Cùng Chung Lăn Chuyn Bánh Xe Pháp

     
 

TỊNH ĐỘ

---o0o---

Pháp Môn Niệm Phật
Ḥa Thượng Thích Hồng Đạo
 
     
 

Lời Giới Thiệu

Về nhà chỉ có một lối, nhưng phương tiện th́ có nhiều ngả. Phật dạy có nhiều pháp môn tu, nhưng chuyên tu một pháp môn nào cũng đều được liễu ngộ cả.

Tập “Pháp môn niệm Phật” này, chuyên nói về sự niệm Phật. Hành giả nào muốn mau thành Phật không ǵ qua niệm Phật. Nên biết sáu chữ Hồng danh chẳng luận già trẻ, trai gái, sang hèn, nghèo giàu, kẻ mua gánh bán bưng, kẻ đi bộ, người chèo thuyền, đều niệm Phật được. Nhưng phải phát nguyện sau khi lâm chung thần thức được văng sanh về Cực lạc, liên hoa hóa sanh.

Lại nữa, ai là người muốn giải thoát sanh tử luân hồi, muốn viên măn phước huệ, những ai phát Bồ-đề tâm cầu thành Phật, nguyện độ chúng sanh, đều phải chuyên tu niệm Phật.

Soạn giả tập Pháp môn niệm Phật này, rất có công phu lựa chọn các chỗ tinh yếu của lối tu niệm Phật, để cống hiến cho độc giả.

Thừa nhàn, tôi có xem qua tập Pháp môn niệm Phật này, rất lấy làm hoan hỷ, xin gởi lên trang đầu vài ḍng, để tán dương vận động đó. Đồng thời giới thiệu với các Phật tử bốn phương xa gần tập Pháp môn niệm Phật này.

Mong sao mọi người may mắn được đọc và thực hành mới thấm nhuần bổ ích, như ăn bánh thật, chớ không như bánh vẽ trên giấy.

THÍCH THIỆN H̉A

Lời Đầu Quyển

Trong thế gian này, khổ nào cho bằng khổ luân hồi sanh tử. Bởi vậy, bổn hoài duy nhất của chư Phật ra đời là để cứu độ chúng sanh thoát khỏi biển sanh tử. Mục đích chính của người thật tâm tu hành theo đạo Phật cũng chỉ là mong cầu thoát ly sanh tử luân hồi. V́ c̣n sanh tử luân hồi là c̣n trải qua bốn điều khổ căn bản hiển nhiên mà ai cũng phải công nhận là: sanh, già, bệnh, chết. Bốn điều khổ đó, chúng sanh trong sáu đường: Trời, người, a-tu-la, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, không ai thoát khỏi được. Bỏ thân này lại mang thân khác, chết nơi đây lại sanh nơi kia, cứ trôi lăn trong sáu đường như thế măi, trừ những người tu hành đặng giải thoát.

Chư Phật là bậc Vô thượng Y vương hay cứu bệnh sanh tử của chúng sanh. Nếu chúng sanh nào chịu áp dụng môn thuốc Phật chỉ dạy sẽ dứt trừ được bệnh sanh tử, tự nhiên muôn bệnh vạn khổ chi cũng đều do đó mà dứt hết. Trái lại, có thuốc hay của Phật đưa cho mà không chịu uống th́ làm sao hết bệnh, giải khổ được.

Chư Phật trong mười phương mẫn niệm chúng sanh cũng như mẹ nhớ con, nếu con cứ lẩn tránh, dầu mẹ có nhớ cũng không biết làm sao! Trái lại, nếu con nhớ mẹ cũng như ḷng mẹ nhớ con th́ mẹ con đời đời chẳng cách xa nhau. Cũng như thế, nếu tâm chúng sanh hằng nhớ Phật, niệm Phật, th́ đời này, đời sau, quyết định sẽ thấy Phật, cách Phật không xa, chẳng cần dùng phương tiện chi khác, tâm ḿnh được khai ngộ.

Pháp môn Tịnh độ, tức là môn niệm Phật, là phương thuốc thần diệu quư báu để trừ bệnh khổ sanh tử của chúng sanh, do Phật Thích-ca, Di-đà kiến lập, Bồ-tát Văn Thù, Phổ Hiền chỉ quy, đức Mă Minh, Long Thọ hoằng dương và chư Tổ: Huệ Viễn, Thiên Thai, Thanh Lương, Vĩnh Minh, Liên Tŕ, Ngẫu Ích xướng đạo để khuyến khắp Thánh, phàm, ngu, trí đồng tu hành vậy.

Nội dung của tập sách này là gồm những lời dạy bảo hy hữu quư báu của chư Tổ thuở xưa về môn niệm Phật, được tuyển chọn chép ra trong những sách mà chúng tôi được hân hạnh xem qua. Ước nguyện những lời vàng vô giá trong đây sẽ đem lại muôn phần lợi lạc cho những ai hâm mộ tu hành tịnh nghiệp giải thoát.

Tu, chúng ta không nên lựa môn khó, cao mới hay. Miễn là môn nào ta làm đượccó sự lợi ích thiết thật là hay. Tu chỉ lo “một” và “chuyên” là tốt. Muốn đến một địa điểm nào, không ai bắt buộc ta phải đi nhiều đường, hăy chọn nẻo nào thẳng tắt là hơn. Từ sự loạn động đến sự yên tĩnh, chỉ có pháp môn niệm Phật là giúp ta đắc lực. Từ đây đến kia, từ Ta-bà đến Cực lạc cũng chỉ có con đường “niệm Phật” là ngay thẳng nhất. Con đường ấy là nơi các vị tiền bối đă đi, đă thật hành, là lối đi thẳng tắt đến đạo quả cứu cánh vậy.

