|
LỜI GIỚI THIỆU: Cách
nay 7 hay 8 tháng, chúng tôi có dịp điện đàm với
Diệu Âm ở Úc Cả 2 chúng tôi đều đồng ư với nhau là
thời này trợ niệm đúng pháp theo Đại nguyện thứ 18
của đức Từ Phụ A Di Đà th́ người nguời đều văng sanh
hết. Chúng tôi có đưa ư kiến nhờ Diệu Âm viết một
loạt bài. Diệu Âm than quá bận, trao cho chúng loạt
bài này tùy nghi xử dụng. Loạt bài chúng tôi đăng
dưới cũng hợp với ư chúng tôi và xin cống hiến chư
liệt vị.
Cư Sĩ Tịnh Hải
Thư Khuyên Người Niệm Phật (IV/1)
Kính gởi cô Lệ
Tân,
Pháp
môn niệm Phật là pháp rất khó tin, như trong kinh
Phật nói là "nan tín
chi pháp"! Chính v́ thế, nói ra mà người ta
không tin tưởng là chuyện thường t́nh, không có ǵ
xa lạ. Nhưng một người nào đó vừa mới nghe nhắc đến
câu "A Di Đà Phật" mà phát tâm tu hành, ngày đêm cố
gắng chấp tŕ danh hiệu để niệm, một ḷng cầu nguyện
văng sanh th́ thật sự là đặc biệt, nhất định không
thể là người tầm thường. Những người này trong quá
khứ chắc chắn đă cúng dường vô số đức Phật mà chúng
ta không biết. Chính nhờ thiện căn vô cùng lớn đó
mới tạo tín tâm vào pháp môn một đời thành Phật này.
Nói như vậy, để cho cô Lệ Tân cùng quư cô bác đang
lập nhóm liên hữu ở thôn Cây Quân thấy rơ được rằng,
nếu chân thành niệm Phật, chí kính lễ Phật, với đầy
đủ niềm tin, tha thiết nguyện cầu văng sanh, th́ có
thể biết được thiện căn của ḿnh lớn lắm và xác định
vị trí của từng người ở Liên Tŕ Hải Hội. Niệm Phật
văng sanh về Cực Lạc, dự phần ở ao sen thất bảo là
điều chắc chắn, không thể sai lệch. Đây là lời Phật.
Người nào quyết ḷng theo đúng lời Phật dạy để tu
hành, th́ sự thành đạo ở ngay trong đời này. Diệu
Âm xin thành tâm chúc mừng tất cả quư đạo hữu.
Mấy vấn
đề của cô Lệ Tân đưa ra khá thực tế, rất hữu ích. Diệu
Âm sẽ cố gắng nêu ra đây một vài ư kiến cá nhân đă
học hỏi được, rồi xin tùy duyên nhận xét, chứ không
dám nhận lănh tiếng "chỉ bảo" như cô Lệ Tân nói đâu. Vấn
đề đầu tiên của cô Lệ Tân đưa ra có liên quan đến sự
tụng kinh cầu an, cầu siêu, cầu tiêu tai giải nạn,
tụng kinh báo hiếu mùa vu lan. Trong đó cô Lệ Tân
có đưa ra các bộ kinh Pháp-Hoa, kinh Địa-Tạng Bổn
Nguyện, kinh Đại Mục Kiền Liên báo hiếu v.v...
Đầu tiên,
Diệu Âm xin thưa rằng, tụng kinh, niệm Phật, niệm
chú, cầu sám... nào cũng tốt cả. Thành tâm tụng niệm
kinh điển của Phật đều có công đức, dùng công đức ấy
hồi hướng cho ông bà cha mẹ, cho vong linh và hồi
hướng cho chính ḿnh văng sanh đều được. Điểm chính
yếu là công đức tu hành, công đức lớn thành tựu lớn,
công đức nhỏ thành tựu nhỏ.
Chúng ta
muốn cứu độ vong linh, cứu độ cha mẹ, ông bà, hoặc
đi hộ niệm cho người khác, đều có sự đóng góp công
đức của chính ḿnh đă tu được mà hồi hướng cho họ.
Trong
kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn nguyện có nói, khi hồi
hướng công đức, th́ người tu hành hưởng được sáu
phần, c̣n người được hồi hướng hưởng một phần. Khi
cầu siêu, cầu an, cầu tiêu tai giải nạn... nếu công
đức của ḿnh lớn th́ vong linh được lợi ích lớn,
công đức của ḿnh nhỏ th́ họ được lợi ích nhỏ. Do đó,
khi lập đàn làm Phật sự, nếu càng được nhiều người
tham gia cầu nguyện th́ công đức hồi hướng càng lớn,
v́ nhờ sự đóng góp của nhiều người. Biết vậy rồi,
muốn hồi hướng công đức cho người thân, chúng ta nên
khuyên người trong gia đ́nh tham gia càng đông càng
tốt, vừa tỏ ḷng hiếu kính vừa tạo thêm công đức gởi
cho họ.
Trong
thư cô Lệ Tân có ư nghĩ rằng, cầu siêu th́ đọc kinh
Địa Tạng, cầu an th́ đọc Pháp Hoa, trả hiếu cha mẹ
th́ đọc kinh Mục Kiền Liên v.v.. Điều này không có
ǵ sai, v́ đọc tụng các kinh điển Phật đều có sự lợi
ích. Tuy nhiên, điểm chính yếu vẫn là công phu của
ḿnh. Nếu công phu thành thục th́ có thể nói rằng,
đọc kinh, niệm Phật, niệm chú nào cũng đều có quả
báo tốt. Nếu công phu không có, hoặc quá yếu th́ sự
cầu nguyện khó có lợi ích lớn.
Công phu
thành thục là người có ḷng thành kính và tinh tấn
chuyên tâm tu hành. Người có ḷng thành tín, có tâm
lễ kính, biết y giáo phụng hành, trường kỳ chuyên
tâm tu học th́ người đó sẽ dễ đạt đến công phu thành
thục. Người không thành tâm, tu hành không chuyên
nhất, thích ôm đồm nhiều thứ th́ thường chỉ thu lượm
những kiến thức bên lề, dễ biến thành vọng tưởng,
khó thâm nhập vào đạo pháp. Trong đó sự thành kính
là ch́a khóa khai đạo. Thành tất linh. Thành kính sẽ
được linh ứng. Đây là điều tối quan trọng chúng ta
cần nên chú ư.
Xin kể
ra đây một chuyện vừa mới xảy ra năm ngoái (2004) về
một sự linh ứng bất khả tư ngh́ cho cô bác nghe. Câu
chuyện do ông Lâm Tâm Nhuận, một thành viên trong
Ban-Trị-Sự hội Tịnh Tông ở Sydney Úc châu kể lại về
một sự có liên quan đến đứa cháu trai, con người anh
thứ tư của ông. Khi đó, người cháu trai 29 tuổi, có
vợ và một con mới 18 tháng, là nạn nhân trong một
tai nạn lưu thông khá nặng vào ngày 28/2/2004 tại Mă
lai.
Sau khi
bị tai nạn, người cháu của ông được đưa về bệnh viện
cấp cứu, nhưng đă bị chấn thương sọ năo, nên đă hoàn
toàn mê man bất tỉnh. Trong suốt ba ngày liền bác
sĩ Tây y và Đông y đều liên tục theo dơi và chữa trị,
nhưng sau cùng họ xác định rằng khó có hy vọng tỉnh
lại, và báo cho gia đ́nh biết rằng nạn nhân có thể
ra đi bất cứ lúc nào.
Biết
được bác sĩ đă vô phương cứu chữa, người anh của ông
quyết định đem con về nhà niệm Phật hộ niệm, việc
sống chết quyết ḷng giao trọn cho Phật Bồ tát gia
tŕ.
