|
Lời người dịch
Trong suốt 49 năm hoằng pháp lợi sinh của Đức
Phật, từ bước đầu chuyển bánh xe pháp “Tứ diệu đế”
tại vườn Lộc Uyển độ năm anh em Kiều Trần Như, đến
phút cuối Niết bàn độ Tu Bạt Đà La. Với hơn 300 hội
thuyết pháp của bậc Đạo sư đă “khai quyền hiển thực”
hướng dẫn chúng sinh chuyển mê thành ngộ đạt tới
đích giải thoát. Đứng trên phương diện giáo dục Ngài
dạy chúng sinh theo phương pháp “Tứ tất đàn” để tùy
thuận căn cơ lợi độn, đưa con người trở về cội nguồn
chân tâm thường trụ thanh tịnh. Giáo pháp ngài
thuyết giảng được các bậc Đại Tổ sư chia thành mười
hai bộ Kinh, một trong mười hai bộ Kinh này có nền
giáo lư Tịnh độ. Một trong ba bộ Kinh “Vô vấn tự
thuyết” căn bản của Tịnh độ, đều từ kim khẩu của Đức
Phật ca ngợi tán thán vẻ đẹp kỳ diệu, công đức thù
thắng của cơi Tây phương. Đồng thời Ngài khuyên tất
cả chúng sinh nên phát nguyện niệm Phật cầu sinh Tây
phương. V́ sao? V́ pháp môn Tịnh độ là phương tiện
hàng đầu trong các phương tiện, liễu nghĩa nhất
trong các pháp liễu nghĩa, viên đốn trong các pháp
tối viên đốn. Không luận là hạng người nào, từ người
quê mùa chân lấm tay bùn đến hàng người trí thức, từ
tuổi trẻ thanh niên cho đến ông già bà cả, từ những
người bệnh cho
đến những người khỏe mạnh. Nếu ai có ḷng tin
sâu, nguyện thiết, hành chuyên sự lư thông suốt,
phát nguyện
văng sinh th́ nhất định đạt được mục đích.
Nói đến
những khổ đau trong thế gian này th́ không khổ ǵ
bằng khổ tử vong, đối với việc tử vong th́ mỗi chúng
ta ai ai cũng biết và không thể nào trốn tránh được,
v́ đó là định luật tự nhiên. Song, điều quan trọng
nhất vào giờ phút lâm chung là tâm niệm của mỗi
người. V́ tâm niệm cuối cùng đó sẽ tùy theo nghiệp
tạo tác lúc hiện tiền mà đầu thai vào các cơi. Đối
với người tu Tịnh độ ba món tư lương quan trọng nhất
là Tín, Hạnh, Nguyện. Nhưng điều tối quan trọng hơn
là vào giờ phút lâm chung làm sao phải giữ được tâm
niệm cầu sinh Tây phương, không nên quyến luyến con
cháu cho đến của cải tài sản để rồi tùy theo tâm
niệm luyến ái đó đánh mất nhân duyên trăm ngh́n kiếp
văng sinh Tịnh độ của chính ḿnh.
Nhận thấy
tập sách “Những vấn đề cần biết khi lâm chung” của
Pháp sư Thế Liễu soạn, có thể đáp ứng phần nào vấn
đề khúc mắc, sai lầm trong giờ phút lâm chung của
người Phật tử tại gia. Chúng tôi là hàng sơ cơ bước
vào đạo, đối với sở học c̣n non kém, nhưng được sống
trong môi trường tu học pháp môn Tịnh độ và tổ chức
các Khóa tu Phật thất. Nên chúng tôi mạo muội dịch
tập sách này từ chữ Hoa sang chữ Việt, để mong đóng
góp được phần nào trong việc hoằng dương Tịnh độ.
Trong quá
tŕnh soạn dịch chắc chắn sẽ có nhiều điều sai sót,
kính mong chư tôn đức từ bi chỉ dạy cho, để lần tái
bản được hoàn thiện hơn. Đồng thời cầu mong cho quư
vị đồng tu không nên chấp trước vào văn tự hẹp ḥi
mà điều thiết yếu y theo đó thực hành th́ nhất định
tránh được những sai
lầm vào giờ
phút lâm chung mà thành tựu việc liễu sinh
thoát tử, xa ĺa khổ năo, văng sinh Tịnh độ.
Nam mô
A
Di Đà Phật
Tâm An
LUẬN VỀ NGUYÊN TẮC NGƯỜI NIỆM PHẬT
LÂM CHUNG
CÓ ĐƯỢC VĂNG SINH HAY KHÔNG?
Đức Phật Thích Ca Mâu Ni ở thành Xá Vệ vườn trưởng
giả Cấp Cô Độc đă thuyết Kinh A Di Đà, Ngài ca ngợi
tán thán sự trang nghiêm của thế giới Cực Lạc, từ đó
khuyên đại chúng nên phát nguyện văng sinh Tây
phương trong Kinh nói: “Như ta ca ngợi tán thán cái
lợi công đức bất khả tư ngh́ của Phật A Di Đà, ở
phương Đông có A Súc Bệ Phật v.v... phương Nam có
Nhật Nguyệt Đăng Phật... phương Tây có Vô Lượng Thọ
Phật... hạ phương có Sư Tử Phật... các Ngài đều hiện
ra tướng lưỡi rộng dài, nói lời chân thật, khuyên
bảo chúng sinh nên một dạ tin kinh th́ công đức lớn
lao vô cùng, v́ tất cả các chư Phật đều luôn hộ tŕ
tưởng nhớ”. Điều này cho thấy rằng văng sinh Tịnh độ
là một nhân duyên lớn, mười phương chư Phật, đồng
nghe kinh và tán thán, phàm có sinh niềm tin, có
phát nguyện niệm Phật cầu sinh về cơi Cực Lạc th́
nhất định đều có thể văng sinh.
Hỏi:
Nếu nói rằng người niệm Phật đều
được văng sinh
Tây phương, th́ tại sao tôi thấy có
nhiều người tại
gia cũng như xuất gia b́nh thường niệm Phật
nguyện văng sinh Tịnh độ, nhưng đến phút lâm chung
th́ chết một cách mơ mơ hồ hồ
chẳng thấy mấy
ai chân thật văng sinh là v́ sao?
Đáp:
Đó là do người niệm Phật vào giờ phút lâm chung do
nhân duyên không đầy đủ. Nếu có đầy đủ nhân duyên
th́ nhất định sẽ được văng sinh.
Hỏi:
Thế nào
là nhân duyên?
