|
Thay Lời Tựa
Phần đầu của quyển sách
nhỏ này vốn là ‘Những bài nói chuyện trong Phật thất
ở Dallas’, phần nh́ là đáp lời thỉnh cầu của Ngộ
Khải pháp sư, lăo ḥa thượng Tịnh Không từ Singapore
trực tiếp dùng mạng internet khai thị cho đồng tu
trong Phật thất Dallas. Hai phần này được cư sĩ
Truyền Tịnh kết hợp lại, chỉnh lư, và thêm những tựa
đề nhỏ cho từng đoạn. Vài hàng giải thích và cám ơn.
Phần thứ ba có tựa đề
‘Truyền Tâm Pháp Yếu’, ghi lại buổi nói chuyện của
lăo ḥa thượng với lớp đào tạo nhân tài hoằng pháp
kỳ 2, tháng 11, 1996 tại Cư Sĩ Lâm Tân Gia Ba, do cư
sĩ Nhận Chân chỉnh lư.
A. XÂY DỰNG TÂM LƯ TRONG
PHẬT THẤT
a. Sanh tâm ‘Vô
trụ’
1. Mục
đích của Phật thất
Phật thất là
phương pháp tu hành [mà hành giả] đặt ra kỳ hạn để
cầu chứng, nghĩa là đặt mục tiêu phải thành công,
trong 7 ngày này phải đạt được ‘nhất tâm bất loạn’
nói trong kinh A Di Đà. Công phu đến ‘nhất tâm bất
loạn’ thường được chia ra ba hạng: thượng, trung, hạ.
Công phu mức thượng gọi là ‘Lư nhất tâm bất loạn’ có
cùng một cảnh giới với mức ‘Minh tâm kiến tánh, kiến
tánh thành Phật’ trong Tông Môn. Kế đó là ‘Sự nhất
tâm bất loạn’: đoạn dứt kiến tư phiền năo, công phu
này tương đương với bậc Tiểu thừa A La Hán. Mức
thấp nhất gọi là ‘Công phu thành phiến’ (thành khối).
Rất ít người có thể đạt được công phu mức thượng và
mức trung, nhưng ‘công phu thành phiến’ đích thật là
ai cũng có thể đạt được.
Trong ṿng 24 giờ đồng hồ trong tâm chỉ có A Di Đà
Phật, ngoài ra không khởi lên một vọng niệm ǵ khác,
đây gọi là ‘công phu thành phiến’. Từ điểm này [chúng
ta] có thể biết kết thất niệm Phật có mục đích thù
thắng như vậy. Giảng khai thị trong Phật thất được
gọi là ‘xen tạp, xía vô’, v́ giảng khai thị làm cho
tâm người ta loạn lên và không đạt được công phu
thành phiến. Tại sao chúng ta không những giảng
khai thị trong Phật thất mà c̣n giảng đến một giờ
rưỡi? Nói chung cũng v́ lúc dự Phật thất vọng tưởng,
tạp niệm [của các bạn] quá nhiều, đạt không được
công phu thành phiến, bất đắc dĩ phải làm vậy.
2. ‘Đạo’ ở
trong sanh hoạt hằng ngày.
Tại sao công phu niệm Phật của mọi người không
được đắc lực? Nguyên nhân là v́ không nh́n thấu,
không buông xả, và cũng v́ chưa hiểu rơ được chân
tướng của vũ trụ nhân sanh. Tất cả kinh điển
Đại thừa như Lăng Nghiêm, Lăng Già, Hoa Nghiêm, Pháp
Hoa đều đă thảo luận đến những vấn đề này. Tuy kinh
Kim Cang không dài nhưng nội dung nhất định không
kém những kinh luận Đại thừa khác, mỗi chữ mỗi câu
trong kinh đều hàm chứa vô lượng nghĩa cho nên kinh
Kim Cang trong Phật giáo Trung Quốc đă vượt qua [ranh
giới] giữa các tông phái, không kể tu học pháp môn
nào hầu như không ai không đọc kinh Kim Cang.
Sự việc mà Phật
pháp truy cầu là trí huệ rốt ráo, trí huệ cứu cánh
viên măn. Chỉ có trí huệ mới có khả năng giải quyết
tất cả vấn đề, [vấn đề] lớn như sanh tử luân hồi,
thành Phật làm Tổ, [vấn đề] nhỏ như thân tâm an lạc
ngay trong hiện tại. Tâm thanh tịnh th́ thân sẽ
thanh tịnh, trăm bịnh không sanh; mỗi năm thân thể
càng khỏe và dung mạo trẻ trung thêm.
Trong Phật pháp
không kể Đại Thừa, Tiểu Thừa, Hiển Giáo, Mật Giáo
đều dạy chúng ta đạt được niềm vui ‘pháp hỷ sung măn’
trong sanh hoạt thường ngày. [Vậy th́] tại sao đời
sống của chúng ta hiện nay lại khổ năo như vậy?
Nguyên nhân là không có trí huệ. [Khi tôi] đọc Lục
Tổ Đàn Kinh rất ngưỡng mộ Huệ Năng đại sư, lúc gặp
Ngũ Tổ Ngài nói: ‘Trong tâm đệ tử thường sanh trí
huệ’, đủ thấy được Ngài luôn sanh hoạt trong trí huệ;
[ngược lại] chúng ta th́ ‘trong tâm đệ tử thường
sanh phiền năo’, chúng ta luôn sanh hoạt trong phiền
năo!
Làm thế nào để
chuyển phiền năo thành bồ đề?
H́nh dáng của bồ
đề tức là niềm vui ‘pháp hỷ sung măn’, tức là trí
huệ viên măn. Kim Cang Bát Nhă là trí huệ viên măn
và rốt ráo nhất. Cho nên ngay đoạn đầu trong kinh
Kim Cang đức Phật Thích Ca Mâu Ni liền biểu hiện sự
đại tự tại, đại viên măn trong đời sống, dạy cho
chúng ta thể hội và học theo. Phần đông các kinh
điển đều dùng việc [đức Phật] phóng hào quang, hiện
tướng lành để mở đầu, nhưng [đoạn mở đầu] trong kinh
Kim Cang đức Phật Thích Ca Mâu Ni ‘đắp y, cầm b́nh
bát, đi vào thành Xá Vệ khất thực’. Đây là để nói
rơ trí huệ cứu cánh viên măn vốn là ở trong sanh
hoạt hằng ngày. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đắp y,
cầm b́nh bát, ăn cơm đều là ‘kim cang bát nhă’; từ
sáng đến tối, sanh hoạt, làm việc, tiếp xúc với
người và việc, tất cả đều là trí huệ cứu cánh viên
măn. Trong kinh Hoa Nghiêm, những Pháp Thân Đại Sĩ
trong 53 lần tham vấn thị hiện làm nam, nữ, già, trẻ,
các ngành nghề, tại gia, xuất gia, đời sống của họ
đều giống sự thị hiện của đức Phật Thích Ca trong
kinh Kim Cang, đều sanh hoạt trong trí huệ cứu cánh
viên măn. Đây là sự thọ dụng chân thật mà Phật pháp
đem lại cho mọi người, không có ǵ là mê tín.
Trong kinh Vô
Lượng Thọ, đức Thế Tôn nói đến ba thứ chân thật:
1.