Cháu ông
được đưa về nhà và đặt nằm trong pḥng thờ Phật. Trước
thân thể bất động của con, người cha đă khai thị như
vầy:
- Con à, hiện tại, v́ một tai nạn xe mà khiến con bị
ảnh hưởng và lâm vào t́nh trạng vô cùng nguy kịch,
tánh mạng như chỉ mành treo chuông. Các bác sĩ ở
bệnh viện đều phải bó tay chịu thua, cho nên ba mới
đem con về đây niệm Phật. Nếu duyên thọ của con
chưa dứt, th́ hăy mau mau tỉnh dậy. Bằng ngược lại,
th́ ba đây v́ con mà niệm Phật, niệm cho đến khi nào
được đức Phật A Di Đà tới tiếp dẫn th́ con mới đi.
Bằng không, nếu có ai khác tới dụ dẫn con, con cũng
mặc kệ, nhất định không theo. Nhớ lời dặn ḍ của ba
và nương vào Phật mà liễu thoát sanh tử. Nhớ nhé!
Nhớ nhé!
Nói xong, anh của ông bắt đầu đem hết tâm
thành ra niệm từng câu Phật hiệu. Cả nhà cũng đều
dốc ḷng kiên tŕ thành tâm hộ niệm. Họ thành tâm
niệm Phật, khẩn thiết cầu Phật Bồ-tát gia bị. Tất cả
đều niệm Phật nhiếp tâm đến nỗi dường như quên cả
thời gian và thực tại bên ngoài. Họ cứ niệm măi,
niệm măi... không ngừng. Niệm cho đến sáng ngày thứ
ba, (nghĩa là thêm ba ngày nữa, tất cả là sáu ngày
trong
cảnh mê
man bất tỉnh), th́ đứa cháu ông tỉnh dậy, tỉnh hẳn
như người b́nh thường và có thể trở lại sở làm việc. Thật
bất khả tư ngh́!
Ai đă
cứu cháu của ông thoát cái chết. Ông viết tiếp:
-Tôi
hỏi đứa cháu: "Trong lúc hôn mê con có thấy ǵ đặc
biệt không? Con đă thấy ǵ, và đi đâu? Cháu tôi kể
ra hết, đặc biệt nó nói là nó đă thấy đức Quán Thế
Âm Bồ tát (giống y như bức Thánh dung mà ba mẹ đang
thờ trong nhà) nhưng cao lớn lạ thường. Ngài được
vây quanh bởi nhiều Thánh chúng, xuất gia có, tại
gia có, số lượng đông đến không thể kể hết.
Và đặc biệt trong số đó nó thấy có cả ông
nội nữa. Quán Thế Âm Bồ-tát tay cầm nhành dương
liễu đă rảy nước lên người con ba ṿng. Khi con vừa
chợt phát khởi lên ư gọi Ngài, th́ ngay lúc ấy con
đă tỉnh dậy".
Câu
chuyện này có thật sự, mới vừa xảy ra. Như vậy,
tụng kinh Địa Tạng Bổn Nguyện có thể giải nạn, th́
niệm Phật cũng được tiêu tai giải nạn...
Cũng
xin nói thêm là, người cháu có nhắc đến ông nội của
anh ta đă cùng đến với Quán Thế Âm Bồ tát,
đây chính là cụ Lâm-Đạo-Truyền đă văng sanh lúc 11
giờ 20, ngày rằm tháng 2 năm Giáp-Thân (2004), nghĩa
là trước đó không lâu. Cụ đă biết trước ngày ra đi
ba tháng và âm thầm chuẩn bị tất cả những gói quà
cùng tiền bạc chia phần cho từng người, nhưng việc
văng sanh th́ chỉ báo cho người nhà biết trước khi
ra đi 30 phút.
Cụ nói
cho người con trai trưởng biết rằng vào giờ phút đó
A Di Đà Phật sẽ tới tiếp dẫn, rồi cụ an nhiên nằm
theo thế kiết tường văng sanh, hưởng thọ 101 tuổi.
Đây là chuyện có thật.
Một
chuyện khác, vào tháng 7/2003, khi tôi về quê thăm
gia đ́nh. Trước đó một ngày có một người trong
làng vác cuốc ra đồng thăm ruộng, cô ta trượt chân
té xuống bờ ruộng rồi bất tỉnh. Khi đem đến bệnh
viện cấp cứu th́ bác sĩ cho biết bị chấn thương sọ
năo, và không thể cứu lại được.
Khi đem
về nhà cô vẫn chưa chết, rất nhiều người trong thôn
hàng ngày tới thăm, than thở chia buồn, con cháu
trong nhà th́ khóc lóc lu bù. Trong gia đ́nh có
người cháu trai cũng biết tu chút ít, có thiết lập
bàn thờ và tụng kinh Địa Tạng.
Khi tôi
tới thăm th́ thấy cô đó nằm bất động trên giường,
chỉ thấy c̣n thở nên biết chưa chết mà thôi. Tôi
khuyên mọi người nên niệm Phật hộ niệm cho cô, cầu
Phật Bồ tát gia tŕ, nếu mệnh đă dứt th́ được văng
sanh, nếu mệnh chưa dứt th́ được tỉnh lại. Thế
nhưng, không ai chịu nghe theo. Tôi nh́n thấy nước
mắt cô cứ trào ra lăn dài xuống má, những người
chung quanh phải thường xuyên chặm nước mắt cho cô
và khóc cùng với cô. Nh́n thấy cảnh tượng quá
thương tâm, nhưng tôi không có cách nào chuyển đổi
tâm ư của mọi người, không đủ sức giải cứu cho cô.
Phàm
con người ít ai chịu lo toan việc thoát nạn. Trong
lúc c̣n khỏe mạnh th́ buông lung, cứ nghĩ rằng đời
ḿnh c̣n xuân xanh, c̣n nhiều may mắn cớ chi phải lo
tu sớm. Đâu ngờ rằng, như cô đó, mới bước ra cửa
th́ không c̣n sức để bước trở vào, phải nhờ đến
người khác, đem cái vơng khiên xác về nhà, đặt trên
chiếc chơng tre, nằm đó bất động mà chờ cái giây
phút trút hơi thở cuối cùng.
Trước
phút lâm chung, nghiệp báo hiện hành, oan gia trái
chủ bủa vây trả thù, đ̣i nợ, chúng ngăn chận tất cả
các nẻo đường giải thoát, thẳng thắn ra tay chộp cổ
người thân của ḿnh lôi vào nơi khổ nạn mà không ai
hay!
Tôi biết
vậy, nhưng không biết cách nào để giải tỏa, không
biết nói sao cho người ta tin, không đủ sức giúp cô
xa lánh đường hiểm ác. Thật quá tội nghiệp! Tôi bước
ra ngoài, th́ ở hè trước có bày một bàn tiệc nhỏ,
với vài tách trà, vài chung rượu. Một vài người đàn
ông trong làng đang tṛ chuyện, rượu cũng đă thấm
môi, đă bắt đầu nói hơi lớn tiếng, có một vài lời
phát biểu không kiêng dè ǵ đến sự đau khổ của nạn
nhân đang đếm từng hơi thở để ra đi. Đứa cháu trai
th́ lâu lâu tới ngồi trước bàn thờ tụng một phẩm
kinh Địa Tạng. Tụng xong rồi trở ra nhấm nhí chút
rượu...
Tụng
kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện có thể làm tiêu
nhiều tai ương khổ nạn cho ḿnh, cho người thân,
nhưng phải thành tâm, chí kính, phải tha thiết
nguyện cầu mới được sự gia bị. Đọc kinh Phật c̣n
giúp cho những người c̣n đang sống hiểu được lời dạy
của Phật, theo đó mà làm. Vạn sự đều do nhân quả.