Đáp:
Người
niệm Phật b́nh thường tin sâu nguyện thiết, niệm
Phật cầu sinh Tây phương, cho đến giờ phút lâm
chung vẫn giữ được tâm niệm đó, th́ đó là “nhân” tự
lực, tuy nhiên đối với người lúc b́nh thường chưa
biết tín nguyện niệm Phật cầu sinh Cực Lạc, nhưng
đến giờ phút sắp lâm chung may mắn gặp được thiện
hữu tri thức khai thị mới sinh tín nguyện, cầu sinh
Tây phương th́ đây cũng là “nhân” tự lực. Giáo chủ
Cực Lạc, là Đức Phật A Di Đà cùng với vạn đức hồng
danh, có thể khiến cho chúng sinh văng sinh Cực Lạc
đây là “Duyên” tha lực, và cho đến giờ phút lâm
chung gặp được thiện hữu trợ niệm và đây cũng chính
là “duyên” tha lực.
Hỏi:
Người niệm Phật đến lúc lâm chung đầy đủ nhân duyên
th́ có thể văng sinh Cực Lạc, xin giải thích rơ
nguyên tắc trên.
Đáp:
Người niệm Phật đến giờ phút lâm chung mà tin sâu
nguyện thiết niệm Phật là “duyên” tha lực, c̣n cái
tâm năng niệm Phật là “nhân” tự lực. Vào ngay lúc đó
dùng cái tâm năng niệm Phật mà niệm Đức Phật A Di Đà
th́ Đức Phật A Di Đà nhân cái tâm năng niệm mà hiển
hiện. Tâm năng niệm Phật lại nhờ sự hiển hiện cầu
Phật A Di Đà mà được thanh tịnh và ngay chính lúc đó,
khiến cho sự tự lực có sự cảm ứng đạo giao, chính sự
nhân duyên ḥa hợp này cho nên thành tựu việc văng
sinh. Đây chính là nguyên tắc “Nhân duyên” vậy.
Hỏi:
Người niệm Phật đến lúc lâm chung, mà nhân duyên
không đầy đủ th́ không thể văng sinh có đúng vậy
không?
Đáp:
Người niệm Phật b́nh thường tín nguyện có công phu
niệm Phật nhưng chưa thuần thục. Đến giờ phút lâm
chung tuy có tâm tín nguyện cầu sinh Tây phương (có
“nhân”) song bị bệnh khổ và các phiền năo khác bức
bách nên tâm niệm Phật không phát khởi, lại không
gặp được thiện hữu khai thị và trợ niệm (không “duyên”)
cộng với gia quyến không biết đạo lư, cứ khóc lóc,
thở than khiến trong tâm người niệm Phật khởi lên
nhiều phiền năo, chính sự khóc lóc đó là “duyên” làm
chướng ngại cho tâm niệm người văng sinh. Trường hợp
này gọi là có nhân nhưng không gặp thiện duyên nên
không thể văng sinh được.
Lại có người b́nh thường tín nguyện niệm Phật tha
thiết, đến giờ phút lâm chung được sự trợ duyên rất
tốt, lại gặp được thiện hữu tri thức khai thị và trợ
niệm (có “duyên”), cộng gia quyến không khóc lóc làm
xao động. Nhưng v́ tự tâm của người niệm Phật lại
sinh điên đảo, tham luyến thế gian, cho đến quyến
luyến con cháu, của cải, v́ thế không phát khởi tâm
nguyện cầu sinh Tây phương Cực Lạc (không “nhân”).
Bởi vậy theo tâm niệm ái dục mà đi đầu thai vào các
đường thiện ác. Đây gọi là có “duyên” mà không
“nhân” nên không thể văng sinh được.
Lại có người b́nh thường niệm Phật chỉ cầu cho gia
đ́nh b́nh an hạnh phúc thọ mệnh lâu dài v.v... Nhưng
do vào giờ phút lâm chung chỉ sợ chết, như có bệnh
mà chưa đến giai đoạn trầm trọng, tuy cũng có niệm
Phật nhưng chỉ muốn cầu bệnh mau lành, chứ không cầu
sinh Tây phương Cực Lạc (không “nhân”). Khi đến giai
đoạn bệnh trầm trọng, bấy giờ các khổ năo đau đớn
hiện hành không thể niệm Phật, chỉ than trời trách
đất, kêu mẹ gọi cha. Lại v́ gia quyến không tin Phật
pháp, hoặc có tin nhưng không hiểu rơ lư nghĩa Kinh
Phật, lại không gặp được thiện hữu khai thị và trợ
niệm (không “duyên”) đây là cả nhân lẫn duyên không
đầy đủ nên không thể văng sinh vậy.
Hỏi:
Người tu niệm Phật vào giờ phút lâm chung thế nào
gọi là đầy đủ nhân duyên có thể văng sinh Cực Lạc?
Đáp:
Như có hạng người có căn cơ rất lớn, lúc b́nh thường
hết sức tin sâu nguyện thiết niệm Phật, tín nguyện
lại tha thiết, công phu niệm Phật lại thuần thục,
đến giờ phút lâm chung không cần người trợ niệm, mà
tự họ có thể tín nguyện niệm Phật như b́nh thường,
không có một mảy may tưởng khổ vui... làm xao động,
mà niệm niệm luôn an trụ vào hồng danh, A DI ĐÀ PHẬT
v́ vậy trong Kinh A Di Đà Phật nói: “Nhất tâm bất
loạn, tức được văng sinh” là vậy (“nhân” của tâm
niệm tự lực cảm ứng với “duyên” cảnh giới của Phật)
đây là ư nghĩa đầy đủ nhân duyên vậy.
Lại có người b́nh thường tu niệm Phật tin sâu nguyện
thiết, nhưng công phu chưa thành thục, vào giờ phút
lâm chung, ḷng tín nguyện cầu sinh Tây phương lại
càng tha thiết, không bị các bệnh khổ hoặc nghiệp
chướng phiền năo làm dao động. Lại gặp được thiện
hữu tri thức khai thị, được sự trợ niệm. Nhờ thế nên
tâm của người bệnh niệm niệm an trụ vào nơi hồng
danh A Di Đà Phật mà được văng sinh. (“nhân” của tự
lực cộng “duyên” tha lực)
Lại có hạng người, b́nh thường không biết tín nguyện
niệm Phật cầu sinh Tây phương. Nhưng đến giờ phút
lâm chung lại gặp được thiện hữu tri thức khai thị,
nói đến sự vui sướng cùng sự trang nghiêm thanh tịnh
của thế giới Tây phương, và 48 lời nguyện tiếp dẫn
chúng sinh niệm Phật của Phật A Di Đà khiến cho tâm
người bệnh trở nên hoan hỷ, tâm sinh chánh tín niệm
Phật, phát nguyện văng sinh. Cho đến quyến thuộc
không khóc lóc hỏi han lại được sự trợ niệm mà người
bệnh được văng sinh.