‘Chân thật chi tế’ tức là bản tánh chân như, tức
là mục tiêu của sự học Phật
2. ‘Trụ chân
thật huệ’ tức là Kim Cang Bát Nhă
3. ‘Huệ dĩ
chúng sanh chân thật chi lợi’ (Ban cho chúng sanh
lợi ích chân thật).
Tự ḿnh trụ trong trí huệ chân thật th́ mới có khả
năng dạy tất cả chúng sanh đạt được trí huệ chân
thật. Chúng ta phải làm ra h́nh tướng tốt cho người
ta thấy, làm cho người ta cảm động, muốn học và bắt
chước, [làm cho họ] cũng có thể đạt được đời sống
viên măn trí huệ giống như chư Phật, Bồ Tát, đó tức
là ‘huệ dĩ chân thật chi lợi’.
Chư Phật, Bồ Tát
thị hiện ở thế gian làm gương tốt nhất cho chúng
sanh, chúng ta noi theo các Ngài mà học tập, như vậy
gọi là ‘học Phật’. Cùng một đạo lư này, làm một đệ
tử của Phật, khi khởi tâm động niệm, ngôn ngữ tạo
tác, hành vi trong đời sống chúng ta đều phải làm
gương tốt cho tất cả mọi người. Phật pháp không
phải dùng để đàm huyền thuyết diệu mà phải áp dụng
vào sự sanh hoạt thường ngày. Nguyên nhân chúng ta
học Phật mà không đạt được thọ dụng [lợi ích] của
Phật pháp, khuyết điểm của chúng ta là ‘không buông
xả’ và ‘không nh́n thấu’. Giống như lăo ḥa thượng
Hư Vân trong Thiền Tông cận đại, đại sư Ấn Quang
trong Tịnh Tông, những ǵ họ thị hiện hoàn toàn phù
hợp với nguyên tắc tu học dạy trong kinh Kim Cang.
Sau khi nghe hai câu ‘Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ
tâm’ (nên không trụ vào đâu để sanh cái tâm
ấy) trong kinh Kim Cang, Lục Tổ Huệ Năng [liền]
khai ngộ; thiệt ra mỗi chữ mỗi câu trong kinh đều
quan trọng như hai câu này.
Chúng ta học Phật rốt cuộc
là để làm ǵ?
Học cái ǵ?
Đạt được cái ǵ?
Thường thường
phản tỉnh như vậy th́ mới có cơ hội giác ngộ, không
những phải vượt hơn Lục Tổ, mà c̣n phải vượt ra khỏi
thập pháp giới. Nếu không phản tỉnh th́ cứ tiếp tục
mê hoặc và kẹt măi trong sáu nẻo luân hồi. Trong
kinh Hoa Nghiêm đức Phật dạy: ‘Tất cả chúng sanh
đều có trí huệ đức tướng của Như Lai, nhưng v́ vọng
tưởng chấp trước nên không chứng được’, đây là
một lời nói chỉ rơ nguồn gốc của thập pháp giới.
Khởi vọng tưởng làm ‘Nhất Chân Pháp Giới’ biến thành
thập pháp giới; có chấp trước th́ tạo thành lục đạo
luân hồi. V́ vậy phá chấp trước sẽ ra khỏi lục đạo;
đoạn dứt vọng tưởng sẽ ra khỏi thập pháp giới.
‘Tam Quy Y’ là
tổng cương lĩnh, mục tiêu chung của sự học Phật.
‘Quy’ nghĩa là quay lại, ‘y’ nghĩa là nương vào,
‘Phật’ nghĩa là ‘giác’. Từ trong mê hoặc điên đảo
quay lại nương nhờ vào ‘giác’, từ đây về sau luôn
‘giác mà không mê’ tức là ‘quy y Phật’. Pháp nghĩa
là chánh tri chánh kiến (sự hiểu biết, cái nh́n
đúng đắn), từ tất cả tà tri tà kiến (sự hiểu
biết, cái nh́n sai lầm) quay lại nương vào tri
kiến Phật tức là ‘quy y Pháp’. Tăng có nghĩa là
thanh tịnh, sáu căn thanh tịnh một mảy trần cũng
không nhiễm. Hiện nay chúng ta thường nói đến tâm
lư, tinh thần, tư tưởng, và kiến giải ô nhiễm, thậm
chí đến sinh lư, hoàn cảnh ô nhiễm …., chúng ta từ
trong tất cả nhiễm ô quay lại nương vào thanh tịnh.
Tâm thanh tịnh th́ thân thanh tịnh; thân tâm thanh
tịnh th́ hoàn cảnh sẽ thanh tịnh. Đó mới là ‘quy y
Tăng’.
Phật pháp [dạy
chúng ta] tu cái ǵ?
Tu ‘giác, chánh, tịnh’.
Dùng phương pháp
ǵ để tu?
Tám vạn bốn ngàn pháp môn,
vô lượng pháp môn.
‘Pháp’ là
phương pháp, môn là lối vào; vô lượng vô biên phương
pháp đường lối đều tu ‘giác, chánh, tịnh’. Nếu
phương pháp đường lối [nào đó] không có tu ‘giác,
chánh, tịnh’ mà ngược lại là ‘mê, tà, nhiễm’ th́ đó
không phải là Phật pháp. Nếu mỗi ngày chúng ta sinh
hoạt, làm việc, tiếp xúc với người và sự việc mà
không tương ứng, phù hợp với giác, chánh, tịnh th́
pháp chúng ta học không phải là chánh pháp.
Kinh Kim Cang nói:
‘[Chánh] pháp c̣n phải xả, huống hồ là phi pháp’.
Pháp thế gian do nhân duyên sanh, duyên khởi tánh
không; Phật pháp cũng do nhân duyên sanh, cũng là ‘đương
thể giai không, liễu bất khả đắc’ (bản thể đều là
không, không thể nào [nắm lấy] được). Đây là
điều mà đức Phật dạy chúng ta đừng nên chấp trước
thế pháp và Phật pháp, ‘Ưng vô sở trụ’, ‘trụ’ tức là
chấp trước. Nhưng không phải dạy người ta ‘không
nên chấp trước thế pháp, rồi chấp trước Phật pháp’.
Trong kinh nói rất rơ ràng, Phật pháp cũng không
được chấp trước, cũng phải buông xả. Hôm nay tại
sao chúng ta không thể buông xả? V́ không hiểu rơ
chân tướng sự thật. Đời sống của đức Phật Thích Ca
Mâu Ni vô cùng tự tại siêu thoát, nguyên nhân là v́
đối với tất cả các pháp Ngài có thể làm được ‘ưng
vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm’ (nên không trụ vào đâu để
sanh cái tâm ấy). Chúng ta học Phật, học Bồ Tát
th́ phải học cho tâm thanh tịnh, một tí bụi cũng
không nhiễm; khi tiếp xúc với mọi cảnh giới đều phải
có trí huệ viên măn, sanh hoạt được tự tại là pháp
hỷ sung măn, có thể làm cho người khác hâm mộ. Mỗi
ngày đức Thế Tôn đều biểu diễn như vậy, chưa từng
gián đoạn, nhưng chưa có ai đề cập đến chuyện này.
