|
Là pháp môn niệm Phật,
lấy nhất tâm niệm Phật, cầu sinh Tây phương, ly khổ
đắc lạc. Nh́n vào thấy như là Tiểu thừa, chỉ tự lợi
ḿnh, nhưng thực tế mà nói th́ là Đại thừa, có thể
lợi tha. V́ sao? V́ niệm Phật văng sinh, được thấy
Phật nghe pháp, chứng vô sinh nhẫn, đắc thân, khẩu,
ư tam luân bất tư ngh́ nghiệp, trở lại tam giới
quảng độ chúng sinh. Trong cái chán khổ ấy chính là
muốn cứu khổ cho chúng sinh, tức tâm đại bi của Bồ
Tát vậy...
Pháp môn th́ vô lượng, nhưng có chia ra Đại thừa,
Tiểu thừa. Tiểu thừa chỉ cầu tự lợi, riêng độ thân
ḿnh. Đại thừa đặt nặng lợi tha, rộng độ tất cả.
Hoặc hỏi người tu niệm Phật, chán khổ cầu vui,
nguyện văng sinh Tịnh độ, bỏ Ta bà ngũ trược ác thế
này để tiêu diêu trên miền Cực lạc, chỉ cầu lợi ḿnh,
vậy há chẳng phải Tiểu thừa sao? Mà Bồ Tát th́ phải
phát tâm quảng đại, chỉ nghĩ đến lợi người, không từ
lao khổ, không cầu an vui, lao vào trần thế để độ
sinh, không những chỉ cần tu khổ hạnh trong cơi
người mà thậm chí trong địa ngục, vào ra trong đường
ngạ quỷ, súc sinh, không thấy khổ vui, không thấy
thủ xả, như vậy mới hợp với đạo Đại thừa. So sánh
đại tiểu đâu chỉ chênh lệch như biển cả với nước dấu
chân trâu, người niệm Phật sao không khéo chọn?
Đáp
rằng: Niệm Phật chính là hạnh Đại thừa thỏa đáng
nhất, có thể trên đền bốn ân nặng, dưới cứu khổ ba
đường. Nếu chẳng phát tâm niệm Phật mà muốn cứu độ
chúng sinh th́ e chỉ là việc đầu lưỡi, với người đă
không có lợi mà ngược lại c̣n hại ḿnh. Ví dụ một
người không biết lội nước, thấy người chết ch́m lại
nhảy xuống cứu, không những không cứu được người mà
chính ḿnh lại bị mắc nạn, như vậy há không ngu si
sao? Nay người kính mộ Đại thừa, lại muốn độ chúng
sinh mà không tu pháp môn niệm Phật để cầu văng sinh
Tịnh độ th́ cũng lại như thế.
Phàm
muốn tu Đại thừa, phát tâm th́ dễ, bất thoái mới là
khó. Trong kinh có nói rằng: “Bồ Tát phát đại tâm,
trứng cá và hoa xoài (hai cái này dụ cho nhân nhiều
mà quả ít); ba việc nhân tuy nhiều, nhưng thành tựu
rất ít”. Trong kiếp quá khứ của Xá Lợi Phất, từng
phát đại tâm tu hạnh Bồ Tát lợi tha, lúc ấy có vua
trời đến thử, hóa làm một người Bà la môn vừa đi vừa
khóc, Bồ Tát hỏi: “Sao ông có vẻ bi thương thế”. Đáp:
“Mẹ tôi bệnh”. “Sao ông không mời lang y chẩn bệnh
mà lại khóc?”. Đáp: “Tôi đă mời khắp hết các danh y
nhưng đều vô hiệu”. Bồ Tát nói: “Có bệnh tất phải có
thuốc”. Người Bà la môn đáp: “Đúng vậy! Thầy thuốc
bảo: Bệnh mẹ tôi nếu có con mắt của người phát đạo
tâm th́ sẽ trị lành, không th́ phải chết. Bởi không
t́m được con mắt ấy làm thuốc nên tôi mới khóc”. Bồ
Tát nghĩ: “Đức Như Lai biết bao đời hành đạo Bồ Tát,
từng bố thí đầu, mắt, tủy, năo để cứu độ chúng sinh,
ta nay đă phát đại tâm, nên bố thí mắt để bà lăo
được sống. Bèn nói rằng: “Ông chớ khóc nữa, tôi nay
đă phát tâm Đại thừa, tu hạnh Bồ Tát. Nay xin thí
mắt cho ông đem về nấu thuốc”. Nói đoạn bèn móc mắt
phải đưa cho người Bà la môn. Người Bà la môn nói:
“Thầy thuốc bảo phải là con mắt trái mới được, mắt
phải không có tác dụng”. Bồ Tát hơi phiền năo: “Mắt
phải dùng không được sao không nói sớm, đợi móc ra
rồi mới nói”. Bồ Tát lại nghĩ: “Đă muốn lợi tha th́
phải không được luyến tiếc”, nghĩ thế bèn móc luôn
con mắt trái. Người Bà la môn cầm con mắt đưa lên
mũi ngửi, nói: “Con mắt hôi thế này làm sao chế
thuốc”. Bèn ném xuống đất lấy chân chà lên. Bồ Tát
động niệm, than: “Chúng sinh khó độ! Chúng sinh khó
độ!”. Thế là thoái thất đạo tâm. Đây do chưa được vô
sinh pháp nhẫn, tuy muốn học Bồ Tát, làm những việc
khó làm, xả những điều khó xả nhưng cái khó nhẫn th́
chưa nhẫn được, rồi th́ đại tâm thoái đọa, muôn kiếp
vẫn là Tiểu thừa, từ đó không dám phát lại đại tâm.