V́ vô minh lầm lạc mà trong vô lượng kiếp nay ta tạo
quá nhiều nghiệp chướng, hôm nay đọc đến kinh Phật
hiểu rơ nhân quả nghiệp báo ở địa ngục th́ phải biết
giác ngộ, phải sám hối tội lỗi, phải sớm bỏ ác làm
lành, tạo nhiều công đức để hóa giải nghiệp báo, chứ
đâu phải tụng mấy câu kinh cho Phật nghe, trong khi
tiệc rượu th́ đang chờ dở dang trước hè!
Hai câu
chuyện có thật đă xảy ra, tương tự nhau, nạn nhân
đều bị chấn thương sọ năo bất tỉnh nằm chờ chết.
Một người đă được thoát nạn một cách thần kỳ ngoài
sức tưởng tượng, một người đă gặp nạn c̣n chịu nạn
nặng hơn, giống như người rớt giếng c̣n bị đá rơi
theo! Đây là những bài học quư giá giúp cho chúng
ta ư thức đứng đắn về sự tu hành. Tu hành chính là
ở cái tâm chân thành thanh tịnh, chứ không phải h́nh
tướng bên ngoài. Người mà cứ măi chạy theo cái danh
hăo huyền hư vọng của thế gian, thiếu niềm tin,
thiếu thành kính th́ khó có sự cảm ứng đạo giao,
không thể tiếp nhận được Phật lực gia tŕ.
Người
có ḷng tin, tha thiết nguyện văng sanh, thành tâm
niệm câu A Di Đà Phật th́ một đời đắc được sở nguyện.
C̣n tu theo những pháp không hợp căn, hợp cơ, không
liễu giáo, th́ như Phật nói: "Ức ức người tu hành,
khó t́m ra một người chứng đắc" vậy.
Trong
kinh Địa Tạng, Phật dạy, trong đời sau người nào chỉ
cần nghe danh hiệu của Bồ tát Địa Tạng, hoặc đảnh lễ,
ngợi khen, luyến mộ, vẽ h́nh, đúc tượng Ngài hoặc
đọc kinh Địa Tạng... đều có phước báu vô lượng, như
thoát khỏi nạn tam đồ, được tái sanh vào các cơi
trời, cơi người, làm được đế vương nhiều kiếp số để
hưởng phước báu.
Trong
kinh này Phật cũng nói rất rơ về lư nhân quả báo ứng,
giúp cho chúng sanh giác ngộ đường thiện lành để tạo
phước đức hầu tránh cái duyên địa ngục. Khi hộ niệm,
nếu bệnh nhân bị nghiệp chướng hiện hành, hoặc bị
oan gia báo hại quá nặng, ta nên tụng vài biến kinh
Địa Tạng để khai thị và giải nghiệp trước mắt cho họ.
Đây là điều rất tốt. Nhưng nên tụng trong lúc c̣n
tỉnh táo hoặc sau khi xong tang sự, chứ không nên
tụng ngay giờ phút lâm chung.
Giờ phút
lâm chung phải quyết ḷng niệm Phật trợ niệm để giúp
cho bệnh nhân văng sanh trước đă. Mọi chuyện khác
sau đó mới được tính tới.
Như vậy,
tụng kinh Địa Tạng có công đức to lớn vô cùng, được
phước đức vô lượng, chúng ta không thể xem thường.
Nhưng trong kinh Quán Vô Lượng Thọ, kinh Vô Lượng
Thọ Phật lại dạy, dù một người có làm tội lỗi đến
ngũ nghịch thập ác, nghiệp báo này nhất định phải bị
đọa vào địa ngục A-tỳ, mà lúc lâm chung được thiện
tri thức khai thị chỉ điểm đường văng sanh Tây
Phương. Nếu người đó tin tưởng, biết thành sám hối,
thành tâm niệm Phật, niệm được 10 câu Phật hiệu "Nam
mô A Di Đà Phật" cầu sanh Tịnh Độ th́ vẫn được văng
sanh, chứng bất thối chuyển, nhẫn đến đắc A Nậu Đa
La Tam Miệu Tam Bồ Đề.
So sánh
giữa hai sự lợi ích, một là phước báu nhân thiên,
hai là văng sanh Tây Phương Cực Lạc, th́ văng sanh
Cực Lạc thù thắng hơn quá nhiều, thật là "bất-khả-thuyết"
công đức. V́ phước báu trời người dù lớn tới đâu
cũng chỉ giúp chúng sanh thoát khỏi tam đồ ác đạo,
sanh trở lại làm người hoặc lên đến các cơi trời,
vẫn c̣n trong tam giới, chứ chưa thoát ṿng sanh tử,
chưa ra khỏi lục đạo.
C̣n văng
sanh về Tây Phương Cực Lạc th́ không những qua khỏi
tam giới lục đạo, thoát ly được sanh tử luân hồi, mà
c̣n vượt qua khỏi thập pháp giới, trụ tại nhất chân
pháp giới của Phật. Đây là điều bất khả tư ngh́,
không lời nào tán thán cho xứng vậy. Hơn nữa, chúng
ta cũng nên nhớ điều này, phước báu công đức dù to
lớn, có thể vượt thoát tam đồ trong đời, có thể
hưởng lạc nhiều kiếp ở các cơi trời người, nhưng
người có phước phải biết cách ǵn giữ cẩn thận mới
có thể hưởng được trọn vẹn. C̣n nếu sơ ư, đem công
đức phước báu ném vào hầm lửa th́ đành phải phủi bàn
tay trắng, đọa lạc cũng đành phải chịu đọa lạc. Ví
dụ như người có bạc tỷ, có thể sống trọn đời sung
sướng, và dành lại cho con cháu thừa hưởng. Nhưng
nếu dại khờ, đem tiền tung vào ṣng bạc một đêm th́
có thể thua sạch. Phước báu bỗng chốc trở thành số 0
Bần cùng vẫn hoàn lại là bần cùng mà thôi!
Trong
kinh Địa Tạng Bổn Nguyện cũng có nói rằng, chúng
sanh trong cơi Nam Diêm Phù Đề khởi tâm động niệm
đều là nghiệp chướng. Tạo nghiệp chướng th́ tiêu
công đức, đă tiêu công đức th́ làm sao giữ ǵn công
đức cho trọn vẹn?! Do đó, dù phước báu lớn tới đâu
mà c̣n kẹt lại trong lục đạo tam giới, th́ không ai
dám bảo đảm tương lai sẽ thoát nạn, nhất là nay đă
rơi vào thời mạt thế, càng ngày càng hiểm nguy! Chúng
ta cần chú ư đến điểm này.
"Đời mạt
pháp ức ức người tu hành, khó t́m ra một một người
chứng đắc", đây là lời Phật dạy trong kinh Đại Tập. Tại
sao vậy? V́ chúng sanh có quá nhiều nghiệp chướng,
nhiều phiền năo. Sinh ra trong thời buổi mạt pháp,
chúng ta nên tự biết rằng nghiệp chướng của ḿnh
nặng lắm, cái quả báo rất tệ hại chứ không tốt lành
ǵ đâu. Chính v́ thế, con người dù có tu hành, nhưng
đường tu thường gặp nhiều chướng ngại, nhiều khó
khăn, chứ không phải dễ dàng. Nói cho dễ hiểu hơn,
tu hành th́ có, nhưng không thể tạo nhiều được công
đức để hóa giải nghiệp chướng, nên nghiệp chướng
càng ngày càng lớn, thành ra rốt cuộc con người phải
theo nghiệp thọ báo, chịu ách nạn nặng nề.