 

PL. 2515, ngày 17-11 năm Tân Hợi, 1971

THÍCH HỒNG ĐẠO

Chùa Quy Sơn Vũng Tàu

Kính ghi

 

LỜI BẠT

Quyển “Pháp môn niệm Phật” này được lưu hành là do công tŕnh của chúng tôi tuyển chọn, sưu tập những lời lẽ hay quư ở các sách:

1) Pháp môn Tịnh độ (HT. Thích Trí Thủ)

2) Hương quê Cực lạc (Liên Du)

3) Đường về Cực lạc (TT. Thích Trí Tịnh)

4) Tịnh độ Thập nghi luận (Liên Du)

5) Hồi chuông cảnh tỉnh (TT. Thích Trí Tịnh)

6) Niệm Phật thập yếu (TT. Thích Thiền Tâm)

Và việc làm này cũng chỉ nhằm mục đích tự lợi lợi tha, và đó cũng là bổn phận của người con Phật vậy.

HỒI HƯỚNG CÔNG ĐỨC ^

Con nguyện đem công đức này

Tạo thành quyển sách này

Nhan đề phép niệm Phật;

Ấn tặng trong tứ chúng

Y theo lời giáo huấn

Chư Phật cùng chư Tổ

Đồng tu đồng chung

Văng sanh Cực lạc quốc;

Cầu bốn ân ba cơi

Con cùng với chúng sanh

Tăng trưởng các căn lành

Đều sanh về Cực lạc.

THÍCH HỒNG ĐẠO  

I. NHỮNG LỜI VÀNG VỀ PHÁP MÔN NIỆM PHẬT ^

* Niệm Phật không khó, khó ở bền lâu

* Niệm bền lâu không khó, mà khó ở nơi nhất tâm. 

1. Pháp môn niệm Phật cao cả không cùng, rộng lớn như trời che đất chở. Đây là pháp môn tổng tŕ của chư Phật ba đời, là đạo mầu đặc biệt trong một đời giáo hóa của Đức Thích-ca. Trên như bậc Đẳng Giác Bồ-tát, không thể vượt ra ngoài phạm vi của môn này, dưới dù kẻ phạm tội nghịch ác cũng được phần tế độ.

 Tuy nhiên, bởi pháp môn cao siêu như thế mà phần nhiếp cơ lại quá phổ cập, dùng ít sức mà thu thập kết quả rất mau lẹ lớn lao, nên những vị thông hiểu đôi chút về tông, giáo đều cho là môn tu tŕ của kẻ ngu phu, ngu phụ. Truy nguyên, cũng do các vị ấy chưa hiểu rơ chỗ lớn, nhỏ, khó, dễ của Phật lực và tự lực. Hai phương diện này, sự hơn kém thật không thể dùng lời nói, văn tự h́nh dung cho hết được. V́ sao? Bởi tất cả pháp môn khác đều nương theo sức giới, định, huệ tu cho đến nghiệp sạch, t́nh không, mới có thể thoát luân hồi sanh tử. Nhưng địa vị nghiệp sạch t́nh không, đâu phải là dễ được! Trong hai phần hoặc nghiệp, dứt được kiến hoặc khó cũng như ngăn chặn ḍng nước đổ bốn mươi dặm, huống nữa là tư hoặc ư! Dù cho bậc tỏ ngộ cao siêu, nếu chưa dứt sạch phiền năo, vẫn c̣n bị luân hồi. Và một khi đă thọ sanh th́ kẻ thối thất trong một muôn có đến mười ngàn, kẻ tiến bộ trong ức người khó được ba bốn. Thế th́ tự lực không đủ ỷ lại, không chi vững vàng. Những kẻ khoe ḿnh là trí, không thuận theo ḷng từ thệ nhiếp thọ của Như-lai, thử nghĩ có nên tự phụ chăng?

 Riêng về môn Tịnh độ, nếu người có đủ tín nguyện chân thiết, dùng ḷng chí thành niệm Phật như con thơ nhớ mẹ và hằng ngày sự hành vi không trái với đạo đức, th́ đến khi lâm chung sẽ được nhờ Phật tiếp dẫn sanh về Tây phương. Dù người ấy hoặc nghiệp hăy c̣n, nhưng khi đă văng sanh th́ chỗ sở đắc cũng cao hơn bậc A-la-hán t́nh không nghiệp sạch, v́ lẽ chủng tánh không đồng. Kẻ chưa dứt nghiệp hoặc c̣n như thế, người đă hết nghiệp không đợi phải luận nhiều! Ấy bởi do Phật lực, pháp lực và tâm lực của chúng sanh đều không thể nghĩ bàn; mà tâm lực lại nhờ năng lực của Phật và Pháp, được hiển hiện một cách toàn vẹn. Cho nên, chỉ ỷ lại vào tự lực, sánh với nương nhờ Phật lực, thật kém xa nhau hằng hà sa số sự cách biệt của đất trời! Lại nên biết, đạo lư của môn Tịnh độ này không thể đem luận chung với các pháp môn phổ thông khác v́ đây là pháp môn đặc biệt! Tôi thường có đôi liễn:

 “Pháp môn cao cả, lợi khắp ba căn, nhân đây chín cơi đồng về, mười phương khen ngợi”

 “Phật nguyện rộng sâu, không từ một vật, nên được ngàn Kinh đều chỉ, muôn Luận tuyên bày”

(Trên đây là lời của Đại sư Ấn Quang, vị Tổ thứ 13 trong Liên tông Phật giáo Trung Hoa)

2. Sáu chữ “Nam mô A-di-đà Phật” là từ tiếng Phạn phiên âm ra. Nếu cắt nghĩa từng chữ một theo Phạn ngữ th́ chỉ có bốn chữ mà thôi. Trước hết, chữ “Nam mô” có 6 nghĩa: Kính lễ, quy y, phụng thờ, cứu ngă, độ ngă, quy mạng. Chữ “A”“ nghĩa là không, là vô, chữ “Di-đà” nghĩa là lượng. Chữ Phật nghĩa là Giác giả. Hợp cả bốn chữ lại có nghĩa là: Quy y kính lễ đấng giác ngộ vô lượng.