Nếu muốn tu Đại thừa, quảng độ chúng sinh th́ cần
phải niệm Phật cầu sinh Tịnh độ, thấy Phật nghe pháp,
chứng được vô sinh pháp nhẫn. Sau đó vào mười phương
cơi nước, phát tứ vô lượng tâm, tu sáu ba la mật,
lợi ích chúng sinh đồng thoát tam giới, nhanh chứng
vô thượng Bồ đề. Đây tuy trước cầu tự lợi nhưng thật
sự là muốn lợi tha, như vậy người tu Tiểu thừa cầu
xuất tam giới, cầu chứng Niết bàn ấy, há ai bằng nào?

Là pháp
môn niệm Phật, lấy nhất tâm niệm Phật, cầu sinh Tây
phương, ly khổ đắc lạc. Nh́n vào thấy như là Tiểu
thừa, chỉ tự lợi ḿnh, nhưng thực tế mà nói th́ là
Đại thừa, có thể lợi tha. V́ sao? V́ niệm Phật văng
sinh, được thấy Phật nghe pháp, chứng vô sinh nhẫn,
đắc thân, khẩu, ư tam luân bất tư ngh́ nghiệp, trở
lại tam giới quảng độ chúng sinh. Trong cái chán khổ
ấy chính là muốn cứu khổ cho chúng sinh, tức tâm đại
bi của Bồ Tát vậy; trong cái cầu lạc ấy chính là
muốn cùng vui với chúng sinh tức là tâm đại từ của
Bồ Tát, sao lại gọi niệm Phật là Tiểu thừa mà chẳng
phải là Đại thừa?
Tam
luân bất tư ngh́ nghiệp: 1/ Thân luân hiện thông: Có
thể hiện vô lượng thân, hoặc hiện thân Phật, hoặc
hiện thân Bồ Tát, hoặc hiện các thân trong sáu đường,
hoặc hiền từ hoặc hung dữ, hoặc tinh lanh, hoặc lù
khù, vào khắp mười phương cơi Phật để lợi ích vô
lượng chúng sinh. 2/ Khẩu luân thuyết pháp: Đầy đủ
bốn vô ngại biện tài, nói pháp sáu Ba la mật, tứ
diệu đế, mười hai nhân duyên, mười điều lành, năm
giới cấm... tất cả các pháp thế gian, xuất thế gian
đều tùy theo căn cơ giảng nói để cứu độ chúng sinh.
3/ Ư luân giám cơ: Có thể soi thấy chúng sinh căn cơ
lợi, độn, trí tuệ sâu cạn, dễ độ khó độ, nên dùng
thân nào để độ tức liền hiện thân đó, nên dùng pháp
nào để độ tức nói pháp ấy. Như đức Quán Thế Âm Bồ
Tát, tùy theo căn cơ mà thị hiện vô tác diệu lực, tự
tại thành tựu, tuy không phân thân mà hiện khắp, hàm
ứng mọi căn cơ không hề trái ngược, đó là bất tư
ngh́ nghiệp. Được nghiệp ấy rồi mới có thể báo đáp
tứ ân, cứu giúp ba cơi.