Người
biết tu hành chân chính mà Phật c̣n nhắc nhở như vậy,
huống chi là người không tu! Không chịu tu hành th́
quả báo của họ sẽ tệ hại biết chừng nào!
Một
trong những yếu tố chính yếu tạo ra chướng ngại là
v́ tâm hồn đă bị ô nhiễm khá nặng! Ba chất độc Tham-Sân-Si
đă thấm nhiễm quá sâu, thành ra tư tưởng và hành
động của con người đời nay xa ĺa đạo pháp, chạy
theo thế tục, thích làm ác, ít làm lành, không chịu
tu hành, không tin nhân quả. Thế giới ngày nay trọng
về khoa học kỹ thuật, tranh đua về vật chất nhiều
hơn tu dưỡng tinh thần, thiện tri thức càng ngày
càng ít. Người muốn tu hành không biết ai để học hỏi,
không biết đâu là chánh pháp để nương tựa. Đây thật
sự là một chướng ngại lớn cho chúng sanh trong thời
này. Người thực tâm muốn tu hành th́ lại thường bị
lạc mất hướng đi, mù mờ con đường giải thoát. Có
người sau một thời gian tu hành đâm ra thất vọng,
chán nản. Cái kinh nghiệm này chắc có lẽ nhiều vị
đồng tu cũng ít nhiều biết qua.
Thời mạt
pháp tu hành bị nhiều chướng ngại lắm! Một người
muốn tu hành, nếu sơ ư, không theo đúng lời dạy của
Phật, nhất là kinh điển đại thừa, th́ dễ dàng bị lạc
vào các đường hiểm ác. Nếu không bị lạc vào các pháp
tu tà vạy, th́ cảnh nhẹ nhất cũng vướng vào chữ
phước báu nhân thiên. Tiền tài, danh vọng, sắc dục...
thực tế, dễ thấy, nó có mănh lực rất lớn, dễ làm cho
con người tham đắm vào đó mà quên hẳn chuyện chứng
đắc, thành đạo. Người tu hành nên nhớ rằng, có phước
không huệ th́ giống như người đi đường có lương thực
mà không biết đường đi, lỡ lạc vào hang hùm rồi th́
bị tiêu mạng. Lúc đó phước báu ai sẽ hưởng đây?
Người
được nhiều phước báu là do trong nhiều đời nhiều
kiếp trước có làm phước, bố thí, cúng dường, chứ
không phải là do sự mong cầu. Cầu phước là tham, là
một trong ba thứ độc tố hại chết chúng sanh thê thảm
ở tam ác đạo. Nếu trong mệnh có phước, không cầu
cũng có. Nếu mệnh có phước mà c̣n lo cầu phước nữa,
th́ cũng được phước, nhưng với cái tâm này chắc chắn
sẽ xa ĺa đường tu hành. Không tu th́ tạo nghiệp. Phước
càng lớn tạo nghiệp càng nhiều. Bây giờ sướng bao
nhiêu, tương lai khổ bấy nhiêu. Đây là nạn tam thế
oán vậy.
Biết vậy
rồi th́ cô bác chớ nên tham cầu phước báu nhiều quá,
không tốt về sau. Có tu th́ tự nhiên có phước. Đừng
cầu. Việc chính yếu là chúng ta phải nhắm tới sự
chứng đạo giải thoát, quyết ḷng ra khỏi tam giới,
lục đạo. Được vậy mới gọi là chứng đắc. Như vậy, ư
nghĩa chứng đắc gần gũi nhất là phải thoát ly sanh
tử luân hồi. Làm sao thoát? Phật dạy: "Chỉ c̣n cách
nương theo pháp môn niệm Phật mà thoát khỏi luân hồi",
(Kinh Đại Tập). Phải vượt qua cho được cái cửa ải
này mới khỏi uổng công tu tập. Nếu không, dù h́nh
thức có đẹp cho mấy, lư luận có hay cho mấy, kiến
giải có thông cho mấy, mà đường sanh tử vẫn chưa rơ
ràng, sự thoát nạn c̣n mờ mờ mịt mịt, th́ tất cả sau
cùng cũng chỉ là vọng tưởng mà thôi!...
Niệm
Phật là nhân, thành Phật là quả. Phật đă đưa ra
giải pháp rốt ráo để một đời viên măn đạo quả. Niệm
Phật thành Phật. Sự việc đă quá rơ ràng. Đường
thoát nạn cho chúng sanh trong thời mạt tận này đă
quá minh bạch. Cứu cánh giải thoát đă được Thế Tôn
xác quyết. Người nào muốn một đời này đắc đạo thành
Phật th́ phải mau mau niệm Phật cầu sanh Tịnh độ.
Người nào không chịu niệm Phật, không thèm nhờ Phật
lực gia tŕ th́ khó ḷng thoát khỏi trần lao, đành
phải tham dự vào nhóm đại chúng đông đảo trong ức ức
người kia để tiếp tục nếm mùi khổ lụy trong vô lượng
kiếp nữa chứ có cách nào khác hơn!...
Trở lại
vấn đề tụng kinh, đă là kinh Phật th́ tụng kinh nào
cũng đều có công đức. Tuy nhiên, v́ nghiệp chướng
quá nặng, những pháp tu hành b́nh thường không thể
đối trị nổi với nghiệp chướng, nên phải bị nghiệp
chướng báo hại. Một trong những nguyên do chính là
v́ căn cơ của chúng sanh quá thấp, không thể tự khai
mở trí huệ. Không khai được trí huệ th́ không thể
đột phá vô minh, không thể đoạn trừ phiền năo.
Ấn Quang
Đại sư nói, người tự lực tu chứng, nếu nghiệp chưa
sạch t́nh chưa không, th́ phải trở lại trong lục đạo
để theo nghiệp thọ báo. Nói cách khác là không thể
thoát nạn. Tu giới được định, nhân định phát huệ.
Giới-Định-Huệ là tam vô lậu học, là tổng cương lĩnh
của Phật pháp. Nhưng thời mạt pháp, tự lực tu chứng
để đắc trí huệ bát-nhă không phải là chuyện tô son
điểm phấn trên đầu môi!...
Hiểu
được điều này, chúng ta mới thấy muốn vượt qua tam
giới, thoát ly sanh tử luân hồi quả thật quá khó
khăn. Phật dạy, thời mạt pháp tâm trí chúng sanh
hầu hết là trung-hạ căn. Nghĩa là, người dù cho
thông minh tài trí cao đến mấy đi nữa th́ cũng chỉ
là loại trung căn, c̣n b́nh thường đều thuộc về hạ
căn. Người đệ tử Phật nên thành tâm tiếp nhận lời
Phật dạy, nên biết khiêm hạ xác thực căn cơ của ḿnh,
quyết ḷng nương theo pháp môn nhị lực mà niệm Phật
cầu sanh Tịnh độ, nhờ Phật lực gia tŕ để đới nghiệp
văng sanh, một đời này thành vị Bất thối chuyển tại
cơi Tây Phương hầu viên thành Phật đạo. Nếu không
chịu nghe lời Phật dạy, th́ coi chừng suốt đời tu
hành không ít khó khăn mà sau cùng cũng chỉ kết được
một chút duyên lành với Phật pháp, c̣n chuyện liễu
sanh thoát tử vẫn xa vời mù mịt!.
Mọi pháp
tu hành đều nhắm vào sự thành tựu cái tâm thanh tịnh.
Tụng nhiều bộ kinh khác nhau tâm rất khó được thanh
tịnh. Trong kinh Phật, mỗi bộ kinh có rất nhiều
thuật ngữ khác nhau, có nhiều thuật ngữ rất khó hiểu
thấu đối với người căn tánh chưa khai. Nhưng sự
thực th́ "đồng quy nhi thù đồ". Pháp môn tuy khác
nhưng cùng quy về một mục đích. Nhiều thuật ngữ tuy
khác nhau nhưng ư nghĩa đều tương đồng. Phật thuyết
nhiều kinh v́ căn cơ chúng sanh sai biệt, nói nhiều
thuật ngữ khác nhau v́ muốn phá chấp cho chúng sanh.