 Đức Phật A-di-đà là Giáo chủ thế giới Cực Lạc. Ngài đă từng phát nguyện rằng ai niệm danh hiệu Ngài, lúc lâm chung sẽ được Ngài tiếp dẫn sanh về nước Cực lạc. V́ thế, về sau chúng sanh căn cứ vào đó mà xưng niệm danh hiệu Ngài.

3. Pháp môn Tịnh độ, tức là môn niệm Phật, do Phật Thích-ca, Di-đà kiến lập, Bồ-tát Văn Thù, Phổ Hiền chỉ quy, đức Mă Minh, Long Thọ hoằng dương và chư Tổ Huệ Viễn, Thiên Thai, Thanh Lương, Vĩnh Minh, Liên Tŕ, Ngẫu Ích xướng đạo để khuyến khắp Thánh, phàm, ngu, trí đồng tu hành vậy.

4. Đức Phật A-di-đà ngày xưa phát 48 lời nguyện làm duyên khởi tạo thành thế giới Cực lạc. Từ đó về sau, chúng sanh trong mười phương đều lấy sự phát nguyện văng sanh làm căn cứ tu hành của tông Tịnh độ. Một đằng, Phật nguyện tiếp dẫn, một đằng chúng sanh nguyện văng sanh, hai nguyện gặp nhau, hai lực lượng tự, tha hỗ trợ nhau mới đủ sức kết thành quả văng sanh. V́ thế, người tu tịnh nghiệp quyết phải phát nguyện dơng mănh.

5. Trong 48 lời đại nguyện của Đức A-di-đà, lời đại nguyện thứ 19 nói một cách rơ ràng rằng nếu có người chí tâm phát nguyện muốn sanh về nước Ngài, lúc lâm chung nhất định Ngài sẽ đến tiếp dẫn. Cho nên, hễ có phát nguyện là quyết định phải được văng sanh.

6. Không sanh về Tịnh độ tất phải đọa ác đạo. 

 Trong mười phương, số thế giới tuy nhiều vô tận, nhưng xét về phương diện tịnh uế, th́ chỉ có thể chia làm hai loại mà thôi: Một là Tịnh độ của chư Phật, hai là tam giới (uế độ) của chúng sanh. Không sanh về bên nọ, tất phải sanh bên kia. Sanh về Tịnh độ tức là thoát ly sanh tử, sanh trong tam giới tức là c̣n sống chết luân hồi.

 Ở cơi Trời, phước báu tuy nhiều nhưng vẫn có giới hạn và sai khác nhau, nên cuối cùng sẽ có ngày phước hết, báo cùng, thọ mạng tất phải chấm dứt, để rồi tùy nghiệp mới mà thác sanh qua kiếp khác, quanh quẩn trong tam giới.

 Tất cả chúng sanh, nếu không được sanh về cơi Phật, tất nhiên sẽ phải đọa vào ác đạo, không trước thời sau. Nếu muốn sanh về cơi Phật, đương nhiên phải là niệm Phật. Đó là một sự thật đương nhiên không thể phủ nhận.

7. Do v́ Đức Phật A-di-đà có bổn thệ nguyện lực nhiếp thủ chúng sanh niệm Phật, nên người dùng tín nguyện mà niệm Phật (tự lực) thời cảm thông với nguyện lực của Phật, nương nguyện lực của Phật nhiếp thủ (tha lực) liền đặng siêu thoát sanh tử luân hồi mà sanh về Cực lạc Tịnh độ. Đă được văng sanh tức là vào bậc Thánh lưu bất thối, nên gọi là rất viên đốn, rất huyền diệu và thành công cao.

8. Pháp môn niệm Phật là con đường phương tiện duy nhất hướng dẫn ta và tất cả chúng sanh từ xứ ác trược Ta-bà về đến thế giới thanh tịnh Cực lạc.

9. Nương pháp môn niệm Phật, ắt là ta sẽ được toại bổn nguyện: Giải thoát, thành Phật, độ sanh. Người cực ác tu c̣n thành tựu thay, huống ta chưa phải là kẻ ác!

10. Đức Phật Như-lai có dạy một phương tiện siêu thắng để bảo đảm sự giải thoát, mà cũng để bảo đảm vững chắc bước đường thành Phật cho tất cả chúng sanh: Pháp môn Tịnh độ, tức môn niệm Phật cầu sanh Cực lạc thế giới. Theo lời Phật, dầu là hạng cực ác mà chịu hồi tâm tu theo pháp môn này trong một thời gian rất ngắn (10 niệm) cũng được văng sanh; đă được văng sanh thời là siêu phàm nhập Thánh, thoát hẳn sanh tử, bất thối Vô thượng Bồ-đề.

11. Với pháp môn niệm Phật này, không luận là kẻ trí ngu, không luận là Tăng tục, không luận sang giàu, nghèo hèn, già trẻ, nam nữ, không luận là sĩ, nông, công, thương... tất cả các giới trong xă hội đều có thể tu tập và đều có thể thành tựu đặng cả.

12. Văn Thù Bồ-tát nói: Các môn tu hành không môn nào qua môn niệm Phật. Niệm Phật là “vua” trong các pháp môn.

13. Đức Quán Thế Âm bảo: Tịnh độ pháp môn là hơn tất cả hạnh khác.

14. Mă Minh Đại sĩ cho rằng: Chuyên tâm niệm Phật là phương tiện siêu thắng của Đức Như-lai.

15. Giác Minh Diệu Hạnh Bồ-tát nói: Pháp môn niệm Phật là tâm tông của chư Phật, là con đường giải thoát tắt nhất của mọi loài.