Nếu
không niệm Phật cầu sinh Tịnh độ th́ tuy phát tâm
rộng lớn, tự cứu c̣n chưa chắc lấy ǵ cứu độ chúng
sinh. Duy chỉ có tu niệm Phật, chuyên tâm nhất ư,
khi mạng chung, trong th́ nương niệm lực tự tâm,
ngoài th́ nhờ vào nguyện lực của Đức Phật A Di Đà,
trong một lúc hội hai lực, thu thành công trong một
niệm, văng sinh Tây phương, thấy Phật nghe pháp,
chứng vô sinh pháp nhẫn, rồi sau đó mới nương vào
bánh xe đại nguyện, hội nhập Ta bà, cho đến vô lượng
cơi nước nhiều như cát bụi, hiển sáu thần thông,
hành Tứ nhiếp pháp, quảng độ chúng sinh đồng sinh
Cực lạc. Đi lại tự do không bị nghiệp kéo mới có thể
làm đại Phật sự, báo đáp tứ ân.
1.-
Niệm Phật có thể báo đáp ơn Phật: Đức Phật đă v́
chúng ta từ vô lượng kiếp đến nay chưa từng một giây
rời bỏ. Lúc ta hôn mê Phật là người dẫn lối, lúc ta
tạo nghiệp Phật thương xót, lúc ta trầm luân Phật
phương tiện t́m cách cứu độ, khi ta được thân người
Phật mừng vui. Ân này đức này không thể dùng lời lẽ
để diễn tả. Nếu phát tâm niệm Phật, tự độ ḿnh xong
sau đó độ người, rộng tuyên pháp môn Tịnh độ, thay
Phật hoằng hóa khiến cho hết thảy niệm Phật văng
sinh, hoành siêu tam giới, thỏa hoài băo của Phật là
chân báo ân Phật vậy. Kinh điển có dạy rằng: “Giả sử
đầu đội hằng sa kiếp, thân làm sàng tọa khắp tam
thiên; nếu không thuyết pháp độ chúng sinh, th́ chưa
gọi là báo ơn Phật”.
2.-
Niệm Phật có thể báo đáp thân ân: Thương thay cha mẹ,
lao nhọc sinh ta, ân ấy đức ấy, đầy khắp hư không.
Cha nuôi ta khôn lớn dạy ta nên người, một đời lao
khổ không v́ ai khác; yêu ta như yêu viên ngọc trên
tay, ngóng ta như ngóng lúa năm đói kém. Mẹ th́ mười
tháng cưu mang, ba năm bú mớm, nhả ngọt nuốt đắng,
nằm ướt nhường khô, chăm sóc ta từng ly từng tí. Nếu
chỉ cung phụng ngọt ngon lúc sống, ma chay rềnh ràng
khi chết, như thế cũng chưa trọn báo thâm ân, cần
phải niệm Phật cầu sinh Tịnh độ, sau đó trở lại Ta
bà cứu vớt vong linh cha mẹ, vĩnh viễn ĺa khỏi tam
đồ khổ, sinh lên Cực lạc an vui, như vậy mới được
gọi là báo đáp trọn vẹn. Lại nữa, ta từ vô lượng
kiếp đến nay, xả thân thọ thân, đời đời đều có cha
mẹ, hoặc sinh làm người hoặc sinh làm thú mà mắt
trần không thấy, không thể báo đáp. Nếu niệm Phật
văng sinh, được sáu thần thông th́ không chỉ có thể
riêng độ cha mẹ đời này, mà c̣n độ được cha mẹ nhiều
đời kiếp trước, như vậy mới gọi là đại hiếu, mới gọi
là chân thật báo ân.
3.-
Niệm Phật có thể báo đáp ân sư: Cha mẹ sinh ta là
cha mẹ của sinh thân; thầy tổ dạy ta là cha mẹ của
pháp thân. Nếu không có thầy tổ th́ ta không thể
khai mở trí tuệ, học vấn của ta không thể tiến lên,
đạo hạnh của ta không thể thành tựu. Ân thầy lớn lắm,
c̣n hơn cả ân cha mẹ, nếu muốn báo đáp, chỉ có niệm
Phật cầu sinh Tây phương, tự độ ḿnh xong, sau đó độ
người. Như Pháp sư Cưu Ma La Thập, ban đầu học Tiểu
thừa ở Pháp sư Bàn Đầu Đạt Đa, sau sang học Đại thừa
ở Pháp sư Tô Lợi Đa Tu Ma, nhận rơ sâu xa lư thể
pháp tánh, tự hận trước đây sai lầm đă học Tiểu thừa,
nhân nhớ đến thầy cũ, bèn trở lại diễn nói chân lư
Đại thừa khiến thầy đắc ngộ, được lợi ích lớn. Thầy
cũ lại bái La Thập làm thầy, Thập không dám nhận. Sư
nói: “Ta là thầy Tiểu thừa của ông, ông là thầy Đại
thừa của ta”. Như La Thập, đáng được gọi là thật báo
ơn thầy vậy.