Vạn pháp giai không, th́ thuật ngữ vẫn là không.
Chúng ta không nên chấp trước. Pháp Phật chỉ là
phương tiện dẫn dắt chúng sanh tiến tới bờ giác mà
thôi.
Bờ giác
là một nhưng đường đi th́ có khác. Kinh pháp là
phương tiện, đại giác đại ngộ thành Phật mới là cứu
cánh. Đă là phương tiện th́ phương tiện nào thích
hợp nhất, thuận lợi nhất đối với ta th́ cứ vững tâm,
giữ thẳng một đường mà tiến mới mong ngày tới đích.
Nên nhớ rằng kinh Phật một lời vạn nghĩa, pháp Phật
không ở nơi danh tự mà phát xuất từ chân tâm. Phải
tu tâm thanh tịnh trước để khai mở chơn tâm mới có
cơ hội liễu giải kinh Phật.
Làm sao
khai mở chân tâm? Phải lo tu "Căn Bản Trí" trước,
mới có được "Hậu Đắc Trí" sau. Nhưng thời mạt pháp
này có mấy ai có thể tự khai ngộ được?! Không thể
tự khai ngộ, th́ hăy chí tâm niệm Phật, dùng câu
Phật hiệu bao phủ nghiệp chướng, nhờ Phật cứu độ mà
được đới nghiệp văng sanh. Về tới Tây Phương, nhờ
Đức Di Đà gia tŕ th́ liền được khai mở chân tâm,
một đời thành đạo Vô Thượng. Như vậy không hay hơn
sao? Người tâm chưa khai mà cứ đi tra cứu để mong
liễu giải kinh Phật th́ dễ rơi vào t́nh trạng thiên
chấp, hiểu sai. Hiểu sai th́ giải sai, giải sai th́
thực hành sai. Vô h́nh chung, dễ đưa đến t́nh trạng
càng tu càng lộn xộn, càng phiền năo. Chính v́ thế
tụng nhiều loại kinh điển th́ tâm khó được định,
công phu thường bị trở ngại, không hay bằng chuyên
tâm tŕ tụng một bộ kinh vậy.
Tu hành
cần có phương hướng rơ ràng, có đường đi nhất định. Chỉ
dựa theo một bộ kinh th́ tâm mới dễ an định, có an
định mới thâm nhập vào lư đạo. Đây gọi là "tâm an lư
đắc". Đừng nên lăng xăng t́m hiểu đủ thứ, đừng nên
tham cầu biết nhiều mà tâm bị tạp loạn, chao đảo hay
bất tịnh. Một khi tâm đă loạn th́ thường gặp phải
chướng ngại, rất khó tiến tu đạo nghiệp. Chuyên tŕ
tụng một bộ kinh th́ lời kinh càng ngày càng rơ, ư
kinh càng ngày càng sáng. Tín-Giải-Hành-Chứng các
cảnh giới tự đó tuần tự tăng tiến.
Nhất
kinh thông nhất thiết kinh thông. Đây là phương pháp
của HT Tịnh Không hướng dẫn tứ chúng đồng tu. Các đệ
tử của Ngài đều y giáo phụng hành, chỉ cần một thời
gian hạn hữu mà hầu hết ai cũng đều giảng giải khá
thông suốt kinh pháp. Mỗi vị tự chọn một bộ kinh để
giảng, bất luận là tiểu thừa hay đại thừa. Nhất môn
thâm nhập. Pháp sư giảng kinh giảng đi giảng lại chỉ
một bộ kinh, lần giảng sau bổ túc những khiếm khuyết
của lần trước, mỗi lần giảng cảnh giới mỗi mới, mỗi
cao, tăng cao măi...
Lúc đầu
có người tưởng rằng các thầy này giảng kinh sao "nghèo"
quá! Chỉ có một quyển kinh cứ lập đi lập lại hoài. Nhưng
nếu tạm xa cách họ một vài tháng rồi trở lại nghe,
th́ mới thấy không ít ngạc nhiên! Lời pháp bây giờ
đă vượt trội, cảnh giới đă thăng tiến không ngờ. Họ
sẵn sàng trở thành "chuyên gia" thuyết kinh giảng
đạo cứu độ chúng sanh chứ không phải tầm thường. HT
Tịnh Không, có đôi lúc, chỉ từ một câu kinh Ngài
giảng rộng bao trùm đến tam tạng kinh điển. Thật cảm
phục!
Pháp sư
giảng kinh nhất môn thâm nhập, th́ đồng tu nghe pháp
cũng nhất môn thâm nhập. Không ai có khả năng nghe
kinh một lần mà khai ngộ, th́ nghe pháp cũng phải
kiên nhẫn nghe đi nghe lại nhiều lần. Có vậy mới
thành tựu. Cảnh giới người giảng tăng cao th́ người
nghe cũng tăng theo, trên dưới đồng tiến. Tất cả đạo
tràng của Tịnh Tông thế giới, tứ chúng đồng tu, một
năm 365 ngày chỉ tụng một bộ kinh duy nhất là Vô
Lượng Thọ Kinh. Những ngày cộng tu th́ tụng kinh A
Di Đà. Ngoài ra th́ tŕ niệm bốn chữ "A Di Đà Phật". Nhờ
nhất môn thâm nhập, trường kỳ huân tu mà khá nhiều
người thâm nhập được lư đạo. Họ thấy rơ đường đi,
họ quyết tâm niệm Phật cầu sanh Cực Lạc.
Kết quả
th́, nhiều người đă văng sanh, không ít người biết
trước ngày giờ ra đi, lúc lâm chung đều được trợ
niệm cẩn thận, không ít người thấy Phật A Di Đà và
Thánh chúng hiện thân tiếp dẫn. Khi văng sanh, sắc
diện tươi đẹp, thân thể mềm mại, thoại tướng tốt
lành, có hương, có quang v.v...
Những
chuyện này chính tôi đă biết quá nhiều. Có
những cuộc văng sanh đích thân tôi đă hộ niệm, thoại
tướng văng sanh hiển hiện rơ ràng trước mắt. Thật
bất khả tư ngh́! Có chứng kiến được,
ta mới thấy lời Phật dạy không sai: "Chỉ nương theo
pháp niệm Phật mới thoát luân hồi".
Cô Lệ
Tân thân mến, hăy nghĩ thử, mục đích tu hành của
ḿnh là ǵ? Nếu v́ để thành tựu đạo quả, th́ văng
sanh về Cực Lạc, một đời bất thối thành Phật có phải
là con đường ngắn nhất, dễ nhất và viên măn nhất
không? Có phải là nó quư hóa đến muôn ức triệu lần
hơn những cảnh ra đi khổ đau, mê mê hồ hồ, thả thần
thức cuốn trôi theo nghiệp báo không?!
Ngài
Triệt Ngộ thiền sư đời nhà Thanh nói,
"Nhất cú Di Đà, viên dung pháp giới". Một
câu danh hiệu A Di Đà Phật đă hàm chứa cả vũ trụ hư
không pháp giới, có đầy đủ tất cả Phật pháp trong đó
rồi.