16. Pháp môn Tịnh độ nhiếp cả Thánh phàm, nhiếp cả thiện ác, nhiếp cả chúng sanh, như biển lớn gồm thâu muôn ḍng vậy.

17. Ấn Quang Đại sư cũng từng nói: V́ nương Phật lực nên tất cả mọi người, không kể là nghiệp hoặc nhiều hay ít, cũng không kể là công phu hành đạo cạn cùng sâu, miễn tin cho chắc, nguyện cho thiết, thời quyết muôn người tu muôn người văng sanh không sót một. C̣n nếu là bậc đă đoạn hoặc chứng chân mà cầu văng sanh thời đốn siêu Thập địa. Bậc Thập địa mà cầu sanh thời mau viên Phật quả. V́ thế nên cả các ngài Văn Thù, Phổ Hiền, Mă Minh, Long Thọ... các đại Bồ-tát đều nguyện văng sanh. Đến như những kẻ tạo ác cả đời, sắp đọa địa ngục, hồi tâm niệm Phật cũng được giải thoát, như các ông: Trương Thiện Ḥa, Trương Chung Húc, Hùng Tuấn, Duy Cung... Hạng người phạm tội ác ấy mà c̣n được thành tựu thay, huống là những người chưa quá ác, huống là những người lành.

18. Trong Kinh Đại Tập, Đức Phật có lời huyền kư: “Thời mạt pháp muôn ức người tu hành, khó có một người được giải thoát, chỉ nương nơi pháp môn niệm Phật mà được thoát khỏi luân hồi sanh tử”.

19. Trong Kinh Quán Vô Lượng Thọ, Phật đă dạy: “Trong đời vị lai, khi Kinh đạo diệt hết, Ta dùng ḷng từ bi đặc biệt lưu lại kinh này tồn tại trong một trăm năm, chúng sanh nào gặp được kinh này, đều có thể được độ thoát như ư sở nguyện”.

20. Chân nghĩa của pháp môn Tịnh độ chỉ có Phật mới biết hết.

 Trong các Kinh nói về Tịnh độ, sở dĩ Phật không dùng lư để lập luận một cách chặt chẽ mà chỉ khuyến phát tín tâm và thực hành, không phải pháp môn Tịnh độ không có lư nghĩa vững chăi, chẳng qua v́ nghĩa lư ấy quá thâm diệu và “bất khả tư nghị”, nên không thể nào nói hết. Cảnh giới Tịnh độ đă “bất khả tư nghị”, lại thêm ngữ ngôn chỉ hữu hạn, không thể nào nói đầy đủ được, dù cho có nói nhiều đến đâu, cũng chỉ diễn tả được một khía cạnh nào đó thôi, không sao tránh được thiếu sót, không sót bên nọ cũng sót bên kia, hoặc nói được một th́ sót đến mười. Đó là các lư do khiến Phật không lư luận mà chỉ khuyên tu tŕ, thực hành phép niệm Phật.

Chúng ta thử nghĩ, nếu phương pháp tŕ danh niệm Phật không phải thật có ư nghĩa cao siêu và công đức bất khả tư nghị th́ tại sao trong Kinh “Phật thuyết A-di-đà”, Phật dạy rằng khi Phật nói kinh đó th́ hết thảy chư Phật trong sáu phương đều tán thán và hộ niệm? Như vậy, th́ biết rằng pháp môn ấy đặc biệt và nhiệm mầu như thế nào!

 Vả lại, trong kinh có nói: “Không thể nhờ một ít nhân duyên phước đức thiện căn mà có thể văng sanh được”. Tiếp đó Ngài lại dạy: “Bảy ngày chấp tŕ danh hiệu, đạt được nhất tâm bất loạn th́ liền được văng sanh”. Như thế th́ thiện căn phước đức nhân duyên của sự chấp tŕ danh hiệu quả không phải nhỏ vậy.

21. Trong 48 lời nguyện của Đức Phật A-di-đà đều có câu “Thề quyết không thủ ngôi Chánh giác”. Xin lưu ư rằng đó là một điều quan trọng. Không thủ ngôi Chánh giác tức là từ chối quả vị Phật, không chịu làm Phật để riêng an hưởng thường, lạc, ngă, tịnh một ḿnh, trong khi chúng sanh trong quốc độ c̣n đau khổ. Lời nguyện vừa hợp t́nh, vừa xứng lư, vừa quảng đại bao la, thể hiện hoàn toàn được cả một trời đại từ đại bi thăm thẳm, khó thể nghĩ bàn.

 Trong Kinh “Phật thuyết A-di-đà” Đức Thích-ca dạy rằng: Đức Phật A-di-đà thành Phật đă từ mười kiếp rồi và 48 lời nguyện của Ngài đều đă được thực hiện hoàn toàn viên măn. Nếu không như thế Ngài quyết không chịu thành Phật.

22. Sở dĩ hành giả b́nh thời xưng niệm danh hiệu Phật, chính là ứng hợp với đại nguyện thứ 18 của Đức A-di-đà: “Mỗi ngày mười niệm quyết được văng sanh”; b́nh thời phát nguyện cầu văng sanh tức là ứng hợp với đại nguyện thứ 19 của Đức A-di-đà: “Kẻ nào phát nguyện văng sanh Cực lạc, lúc lâm chung sẽ có Phật đến rước”; và b́nh thời làm các công đức, hồi hướng công đức về quả Cực lạc tức là ứng hợp với đại nguyện thứ 20 của Đức A-di-đà: “Kẻ nào hồi hướng công đức, nhất định được văng sanh”.

 Hằng ngày, tu phép thập niệm phát nguyện văng sanh và hồi hướng công đức, cũng như người có đóng bảo hiểm nhân thọ. Một bên là đóng bảo hiểm vật chất. Một bên là đóng bảo hiểm tinh thần; cả hai đều nhất định toại nguyện như nhau.

 Như trên, ta thấy quả văng sanh là một quả có bảo đảm chắc chắn. Mà nhân văng sanh lại là một nhân dễ tu tập. Điều cốt yếu là phải thật hiểu chân tinh thần của pháp môn niệm Phật mới sanh được chánh niệm và có được ba tư lương: Tín, Nguyện, Hạnh.