4.-
Niệm Phật có thể báo ân chúng sinh: Hoặc hỏi: “Chúng
sinh có ân ǵ với ta?”. Đáp rằng: “Người cày ruộng
ta mới có ăn, người dệt vải ta mới có mặc, bao nhiêu
vật dụng hằng ngày, chúng sinh tạo tác ta mới có
dùng”. Hoặc nói: “Ta bỏ tiền ra mua, sao lại gọi ân?”.
Đáp rằng: “Đành là ta bỏ tiền ra mua, nhưng chúng
sinh không lao tâm nhọc sức th́ ta lấy đâu mà mua?”.
Lại nữa, tất cả chúng sinh hoặc là cha mẹ, hoặc là
thầy tổ, hoặc là thân bằng quyến thuộc của ta trong
quá khứ, chẳng qua thay h́nh đổi dạng, nên không
nhận ra được, không thể bảo chúng sinh hoàn toàn
không có quan hệ ǵ với ta; thậm chí con trâu kéo
cày, con chó giữ nhà, cũng đều có ân với ta, phải
nên báo đáp. Niệm Phật cầu sinh Tịnh độ, tuy là tự
độ nhưng thật sự là muốn độ khắp chúng sinh. Nếu lấy
cái thân hiện tại chưa đắc vô lậu này mà muốn học
hạnh Bồ Tát độ sinh th́ thật chẳng phải là chuyện dễ.
Thí như chèo chiếc thuyền lủng ra sông cứu người,
chẳng những không cứu được người mà ngược lại ḿnh
bị chết ch́m. Sinh lên Tịnh độ rồi, thấy Phật nghe
pháp, chứng vô sinh nhẫn, đắc thân, khẩu, ư tam luân
bất tư ngh́ nghiệp mới có thể độ khắp mười phương
chúng sinh, đấy là thật báo ân chúng sinh vậy.
Tam hữu:
Dục hữu, sắc hữu, vô sắc hữu. Tức dục giới, sắc giới,
vô sắc giới. Tam giới, sao gọi là tam hữu? Bởi trong
tam giới, chúng sinh lục đạo theo nghiệp thiện ác mà
lúc lên lúc xuống, nghiệp thiện th́ sinh lên ba
đường lành làm Trời, Người, A Tu la (phi thiên,
phước báo không bằng trời) mà thọ phước lạc. Nghiệp
ác th́ đọa vào ba đường dữ địa ngục, ngạ quỷ, súc
sinh mà chịu khổ báo. Nếu nghiệp thiện lại kiêm
nghiệp thiền định bất động th́ sinh sắc giới, vô sắc
giới. Do ba nghiệp thiện ác, vô kư mà có luân hồi,
có nhân tất có quả, nhân quả không mất nên gọi đó là
hữu. Bằng lấy tam giới cửu địa mà nói th́ gọi đó là
cửu hữu.
Cửu địa:
Từ lục dục thiên trở xuống gọi là Ngũ thú tạp cư địa,
là chúng sinh năm đường sống hỗn tạp với nhau. Ví
như người, quỷ, thú cùng ở với nhau trên nhân gian
vậy. Trời sơ thiền gọi là ly sinh hỷ lạc địa, trời
nhị thiền gọi là định sinh hỷ lạc địa, trời tam
thiền gọi là ly hỷ diệu lạc địa, trời tứ thiền gọi
là xả niệm thanh tịnh địa. Cùng với trời tứ không:
Không vô biên xứ địa, Thức vô biên xứ địa, Vô sở hữu
xứ địa, Phi tưởng phi phi tưởng xứ địa, gọi chung là
25 hữu, đều là có nhân có quả, theo nghiệp thọ báo.
Người niệm Phật tự độ đă xong, phát tâm độ tha, thừa
nguyện độ sinh khắp cùng tam giới. Kinh Kim Cang nói:
“Hoặc noăn sinh, hoặc thai sinh, hoặc thấp sinh,
hoặc hóa sinh, hoặc hữu sắc, hoặc vô sắc, hoặc hữu
tưởng, hoặc vô tưởng, hoặc phi hữu tưởng phi vô
tưởng ta đều độ hết khiến vào vô dư Niết bàn”. Đây
gọi là tế độ tam hữu. Nên nói niệm Phật có thể độ
chúng sinh. |