Cũng trong thời nhà Thanh,
Ngài Quán Đảnh pháp sư th́ nói, thời mạt pháp tất cả
kinh sám không c̣n đủ khả năng, chỉ c̣n có câu A Di
Đà Phật... Chư Tổ Sư Đại đức nói,
một câu phật hiệu A Di Đà Phật là tất cả 49 năm
thuyết kinh giảng đạo của Thế Tôn. C̣n chính Phật
th́ dạy rằng, thời này chỉ nương theo pháp niệm Phật
mới xuất luân hồi. Thế mà, nhiều người cứ măi chạy
t́m pháp khắp nơi làm chi vậy?! Xin cô bác hăy sớm
xác định đường tu hành vững chắc, đừng bán tín bán
nghi, lỡ đời này luống qua rồi, th́ trăm ngàn vạn
kiếp sau chưa chắc sẽ có cơ hội gặp lại để bàn
chuyện giải thoát đó!...
Niệm
Phật thành Phật, hăy chấp tŕ Thánh hiệu "Nam Mô A
Di Đà Phật" niệm tới cùng th́ đủ sức hoàn thành tâm
nguyện thành đạo Bồ-đề, cứu độ chúng sanh. Nhất định
vững ḷng một đường thâm nhập, kiên tŕ chuyên tu để
quyết đắc được thiện lợi.
C̣n về
việc tụng kinh, nên chọn bộ kinh đồng bộ với tôn chỉ
tịnh tông để tŕ tụng là cách tốt nhất để hỗ trợ cho
phương pháp nhất hướng chuyên niệm. Trong pháp môn
Tịnh độ, kinh Vô Lượng Thọ là đại kinh viên măn nhất
được Ngài Tịnh Không đánh giá là đệ nhất kinh trong
tam tạng kinh điển, trong đó Phật nói rơ 48 đại
nguyện của đức Phật A Di Đà, cảnh giới Tây Phương
Cực Lạc, và cách tu hành để văng sanh. Nếu quư cô
bác tụng niệm được th́ quá tốt. Nhưng kinh Vô Lượng
Thọ hơi dài, nếu không đủ sức tụng, th́ nên lấy kinh
A Di Đà làm khóa tụng hằng ngày. Kinh Phật thuyết A
Di Đà là kinh đặc biệt trong tam tạng kinh điển,
được chư Phật mười phương đồng hộ niệm, gọi là "Nhất
thiết chư Phật sở hộ niệm kinh", chứ không phải
thường. Công đức của nó khó có bộ kinh nào sánh bằng
vậy.
Tụng
kinh A Di Đà th́ được mười phương chư Phật hộ niệm. Thành
tâm niệm một câu A Di Đà Phật th́ phá được 80 ức đại
kiếp sanh tử tội trọng. Như vậy hằng ngày ta cứ tụng
một biến kinh A Di Đà rồi thành tâm niệm Phật. Niệm
Phật có tín, có nguyện, có hạnh. Nơi trang nghiêm
th́ niệm thành tiếng, chỗ không trang nghiêm th́
niệm thầm, đi đường th́ mỗi bước chân mỗi câu Phật
hiệu,
khi nằm trên giường chờ ngủ th́ hít vào "A Di Đà
Phật", thở ra "A Di Đà Phật", tiếng
Phật hiệu theo hơi thở mà luân lưu bất tận, th́ công
đức ta tạo ra hàng ngày sẽ lớn vô lượng.
Đem công
đức ấy hồi hướng cho chúng sanh, hồi hướng oan gia
trái chủ, hồi hướng cho ông bà cha mẹ, hồi hướng Cực
Lạc cầu văng sanh th́ chắc rằng sẽ được như ư. Đây
mới chính là công phu tu hành tích cực, chứ c̣n lâu
lâu ngồi trước bàn thờ Phật tụng một biến kinh,
giống như kiểu trả nợ, trong khi tâm hồn lại rối
bùng ben, nghĩ tưởng đủ thứ, th́ làm sao có công đức
để cầu tiêu tai giải nạn, cầu siêu, báo hiếu đây!...
Niệm
Phật cầu sanh Tịnh độ là đạo cứu độ chúng sanh trong
thời mạt pháp. Nói vậy xin cô bác đừng vội hiểu lầm
cho rằng, pháp niệm Phật b́nh thường, chỉ dành cho
kẻ sơ cơ thấp kém tu hành trong thời mạt vận. Thực
ra, đây là pháp môn đại uy lực, đại phước đức, đại
bát nhă, đại thiền định, đại trang nghiêm, đại thanh
tịnh, đại Bồ đề, đại siêu việt... mà ba đời mười
phương chư Phật cũng chỉ dùng pháp này để độ khắp
chúng sanh, (kinh Niệm Phật Ba-La-Mật, phẩm 1). Đây
là pháp môn tam căn phổ bị, phàm thánh tề thâu, khế
hợp mọi căn cơ, trên từ Đẳng Giác Bồ Tát dưới đến
địa ngục chúng sanh đều được phổ độ.
Chính v́
thế mà ngài Thiện Đạo đại sư nói, "Dù cho mười
phương chư Phật đầy cả hư không pháp giới hiện thân,
phóng quang bảo bỏ môn Tịnh độ, rồi các Ngài truyền
dạy pháp môn thù thắng khác, cũng không dám vâng
theo...". V́ sao vậy? V́ làm ǵ có chuyện này xảy
ra! Nếu như có, th́ đó chắc chắn là giả chứ không
phải thật!
Đức
Thích Ca Mâu Ni đại diện mười phương chư Phật tuyên
dương pháp niệm Phật là pháp tối thắng và là pháp
độc nhất mà mười phương ba đời chư Phật đều phải
dùng để độ tất cả chúng sanh, th́ có Phật nào lại
nói sai lời Phật.
Đại Thế
chí Bồ Tát dạy, hăy đóng sáu căn lại cho tâm hồn
thanh tịnh mà liên tục niệm Phật, cứ vậy mà tu,
không cần nhờ cậy vào các pháp nào khác th́ tâm được
khai mở. Các cô bác muốn được một đời này văng sanh,
giải quyết ách nạn sanh tử khổ đau mà trong vô lượng
kiếp đến nay chưa làm được, th́ hăy tập buông xả
hàng ngày, mỗi ngày mỗi buông để gánh nghiệp chướng
của ḿnh càng ngày càng nhẹ. Nghiệp nhẹ th́ phước
tăng. Phước này không c̣n là phước thế gian nữa đâu,
mà là tư lương để giúp chúng ta văng sanh thành Phật.
Buông xả
tham sân si. Xả tham là xả phước thế gian để đổi lấy
công đức. Đừng tham đắm danh vọng, tiền bạc, nhơn
nghĩa... nhiều quá. Các thứ đó mới thấy th́ có lợi,
nhưng thực tế th́ có hại lắm đó, chớ nên t́m cầu. Những
sự đấu tranh, thị phi, ganh tỵ, mưu hại lẫn nhau là
đại nhân chủng của địa ngục, quyết định phải từ bỏ. Nếu
thực sự muốn tu hành th́ xin cô bác đừng nên đem
những cái xấu của thiên hạ ra bàn. Ai xấu mặc họ,
c̣n ta hăy cố gắng giữ tâm thanh tịnh là tốt nhất. Những
kiến thức thế gian, triết lư, tư tưởng, học thuật...
nói lên th́ nghe hay lắm. Nhưng ít ai biết rằng,
Phật nói, thế trí biện thông là một trong tám thứ
của "Tam đồ bát nạn khổ", vướng vào đó th́ khó có
ngày được giải thoát.