23. Pháp môn Tịnh độ dễ tu nhưng khó tin. Trong Kinh Phật thuyết A-di-đà, Đức Thế-tôn cũng thừa nhận như thế (nan tín chi pháp)

 Đă thế rồi, pháp môn này lại c̣n nương tựa hoàn toàn vào ḷng tin để thành lập, nương tựa vào ḷng tin để duy tŕ; có ḷng tin rồi mới sanh khởi hành động và có hành động rồi mới đạt nguyện vọng nhân viên quả măn. Nếu không có ḷng tin vững chắc th́ tuy cửa Phật rộng mở, cũng không thể ǵ vào được. V́ vậy nên Tín, Nguyện, Hạnh gọi là ba món tư lương về Tịnh độ.

 Nói tư lương cũng ví như nói người muốn đi xa cần phải có tiền của (tư) và lương thực (lương). Nếu thiếu một trong hai thứ đó th́ khó mà đạt mục đích ḿnh muốn đến. Cũng thế, ba món tư lương cần có để lên đường về Tịnh độ cũng không thể thiếu một. Hơn nữa, ba món này liên hệ mật thiết với nhau theo thứ tự trước sau tiếp nối sanh khởi. Trước hết phải do có ḷng tin thâm thiết mới có phát sanh nguyện cầu; do nguyện cầu thành khẩn mới hăng hái hành động. Nếu ḷng tin không có th́ quyết nhiên nguyện và hạnh không thể thành lập được.

24. Tín là căn bản của người tu hành pháp môn Tịnh độ.

Thứ nhất, phải tin rằng ba bộ kinh nói về Tịnh độ là do Đức Thế-tôn v́ ḷng từ bi chân thật mà dạy cho chúng ta, quyết không phải như sách ngụ ngôn giả thiết để khuyến tu.

 Thứ hai, phải tin rằng ngoài thế giới ô uế mà chúng ta hiện sống, chắc thật có thế giới Tịnh độ trang nghiêm.

 Thứ ba, phải tin rằng 48 lời đại nguyện của Đức Phật A-di-đà, cùng là những công hạnh kiến lập cơi Tịnh độ của Ngài là chân thật, cũng như việc Ngài hiện đang ứng hóa độ sanh tại cảnh giới Tịnh độ ấy là chân thật.

 Thứ tư, phải tin rằng sanh Tịnh độ hay uế độ hoàn toàn do tự tâm ứng hiện, hễ trồng nhân tịnh th́ được quả tịnh, trồng nhân uế th́ được quả uế, tuyệt nhiên không liên quan ǵ đến vấn đề thưởng phạt.

 Thứ năm, phải tin rằng chánh niệm của ta cùng tâm niệm của Đức Phật A-di-đà chắc chắn cảm ứng với nhau, lâm chung thế nào cũng được Ngài tiếp dẫn văng sanh.

 Thứ sáu, phải tin rằng tuy ác nghiệp của chúng ta có nhiều, nhưng một khi đă sanh về Tịnh độ, nhờ có hoàn cảnh tốt đẹp thuận tiện, nhờ ơn giáo huấn thường xuyên của Phật và Bồ-tát, ác niệm không thể sanh khởi lại và ác báo do đó sẽ lần lần tiêu trừ.

 Thứ bảy, phải tin rằng sức ḿnh và sức Phật, cả hai đều bất khả tư nghị. Trong hai sức cùng bất khả tư nghị ấy, sức Phật lại bất khả tư nghị gấp trăm ngàn muôn ức lần hơn, cho nên một khi được tiếp dẫn, dù sức ḿnh c̣n kém cỏi th́ với sức Phật cũng đủ giúp ta văng sanh.

 Thứ tám, phải tin rằng khi ḿnh niệm một câu Phật là tức thời Đức Phật liền nghe và liền thâu nhiếp.

 Thứ chín, phải tin rằng hễ ḿnh niệm Phật th́ chắc chắn lúc lâm chung được Phật và Thánh chúng đến tiếp dẫn văng sanh về thế giới Cực lạc, quyết không c̣n đọa lạc luân hồi trong sáu đường nữa.

 Tóm lại, phải tin chắc rằng những lời Phật dạy trong kinh đều chân thật, cần phải thâm tín, tuyệt đối không nên sanh tâm ngờ vực. Ḷng ngờ vực là chướng ngại vật không thể vượt qua trên con đường dẫn đến đạo quả. Có ḷng ngờ vực rồi th́ tất nhiên nguyện và hạnh sẽ không có cứ điểm để sanh khởi. Nếu ḷng tin kiên cố, tự nhiên phát nguyện cầu sanh Cực lạc và đă phát tâm nguyện cầu tự nhiên chuyên tâm tinh tấn, y pháp hành tŕ, không đợi ngoại duyên thúc đẩy.

Hễ Tín đă vững chắc th́ Nguyện và Hạnh tự nhiên thành tựu, khỏi cần phải nhắc nhủ, khuyến hóa.

25. Đă tin sâu, nguyện thiết, phải tu chánh hạnh niệm Phật. Sự tu tŕ đây đều tùy theo thân phận của ḿnh mà lập, không nên chấp định một pháp thức nào. Như người không việc chi hệ lụy, nên từ mai đến chiều, chiều lại mai, lúc đi đứng nằm ngồi, nói nín động tịnh, khi ăn cơm mặc áo cùng đại tiểu tiện, tất cả thời, tất cả chỗ đều giữ một câu hồng danh không rời nơi tâm niệm. Nếu khi thân h́nh sạch sẽ, y phục chỉnh tề, chỗ nơi thanh khiết, th́ niệm thầm hay ra tiếng đều được. Như lúc ngủ nghỉ, tắm gội, đại tiểu tiện hoặc ở chỗ không sạch chỉ được niệm thầm, không nên ra tiếng, niệm thầm công đức vẫn đồng, nếu ra tiếng th́ có lỗi không cung kính. Chớ cho rằng những lúc ấy không nên niệm, chỉ e niệm không được mà thôi. Lại khi nằm nếu niệm ra tiếng, chẳng những không cung kính, mà c̣n bị tổn hơi, phải biết điều này.