Một hôm giữa đám đông, tôn
giả Tu Bồ Đề tán thán đức Phật Thích Ca Mâu Ni ‘Hiếm
có, Thế Tôn’. Pháp giới cứu cánh viên măn của Thế
Tôn đă tu chứng được từ lũy kiếp (A-nậu-đa-la Tam-miệu
Tam Bồ Đề) vốn là được dùng trong sanh hoạt thường
ngày: mặc áo, ăn cơm; từng ly từng tí đều là ‘Vô
Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác’, và cũng là ‘Trí huệ
vô thượng, rốt ráo, cứu cánh, viên măn’. Điều này
mới thật sự là hiếm có!
Ngài Tu Bồ Đề nói tiếp: ‘Như
Lai thiện hộ niệm chư Bồ Tát, thiện phó chúc chư Bồ
Tát’. Bồ Tát là học tṛ. Đức Phật làm sao hộ
niệm học tṛ? [Bằng cách] làm [gương mẫu] cho học
tṛ thấy, để học tṛ thể nghiệm, học tập, thực hiện
trong đời sống. Đây là sự hộ niệm và phó chúc thật
sự. Phó chúc có nghĩa là giao trọng trách, nhắn nhủ.
Quư vị hiểu rơ, làm được rồi, lại phải dạy và làm
gương tốt cho tất cả chúng sanh, hy vọng mọi người
đều giác ngộ, ai cũng sống một cuộc đời chân thật,
mỹ măn, trí huệ; đây là bổn nguyện của đức Phật.
Chư Phật, Bồ Tát ở trong
thế gian không nhất định phải thị hiện làm pháp sư
hay cư sĩ trong Phật môn, mà cũng thường thị hiện
làm người trong tôn giáo khác. Thắng Nhiệt Bà La
Môn và Biến Hành Ngoại đạo trong kinh Hoa Nghiêm đều
là các người lănh đạo tôn giáo. Những nguyên lư và
nguyên tắc dạy dỗ chúng sanh của họ không khác với
những ǵ Phật dạy, nhưng phương pháp không giống
nhau. Họ là chư Phật, Bồ Tát ứng hóa thị hiện, như
trong kinh có nói: ‘Tuỳ tâm chúng sanh, mà ứng
hoá theo tri lượng như vậy’. Thật là vĩ đại!
Ngày 1 tháng 2 năm nay,
Cục trưởng Cục Sự Vụ Dân tộc Thiểu Số ở Queensland,
Úc Châu, ông Uri Themal OAM tổ chức một buổi luận
đàn ‘Đa Nguyên Văn Hóa’ ở Queensland và mời tôi đến
nói chuyện. Mục đích của buổi luận đàn này vô cùng
quư báu, theo cái nh́n của Phật pháp th́ người này
là Phật, Bồ Tát. Ông này là người Do Thái, nhập
tịch Úc, theo đạo Do Thái. Mục đích của buổi họp
‘Đa nguyên văn hoá’ là hy vọng tập hợp tất cả tôn
giáo trên thế giới lại với nhau và thảo luận làm thế
nào để đoàn kết, làm thế nào để xoá bỏ sự cách biệt
giữa mọi chủng tộc, bối cảnh văn hoá, và tôn giáo
tín ngưỡng khác nhau. V́ ngày nay chính phủ Úc có
chính sách mở rộng, mọi người từ khắp nơi trên thế
giới di dân đến Úc càng ngày càng nhiều, làm sao có
thể sanh hoạt hài hoà với nhau, hợp tác giúp đỡ lẫn
nhau, để đạt đến mục đích xă hội phồn vinh, an định,
hưng thạnh, phú cường. Điều này là quan niệm của
Phật, Bồ Tát [trong việc] hoằng pháp lợi sanh.
Hôm đó
tôi họp mặt cùng với người lănh đạo của 14 đoàn thể
tôn giáo, tôi khen ngợi họ là những Bồ Tát thật sự,
hoàn toàn buông bỏ thành kiến cá nhân để mưu cầu cho
xă hội an định, hạnh phúc thực sự cho mọi người.
Tôi hy vọng cuộc đàm luận này có thể mở rộng đến mọi
thành phố, và hy vọng có thể phát triển đến khắp mọi
nơi trên thế giới. Mục tiêu của buổi họp là hoà
b́nh thế giới. Tuy nhiên ḥa b́nh không phải chỉ
dùng miệng hô hào là được, nhất định phải tiêu trừ
hết tất cả những mối hiềm khích lẫn nhau, ư kiến
khác nhau; t́m ra điểm tương đồng giữa quan niệm của
mọi người. Thí dụ trong các tôn giáo có nói đến
‘Chúa thương yêu người đời’, nói đến ‘bác ái’, trong
Phật pháp nói đến ‘từ bi’, đây là điểm tương đồng.
Tất cả mọi tôn giáo đều có
điểm tương đồng, chúng ta tạm thời gạt những điểm dị
biệt qua một bên, phát huy những điểm tương đồng
trước, từ điểm này xây dựng sự hiểu biết lẫn nhau.
Kinh Phật thường nói vạn pháp đều từ ‘Tự tánh biến
hiện’ ra, không có đạo lư ‘không thể dung hoà lẫn
nhau’. Kinh Hoa Nghiêm nói: ‘lư sự vô ngại, sự
sự vô ngại’, đây là chân lư. Nếu có trí huệ,
tất cả những sự cách biệt, hiểu lầm đều có thể hoá
giải, thế giới, nhân sanh đều biến thành tốt đẹp.
3. Làm thế nào ‘an
tâm đoạn vọng’.
Tôn giả Tu Bồ Đề trong hội
giảng kinh Kim Cang Bát Nhă nh́n thấy sanh hoạt,
việc làm, cách đối người, tiếp vật đều là ‘Kim Cang
Bát Nhă Ba La Mật’, nghĩa là ‘trí huệ cứu cánh viên
măn’, và cũng là ‘A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam Bồ Đề’
(A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam Bồ Đề nghĩa là Vô
Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác). V́ thế Ngài hỏi
đức Phật: ‘Thiện nam tử, thiện nữ nhân, phát tâm
A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam Bồ Đề’. ‘Thiện nam tử,
thiện nữ nhân’ ở đây chỉ các bạn đồng học. Điểm này
vô cùng trân quư – các bạn đồng học phát tâm rồi,
nhưng không thể làm được tự tại rốt ráo như đức Phật.
Nguyên nhân ở tại chỗ nào?
Ngài Tu Bồ Đề vô cùng khéo
léo, thay mặt mọi người nêu ra hai câu hỏi, hỏi đúng
ngay chỗ bí, chỗ gút mắc [của mọi người], câu hỏi
thứ nhất là:
‘Ưng vân hà trụ’ (Nên
trụ ở đâu), câu thứ nh́:
‘Vân hà hàng phục kỳ
tâm’ (Làm sao để khuất phục tâm này?)
Câu thứ nhất, không biết
phải an trụ tâm ở đâu?
Câu thứ hai, vọng niệm
vọng tưởng quá nhiều, làm sao để đoạn dứt?
‘Hàng phục kỳ tâm’
tức là ‘khuất phục phiền năo’. Từ điểm này
có thể biết, không biết nên an trụ tâm ở đâu tức là
vọng tưởng, ư niệm quá nhiều, tất cả đều là phiền
năo. Thị phi, nhân ngă, tham, sân, si, mạn (kiêu
mạn, kiêu căng) là ‘vọng tưởng, chấp trước’ nói
trong kinh Hoa Nghiêm. ‘Ưng vân hà trụ’ là
dạy người ta giải quyết [dẹp trừ] vọng tưởng;
‘vân hà hàng phục kỳ tâm’ nghĩa là làm sao phá trừ
chấp trước. Nếu hai vấn đề này được giải quyết
th́ có thể vượt ra khỏi mười pháp giới, như vậy mới
biết ư nghĩa của của câu hỏi này vô cùng sâu rộng,
nghệ thuật hỏi cũng rất cao minh.