Giữ tâm
thanh tịnh, khiêm nhường kính trọng mọi người, làm
lành lánh ác, kiêng cữ sát sanh... Đă hiểu được cuộc
đời này chỉ là giả tạm th́ mạnh dạn coi tất cả mọi
chuyện đều b́nh thường. Vạn vật vạn sự chẳng qua là
sự diễn kịch trên sân khấu th́ c̣n chấp nê làm chi
nữa. Đó là tu phước. Chân thành niệm Phật, cung kính
lạy Phật, tha thiết cầu sanh Tịnh độ, đây là tu huệ. Cứ
tu hành như vậy th́ cảnh Cực Lạc sẽ hiện ra ngay
trong đời này, tại đây chứ có đâu xa. Ta đang sống
chung với mọi người giữa cơi ngũ trược ác thế, nhưng
tâm ta đă ḥa với tâm Phật, ta đă có sẵn chiếc vé để
chờ ngày đi về Tây Phương thành Phật rồi vậy.
Thư chưa
hết ư, nhưng xin tạm ngừng đây. Mấy vấn đề khác thư
sau sẽ bàn tới.
Chúc cô Lệ Tân và
quư cô bác tinh tấn niệm Phật.
A Di Đà Phật,
Diệu Âm kính thư.
Viết xong tại Brisbane, ngày 24/6/2005.
Chuyên tu không gián đoạn, tức là thân phải
chuyên lễ Phật A-Di-Đà không lễ các Phật khác;
miệng phải chuyên xưng danh hiệu Phật A-Di-Đà
không xưng hiệu Phật khác hoặc tụng các kinh
khác; ư phải chuyên quán tưởng Phật A-Di-Đà
không quán tưởng ǵ khác.
(Đại Sư Thiên Như, đời nhà Nguyên) |
NHỮNG LÁ THƯ DIỆU ÂM
3 THỨ CHƯỚNG NGẠI CẦN
BIẾT
PHIỀN
NĂO, NGHIỆP CHƯỚNG, BÁO CHƯỚNG
Thư Khuyên Người Niệm Phật (IV/2)
(Viết tiếp thư trước)
Kính gởi cô Lệ Tân
cùng cô bác cộng tu!
Thời này
tu hành có nhiều chướng ngại lắm. Chướng ngại có ba
loại, một là phiền năo chướng, hai là nghiệp chướng,
ba là báo chướng.
Phiền
năo chướng là tham-sân-si; Cô bác muốn tu hành cho
thành tựu th́ nên t́m cách giảm bớt ba chất độc này,
mỗi ngày mỗi giảm cho đến hết luôn mới trốn thoát ba
cảnh đọa lạc. Tham lam là đường ngạ quỷ, sân khuể là
đường địa ngục, ngu si là đường súc sanh.
Nghiệp
chướng là ngũ nghịch thập ác, sát đạo dâm vọng. Muốn
tu th́ cố gắng giữ năm giới, nhất là giới sát sanh.
Hăy giữ ḷng từ bi thương mạng chúng nó, có thế th́
ta dễ được thoát nạn.
Báo
chướng là hậu quả bị đọa lạc trong ba đường khổ: địa
ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Phiền năo nghiệp chướng là
nhân, báo chướng là quả. Nhân nào quả đó, nhân
duyên quả báo không sai một ly một tấc.
Khi thấy
được đường tu hành mới biết rằng trong quá khứ chính
ḿnh đă sơ ư tạo ra quá nhiều nghiệp ác như giết hại
chúng sanh, tham lạm công quỹ, chống báng Phật pháp,
sân giận, đố kỵ, vọng ngôn, xảo ngữ, trộm cướp,
lường gạt, ganh tỵ, thị phi, v.v... nay gặp được
Phật pháp mới hay quả báo này toàn là địa ngục,
không địa ngục th́ ngạ quỷ, không ngạ quỷ cũng là
đường súc vật th́ sợ đến đêm ngày ăn ngủ không yên!
Đối điện
với cảnh khổ mới thương hại kẻ bần cùng, nh́n thấy
người chết mới lo buồn cho thân phận người sống,
nh́n cảnh tra tấn dă man trong địa ngục mới sợ hăi
đến tương lai của ḿnh.
Nhờ cơ
duyên này mà nhiều người biết quay đầu sám hối không
dám phạm tội nữa. Nhiều người phát khởi tâm từ bi lo
làm lành tích phước. Nhiều người khởi phát tâm b́nh
đẳng, nguyện trả cho sạch nghiệp để mong thoát cảnh
tam đồ. Những người có những tâm nguyện này chứng tỏ
đă biết tu hành, đáng khen! Nhưng nếu những người
này gặp Diệu Âm th́ tôi sẽ bày cho họ một sự phát
nguyện khác. Đó là hăy niệm Nam Mô A Di Đà Phật và
phát nguyện cầu sanh Cực Lạc.
V́ sao
vậy? V́ niệm Phật cầu sanh Cực Lạc là đới nghiệp
văng sanh, bất thối thành Phật. Cái điểm chính là
nguyện văng sanh Tây Phương Cực Lạc, chứ không phải
là cầu sám hối, cầu phước báu, cầu trả sạch nghiệp...
Một chúng sanh phàm phu tội lỗi như chúng ta không
thể nào mơ có ngày trả cho đến nghiệp sạch t́nh
không! Người biết sám hối nghiệp chướng, không dám
phạm tội nữa th́ rất tốt.
Nhưng
đâu phải không làm tội mới th́ tội cũ sẽ hết đâu!
Đă ra tay giết hại người ta rồi, mối thù này là mạng
phải đền mạng, làm sao đền?
Người
phát tâm tu hành làm lành tích phước là tu phước. Nhân
tu phước th́ có quả báo phước, c̣n nhân đă gây tội
trong quá khứ th́ phải trả tội. Tội chướng chất
chồng vô lượng kiếp chẳng lẽ mới đem vài đồng bố thí
là xong được sao? C̣n người phát tâm b́nh đẳng, dám
làm dám chịu, nghe qua thấy khá cảm khái, khá anh
hùng! Nhưng nhân duyên quả báo tơ hào không sai,
giết một mạng phải đền một mạng!
Hỏi rằng
ta có được bao nhiêu cái mạng để trả đến hàng vạn ức
chúng sanh đă bị ta sát hại? Hôm nay ta mới biết
đường tu hành, nhưng có ai ư thức được cái số lượng
tội lỗi do ḿnh gây ra trong vô lượng kiếp qua là
bao nhiêu chưa?
Sống
trong cảnh phàm phu ngu muội, ta tiếp tục tạo nghiệp
mới, sát đạo dâm vọng mỗi đời mỗi tăng, trả chỉ có
một mà tạo hàng vạn, th́ bao giờ mới thực hiện xong
cái anh hùng tính này đây?!!!...
Trong
kinh Hoa Nghiêm có nói, nếu nghiệp chướng của chúng
sanh mà có h́nh tướng, th́ hư không này không c̣n
chỗ chứa. Chẳng lẽ cam tâm ở lại trong chốn tam đồ
lục đạo hàng vô lượng vô biên kiếp để chịu chết đi
sống lại trả cho xong nợ sao?
Giáo
pháp nhiệm mầu của Phật là cứu độ chúng sanh vượt
qua tam đồ lục đạo, thoát khổ được vui, văng sanh
Tây Phương, chuyển phàm thành Thánh. Nếu một pháp mà
bắt có nợ phải trả cho hết, có nghiệp phải báo cho
tận mới được giải thoát, th́ bao giờ mới độ được một
chúng sanh?
Độ là
ǵ? Là chuyển phàm thành Thánh, là đáo bỉ ngạn, là
vượt qua sanh tử. Chúng sanh đang tạo tội lỗi, lặn
ngụp trong sanh tử, đọa lạc, nhờ Phật lực gia tŕ mà
được độ thoát. Đây mới thật là nhiệm mầu! Phật pháp
đâu có thể cay nghiệt. Luật pháp thế gian mà cũng
không đến nỗi cay nghiệt như vậy, hà huống là pháp
Phật lấy từ bi làm gốc...