26. Muốn được văng sanh về cơi Tịnh độ Tây phương, hành giả phải chuẩn bị ba yếu tố: Tín, Hạnh, Nguyện, nếu thiếu một món nào cũng không thể tu hành có kết quả. Hành giả phải suốt đời chuyên tâm niệm Phật với một ḷng thành kính, tin tưởng và nhất quyết cầu khi lâm chung được văng sanh cơi Tịnh độ. Niệm cho đến “nhất tâm bất loạn” th́ chắc chắn sẽ được măn nguyện.

27. Pháp môn niệm Phật cần có đủ 16 chữ:

V́ thoát sanh tử, phát tâm Bồ-đề

Lấy tín nguyện sâu, tŕ danh hiệu Phật

Bởi v́ hết thảy những sự thống khổ cực nặng trong thế gian, không chi bằng cái khổ sanh tử, mà nếu sanh tử chẳng dứt được th́ sanh rồi tử, tử rồi sanh, ra khỏi bào thai này, chun vào bào thai khác, cởi bỏ đăy da nọ, mang lấy đăy da kia, khổ nào xiết nói!

28. Một chữ nguyện bao gồm cả tín và hạnh. Tín là tin tự, tha, nhân, quả, sự, lư không hư dối. Tín tự: Tin tất cả do tâm tạo, ḿnh niệm Phật sẽ được Phật tiếp dẫn. Tín tha: Tin Phật Thích-ca không nói dối, Phật A-di-đà không nguyện suông. Tín nhân: Tin niệm Phật là nhân văng sanh, giải thoát. Tín quả: Tin sự văng sanh thành Phật là kết quả. Tín sự: Tin cảnh giới Tây phương, tất cả sự tướng đều có thật. Tín lư: Tin lư tánh duy tâm bao trùm Phật độ. Mỗi điều trên đây đều xác thật nên gọi là không hư dối. Hạnh là chuyên tŕ danh hiệu không xen tạp, không tán loạn. Nguyện là mỗi tâm ưa thích, mỗi niệm mong cầu. Trong ba điều này, người tu tịnh nghiệp cần phải đủ không thể thiếu một, mà Nguyện là điểm cần yếu. Có thể có Tín, Hạnh, mà không Nguyện, chưa từng có Nguyện mà không Tín, Hạnh.

29. Được văng sanh hay không là do Tín Nguyện có hay không, c̣n phẩm vị văng sanh cao hay thấp là tùy việc tŕ danh sâu hay cạn.

30. Tín, Nguyện, Hạnh là ba tư lương sanh về Tịnh độ. Nếu tư lương không đủ, quyết không được văng sanh. Sở dĩ v́ thế mà sự phát nguyện chiếm một địa vị tối quan trọng trong pháp môn tu Tịnh độ.

31. Thập thiện là mười điều thiện, là căn bản tu hành, thuộc ba nghiệp thân, khẩu, ư gọi là tu tịnh nghiệp.

 Thân nghiệp có ba: Không sát sanh, không trộm cắp, không dâm dục (nếu tại gia th́ không tà dâm).

 Khẩu nghiệp có bốn: Không nói láo, không nói lời thêu dệt, không nói hai lưỡi, không nói lời thô bạo.

 Ư nghiệp có ba: Không tham lam, không sân nhuế, không ngu si.

 Mười điều thiện này là căn bản phát sinh tất cả các điều thiện khác. Đó cũng là nền tảng xây dựng mọi cảnh giới an vui. Người tu hành mà không tu mười điều thiện này, th́ không khác kẻ xây lâu đài cao ngàn thước trên vũng bùn xập xậy, quyết không hy vọng thành công.

32. Đă tu tịnh nghiệp phải giữ luân thường, làm hết bổn phận, dứt niệm tà, ǵn ḷng thành kính, trừ bỏ các điều ác, vâng làm những việc lành, đừng giết hại, gắng ăn chay, thương tiếc hộ tŕ mạng sống loài vật, tín nguyện niệm Phật cầu sanh Tây phương. Bên trong phải v́ ông bà, cha mẹ, anh em, chị em, bên ngoài v́ thân thích, bạn bè, xóm giềng, làng nước, đem pháp môn Tịnh độ này mà phụng khuyến, chẳng luận người có tin làm cùng không, chỉ hết sức ḿnh khiến cho mọi người đều biết pháp nhiệm mầu này mà thôi.

33. Người tu tịnh nghiệp, nếu có mảy may công đức lành đều đem hồi hướng văng sanh. Như thế th́ tất cả hành môn đều là trợ hạnh của Tịnh độ. Lại phải phát ḷng Bồ-đề, thề độ muôn loài, đem công đức ḿnh tu hồi hướng cho bốn ân ba cơi cùng chúng sanh trong pháp giới. Làm như thế như đèn thêm dầu, như mạ được mưa, đă kết pháp duyên sâu cùng tất cả chúng sanh, lại mau thành tựu thắng hạnh Đại thừa của ḿnh. Nếu chẳng hiểu nghĩa này, tất thành ra chỗ thấy cạn hẹp tự lợi của hàng phàm phu và nhị thừa, tuy hạnh mầu, cảm quả rất kém (xem bài phát nguyện, chương VII).

34. Người tu tịnh nghiệp nên biết rằng sự tu hành hôm nay, chính là đối địch với nghiệp sanh tử ngày mai, không phải chuyện tầm thường, hằng nghĩ đến vô thường mau chóng, ngày tháng chẳng chờ người nhận chân, thiết thật mà niệm Phật. Nếu nửa lui nửa tới, lúc tin lúc ngờ, kết cuộc tịnh nghiệp không thành tựu, làm sao ra khỏi luân hồi?