Hai câu hỏi này thực ra là
hai mặt của một vấn đề, đức Phật trả lời cụ thể rằng
Bồ Tát làm thế nào để khuất phục tâm này. Phật dạy
Bồ Tát, tức là dạy chúng ta. ‘Sở hữu nhất thiết
chúng sanh chi loại…., ngă giai linh nhập Vô Dư Niết
Bàn nhi diệt độ chi’ (Tất cả mọi loài chúng sanh…,
ta đều khiến cho nhập vào Vô Dư Niết Bàn ḥng diệt
độ), nếu có thể sanh tâm như vậy tức là tâm Phật,
tức là chân tâm. Chúng ta phải có tâm niệm giống
như chư Phật, Bồ Tát; Phật dạy chúng ta dùng tâm
thanh tịnh, tâm b́nh đẳng, tâm đại từ bi để đối xử
với tất cả chúng sanh. Kinh nói: ‘Phật không độ
người chẳng có duyên’, chịu tiếp nhận dạy dỗ tức
là có duyên, không tiếp nhận tức là chẳng có duyên.
Trong nhà Phật không bỏ một người nào cả, chư Phật,
Bồ Tát chân thành từ bi, sẽ không buông bỏ một người
nào cả; vấn đề là chúng ta có chịu y theo lời dạy mà
thực hành hay không? Khi chúng ta giúp đỡ chúng
sanh không chỉ giúp đỡ họ trong một thời gian ngắn
mà phải giúp họ đạt đến cứu cánh rốt ráo, tức là
‘đều giúp cho nhập vào Niết Bàn Vô Dư rồi diệt độ’.
Nói một cách khác phải luôn luôn giúp đỡ chúng sanh
chứng được ‘Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác’, câu
này là để dạy chúng ta ‘nhi sanh kỳ tâm’ (để sanh
cái tâm ấy).
‘Sanh tâm’ phải ‘vô trụ’
mới được, nên đức Phật nói tiếp: ‘Như thị diệt độ
vô lượng vô số vô biên chúng sanh, thực vô chúng
sanh đắc diệt độ giả’ (Độ vô lượng vô số chúng sanh
nhiều như vậy nhưng thực sự không có chúng sanh được
diệt độ). Tâm của Phật, Bồ Tát thanh tịnh như
thế! Đức Phật Thích Ca Mâu Ni mặc áo chỉnh tề, sạch
sẽ, không trước tướng; tŕ bát [khất thực] mỗi ngày,
ăn uống cũng không chấp tướng. Hết thảy lời nói,
hành động, cử chỉ đều để làm gương cho tất cả chúng
sanh, trong tâm trống rỗng, cho đến mảy trần chẳng
nhiễm, nhất định không có tí phân biệt chấp trước ǵ
cả. Phật, Bồ Tát giúp đỡ chúng sanh hoàn toàn không
nghĩ rằng ḿnh ban ân huệ cho họ, nên mới gọi là ‘vô
duyên đại từ’. Vô duyên nghĩa là không đặt điều
kiện. Như vậy mới biết được chỗ cao cả, vĩ đại của
chư Phật, v́ tâm lượng của các Ngài đă mở rộng, tận
hư không khắp pháp giới đều là một thể cả. V́ tất
cả chúng sanh và ḿnh đều là một thể cho nên người
thực sự giác ngộ nhất định sẽ từ bi, thương yêu chăm
sóc vô điều kiện cho tất cả chúng sanh. Nhưng chúng
sanh mê hoặc điên đảo không biết tận hư không, khắp
pháp giới đều là một, cho rằng người khác không có
liên can ǵ với ḿnh, ḿnh tốt đẹp là được rồi, lo
cho người khác làm ǵ.
Thế Tôn đặc biệt nhắc nhở
chúng ta: ‘Nếu Bồ Tát có tướng ta, tướng người,
tướng chúng sanh, tướng thọ giả, tức không phải là
Bồ Tát’. [Ngài] dùng câu này để dạy chúng ta
ĺa bốn tướng và cũng là ĺa tất cả pháp tướng thế
và xuất thế gian. ‘Ngă tướng’ là chấp trước ‘tôi’,
cứ tưởng thân này là của ḿnh, cứ tưởng [cái] có thể
tư duy, tưởng tượng là tôi. Thiệt ra đó là ‘tứ kiến’
(ngă kiến, nhân kiến, chúng sanh kiến, thọ giả kiến)
và đem những thứ này xem là ‘tôi’, đây là nguyên
nhân của tất cả sai lầm. Những ǵ đối lập với ‘tôi’
đều xưng là ‘người’ (nhân); tất cả chúng sanh hữu
t́nh trong chín pháp giới đều ở trong phạm vi
‘người’ này. Thế mới biết phạm vi của ‘nhân tướng’
(tướng người) vô cùng rộng lớn, chư Phật, Bồ Tát
cũng dùng ‘người’ làm đại biểu.
Đức Phật nói với chúng ta
tất cả hiện tượng thế gian và xuất thế gian, y báo,
chánh báo trang nghiêm trong mười pháp giới (người
thế gian dùng danh từ ‘vũ trụ vạn hữu’) từ đâu đến?
H́nh thành ra sao? Diễn biến như thế nào? Phật nói
là do: ‘Chúng duyên hoà hợp nhi sanh’ (do các
nhân duyên hoà hợp mà sanh ra), tức là ‘tướng
chúng sanh’. V́ do các nhân duyên ḥa hợp mà tạo
thành, hàm ư thật sự trong đó là ‘không có tự thể’,
‘đương thể giai không, liễu bất khả đắc’ (bản thể
của nó là không, trọn chẳng thể nắm lấy)---
tướng hữu, thể không, liễu bất khả đắc (Tướng th́ có,
nhưng bản thể là không, trọn chẳng thể đạt được).
‘Thế pháp’ (pháp thế gian) là do nhiều [nhân]
duyên [hợp lại] mà sanh ra, kinh Bát Nhă nói ‘duyên
khởi tánh không’; ‘Phật pháp’ cũng là ‘duyên khởi
tánh không’, trong chân tâm bản tánh không có Phật
pháp. Lục Tổ nói rất hay: ‘Bổn lai vô nhất vật’
(vốn chẳng có một vật), Phật pháp cũng là một
vật, vốn cũng không có. Thế mới biết hàm ư của
‘chúng sanh tướng’ sâu xa vô cùng!
‘Thọ giả tướng’ chỉ thời
gian tồn tại dài ngắn của các hiện tượng. Kệ cuối
cùng trong kinh Kim Cang nói:
‘Nhất thiết hữu vi pháp
(Tất cả pháp hữu vi
Như mộng huyễn bào ảnh,
Như mộng huyễn, bọt, ảnh,
Như lộ
diệc như điển Như sương cũng như chớp
Ưng tác như thị quán’
Nên quán sát như vậy)
‘Như mộng, huyễn, bọt,
ảnh’ tức là
chúng sanh tướng; ‘như sương cũng như chớp’
tức là thọ giả tướng, thời gian nó tồn tại [rất ngắn]
như giọt sương, như ánh chớp. Sương thí dụ cho
tướng tương tục (tướng tiếp nối), người ta trên thế
gian có thể sống được mấy chục năm, thí dụ ‘như
sương’. Điện chớp thí dụ cho ‘tướng chân thật’.