Hỏi:
Người b́nh thường chưa biết tín nguyện niệm Phật,
đến giờ phút lâm chung, gặp được thiện hữu khai thị
sinh tâm hoan hỷ, tín nguyện, phát nguyện niệm Phật
cầu sinh Tây phương, cho đến gia quyến không khóc
lóc, lại được sự trợ niệm liền được văng sinh. Sự
việc trên nói sao mà dễ dàng như vậy?
Đáp:
Xin giải thích rơ sự việc người b́nh thường chưa tín
nguyện cầu sinh Tây phương là v́ không biết đến giờ
phút lâm chung được thiện hữu tri thức khai thị mà
sinh tâm hoan hỷ quyết định tín nguyện niệm Phật cầu
sinh Tây phương. Người này đời trước đă có căn duyên
là “nhân” thù thắng cộng thêm nhân thù thắng được sự
thiên hữu khai thị, và trợ niệm. Lại có nguyên lực
từ bi của Phật A Di Đà. Nhân duyên ḥa hợp lại, đến
giờ phút lâm chung nhất định được văng sinh, điều
này c̣n có thể nghi ngờ được hay sao?
Hỏi:
Chúng tôi là hàng Phật tử tại gia. Nếu đến giờ phút
lâm chung của thân nhân, đối với Phật pháp, chưa
từng biết, tuy có khai thị nhưng chẳng hiểu phương
pháp trợ niệm. Xin hỏi trong Kinh sách có dạy phương
pháp trợ niệm nào mà dễ hiểu, dễ học tập hay không?
Đáp:
Nếu chúng ta có tâm thành thật, muốn tu hạnh từ bi,
hiếu thuận, thương yêu những người quyến thuộc muốn
họ thoát khỏi khổ đau của luân hồi sinh tử, được
văng sinh về Tịnh độ xin chỉ cần y theo những điều
hướng dẫn dưới đây th́ nhất định thành tựu.
NHỮNG VIỆC MÀ GIA QUYẾN CỦA
NGƯỜI SẮP LÂM CHUNG CẦN CHÚ Ư
1.-
Cha mẹ là người có công sinh thành dưỡng dục v́ thế
chúng ta phải luôn hiếu thuận, c̣n đối với anh, chị,
em... là người cùng huyết thống nên phải thương yêu.
Như vậy thế nào được gọi là hiếu thuận, thương yêu,
thế nào được xem là bất hiếu, không hiếu thuận?
Người được gọi là hiếu thuận là thương yêu, trước
tiên người đó đối với mọi sự t́nh hết sức nhẫn nhịn
ḥa thuận, trên kính dưới nhường, biết chăm sóc quan
tâm, yêu thương giúp đỡ đối với gia quyến... bằng
ngược lại th́ được xem là đại ngỗ nghịch. Cách tốt
nhất là người này biết hướng dẫn gia quyến quy y Tam
Bảo, tu tập thiện pháp th́ lợi lạc vô cùng.
2.-
Theo Phật pháp đến giờ phút sắp lâm chung là giây
phút rất quan trọng của một kiếp người. Chúng ta là
gia quyến, đối với giây phút ngắn ngủi ấy nên đối xử
hết sức hiếu thuận và đầy ḷng thương yêu đối với họ,
dù họ có đ̣i hỏi hay yêu cầu bất kỳ việc ǵ nhất
nhất tùy thuận theo ư tứ của họ, không nên để tâm họ
sinh một mảy may phiền năo nào.
3.-
Khi có người thân sắp lâm chung, nếu có hội trợ niệm
nên mời họ đến. Lúc họ đến những người trong gia
quyến phải tuyệt đối tuân theo sự hướng dẫn của họ,
không nên có mảy may nào làm theo ư riêng của ḿnh.
Trường hợp những nơi không có ban trợ niệm th́ gia
quyến có thể tự trợ niệm cũng được, chỗ cốt yếu là
đúng theo Phật pháp. Điều quan trọng cần tuân theo
là làm ma chay không nên sát sinh mà làm tổn giảm
phước đức văng sinh của người niệm Phật. Nếu muốn
cho người vừa mất được sinh về cơi lành, điều tốt
nhất là gia quyến cùng nhau ăn chay trong thời gian
này. Khi bệnh họ trở nên nặng th́ chỉ lo trợ niệm,
tuyệt đối không nên cho uống nhân sâm hay thuốc bổ
hồi sinh v́ làm như vậy rất chướng ngại cho sự văng
sinh.
4.-
Phải biết rằng khi một người lâm chung họ sẽ theo
một trong bảy con đường sau đây: Ba đường dữ: Địa
ngục, ngạ quỷ, súc sinh. Ba đường lành: Trời, Người,
A tu la và một đường Thánh đạo là Tây phương Cực Lạc.
V́ vậy gia quyến nên nhận thức rằng chúng ta trợ
niệm là để cho người quá văng được văng sinh Cực Lạc
thọ hưởng sự vui sướng hạnh phúc. Nếu chúng ta khóc
lóc, kêu réo, thở than th́ làm cho họ rơi vào sáu
nẻo luân hồi chịu măi thống khổ.
5.-
Nên biết rằng trong kinh Phật dạy hết sức rơ ràng.
Nếu bị đọa lại vào ba đường dữ th́ thọ nhận sự khổ
đau không cùng tận. Nhất là cơi địa ngục, một ngày
một đêm ở đó người ta phải chịu chết đi sống lại
muôn vạn lần, c̣n cái khổ của ngạ quỷ kéo dài cả
trăm vạn kiếp, nước uống không thể được nói ǵ đến
việc ăn. Nếu lỡ rơi vào ba đường khổ này, th́ chịu
khổ ít nhất năm ngàn đại kiếp, mỗi một đại kiếp như
vậy có 34.384
vạn năm. Thật là một thời gian dài vô
cùng tận.
Ngược lại thân nhân được về Tây phương th́ mỗi ngày
đều được nghe Phật A Di Đà thuyết pháp, được gần Đại
Thế Chí Bồ Tát, Quan Âm Bồ Tát cùng các bậc Thánh
hiền, lại được thấy các sắc tướng trang nghiêm, được
nghe âm thanh thuyết pháp tuyệt diệu, ngoài ra c̣n
hưởng được nhiều điều hạnh phúc sung sướng khác.