35. Tu tịnh nghiệp, cảnh cô tịch chừng nào hay chừng nấy. Tiếng niệm Phật cao thấp, mau chậm tùy nghi, làm sao cho hợp thành một phiến. Nên biết, khi ấy thân tuy đơn chiếc mà tâm chẳng lẻ loi, v́ tâm của chư Phật cùng Đức A-di-đà chưa từng tạm rời ta, ta khởi niệm th́ Phật biết, mở miệng Phật liền nghe, lo ǵ sợ cô tịch!

36. Có tám điều cốt yếu, người tu tịnh nghiệp nên ghi nhớ:

1/ “V́ sự sanh tử, phát ḷng Bồ-đề”, đây là đường lối chung của người học đạo.

2/ “Dùng tín, nguyện sâu tŕ danh hiệu Phật, đây là chánh tông của môn Tịnh độ.

3/ Lấy sự nhiếp tâm chuyên chú mà niệm, làm phương tiện dụng công.

4/ Lấy sự chiết phục phiền năo hiện hành làm việc yếu tu tâm.

5/ Lấy sự giữ chắc bốn trọng giới làm căn bản vào đạo.

6/ Dùng các thứ khổ hạnh làm trợ duyên tu hành.

7/ Lấy nhất tâm bất loạn làm chỗ quy túc của môn Tịnh độ.

8/ Lấy các điềm lành làm chứng nghiệm cho sự văng sanh.

37. Chí tâm niệm Phật tức là ư nghiệp làm lành, xưng danh hiệu Phật là khẩu nghiệp làm lành, chắp tay lễ bái là thân nghiệp làm lành. Do ba nghiệp này làm lành, nên có thể diệt tội nặng sanh tử trong tám mươi ức kiếp, nhờ hạnh nguyện nương nhau, quyết định được văng sanh.

38. Người tu tịnh nghiệp khi ngồi nằm không được xoay lưng về hướng Tây, cũng không được hướng về Tây khạc nhổ cùng đại tiểu tiện. Bởi đă quy y về Liên bang nên tôn sùng miền kim địa, nếu ḷng không trân trọng, đâu phải là chí nguyện cầu sanh.

39. Miệng đừng ngớt tụng, ư chớ nghĩ khác. Phàm phu tạp loạn, khẩu ư khó kiềm. Trong Kinh Phạm Vơng, Phật dạy: “Mỗi ngày khởi ba nghiệp tội, mà tội của miệng th́ vô lượng”. Muốn cho khẩu nghiệp khỏi gây tội, chỉ có cách là đừng nói. Song miệng không nói càng làm cho ư suy nghĩ nhiều, mà nếu ư suy nghĩ những điều quấy, c̣n không bằng nói mà nói những chuyện có ích, không hại. Bởi thế cho nên các vị Tổ sư lấy phương pháp tụng kinh làm một phương tiện kiềm chế khẩu nghiệp và ư nghiệp đắc lực nhất.

 Từ xưa đến nay, các vị chuyên tu về môn niệm Phật, thường phải đóng cửa (kiết thất) để kiềm chế ba nghiệp, cho tâm chuyên nhất cảnh. Như bà Vô Sanh cư sĩ đóng cửa thất 49 ngày, dứt tất cả duyên sự, chuyên một câu niệm Phật, nhờ vậy mà bà được “Niệm Phật tam muội”. Sở dĩ kiết thất là phương tiện cần yếu của pháp môn Tịnh độ, v́ chúng ta hiện là phàm phu mê tối, chướng dầy mà huệ mỏng, nghiệp nặng phước nhẹ, nên tâm nhiễm dễ khởi, tịnh nghiệp khó thành.

40. Người mà thực v́ thoát ly sanh tử, phát Bồ-đề tâm là con đường phổ thông học đạo. Lấy ḷng tín nguyện thật sâu để niệm danh hiệu Phật, là chính tông tu pháp Tịnh độ. Thân tâm chuyên chú niệm Phật là pháp phương tiện tu Tịnh độ. Cốt yếu phải bền chắc giữ bốn giới cấm trọng để làm căn bản nhập đạo. Phải bẻ dẹp phiền năo hiện hành, là việc cần yếu để tu tâm. Dùng mỗi mỗi khổ hạnh chính đáng để làm trợ duyên tu hành. Phải niệm Phật cho được nhất tâm bất loạn làm chỗ quy túc cho tịnh hạnh. Lấy mỗi mỗi điều lành để làm chứng nghiệm được văng sanh.

41. Niệm Phật mà không phát ḷng Bồ-đề, th́ không tương ưng với bổn nguyện của Đức Di-đà, tất khó văng sanh (ḷng Bồ-đề là tâm lợi ḿnh, lợi người, trên cầu thành quả Phật, dưới nguyện độ chúng sanh). Tuy phát ḷng Bồ-đề mà không chuyên niệm Phật cũng không được văng sanh. Nên phải lấy sự phát ḷng Bồ-đề làm chánh nhân, niệm Phật làm trợ duyên, rồi sau mới cầu sanh Tịnh độ. Người tu tịnh nghiệp cần phải hiểu biết điều này.

42. Môn niệm Phật cầu sanh Tịnh độ, nương nguyện lực rộng lớn của Đức Phật A-di-đà, tất cả lục đạo chúng sanh không luận căn lành thành thục hay chưa thành thục, không luận ác nghiệp nặng hay nhẹ, nếu ai bằng ḷng tin chắc, phát nguyện tŕ niệm hồng danh A-di-đà Phật, thời quyết định được Đức Phật tiếp dẫn văng sanh Cực lạc Tịnh độ, là hạng thiện căn thành thục, tất chóng viên măn Phật quả, nhẫn đến kẻ ác nghiệp nặng cũng đặng dự hàng Thánh.

Nên biết, pháp môn niệm Phật là yếu đạo độ sanh của chư Phật và là diệu pháp mà trên th́ Thánh nhân đại Bồ-tát, dưới đến phàm phu đều đồng tu. V́ thế nên trong các kinh liễu nghĩa Đại thừa luôn nhắc đến, mà lịch đại Tổ sư không ai chẳng tuân hành.