Trong kinh ‘Nhân Vương Bát Nhă’ đức Phật nói ‘một
cái khảy ngón tay có 60 sát na, một sát na có 900
lần sanh diệt’, tức là ‘như chớp’. Hiện tượng
đích thật không tồn tại, từ ‘chúng sanh tướng’ và
‘thọ giả tướng’ liền hiểu rơ được chân tướng sự thật
của vũ trụ nhân sanh, mới hiểu được ‘đương thể
tức không, liễu bất khả đắc’ (bản thể của nó
đều là không, chẳng thể đạt được). Thế nên kết
luận là ‘vạn pháp giai không, nhân quả bất không’
(vạn pháp đều là không, nhân quả chẳng không).
4. Vạn pháp là tướng
tương tục (tiếp nối) của nhân quả
Nhân quả cũng ở
trong vạn pháp, tại sao nói nhân quả chẳng không?
Nhân quả là căn nguyên của hiện tượng năng biến;
‘nhân’ là năng biến (chủ thể thực hiện động tác
biến hiện), ‘quả’ là sở biến (cái được biến
hiện ra). Tại sao có mười pháp giới? Có ‘nhân’
của Phật, th́ sẽ hiện pháp giới Phật; có ‘nhân’ Bồ
Tát th́ sẽ hiện pháp giới Bồ Tát. Cùng nghĩa lư này,
có ‘nhân’ ngạ quỷ th́ sẽ hiện ra pháp giới của quỷ;
có ‘nhân’ địa ngục th́ sẽ hiện pháp giới địa ngục.
Những hiện tượng này đều là tự tâm biến hiện ra.
Cũng như mỗi ngày nằm mộng, toàn là do ư niệm của
ḿnh biến hiện, cũng là tâm ư thức biến hiện ra.
Tâm địa lương thiện, từ bi th́ mỗi ngày đều nằm mộng
tốt lành; mỗi ngày từ sáng đến tối đều tham, sân,
si, mạn, đố kỵ chướng ngại th́ mỗi ngày đều có ác
mộng. Y báo, chánh báo trang nghiêm trong mười pháp
giới đều là hiện tượng do tự tánh tuỳ theo duyên của
nghiệp nhân biến thành. Từ điểm này có thể biết: ‘tất
cả vũ trụ nhân sanh đều là tướng tiếp nối của nhân
duyên quả báo biến thành’ mà thôi. Sau khi nh́n
thấy và hiểu rơ như vậy th́ tại sao không buông xả
chứ? Đối với tất cả người ác, nghịch cảnh, tự nhiên
có thể nh́n thấu, tự nhiên có thể buông xả. V́ hiểu
được [tất cả] hiện tượng đều là nghiệp nhân quả báo
tiếp nối liên tục, bản thể của nó đều là không,
không thể nắm giữ lấy được. Lúc đó trí huệ chân
thật hiện ra, tâm đó nhất định phải chân thành,
thanh tịnh, b́nh đẳng, chánh giác, từ bi, hết thảy
đều biểu hiện trong sanh hoạt như lời của Lục Tổ: ‘Nếu
là người tu đạo chân chánh, không nh́n thấy lỗi lầm
của thế gian’, chỉ nh́n thấy sự sanh diệt từng
sát na của tướng nhân quả tiếp nối.
Nhất Chân pháp
giới (Thật Báo độ) là nơi chư Phật Như Lai trụ và
cũng từ tự tánh biến hiện ra. Tâm thanh tịnh, tâm
thuần tịnh biến ra cảnh giới ‘Thật Báo Độ’. Tâm
thanh tịnh nhưng không thuần tịnh biến hiện ra ‘Tứ
Thánh tịnh độ’. ‘Tứ thánh’ là pháp giới Phật, Bồ
Tát, Thanh Văn, Duyên Giác trong mười pháp giới.
Tâm không thanh tịnh th́ biến thành báo độ của lục
đạo, thế mới biết tâm chúng ta là nhiễm mà không
tịnh [v́ chúng ta đang ở trong lục đạo].
Phân biệt, chấp
trước bốn tướng th́ không phải là Bồ Tát. Tiêu
chuẩn của Bồ Tát rất nhiều, nếu chúng ta đă thọ giới
Bồ Tát, th́ [hiểu ḿnh] là Bồ Tát cũng không sai,
nhưng [như vậy] chưa đúng với tiêu chuẩn Bồ Tát của
kinh Kim Cang. Tiêu chuẩn Bồ Tát của kinh Kim Cang
cũng tức là tiêu chuẩn của kinh Hoa Nghiêm, 41 vị
Pháp Thân Đại Sĩ đều là Bồ Tát đă vượt ra khỏi mười
pháp giới. Thế nên [trong câu] ‘nếu Bồ Tát có
ngă tướng, nhân tướng, chúng sanh tướng, thọ giả
tướng’ thêm vào vài chữ liền rơ ràng, ‘tức
không phải Bồ Tát (trong Nhất Chân pháp giới)’.
Trong mười pháp giới có
Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, Phật. Phật nói ở đây
cũng không bằng Bồ Tát nói trong kinh Kim Cang (c̣n
chưa vượt ra khỏi mười pháp giới). Tông Thiên Thai
giảng tứ giáo: Tạng, Thông, Biệt, Viên. Tạng Giáo
Phật, Thông Giáo Phật đều ở trong mười pháp giới,
chưa minh tâm kiến tánh, một phẩm vô minh cũng chưa
phá trừ. Biệt Giáo Phật vượt khỏi mười pháp giới,
bằng địa vị Nhị Hạnh Bồ Tát của Viên Giáo, đă phá
trừ 12 phẩm trong 41 phẩm vô minh. (1)
Nếu hiểu rơ chân tướng sự
thật th́ có thể nh́n thấu; sau khi nh́n thấu rồi th́
tự nhiên sẽ buông xả, không cần người khác khuyên.
Nếu không nh́n thấu, khuyên cách nào cũng chẳng được.
Trong tâm không có những nỗi niềm âu sầu, nhớ nhung,
lo lắng, mới thật sự thong dong tự tại, mới đúng là
đáng sống. Đức Phật dạy chúng ta nguyên lư và
nguyên tắc của đời sống: ‘Bồ Tát ư pháp, ưng vô
sở trụ, hành ư bố thí’ (Bồ Tát đối với tất cả các
pháp không nên chấp trước, [nên] làm việc bố thí).
Phạm vi của bố thí rất rộng, tức là như người ta
thường nói: ‘lấy được, buông được’. ‘Ư pháp ưng
vô sở trụ’ là thế pháp, Phật pháp cũng ‘vô sở
trụ’. ‘Vô trụ’ nghĩa là không chấp trước. Đối với
thế pháp, Phật pháp đều không phân biệt, không chấp
trước, tức là ‘ưng vô sở trụ’. Ngày nay chúng ta
không hiểu rơ chân tướng, chuyện ǵ cũng phân biệt,
tính toán, đương nhiên sẽ phải chịu khổ nạn.