6.-
Nếu người b́nh
thường đă có tâm nguyện niệm Phật cầu sinh
Tây phương điều này rất tốt. Bằng ngược lại th́
quyến thuộc nên v́ người bệnh mà thuyết giảng rơ
ràng: “Nếu đọa lạc vào ba đường ác th́ khổ năo vô
vàn, c̣n được sinh
về Tây phương
th́ rất an lạc, vĩnh viễn không đọa lạc vào
ba đường dữ, phước đức người sinh ở đó không thể
nghĩ bàn. Nên khai thị với họ rằng: “Nếu ông (bà)
phát tâm niệm danh hiệu A Di Đà Phật, tin sâu nguyện
thiết cầu sinh Tây phương. Đến giờ phút lâm chung,
Đức Phật tay cầm đài sen hiện ra trước mắt tiếp dẫn
văng sinh về Tây phương, nơi ấy được hưởng an vui
không hề c̣n sinh tử luân hồi. Nếu ông (bà) quyết
định niệm Phật th́ chắc chắn được văng sinh. Mỗi
ngày những người thân nhân nên v́ họ mà nhắc lại ba
lần như vậy, không nên nói nhanh hay gấp gáp mà từ
từ ḥa diệu chầm chậm khuyên họ. Điều quan trọng
chúng ta phải hiểu được tâm người bệnh, điều hết sức
e dè và ngần ngại là đừng để họ khởi tâm phiền năo.
Đối với trường hợp người bệnh đă có tin sâu nguyện
thiết niệm Phật, hăy để họ nằm yên, không nên hỏi
han, hay than khóc mà chỉ cần khuyên họ nhất tâm
niệm Phật, cầu sinh về Tây phương là được.
7.-
Nếu người bệnh có việc quan trọng cần nói cho quyến
thuộc nhưng do bệnh t́nh không thể. Do đó gia quyến
nên hiểu rơ tâm thức của họ đến trước họ hỏi họ cần
căn dặn điều ǵ hay không, trường hợp người bệnh tâm
thần quá mê muội th́ không nên hỏi han mà làm rối
loạn tâm ư của họ, làm họ mất đi chánh niệm (chánh
niệm là chỉ cho sự niệm Phật). C̣n đối với trường
hợp tâm thần người bệnh c̣n minh mẫn nên đến trước
họ mà nói rằng: “Hăy yên ḷng,
tất cả các việc
trong gia đ́nh đă có người đảm đang. Ông (bà)
(người lâm chung) hăy nhất tâm
niệm Phật cầu
sinh Tây phương”. Mỗi ngày nên v́
họ nói như vậy,
nếu tâm thức của họ ngày càng
trở nên mê mờ
chỉ cần chuyên môn trợ niệm cho họ.
8.-
Nếu có thân hữu bà con đến thăm viếng người bệnh,
trước tiên nên nói cho họ biết người sắp lâm chung
tâm niệm vô cùng quan trọng v́ vậy xin họ đừng nên
nói hay làm ǵ mà có thể chướng duyên cho vấn đề
văng sinh của người bệnh.
9.-
Nếu người bệnh do nghiệp chướng hiện tiền, không
hoan hỷ và chán ghét người niệm Phật, nghe người
trong nhà niệm Phật trong ḷng khó chịu, hoặc thấy
quỷ thần hiện đến dẫn dắt. Đây là do người đó nghiệp
chướng phát hiện, làm chướng ngại cho việc văng
sinh. V́ thế quyến thuộc nên v́ họ đến trước Phật
tiền niệm Phật sám hối thay thế cho họ, khiến họ
nghiệp chướng được tiêu trừ, văng sinh Tịnh độ. Ví
như năm ngoái có một cư sĩ mà mẹ cư sĩ này lâm bệnh
sắp chết. Người này thỉnh đoàn trợ niệm đến nhà trợ
niệm. Bà ta nghe niệm Phật, tâm lư khó chịu khởi lên
cho rằng những người trợ niệm tâm không chuyên chú.
Lúc bấy giờ có một vị cư sĩ quy y Sư phụ (tác giả)
biết được bà này do nghiệp chướng khởi đến nên đem
Kinh Địa Tạng đọc tụng sám hối thay thế hết sức
thành khẩn, lại v́ bà mà niệm Phật, khiến cho tâm bà
ta vô cùng hoan hỷ niệm Phật mà văng sinh Tịnh độ.
Phần trên có nói là đọc tụng Kinh Địa Tạng có thể
tiêu trừ nghiệp chướng oan gia, giả như không thể
đọc tụng được th́ chỉ niệm danh
hiệu của ngài
cũng có thể tiêu trừ nghiệp chướng. Lại có
một vị cư sĩ cha lâm bệnh lúc gần chết, thấy có một
người đàn bà và một con chó đến đ̣i mạng. Vị cư sĩ
này liền thay cha mà niệm Phật và sám hối, về sau
chẳng thấy h́nh ảnh trên đến nữa, mà ngược lại cha
cư sĩ lại thấy hai vị tăng đến trước ông mà nói rằng
“Đời trước ông làm trở ngại việc văng sinh của chúng
tôi, nên nay chúng tôi cũng làm ngăn trở việc văng
sinh của ông”. Một lần nữa cư sĩ này lại thay cha
tiếp tục sám hối niệm Phật, đồng thời cầu nguyện cho
hai vị tăng cũng như cha ḿnh được văng sinh. Nếu
trường hợp cha ông được văng sinh th́ sẽ trở lại trợ
giúp cho hai vị tăng được văng sinh để sám hối lỗi
lầm xưa kia ông đă tạo, khoảng một thời gian sau,
th́ cha vị cư sĩ này không c̣n thấy hai vị tăng đến
nữa. Sau cùng ông lại thấy một vị lăo tăng đến và
nói: “Ông đă được tiêu trừ tội chướng, trong ṿng
ba thất sẽ được văng sinh vào cấp thứ năm của chín
phẩm”. Lại nói tiếp: “Sở dĩ v́ ba thất là do con ông
biết đạo, trong ba thất đầu tức là 21 ngày, gia đ́nh
của ông trợ niệm rất nhiều cho ông, khi hết 21 ngày
th́ ông được văng sinh vào địa vị thứ năm của chín
phẩm hoa sen tức là Trung phẩm Trung sinh”. Hăy lấy
đó mà suy nghĩ kỹ, quyến thuộc chỉ thay thế người
bệnh sám hối và niệm Phật, hoặc đọc tụng Kinh Địa
Tạng, hoặc niệm danh hiệu A Di Đà Phật mà có công
năng như vậy.
10.-
Nếu người bệnh sắp đến giờ phút tắt thở và đă có
nhiều người trợ niệm, quyến thuộc nên đến trước bàn
Phật, hoặc quỳ, hoặc đứng niệm một cách chí thành
khẩn thiết cầu Phật từ bi tiếp độ hương hồn của
người quá văng được về Tịnh độ. Nếu người trợ niệm
quá ít hoặc chẳng có th́ thân nhân nên đến bên cạnh
người bệnh mà niệm Phật, tuyệt đối không nên đứng
đối diện trước mặt người bệnh. V́ sao? V́ chính thời
điểm này, nếu người thân thấy được bệnh nhân khó mà
tránh được khóc lóc, thương yêu, làm phương hại cho
chánh niệm của người bệnh. Tốt nhất là thân nhân nên
đứng hai bên, hoặc ngồi phía sau bệnh nhân, cố gắng
niệm Phật, tuyệt đối là không được khóc lóc, kêu réo.
