại cho
con cháu.
8. Theo truyền thống Phật giáo, có thể Trà Tỳ, tức
hỏa táng thi thể, và nhặt xương tro cho vào b́nh sứ
để thờ trong Chùa, hay chôn xuống đất, hoặc rải
xuống biển, xuống sông đều được!
9. Trong tang lễ, tang gia tuyệt đối tránh sát sinh
súc vật để làm lễ ŕnh rang, chỉ nên cúng Hương Linh
bằng các món chay! Tại v́ sát sinh súc vật, linh hồn
người chết chịu hết nghiệp sát, đó là điều tai hại,
đại bất hiếu, đại bất nhân!
10. Khi cúng cho Hương Linh, thân nhân phải đọc câu
Thần Chú Án Nga Nga Nẳng Tam Bà Phạ Phiệt Nhựt Ra
Hồng trước tên tuổi, tên Hèm của Hương Linh để cơm
cúng biến thành Pháp thực th́ Hương Linh mới hưởng
được!
Tóm lại: Gia đ́nh có người sắp mất, phải tuyệt
đối b́nh tĩnh, không được khóc lóc kêu gào trước
giường người sắp mất, mời Sư, mời ban hộ niệm, chân
tâm cầu đức Phật A Di Đà tiếp dẫn! Hoặc để băng
cassette tụng Kinh suốt thời gian hấp hối và sau đó!
Không được di chuyển, đụng mạnh vào thi thể người
mất đến 12 giờ (đến khi tất cả đều lạnh)! Đặt tràng
hạt vào đôi tay chắp nghiêm trang trên bụng, an táng
hoặc hỏa táng, đều tẩm liệm thi hài trong tư thế ấy
(phải đặt đôi tay lên bụng họ, khi họ mới ĺa trần,
để quá lâu, xác cứng không dễ dàng để được nữa).
Không được sát sinh để cúng tế! Cầu siêu bằng kinh A
Di Đà (trừ trường hợp thần thức xuất ra từ gan bàn
chân, th́ phải tụng kinh Địa Tạng ngay) đến 49 ngày,
sau đó tụng kinh Địa Tạng cho đến 100 ngày, thời
gian này, con cháu nên ăn chay!
Mặc dù những điều trên đây c̣n có nhiều thiếu sót,
nhưng chúng tôi hy vọng có thể giúp cho tang gia
những điều cần thiết và bổ ích, cầu mong các Hương
Linh được hóa sanh nơi Liên Tŕ Cực Lạc của đấng Cha
Lành A Di Đà Phật, hoặc sinh về các cơi trời hạnh
phúc, hoặc sinh vào cơi người, với đầy đủ trí tuệ,
vật chất, hạnh phúc và sức khỏe trong vị lai kiếp!
Xin quư vị tiếp tay bổ xung và phổ biến bài viết
đến nhiều gia đ́nh khác, đây là cách tạo công đức,
phước báu vậy!
Nguyện đem công đức này, hướng về khắp tất cả, đệ
tử và chúng sinh, đều trọn thành Phật Đạo!
Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi A
Di Đà Phật
Thụy Sĩ, Mùa Thu PL 2547
Quảng Diệu, Trần Bảo Toàn
Bị chú:
Đây là việc làm nghiêm túc.
Trước khi viết bài này, chúng tôi đă nghiên cứu
nhiều tác phẩm Phật Học nói về sự chết một cách kỹ
càng. Sau khi viết xong, chúng tôi đă gửi đi xin các
Thiện Tri Thức (gồm nhiều Thầy và các chân thiện tri
thức tại gia) bổ xung và cho ư kiến. |