Trong kinh đức Phật nói
rất rơ, kinh Kim Cang không phải nói cho người tầm
thường, mà là để nói cho người căn tánh đại thừa,
tối thượng thừa (‘vi phát đại thừa giả thuyết, vi
phát tối thượng thừa giả thuyết’). Chỉ có người
căn tánh đại thừa, tối thượng thừa, căn tánh viên
đốn, ngay một đời này liền giải quyết rốt ráo vấn
đề, không cần phải tu 3 a tăng kỳ kiếp.
5. Đoạn ác tu thiện
trong đời sống.
Người [tu theo] Đại thừa
phải giữ ǵn nguyên tắc, đối với tất cả các pháp đều
không phân biệt, chấp trước, nhưng phải thực hành
‘đoạn tất cả ác, tu tất cả thiện’ và bắt đầu từ
việc mặc áo, ăn cơm. Không giặt quần áo sạch sẽ là
‘ác’; tại sao không giặt sạch sẽ? Không xếp quần áo
chỉnh tề là ‘ác’? Tại sao không xếp chỉnh tề?
Không lau bàn sạch sẽ là ‘ác’; không bày chén đũa
ngăn nắp lúc ăn cơm là ‘ác’.
Ngày nay chúng ta học
Phật, đối với cha mẹ chưa làm hết bổn phận là ác;
gia đ́nh không thể làm gương tốt cho láng giềng cũng
là ác. Làm gương tốt cho con cái là thiện; h́nh
dáng không tốt tức là ác; Đoạn ác tu thiện bắt đầu
từ những việc này, đó mới là học Phật thực sự. Nếu
tách rời việc đoạn ác tu thiện ra khỏi đời sống hằng
ngày th́ chẳng có ích lợi chi cả, người như vậy đúng
là ‘không hiểu rơ chân thiệt nghĩa của Như Lai’.
Một người từ lúc sanh ra
đến lúc ĺa đời, từ sáng đến tối, từng ly từng tí,
hai chữ ‘bố thí’ bao gồm hết thảy. Ư nghĩa của
‘hành ư bố thí (làm việc bố thí)’ rất sâu
rộng, làm thế nào biến đời sống của ḿnh thành kim
cang bát nhă, đem công việc, giao tiếp với người và
sự việc làm giống như Phật, Bồ Tát. Phật, Bồ Tát
không phải để cúng ở Phật Đường, Phật, Bồ Tát tức là
bản thân ḿnh, như vậy mới là học Phật, trong Phật
pháp người này mới đạt được sự thọ dụng chân thật.
b. Ảo tướng
của duyên sanh, đương thể tức không
1. Bố thí vô trụ.
‘Ưng vô sở trụ, hành ư bố thí’. Tuy ngôn ngữ
ngắn gọn, nội dung lại vô cùng sâu xa. Hai câu này
không những dạy chúng ta làm người, mà c̣n bao gồm
đời sống mỹ măn của chín pháp giới chúng sanh. Nếu
có thể y giáo phụng hành, thật sự làm được th́ người
này là Bồ Tát, là học tṛ chân chánh của đức Phật,
đệ tử của Như Lai.
Ư nghĩa của ‘bố thí’ là
‘xả’. Thí dụ người nội trợ từ sáng đến tối bận việc
gia đ́nh, nếu hiểu được Phật pháp th́ là tu ‘Bố Thí
Ba La Mật’.
Loại bố thí này vô cùng
rộng lớn, đừng tưởng là ḿnh chỉ phục vụ cho vài
người trong nhà, tâm lượng như vậy quá hạn hẹp, nhăn
quang quá nhỏ, chỉ nh́n thấy một chút này mà không
biết ảnh hưởng của nó bao lớn. Làm những việc trong
nhà này đ̣i hỏi thể lực; khi suy nghĩ nên làm thế
nào th́ phải dùng trí huệ, thân và tâm đều làm việc
bố thí. Chăm sóc đời sống cho cả nhà được thoải
mái, đó là hành Bồ Tát Đạo. Gia đ́nh như thế là một
đạo tràng, người nhà là đối tượng để bạn độ hóa.
Kinh Hoa Nghiêm nói bố thí
gồm có ‘ngoại tài’ và ‘nội tài’. Lao lực và trí huệ
thuộc về nội tài; những vật ngoài thân thuộc về
ngoại tài. Nội tài và ngoại tài đều nên xả. Cho
nên mỗi ngày đi làm, làm công việc của ḿnh cho đến
nơi đến chốn là bố thí cho công ty; công ty phục vụ
cho đại chúng là bố thí cho xă hội. Như vậy mới
biết việc này cũng giống như những làn sóng trên mặt
nước. Liệng một cục đá xuống nước tạo thành những
làn sóng h́nh tṛn, càng lan rộng càng lớn. Gia
đ́nh cũng giống vậy, một gia đ́nh hạnh phúc sẽ ảnh
hưởng đến láng giềng, xă hội, quốc gia, thế giới,
Phật dạy chúng ta làm một gương tốt cho mọi người
trong thế gian này: gia đ́nh chúng ta là gương tốt
cho mọi gia đ́nh, công ty là một công ty tốt nhất,
gương mẫu cho mọi công ty trên thế giới, thế mới là
Phật pháp. Trong Phật pháp thứ nào cũng hạng nhất
cho nên Phật pháp rất b́nh đẳng.
Pháp môn tu hành của 25 vị
Bồ Tát trong 25 Chương Viên Thông của kinh Lăng
Nghiêm đều khác nhau, [nhưng] pháp môn nào cũng là
hạng nhất. Đây là ‘chư pháp như nghĩa’,
[nghĩa là] ‘các pháp b́nh đẳng, không có cao
thấp’ nói trong kinh Kim Cang. Có cao thấp tức
không phải là Phật pháp, có cao thấp tức là ‘nhị
pháp’, Phật pháp là pháp bất nhị (pháp không hai).
Nghĩa lư của việc này sâu rộng vô cùng, trong kinh
đức Phật nói đến việc này rất nhiều, rơ ràng, và
minh bạch.
Tu bố thí là tu nhân, nhân
nhất định có quả báo, cho nên ‘nhất ẩm nhất trác,
mạc phi tiền định’ (một miếng ăn một miếng uống đều
có định sẵn từ trước). [Vận] ‘Mạng’ từ đâu
đến? Từ nhân đă tạo ở đời trước, đời này nhận lấy
quả báo. Nhân quả nhất định tương ứng [lẫn nhau],
-- nhân duyên quả báo tơ hào chẳng sai -- Trồng
nhân ǵ th́ sẽ được quả báo đó. Muốn biết nhân
tạo đời trước, những ǵ ḿnh nhận chịu đời này là nó
(nhân đời trước). Muốn biết quả đời sau, những ǵ
ḿnh làm đời này là nó (quả đời sau). Đây là
chân lư.
‘Thế gian’ là ‘tướng tương
tục, tiếp nối của nhân duyên quả báo’ mà thôi, cho
nên trong kinh đức Phật nói ‘Bồ Tát sợ nhân,
chúng sanh sợ quả’. Bồ Tát là người giác ngộ,
chúng sanh là người mê hoặc. Người mê không sợ tạo
nghiệp, khi quả báo hiện ra th́ mới sợ; người giác
ngộ không sợ quả báo, quả báo vừa đến, khó khăn trở
ngại đến th́ tùy thuận theo mà nhận chịu. Khi khởi
tâm động niệm, đối xử với người và tiếp xúc với mọi
vật đều không khởi tâm niệm ác, ư nghĩ ác, được vậy
th́ quả báo nhất định sẽ tốt lành, viên măn. Niệm
niệm đều v́ lợi ích, phước lợi của tất cả chúng
sanh, không nghĩ đến ḿnh, thân tâm thanh tịnh, tự
tại vui vẻ, như vậy mới là phước báo chân thật.