Nếu bệnh nhân nghe được liền khởi sự luyến ái, đau
thương buồn rầu làm mất đi chánh niệm niệm Phật. Nếu
mất chánh niệm rồi th́ chắc chắn không được văng
sinh Tây phương. Vậy vào giây phút này, chúng ta là
những người thân nhân nên hết sức cẩn thận, hết sức
chú ư, tuyệt đối không được khóc than mà nên lớn
tiếng niệm Phật, từng câu, từng chữ thật rơ ràng.
Nhờ vào sự trợ niệm của thân nhân cộng với bi nguyện
của Phật A Di Đà sẽ gia hộ cho người bệnh thân tâm
an lạc chánh niệm rơ ràng, nhanh chóng văng sinh Tây
phương.
11.-
Sau khi người chết đă tắt hơi thở, nhưng thi thể
chưa hoàn toàn lạnh hẳn. Th́ quyến thuộc nên tiếp
tục lớn tiếng niệm Phật trợ niệm cho vong nhân,
không nên khóc lóc. Đồng thời không để ruồi muỗi đậu
lên thi thể, v́ lúc này thần thức chưa rời khỏi thể
xác, giả sử có một vật ǵ chạm vào thân thể th́ họ
cảm thấy đau đớn vô cùng. Có một số người thường hay
khám xét thân thể người chết để xem thử người bệnh
sẽ đi về đâu, điều này không có lợi ích ǵ mà có hại
rất lớn đối với người chết. Vào giây phút quan trọng
này, đối với gia quyến nên thỉnh ban hộ niệm đến trợ
giúp, nếu họ chưa đến kịp nên y theo phương pháp trợ
niệm mà thực hành, trường hợp họ đến rồi nên tuân
theo mọi sự chỉ giáo của họ, không nên tùy tiện làm
theo ư kiến riêng tư. Tuyệt đối đừng nên tuân theo
những tập tục mê tín vô căn cứ của thế gian. Họ
thường nói: “Phàm là người chết thi thể c̣n nóng,
khớp xương c̣n mềm mại nên thay y phục cho họ.” Lại
có quan niệm cho rằng, nếu người chết rồi lo liệm
ngay nếu không sẽ mắc nợ miên sàng. Lại một quan
niệm là người nhà mất là phải khóc lớn để đẩy lùi
hung khí, trên đây là những quan niệm mê tín, tương
truyền cho đến ngày nay, nó có hại cho người thân
chúng ta. Chính nó đă khiến cho nhiều người quyến
thuộc chúng ta khi mất phải chịu oan uổng nhiều khổ
năo, để rồi phải rơi vào ba đường ác đạo: địa ngục,
ngạ quỷ, súc sinh.
Xưa có một vị vua tên là A Kỳ Đạt b́nh sinh tin
phụng Phật pháp bố thí xây dựng chùa tháp công đức
to lớn vô cùng. Thế nhưng vào giờ phút lâm chung, vị
quan phục vụ cho ông nhân v́ nhiều ngày chưa ngủ,
tinh thần yếu đuối trong
khi hầu hạ cho
ông, vô t́nh lấy tay quạt mạnh vào người ông,
làm cho vị vua này cảm thấy đau đớn, tâm sinh sân
hận, sau khi thân thể rời khỏi thể xác v́ tâm sân
hận này mà thác sinh thành một con măng xà, có một
vị cao tăng biết được
những công đức
của vị vua này tạo tác, và có ḷng tin sâu
Tam Bảo, nên v́ măng xà thuyết pháp. Nhân v́ nghe
pháp được phước đức, ba ngày sau măng xà qua đời,
thần thức liền được sinh cơi trời. Lại một trường
hợp khác. Xưa có một đôi vợ
chồng, sống rất
thương yêu ḥa thuận, b́nh thường cũng tin
theo Phật pháp, ăn chay giữ giới. Một ngày nọ người
chồng bỗng nhiên qua đời. Người vợ vô cùng đau đớn
khóc than thảm thiết. Tuy thân thể người chồng đă
chết nhưng thần thức vẫn chưa rời khỏi thể xác, nghe
âm thanh than thở của vợ mà tâm ông sinh luyến ái,
sau khi thần thức rời khỏi thể xác. V́ tâm niệm
luyến ái đó ông liền hóa sinh thành một loại sâu
sống trong lỗ
mũi của bà. Một thời gian sau bà cảm thấy khó
chịu, phát hiện trong mũi ḿnh có con sâu nên muốn
lấy nó ra mà giết. Nhân đó có một vị cao tăng gọi bà
ta mà bảo: “Hăy thương xót chồng bà”. Bà ta kinh sợ
hỏi nhân duyên v́ sao? Vị tăng nói: “Chồng bà b́nh
thường giữ giới phụng tŕ Tam Bảo đáng lẽ phải sinh
thiên. Nhưng v́ do bà khóc lóc, làm cho tâm chồng bà
sinh luyến ái nên đọa làm con sâu sống trên thân bà
như vậy!”. Nghe nói như vậy bà thấy thương xót vô
cùng, thỉnh cầu vị tăng nên vị chồng bà mà nói pháp.
Nhân v́ nghe được Phật pháp, sau đó con sâu qua đời
được sinh về thiên giới.
Qua hai câu chuyện trên đều do Kinh nói
hoàn toàn có căn cứ. Đối với các tập tục cổ hủ
nói ra th́ hoàn
toàn không có bằng chứng. Chúng tôi nhân v́
chỗ mê tín dị đoan mà mạnh dạn nói ra sự thật miễn
sao cho người mất về sau không
c̣n đọa vào ba
đường ác nữa. V́ thế sau khi người
chết vừa qua
đời, thân thể chưa hoàn toàn lạnh
hẳn. Chúng ta
là người gia quyến, nhất định
không
được khóc lóc và chạm vào thân thể người mất. Điều
tốt nhất nên theo sự chỉ đạo của đoàn trợ niệm.
Trường hợp không có đoàn trợ niệm th́ gia quyến hết
sức cẩn thận và nhẹ nhàng êm dịu phải xem đến lúc
nào thi thể lạnh hẳn mới bắt đầu thay y phục tắm rửa
cho người mất.
TRỢ NIỆM VẤN ĐÁP
Hỏi:
Xin cho biết ư nghĩa của hai chữ “trợ niệm”?