Cô Lệ
Tân và quư cô bác ạ, nếu thực sự muốn tu hành, cô
bác phải cần có nhiều lần tự phản tỉnh lại cách tu
hành để coi có ǵ sơ suất hoặc sai lầm không hay.
Có rất nhiều người tu hành khá lâu năm, nhưng vẫn
c̣n có những ư niệm không chánh pháp, có những lời
nguyện sai lạc! Nhiều người vẫn thường nghiên cứu
kinh pháp, nhưng những sự lệch lạc này chưa chắc đă
nhận ra; Nhiều người hàng ngày có tới chùa tu học,
nhưng chưa chắc phát hiện được.
Trong năm
vừa qua (2004), tôi có tiếp xúc với một vị, suốt một
đời hầu như ở chùa tu hành, đă nói với tôi như vầy,
"Tôi
nguyện rằng, kiếp sau tôi sẽ không bao giờ cúng
dường cho chùa lớn, chỉ cúng cho chùa nhỏ mà thôi.
Chùa càng nhỏ tôi sẽ cúng dường càng nhiều. Người
đời nay bất công quá, chùa lớn đă giàu mà lại cúng
nhiều, c̣n chùa nhỏ nghèo xác xơ th́ lại cúng ít,
nhiều khi không thèm cúng!".
Tôi hiểu
được chút ít tâm trạng của vị đó nên khuyên rằng,
thay v́ chúng ta nguyện trở lại trong lục đạo này để
cúng dường, th́ đâu bằng nguyện văng sanh Tây Phương
Cực Lạc để thành Phật cứu độ chúng sanh không hay
hơn sao?
Vị đó
lại nói,
"Cái ǵ cũng phải cần có nhân duyên, có lư có sự chứ!
Có lư mà không sự th́ đạt lư không được. Có thực mới
vực được đạo, không có ăn th́ làm sao thành đạo!".
Nghe lời
biện bạch đó làm tôi hơi giật ḿnh! Chẳng lẽ thực sự
có nhiều người suốt đời tu hành nhưng lại âm thầm đi
theo con đường riêng của họ, chứ không chịu nghe
theo lời Phật dạy trong kinh điển hay sao?!... Lời
nguyện này có tác dụng như một "Dẫn Nghiệp", có thể
đưa đến hậu quả là ta chịu cái "Măn Nghiệp" ở trong
lục đạo.
Nhất
thiết duy tâm tạo. Cảnh giới tương lai ở từ tâm
nguyện mà thành. Chúng ta cần cẩn thận, không nên
dùng nó như chuyện thế gian thường t́nh để đối chọi
với vài điều bất công riêng lẻ của người đời, hoặc
phát lời nguyện lệch ra khỏi quỹ đạo giải thoát mà
lạc mất mục đích chính của việc tu hành, đưa đến hậu
quả một đời này dù có khổ công tu hành vẫn đành phải
chịu luống qua oan uổng!
Chính
cái nội tâm của con người tạo ra cảnh giới cho họ. Nếu
tâm nguyện muốn thành Phật th́ họ thành Phật. Cái
tâm muốn được có ăn th́ họ trở thành người đi kiếm
ăn. Một người muốn văng sanh Cực Lạc để hội kiến đức
Di Đà th́ tương lai họ sẽ thành vị A-duy-việt-trí
Bồ-tát, một người cứ lo nghĩ chuyện thế gian th́
không thể nào thoát ly luân hồi sanh tử.
Người ở
thế giới Cực Lạc có phước báu vô tận, mà ta ở đây cứ
đắm tâm vào vài bó rau muống nhỏ xíu, th́ làm sao đủ
sức để hưởng được cái đại phước báu bao trùm vũ trụ. Cảnh
giới Tây Phương của A Di Đà Phật là nhất chân pháp
giới, mọi người đều có thần thông quảng đại, một
tích tắc thời gian họ có thể đi tới khắp cùng hư
không pháp giới để dạo chơi, c̣n chúng ta ở đây cứ
bám riết vào căn nhà lụp xụp không nỡ rời, cứ nghĩ
rằng cái làng nghèo nàn này là quê cha đất tổ, th́
tương lai không đói cũng rách, không rách cũng nghèo,
không nghèo th́ ngày ngày cũng phải kiếm ăn từng bữa
đổ mồ hôi, sôi nước mắt... chứ có cách nào được du
hí thần thông, được du hành khắp chốn, hưởng vô tận
an vui cực lạc ở cảnh Tây Phương!...
Một ví
dụ khác, cách đây mấy năm, tôi có quen một người,
cũng khá thân, anh là chủ một tiệm cắt may gia công. Anh
ta có tu hành, tính t́nh khiêm nhường, thiện lương.
Một hôm anh gặp tôi và tâm sự rằng,
"Tôi chỉ
làm cho đủ sống là được chứ không cầu làm giàu có ǵ
đâu, tôi cũng cố gắng tu hành mong khỏi bị đọa lạc. Tâm
nguyện của tôi cho kiếp sau là không cần danh vọng,
không cần sự nghiệp, chỉ là một người thất nghiệp
nhưng tôi nhất thiết không nhận một đồng tiền trợ
cấp. Tôi cầu xin được làm người ăn mày thấp hèn và
mong sao trong đời ḿnh giúp được cho một người,
giúp một người thôi là cũng đủ măn nguyện rồi...!".
Nghe nói
vậy tôi mắc cười và nói với anh rằng, anh là người
khiêm nhường, có ḷng từ bi! Nhưng ở nước Úc này
không có người nghèo đói làm sao anh đi ăn xin? Tôi
nói đùa thêm, nếu anh nguyện như vậy, lỡ chánh phủ
Úc nghe được, họ sợ tương lai ở xứ này có người ăn
mày mà không cho phép anh định cư ở đây đâu...
Anh ta
thật sự là một người hiền lành, chân thật, không bao
giờ dám nghĩ đến lợi dụng ai. Lời nói của anh thật
chân thành, không kiểu cách. Nhưng có lẽ v́ quá
hiền lành mà thành ra thiếu sáng suốt! Tôi hiểu được
tâm ư của anh, tôi cố gắng phân giải với anh vài
điều lợi hại trong lời phát nguyện. Tôi nói, đời này
dù anh không cứu được nhiều người chứ ít ra cũng
giúp được một số công nhân có công ăn việc làm, giúp
được vợ con anh không đói khổ. Anh không cần cố gắng
lắm nhưng ít ra cũng giúp ích được hơn một người,
vậy mà xă hội này vẫn c̣n nhiều người thất nghiệp,
nhiều nơi khác vẫn cần đến sự giúp đỡ của anh. Nếu
anh có tâm từ bi, muốn giúp ích người khác bớt khổ,
sao anh không nguyện thành người triệu phú, thành tỷ
phú, rồi đem khối tài sản đó đi bố thí giúp người
th́ có hay hơn không? Chứ c̣n anh muốn trở thành một
người ăn mày, là kẻ tận mạt trong xă hội rồi th́
giúp ích được ai? Giả như, xă hội c̣n có những người
cần đến một kẻ ăn mày giúp đỡ, th́ những người đó
cũng là kẻ mạt tận c̣n tệ hại hơn giới ăn mày nữa,
th́ xă hội đó có tốt lành ǵ đâu! Chẳng lẽ đă thành
một người ăn mày mà mong cho có người c̣n tệ hơn kẻ
ăn mày để ḿnh có dịp thực hiện cái hạnh bố thí mà
tốt lắm sao!... Anh ta có vẻ hiểu thấu và làm thinh!...
Đi phải
có đường, nhắm phải có hướng. Tu hành cũng vậy, ta
phải xác định rơ rệt hướng đi, điểm đến, nếu không
th́ đường tu hành của ta sẽ bị mông lung vô định
hướng hoặc lạ |