‘Bố thí pháp’ là nhân,
thông minh trí huệ là quả báo. Khoẻ mạnh sống lâu
là quả báo của sự tu bố thí vô uư. Bố thí vô uư là
ǵ? Đó là từ bi, quan tâm, thương mến tất cả chúng
sanh, làm cho tất cả chúng sanh được thân tâm an ổn,
vĩnh viễn xa ĺa lo buồn, sợ sệt. Trong định luật
nhân quả, tuyệt đối không có việc chịu thiệt tḥi,
bị lường gạt, và cũng không có việc lợi dụng. Nếu
bạn tưởng là chịu thiệt tḥi và bị lường gạt, [nhưng
thực ra đó] chỉ là quả báo của những việc ḿnh làm
đời trước. Hiểu rơ đạo lư và chân tướng sự thật th́
tâm chúng ta sẽ định, cho dù bị người khác lường
gạt, sỉ nhục, th́ cũng có thể nh́n thấu và buông
xả. V́ hóa giải oan trái gút mắc xong th́ khi gặp
nhau sẽ vui vẻ. Nên giải trừ oán thù chứ không nên
kết, người có thông minh trí huệ chân thật nhất định
sẽ không kết oán thù với bất cứ người nào, tương lai
trên con đường bồ đề sẽ được thuận buồm xuôi gió.
Lư do chúng sanh kết oán
thù không ngoài hai nguyên nhân, nguyên nhân thứ
nhất là căn bịnh tập khí (thói quen) của
ḿnh, nh́n không quen th́ chịu không nổi, không nhất
định [việc đó] có liên quan ǵ với ḿnh. Trong
[Pháp Bảo] Đàn Kinh, Lục Tổ Đại sư nói: ‘Nếu là
người tu đạo chân thật th́ sẽ không nh́n thấy lỗi
lầm của thế gian (người khác)’. Lỗi lầm của
người khác không liên can ǵ với ḿnh, nên dùng tâm
thanh tịnh, từ bi đối xử với tất cả chúng sanh.
Nguyên nhân thứ hai là
‘lợi hại xung đột’ (đụng chạm quyền lợi), đây
là nguyên nhân lớn nhất làm cho chúng sanh kết oán
thù, trong Phật pháp gọi là ác duyên. Thiệt ra
chẳng có lợi hại, tất cả đều do vận mạng an bài.
Nếu hiểu được đạo lư này, cũng như ‘Liễu Phàm Tứ
Huấn’ có nói: ‘Quân tử vui làm người quân tử, tiểu
nhân làm người tiểu nhân oan uổng’. Những ǵ đạt
được khi dùng tất cả những thủ đoạn không chính
đáng, không lương thiện, cũng là vốn sẵn có trong
vận mạng, nhất định không phải dùng thủ đoạn mà có
thể đạt được, nếu không như vậy th́ sẽ trái ngược
với định luật nhân quả. V́ vậy nếu hiểu được đạo lư
và chân tướng sự thật này, tâm [chúng ta] sẽ vĩnh
viễn b́nh [an, thanh] tịnh. Tâm thanh tịnh sẽ sanh
trí huệ, kinh Kim Cang nói: ‘Ḷng tin thanh tịnh
ắt sanh thật tướng’.
Phật dạy ‘Ưng vô sở trụ’.
‘Trụ’ là chấp trước; ‘vô sở trụ’ nghĩa là không chấp
trước. Chấp trước là căn bịnh. Vũ trụ, vạn vật,
sanh mạng, lục đạo do đâu mà có? Trong kinh Hoa
Nghiêm đức Phật trả lời cho câu hỏi này, đó là:
‘vọng tưởng, chấp trước’. V́ có vọng tưởng nên biến
hiện ra thập pháp giới, v́ có chấp trước nên biến
hiện ra lục đạo luân hồi. V́ vậy nếu phá chấp trước
th́ sẽ vượt ra khỏi lục đạo; đoạn trừ vọng tưởng th́
sẽ vượt ra khỏi thập pháp giới. Từ xưa đến nay các
khoa học gia, triết học gia trong và ngoài nước đều
muốn t́m kiếm nguồn gốc của vũ trụ vạn vật, họ có
thể t́m đến bờ mé nhưng t́m không được nguồn gốc
chân thật. V́ họ dùng đầu óc suy nghĩ, suy nghĩ tức
là vọng tưởng, chấp trước, cả hai đều có giới hạn,
không thể phá tan giới hạn của ư thức.
Đức Phật dạy chúng ta khi
đoạn vọng tưởng, phân biệt, và chấp trước th́ giới
hạn của tâm ư thức sẽ bị phá tan; sau khi phá tan
mới có thể nh́n thấy bộ mặt thật của vũ trụ nhân
sanh, mới hiểu rơ chân tướng sự thật. Cho nên sự tu
học trong Phật pháp bất cứ pháp môn, tông phái nào
cũng đều tu ‘thiền định’. Niệm Phật đạt được ‘nhất
tâm bất loạn’ là ‘thiền định’. Giáo Hạ tu ‘chỉ
quán’ cũng là ‘thiền định’. Tuy danh từ và phương
pháp không giống nhau nhưng tất cả đều tu ‘thiền
định’. ‘Giới’ là phương pháp chính xác; y theo
phương pháp chính xác mới có thể nhập ‘định’; sau
khi nhập định th́ sẽ khai ‘trí huệ’; có trí huệ th́
mới có thể hiểu rơ chân tướng của vũ trụ nhân sanh.
Chúng ta chuyên cần tu tập
ba thứ bố thí tài, bố thí pháp, bố thí vô uư, và
không trước tướng (chấp tướng), như vậy rất đúng.
Nếu trước tướng mà tu 3 thứ bố thí này, quả báo sẽ
chỉ là phước báo trong cơi người và trời, làm vua,
thiên vương, người trời, người trưởng giả giàu có,
không thể thoát ra khỏi tam giới, đương nhiên cũng
không ra khỏi thập pháp giới. Phật dạy chúng ta
‘ưng vô sở trụ’, không trụ ‘chấp trước’ th́ ra khỏi
lục đạo; không trụ ‘vọng tưởng’ th́ ra khỏi thập
pháp giới. Nhưng không trụ ‘chấp trước’ (không
trước tướng) rất khó làm được, cần phải dụng công
thiết thực nơi ‘nh́n thấu’, ‘buông xả’, ‘niệm Phật’.
2. Quy hướng Cực
Lạc Tịnh Độ.
Trong phẩm thứ 10 ‘Giai
Nguyện Tác Phật’ (Đều Nguyện Làm Phật) của kinh
Vô Lượng Thọ, đức Phật nói nhóm 500 người cùng vua A
Xà Thế trong đời quá khứ đă từng cúng dường 400 ức
Phật. Khi nghe đức Phật Thích Ca Mâu Ni giảng kinh
Vô Lượng Thọ xong, họ sanh tâm hoan hỷ, hy vọng sau
này thành Phật cũng giống như đức Phật A Di Đà,
nhưng không phát khởi ư niệm tín nguyện cầu văng
sanh. Thế mới biết khi nghe danh hiệu của đức Phật
A Di Đà rồi sanh tâm hoan hỷ, cầu sanh Tây phương
Cực Lạc thế giới, người này trong đời quá khứ tu tập
tích lũy thiện căn nhất định vượt hơn vua A Xà Thế
cúng dường chư Phật Như Lai, nhất định không chỉ
[cúng dường] 400 ức chư Phật. V́ chúng ta có thể
phát tâm cầu sanh Cực Lạc thế giới nhưng họ chưa
từng phát lên tâm niệm này.