Đáp:
Trợ: là giúp đỡ. Niệm: là chánh niệm, nghĩa là cùng
nhau hợp lại trợ giúp cho người lâm chung chánh niệm
hiện tiền.
Hỏi:
Thế nào là “chánh niệm”?
Đáp:
“Chánh niệm” hay nói đúng hơn là “Tịnh niệm” đều chỉ
cho tâm nhớ Phật và niệm Phật, không cùng lục trần
tiếp xúc, chính v́ nhân tâm niệm Phật nên dẫn đến
duyên tâm thanh tịnh, mà chính cái duyên thanh tịnh
dẫn đến văng sinh nên gọi là chánh niệm.
Hỏi:
V́ sao người lâm chung cần người khác trợ niệm?
Đáp:
Lúc con người đến giờ phút sắp lâm chung là lúc tứ
đại phân ly, các khổ năo bắt đầu bức bách, tay chân
co rút nên người xưa thường so sánh như cái khổ của
con cua rơi vào chảo nước sôi vậy. B́nh thường có
công phu niệm Phật nếu chưa thuần thục đến giờ phút
quan trọng này, ai mà không cần trợ giúp? B́nh
thường nếu người lâm chung có công phu niệm Phật
khoảng 6, 7 phần th́ đến giây phút này th́ sự dụng
công cao lắm là 2, 3 phần thôi. Hà huống ǵ là người
b́nh thường không có công phu lại không cần trợ niệm
hay sao? Chỗ cần hiểu là người lúc lâm chung chỉ có
mảy may làm chủ chính ḿnh, mà hoàn toàn nương theo
sự trợ giúp của người khác niệm Phật.
Hỏi:
Khi người bệnh đă tắt thở rồi v́ sao người trợ niệm
cần phải niệm Phật?
Đáp:
Bởi v́ tuy người bệnh đă chết, tuy hơi thở không
c̣n, song thần thức của người đó vẫn chưa hoàn toàn
ĺa khỏi thể xác, chỗ tái sinh của họ vẫn chưa được
quyết định, cho nên sự trợ giúp cho người mất niệm
Phật có công dụng vô cùng thù thắng. Chúng ta từ đời
vô thỉ kiếp đến nay đă tạo các ác nghiệp và thiện
nghiệp vô lượng vô biên, niệm ác này qua th́ niệm
thiện liền đến niệm niệm tương tục không gián đoạn,
niệm ác th́ chiếm phần lớn, c̣n niệm thiện vô cùng
ít ỏi. Con người đến lúc lâm chung tâm niệm vô cùng
quan trọng, nếu khởi niệm ác th́ liền rơi vào ba
đường ác, c̣n khởi niệm thiện th́ cảnh giới thiện
hiện ra, sau đó tùy nơi mà sinh vào hoàn cảnh thiện.
Nếu người biết khởi tín tâm niệm Phật cầu sinh Tây
phương liền thấy Phật A Di Đà cùng thánh chúng hiện
ra tiếp dẫn, nhân đó mà được văng sinh Tịnh độ. Tóm
lại việc cốt yếu của việc trợ niệm là tạo cho người
lâm chung chánh niệm niệm Phật để văng sinh. Một khi
đă văng sinh th́ vĩnh viễn xa rời thế giới sinh tử
Ta Bà mà hưởng vô lượng sự vui sướng thù thắng ở Cực
Lạc. V́ vậy sự trợ niệm vào giờ phút lâm chung vô
cùng thù thắng.
VẤN ĐỀ NHẤT NIỆM VĂNG SINH
TÂY PHƯƠNG
Hỏi:
Thế giới Tây phương Cực Lạc xa đến
mười vạn ức cơi
Phật. Người lâm chung niệm Phật làm sao một
niệm mà văng sinh về đó được?
Đáp:
Người niệm Phật đến giờ phút lâm chung nhất niệm
văng sinh Tây phương. Nhân v́ ba sức mạnh không thể
nghĩ bàn.
Một là
Phật lực:
Đức Phật với ḷng đại từ, đại bi, cùng với 48 lời
nguyện nhiếp thọ chúng sinh tín nguyện niệm Phật
được văng sinh Tây phương.
Hai là
Tâm lực:
là sức nguyện của tâm tha thiết của chúng ta. Tâm
lực lại có ba nghĩa:
1.
Tâm thể:
Là bản thể thanh tịnh của tâm, tâm thể này cùng với
chư Phật không mảy may sai khác. Chỉ v́ chư Phật
thường thường giác ngộ không mê muội như chúng sinh,
ĺa trần hợp giác, tâm thanh tịnh, vốn đầy đủ vô
lượng công đức trí tuệ, chúng sinh th́ ngược lại
thường mê không ngộ, ĺa giác hợp trần, tâm đầy dẫy
nhơ nhớp, đầy đủ vô số phiền năo và nghiệp cảm. Nếu
chúng ta có thể phát khởi tâm niệm Phật, th́ giờ
phút niệm Phật ấy là ĺa mê mà quay về tịnh giác,
tức là hiệp giác.
Lúc đó vô lượng các phiền năo và nghiệp cảm trở nên
thanh tịnh, khiến phát sinh vô lượng công đức và trí
tuệ, tâm thể niệm Phật trở nên đồng với tâm thể của
Phật. Cho nên cổ đức có nói rằng: “Nhất niệm tương
ứng nhất niệm Phật. Niệm niệm tương ứng niệm niệm
Phật”. Vậy Thánh nhân và phàm phu đồng một tâm thể,
chư Phật và chúng sinh cũng vậy, niệm Phật là thành
Phật, ví như việc nấu gạo là thành cơm vậy, đây là
nói về sự.
2.
Tâm lượng:
tâm lượng th́ rộng lớn vô biên. Trong Kinh có nói:
“Tâm bao quát cả thái hư, dung chứa vô lượng thế
giới”. V́ sao tâm lượng lại rộng lớn như vậy? Trong
Kinh có nói: “Trong vũ trụ không thể kể hết các thế
giới sát vi trần số thế giới của chư Phật. Một trong
các thế giới đó có một thế giới tên gọi là Phổ Chiếu
Sí Nhiên Bảo Quang Minh. Thế giới này lại có 20 cơi
thế giới, thế giới Ta Bà chúng ta cách thế giới Cực
Lạc 10 vạn ức cơi Phật. Khoảng cách này tương đồng
với tầng thứ 13 của thế giới Phổ Chiếu Sí Nhiên Bảo
Quang Minh so với Ta Bà thế giới. Điều này cho thấy
chỉ có một thế giới lớn lao như vậy, hà huống ǵ cả
sát na vi trần cơi nước của chư Phật lại lớn lao
biết chừng nào! Hằng hà các thế giới ở trong thái
hư, mà vũ trụ thường ở tại tâm lượng của mỗi người.