Xét về Đức Thích-ca Mâu-ni và Phật A-di-đà, từ nơi kiếp xưa từng phát đại nguyện độ thoát chúng sanh. Đức Thích-ca thực hiện ở uế độ dùng khổ để chiết phục và thúc đẩy chúng sanh tiến tu. C̣n Đức A-di-đà an tọa nơi Tịnh độ, dùng tịnh, dùng vui để nhiếp thọ và đào luyện cho mọi người nên Thánh quả.

43. Đức Bổn sư Thích-ca hết lời khuyên đại chúng hiện thời cũng như mạt pháp, chúng sanh phải cầu sanh Cực lạc, để được thấy Phật, nghe pháp, mau chứng Vô sanh nhẫn, rồi sau sẽ tùy nguyện vào Ta-bà để cứu độ chúng sanh. Như thế thời có tiến mà không thối, có lợi mà không tổn.

44. Hiện tại phương pháp Tŕ danh niệm Phật thâm nhập nhân gian, phổ cập khắp quần chúng và không ai là không biết niệm sáu tiếng “Nam mô A-di-đà Phật”. Lư do thâm nhập và phổ biến của phương pháp này là hễ có tu là có thành, rất thích hợp với mọi căn cơ, bất cứ kẻ trí người ngu đều thâu nhiếp được một cách dễ dàng. Số người nhờ nương pháp này mà được độ thoát, so với các tông phái khác, chiếm đến trên bảy tám mươi phần trăm.

 Cứ xác thật mà nói, th́ đạo lư của pháp môn này hàm chứa tinh ba của hết thảy các pháp môn khác một cách sâu xa rộng răi. Không những so với các pháp môn khác, nó đă không kém thua, mà trái lại tinh ba của các pháp môn khác đều thu trọn vào trong một pháp môn này. Nó có đủ khí độ rộng răi tập hợp sự đại thành của các tông phái khác. V́ vậy nếu bàn đến hiệu quả, bàn đến học lư, bàn đến khó dễ, không một tông phái nào so sánh kịp!

45. Muốn chống đỡ với những khó khăn chướng ngại của thời mạt pháp, không c̣npháp môn nào hơn pháp môn niệm Phật. Pháp môn này tự nó đă đơn giản dễ theo, ngoài ra nó lại dồn được cả hai sức: tự, tha để hỗ trợ cho nhau nên dễ thành tựu. Kinh Đại Tập dạy: “Đời mạt pháp, trong số ức triệu người tu hành, chưa có một người đắc đạo, duy chỉ có nương vào pháp môn niệm Phật mới được độ thoát sanh tử”. V́ thế nên biết, sau khi các tông phái khác suy tàn, duy có mỗi một tông Tịnh độ là c̣n tồn tại để nối dài pháp vận, cứu độ chúng sanh mà thôi; các tông phái khác như Thiền, Giáo, Luật tông, v.v... đều phụ thuộc làm trợ duyên cho tông Tịnh độ, chớ không có thể đơn độc tồn tại riêng được.

 Trong Kinh Quán Vô Lượng Thọ, Phật đă dạy: “Trong đời vị lai, khi kinh đạo diệt hết, ta dùng ḷng từ bi, đặc biệt lưu lại kinh này tồn tại trong một trăm năm, chúng sanh nào gặp được kinh này đều có thể được độ thoát như ư sở nguyện”.

46. Muốn cho tâm không luyến việc ngoài, chuyên niệm Phật được quy nhất, cũng không có phương pháp chi kỳ lạ, chỉ đừng quên cái chết ŕnh rập bên ḿnh, không biết xảy ra lúc nào.

Phải nghĩ rằng ta từ trước đến nay tạo ra vô lượng vô biên ác nghiệp, như trong kinh nói: “Giả sử nghiệp ác kia có h́nh tướng th́ khắp mười phương hư không cũng chẳng dung chứa hết”. Duyên đâu may mắn, nay được thân người lại nghe Phật pháp, nếu không một ḷng chuyên niệm Phật cầu sanh Tây phương, khi cái chết đến th́nh ĺnh, chắc chắn phải bị đọa vào ác đạo. Chừng ấy nếu vào địa ngục th́ bị non đao, rừng kiếm, ḷ lửa, vạc dầu, một ngày đêm sống chết đến vạn lần, sự khổ cùng cực không thể diễn tả. Nếu đọa vào ngạ quỷ th́ thân h́nh xấu xa, hôi hám, bụng lớn như cái trống, cổ họng như cây kim, thấy cơm nước th́ những vật ấy đều hóa thành than lửa, chịu đói khát lăn lộn khóc la trong vô lượng kiếp. Nếu đọa vào súc sanh, th́ hoặc bị kéo chở nặng nề, hoặc bị người giết ăn thịt, hoặc bị nạn loài mạnh ăn nuốt loài yếu, kinh khủng chẳng lúc nào yên. Chịu khổ như thế có khi vô lượng chư Phật ra đời mà vẫn c̣n xoay vần trong ác đạo không được thoát ly. Nghĩ thân người mong manh, cái chết bất kỳ, nghĩ ḿnh đời trước, đời này đă tạo ra vô lượng nghiệp ác, nghĩ đến sự khổ tam đồ mà tỉnh ngộ sợ hăi, tất không c̣n tham luyến cảnh huyễn bên ngoài, niệm Phật được chuyên nhất.

47. Người niệm Phật nếu dụng công siêng năng tinh tấn, th́ sẽ thuần thục quy nhất, được cảm thông với Phật, tự có thể thấy cảnh lành, dù không thấy cũng không ngại. Nếu bỏ sự chuyên dụng công mà vội gấp muốn được nhất tâm, được tương ưng, được thấy cảnh lành, th́ vọng tưởng rối ren, tâm niệm cầu