Cho nên trong kinh nói
pháp môn Tịnh Độ đều được tất cả chư Phật tuyên nói,
không phải chỉ có 1 hay 2 đức Phật nói mà thôi,
thiệt là pháp khó tin. Kinh A Di Đà dạy ‘không
thể dùng ít thiện căn, phước đức, nhân duyên được
sanh nước đó’, thế mới biết được thiện căn của
chúng ta sâu dày bao nhiêu, vô cùng hiếm có! Đời
này chúng ta gặp được pháp môn Tịnh Độ và sanh tâm
hoan hỷ, tín nguyện cầu văng sanh, việc này rất đáng
vui mừng và hân hạnh.
Đức Phật giáo hoá chúng
sanh đích thật là chân thành, thanh tịnh, b́nh đẳng,
đại từ, đại bi. Thiện căn của chúng sanh không sâu
dày th́ phải vun bồi từ từ, từng đời từng đời giúp
đỡ họ. Thiện căn đă thành thục (chín muồi)
th́ giúp họ tín nguyện niệm Phật, văng sanh Tây
phương. Nếu chưa thành thục th́ giúp họ trồng thiện
căn của Di Đà Tịnh Độ. Công đức danh hiệu không thể
nghĩ bàn, một phen đă lọt vào tai th́ vĩnh viễn là
hạt giống đạo. Ngày nay họ nghe đến danh hiệu đức
Phật A Di Đà, đọc đến ‘Tịnh Độ Tam kinh’, nh́n thấy
h́nh tượng của đức Phật A Di Đà, trong A Lại Da Thức
đă trồng được hạt giống Tây phương Cực Lạc thế
giới. Tuy đời này không thể văng sanh, nhưng đời
sau khi gặp được nhân duyên th́ họ sẽ văng sanh.
Chúng ta không thể khinh rẻ bất cứ người nào, không
thể khinh mạn vô lễ đối với họ.
Việc chư Phật Như Lai giúp
đỡ chúng ta [chỉ] là nói ra chân tướng sự thật,
giảng giải phương pháp phá mê khai ngộ, và kinh
nghiệm tu hành chứng quả của các Ngài để cho chúng
ta tham khảo. Bản thân chúng ta phải tự ḿnh thực
hành, muôn ngàn xin chớ tưởng rằng ḿnh nương nhờ
chư Phật, Bồ Tát, quư Ngài sẽ pḥ hộ cho ḿnh.
Trong kinh Lăng Nghiêm đức Phật Thích Ca Mâu Ni c̣n
không thể pḥ hộ cho A Nan. A Nan lúc đầu vốn là
đang khởi vọng tưởng: ‘Đức Phật Thích Ca là anh họ
của ḿnh, người khác phải tu khổ nhọc, không tu th́
không thể thành tựu; c̣n ḿnh th́ không quan hệ ǵ
cả, anh họ rất thương ḿnh, Ngài sẽ truyền dạy Thiền
Định và Bát Nhă cho ḿnh’. Sau khi gặp nạn mới biết
đức Phật không thể giúp ḿnh. Chư Phật, Bồ Tát gia
tŕ cho chúng ta chỉ bằng những lời dạy trong kinh
điển. Chúng ta muốn Phật gia tŕ th́ chỉ có cách y
giáo phụng hành, [và như vậy] th́ sẽ được ‘sự pḥ
hộ’ của chư Phật.
Đức Phật từ bi khổ nhọc
khuyên chúng ta buông xả vọng tưởng, phân biệt, chấp
trước, nhưng chúng ta buông xả không nổi. Nguyên
nhân là không hiểu rơ chân tướng sự thật, cứ tưởng
‘thân’ là thiệt, cứ tưởng ‘cảnh giới trước mặt’ là
thiệt, mà không biết đây chỉ là quan niệm, cách suy
nghĩ, và cái nh́n sai lầm. Nếu khi đối xử với
người, sự việc, và vật, trong tâm có mê hoặc, có
đụng chạm quyền lợi, có sân giận, hăy nghĩ đến lời
đức Phật dạy ‘Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng’
(Hễ những ǵ có tướng đều là hư vọng) niệm
vài lần, trong tâm sẽ b́nh tịnh trở lại. Tất cả mọi
hiện tượng đích thật đều là hư vọng, thực tế không
tồn tại.
3. Chư pháp đều
không, nhân quả chẳng không.
Nửa phần sau của kinh Kim
Cang nói: ‘Chư pháp đều không, nhân quả chẳng
không’. “Chư pháp đều không” nghĩa là tất cả
những pháp thế gian và xuất thế gian đều là hư vọng,
không thật; ‘nhân quả’ cũng là chư pháp, cũng là hư
vọng, nhưng ‘nhân quả bất không’ (nhân quả chẳng
không).
Tại sao Tánh Tông nói
‘nhân quả chẳng không’? Pháp Tướng Duy Thức nói:
‘Tướng là giả có, thức là chân thật’. ‘Thức’ là
năng biến (cái có thể biến), ‘tướng’ là sở biến (cái
bị biến). Sở biến là giả, năng biến là thật. Nhân
quả tức là duy thức, nhân là năng biến, quả là sở
biến. Thập pháp giới là hiện tượng tương tục (tiếp
nối) của nghiệp nhân quả báo. V́ vậy người giác ngộ
sợ nhân, điều này rất hợp lư. Hiểu rơ nghĩa lư này,
trong thế gian khi gặp bất cứ người nào có ác ư với
ḿnh cũng không màng đến, và đều vui vẻ tiếp nhận.
Tôi tu nhân tịnh, quả báo nhất định tốt. Nếu người
khác làm hại tôi, tôi liền khởi tâm động niệm báo
phục (trả thù) người đó. Những sự trả thù này nhất
định càng ngày càng gia tăng, tàn khốc, tội ác càng
tạo càng nặng, sau cùng hai bên đều đọa địa ngục A
Tỳ (hại ḿnh, hại người). Không kể người ta dùng
thủ đoạn ǵ để đối [xử] với ḿnh, ḿnh liền biết
trong thời quá khứ đại khái chắc cũng đă dùng thủ
đoạn như vậy để đối [xử] với họ, hôm nay họ đối với
ḿnh như vậy, một trả một, nợ nần được trả hết, tâm
khai ư giải, như vậy [mọi người đều] vui vẻ hết!
Không có việc chịu thiệt tḥi và cũng không có việc
lợi dụng. Gút mắc đă được mở ra, khi ḿnh thành
Phật th́ phát nguyện sẽ độ họ trước nhất .
Trong kinh Kim Cang có một
công án (câu chuyện ngắn) -- chuyện của Ca Lợi vương
lóc thịt trên thân thể. Ca Lợi là tiếng Phạn, dịch
nghĩa ra là ‘tàn khốc, vô đạo’, ‘vương’ là ông vua,
Ca |