Điều này ta thấy tâm lượng của mỗi người rộng lớn vô
biên, hàm chứa cả vũ trụ và nhiều thế giới khác. Như
vậy đối với người niệm Phật vào giờ phút lâm chung
chỉ một niệm văng sinh Tây phương là điều hoàn toàn
không c̣n nghi ngờ.
3.
Tâm đầy đủ:
Một niệm của tâm đầy đủ mười pháp giới: Phật, Bồ
Tát, Duyên Giác, Thanh Văn, Trời, người, A tu la,
ngạ quỷ, súc sinh, địa ngục. Mười pháp giới này chỉ
trong một tâm niệm của chúng ta mà tạo thành nó. Nếu
tâm niệm tạo thập ác th́ rơi vào ba đường dữ, nếu
tạo tâm niệm thập thiện th́ rơi vào ba đường lành:
Trời, Người, A tu la. Nếu niệm Phật A Di Đà th́ về
với cơi Phật. V́ thế trong Kinh có nói: “Nếu tâm
nghĩ Phật th́ tâm là Phật”. Ta có thể đổi câu trên
lại: “Nếu tâm nhớ nghĩ chúng sinh th́ tâm là chúng
sinh”. Cho nên nếu tâm ta nghĩ Phật, nhớ Phật th́
làm Phật, tâm niệm Phật sẽ thành Phật vậy thôi. Chỗ
quan trọng là chúng ta phải biết được tâm thể chúng
ta vốn đầy đủ công đức trí tuệ như Phật. Nếu niệm
Phật th́ chắc chắn thành Phật. Đă hiểu được như vậy
th́ không c̣n nghi ngại ǵ cả. Tuy phân thành ba
loại như vậy nhưng ba tâm: tâm thể, tâm lượng và tâm
đầy đủ, không thể ĺa nhau mà có, mà chúng nương
nhau. Trong mỗi tâm đều có hai mặt hai tâm kia và
ngược lại, Do tâm có công dụng diệu ngộ như vậy nên
không thể nghĩ bàn được.
Ba là
pháp lực:
Là sự cảm ứng đạo giao không thể nghĩ bàn. Phàm là
người niệm phải tin sâu, nguyện thiết, hành chuyên,
cộng với ba lực: Phật lực, pháp lực, tâm lực chúng
sinh th́ hợp lại không thể nghĩ bàn.
Như vậy việc người lâm chung niệm Phật một niệm có
thể văng sinh Tây phương là điều không c̣n nghi ngờ
ǵ nữa.
NHỮNG ĐIỀU MÀ NGƯỜI TRỢ NIỆM
CẦN PHẢI BIẾT
1.-
Phát tâm trợ niệm giúp người khác được văng sinh Tây
phương là việc thay thế chư Phật rộng độ chúng sinh
thoát khỏi sinh tử luân hồi, là việc vô cùng lớn
lao. Công đức này không thể nghĩ bàn. V́ vậy phải
hết sức cẩn thận nếu không sẽ làm mất đi nhân duyên
văng sinh của người lâm chung! Xin hăy cẩn thận! Xin
hăy cẩn thận!
2.-
Khi đến nhà người lâm chung, trước tiên hăy mời toàn
thể gia quyến đến để nói cho họ biết đây là thời
điểm vô cùng quan trọng của người lâm chung. V́ họ
đang ở ngưỡng cửa của siêu thăng hay đọa lạc. Trách
nhiệm này là của toàn thể gia quyến, nếu gia quyến
muốn người lâm chung được siêu thăng không đọa lạc
th́ mỗi mỗi sự việc đều tuân thủ theo sự chỉ đạo của
ban hộ niệm, không được làm điều ǵ trái lại, đó là
việc để người lâm chung nhất định được văng sinh
Tịnh độ.
3.-
Khi vào trong pḥng người bệnh, ban hộ niệm phải có
thái độ thành khẩn, lời nói ôn ḥa, để người bệnh
nghe được tâm lư không hoài nghi. Trước tiên nên ôn
lại và tán thán những việc lành mà b́nh thường người
bệnh đă tạo, khiến cho tâm họ phát khởi sự hoan hỷ,
kế đến nói về công đức và bốn tám lời nguyện của
Phật A Di Đà, cùng cơi Cực Lạc vui sướng, làm cho
người bệnh sinh vui mừng và phát khởi chánh tín cầu
sinh Tây phương. Người trợ niệm nên xem người bệnh
như thể người quyến thuộc để có thể có tâm thành
khẩn tha thiết. Tuy nhiên, đời nay tuy không phải
quyến thuộc của họ mà có thể đời trước, hoặc nhiều
đời trước họ đă từng là quyến thuộc của chúng ta. V́
vậy trong Kinh Phạm Vơng có nói: “Tất cả người nam
là cha ta, tất cả người nữ là mẹ ta”, điều này bằng
con mắt phàm phu chúng ta trong đời sống hằng ngày
không thể nhận ra được, chớ hoàn toàn giữa ta và
người bệnh lại không có quan hệ hay sao?
4.-
Trong pḥng người bệnh, ngoại trừ người khai thị ra,
không để một lời nói hay một người nào ở lại, không
được nói chuyện tạp ǵ v́ khi họ nghe được làm phân
tâm, mất đi chánh niệm. Nếu như có bà con thân quyến
đến thăm nom th́ người trợ niệm nên hỏi họ: “Có phải
anh (chị) đến đây v́ trợ niệm hay không?”. Nếu họ
bảo phải th́ mời họ cùng trợ niệm. Bằng không th́
gia quyến phải nói rơ cho họ biết để khỏi mất ḷng,
nên mời họ đến pḥng khách tiếp đăi v́ khi người
bệnh thấy được họ chắc chắn sinh ra sự luyến ái làm
mất chánh niệm. Đây là trách nhiệm của người trợ
niệm, không nên v́ sợ mất ḷng, v́ làm chướng ngại
cho sự chánh niệm của bệnh nhân, làm mất đi khả năng
văng sinh Tây phương. Điều này là hoàn toàn trái với
bản hoài độ sinh của chư Phật, lại không thích hợp
với tôn chỉ của người trợ niệm.
5.-
Lúc trợ niệm hoặc niệm bốn chữ “A Di Đà Phật” hoặc
niệm sáu chữ “Nam mô A Di Đà Phật”. Niệm nhỏ hay
lớn, thấp hay cao nên hỏi qua người bệnh là tốt hơn
cả. Nếu như bệnh nhân bị cấm khẩu, vậy th́ không nên
niệm Phật quá nhanh, nếu nhanh th́ nghe không rơ
ràng, cũng không nên quá chậm v́ chậm sẽ gây nên hôn
trầm, cũng không nên quá cao, nếu cao th́ người trợ
niệm không thể tŕ niệm lâu dài và cuối cùng cũng
nên đừng thấp quá, nếu thấp quá sẽ nghe không rơ
ràng. V́ vậy người trợ niệm nên niệm không cao,
không thấp, không nhỏ cũng không to, mà nên niệm
từng câu, từng câu rơ ràng, từng chữ từng chữ khoan
thai, khiến cho thần thức người bệnh nghe từng chữ
từng câu rơ ràng. Niệm Phật như vậy mới là chân
chính trợ niệm. Không nên tùy tiện theo ư nghĩ riêng
mà niệm, lúc th́ cao, lúc th́ thấp, lúc nhanh lúc
chậm, trợ niệm như vậy th́ người bệnh không lợi ích
chi. Tóm lại, chúng ta phải hiểu rằng nguyên nhân
trợ niệm cho người lúc lâm chung v́ họ khí lực cạn
kiệt suy sụp không thể tự ḿnh khởi lên ư niệm nhân
duyên niệm Phật mà họ hoàn toàn nhờ vào sự trợ giúp
của tha nhân niệm hồng danh A Di Đà Phật. V́ vậy
chúng ta cần phải niệm rơ ràng, làm cho tâm người
bệnh, niệm niệm quay về an trú trong câu niệm Phật,
luôn luôn thấy rơ hết thảy sự việc, và luôn chánh
niệm. Niệm niệm tương tục không gián đoạn, đến lúc
lâm chung nhất niệm niệm Phật, liền được văng sinh.
Đây cũng là trách nhiệm chung của chúng ta thay thế
Đức Phật nhiếp độ chúng sinh thoát khỏi sinh tử luân
hồi.
6.-
Có khi trợ niệm trong một thời gian đă lâu, bỗng
nhiên người bệnh tinh thần trở nên tỉnh táo, hoặc có
thể nói chuyện, hoặc than thở, hoặc cơ thể có thể
hoạt động và nhiều dấu hiệu khác. Trong trường hợp
này người trợ niệm nên biết đây là dấu hiệu cho thấy
trong ṿng khoảng 2 giờ nữa họ sẽ tắt thở. Ví như
một ngọn đèn dầu, dầu trong đèn từ từ cạn th́ ánh
sáng cũng do đó từ từ mà tắt. Nhưng trước khi dầu
hoàn toàn hết th́ tự nhiên ngọn đèn bùng lên trong
giây lát rồi mới tắt. Thỉnh thoảng nghe nói có
trường hợp người bệnh như trên, v́ người trợ niệm
chưa có kinh nghiệm nhận thức nên ngừng việc trợ
niệm, trường hợp này hết sức nguy hiểm. V́ vậy chúng
ta là những người trợ niệm cần nhận thức rơ vấn đề
nêu trên.
7.-
Khi ban trợ niệm vừa mới đến nơi mà gặp trường hợp
bệnh nhân vừa mới tắt thở hoặc đă tắt thở trước đó
một, hai hoặc ba tiếng đồng hồ, người trợ niệm nên
biết đây là giây phút vô cùng quan trọng, tốt nhất
trước tiên lớn tiếng khai thị, sau đó mới bắt đầu
trợ niệm. V́ sau khi người bệnh tắt thở, không luận
là thân quyến có khóc hay là không, tâm họ luôn luôn
rối loạn. Nếu lớn tiếng khai thị tâm của họ, có thể
biết được do hai nguyên nhân sau :
1.- Tâm người bệnh có quy y (quy vào danh
hiệu Phật) nên
biến phiền năo thành chánh định.
2.- Cũng đă có phát nguyện cầu sinh Tây phương (tâm
vui vẻ nghe danh hiệu là có thể sinh Tây phương).
Người khai thị nên lớn tiếng hướng dẫn họ như sau:
“Hỡi ông (bà) ǵ! Mọi chuyện lành dữ trong quá khứ
xin ông (bà) đừng nên suy nghĩ đến nữa, tài sản con
cháu trong nhà hăy nên xả bỏ, không nên mảy may một
niệm chạy theo, một ḷng niệm Phật A Di Đà để được
văng sinh sang cơi Cực Lạc. Tất cả chúng tôi sẽ niệm
Phật trợ niệm cho ông (bà), ông (bà) nên dồn hết tâm
lực nghe câu niệm Nam mô A Di Đà Phật. Hăy an trụ
vào đó mà văng sinh Cực Lạc”. Sau khi khai thị xong
là bắt đầu trợ niệm ngay. Nếu như người làm chung
b́nh thường có tín nguyện niệm Phật cầu văng sinh
Tây phương th́ nhất định được văng sinh Tây phương.
Nếu như b́nh thường có tín nguyện cầu sinh Tây
phương th́ nghe được danh hiệu trợ niệm th́ công đức
không thể nghĩ bàn. Như trong Kinh Địa Tạng có nói:
“Người nào lúc lâm chung, nghe được một danh hiệu
Phật, có thể tiêu trừ được trọng tội vô gián địa
ngục”. Cho nên người trợ niệm vào giây phút lâm
chung công đức niệm Phật thật lớn lao thay.
NHÂN QUẢ THÙ THẮNG CỦA NGƯỜI TRỢ NIỆM
Có nhân th́ có quả, có quả th́ tất phải có nhân.
Chúng ta nếu có thể phát tâm trợ niệm cho người vào
giờ phút lâm chung được văng sinh Tịnh độ th́ trong
tương lai đến giây phút lâm chung của chúng ta th́
tự nhiên có người phát tâm trợ niệm trở lại cho
chúng ta được văng sinh Cực Lạc. Chúng ta trợ niệm
cho người là nhân, niệm Phật khiến người lâm chung
được văng sinh Tịnh độ là duyên. Trong tương lai
người được chúng ta trợ niệm được văng sinh, đến lúc
lâm chung của chúng ta th́ nhất định họ sẽ theo Phật
A Di Đà cùng đến tiếp dẫn, đồng thời dùng thần lực
gia hộ cho chúng ta, khiến cho chúng ta không mất đi
chánh niệm mà được văng sinh Cực Lạc. Lại nữa,
thường thường chúng ta hay đi trợ niệm cho người
được văng sinh, do đó những đặc điểm lợi hại lúc lâm
chung, chúng ta thường biết rơ hơn ai hết, cho nên
trong tương lai đến
lúc lâm chung
của chúng ta nhất định chúng ta có
thể vận dụng
những kinh nghiệm hiểu biết đó
đúng theo pháp,
không để phát sinh bất kỳ một sự
việc nào làm
cản trở việc văng sinh của chúng ta.
Như chúng ta đă biết, Đức Phật sở dĩ xuất hiện ra
đời là độ |