| |
|
Lời Nói Đầu
|
|
| |
|
|
| |
|
|
Đương
thời giảm kiếp, tŕnh độ đạo đức của nhân
loại mỗi ngày một kém, trái lại tội ác mỗi
ngày một thêm. Do sức nghiệp của đa số người
chiêu cảm, nên khắp thế giới nổi lên những
hiện tượng: động đất, băo, lụt, núi lửa,
nắng hạn, thời tiết bất thường. So với mấy
mươi năm về trước, những chuyện chém giết
trộm cướp, dâm loàn, lường gạt giữa ngày
nay, đă khiến cho người có ḷng với thế đạo
nhân tâm phải bàng hoàng lo sợ! Kinh Phật
nói: "Tất cả sự khổ vui đều do tâm tạo". Vậy
muốn cải thiện con người, tạo hoàn cảnh tốt,
phải t́m sửa đổi từ chỗ phát nguyên. — đây,
tôi muốn nói là mọi người phải dứt trừ tâm
niệm xấu ác, ví như muốn được ḍng nước
trong, đừng để cho nguồn vẩn đục.
Trong khi xem bộ Tư Quy Tập, tôi thấy nó có
lợi ích cho sự hướng thiện, đường giải thoát
của người đời, nên ngoài giờ niệm Phật, lần
lượt phiên dịch thành ra quyển Hương Quê Cực
Lạc này. Trong đây tuy sự khuyến hóa không
ngoài làm lành, niệm Phật, song đó lại chính
là phương tiện khéo đưa mọi người đi sâu vào
thật hạnh, âm thầm hoán cải từ người đến
cảnh một cách mầu nhiệm. V́ đối với người
thâm hiểu Phật pháp, th́ toàn sự là lư, sự
tŕ tức là lư tŕ. Trái lại, nếu chỉ chuộng
lư thuyết không quan tâm đến thật hành, đó
chỉ là lư thuyết suông, không đem lại kết
qủa.
Thuở xưa, có một vị sư đi thuyết pháp nơi
nào cũng chỉ nói về quy y Tam Bảo. Có người
hỏi sao không giảng pháp chi khác. Sư đáp: "Thử
nghĩ có pháp nào ngoài phạm vi Tam Bảo không?".
— nước ta, sự tu hành phổ thông của hàng
Phật tử xuất gia và tại gia tóm lại cũng
không ngoài: giữ quy giới, biết nhân qủa,
làm lành, niệm Phật. Cho đến nhiều bậc học
Phật uyên thâm, kết cuộc cũng đi về điểm ấy.
Vậy một câu Niệm Phật, nếu chuyên, thiết
tưởng không phải là thiếu. Xem quyển này,
chư vị sẽ được lănh thọ lời vàng của Phật Tổ,
chỗ kinh nghiệm về tu tŕ của các bậc thiện
tri thức, không khác nào có thầy hay bạn tốt.
Nếu thật hành y theo lời dạy trong đây, sẽ
được ba điều lợi ích lớn:
1. Nhờ sức Phật hộ tŕ, sức công đức của câu
Niệm Phật, sức tâm niệm lành của ḿnh, riêng
hành nhơn sẽ được tiêu tội chướng, thêm
phước huệ, giảm trừ những nguy hiểm tai nạn
trong thời mạt kiếp.
2. Cũng do ba năng lực trên, cảnh huống khổ
đau chung của nhân loại có thể giảm bớt, nếu
nhiều người biết ăn chay niệm Phật. Cho nên
tuy tu Tây phương tịnh độ, mà thật ra đồng
thời đă tu nhơn gian tịnh độ ở ngay cơi đời
này.
3. Chuyên niệm Phật, hành nhơn sẽ được sanh
về Cực Lạc, thoát hẳn ra nỗi khổ luân hồi,
hưởng sự an vui vô cùng vô tận, lần lượt sẽ
chứng đạo qủa, độ chúng sanh. Vậy đây là
phương pháp lợi ḿnh lợi người một cách viên
măn chắc chắn.
Quyển này, theo bản Hán Văn, đă được tăng bổ,
in ra nhiều lần. Cho nên phần tựa do ngài „n
Quang làm năm Dân Quốc thứ 28 (1938), mà
đọan sau lại có thêm lời dạy, tiểu sử của
Ngài (tịch năm 1940) và Hoằng Nhất Đại Sư (tịch
năm 1942). Vậy xin độc giả, thể hội, đừng
lấy làm nghi.
Dịch ra quyển này, tôi cảm v́ cơi đời khổ
nặng, chánh giáo suy vi, nghĩ ḿnh tội
chướng chi mà sanh nhằm mạt thế, duyên phước
ǵ mà nghe được pháp âm, nên không nỡ thọ
phần lợi ích riêng, tùy sức tùy phần tuyên
dương đạo giải thoát ra để tỏ ḷng báo đáp
bốn ân, lợi vui đồng loại trong muôn một thế
thôi.
"Đă từng trôi nổi riêng thương khách
Muốn nhủ đồng nhơn lại cố hương!"
Xin mượn hai câu thơ trên để bày tỏ tâm sự
tôi vậỵ
Mùa an cư năm Căn Tư (1960)
Dịch giả: Liên Du kính ghi
|
|
|
Tựa |
|
| |
|
|
| |
|
|
Pháp
môn Tịnh Độ cao cả không cùng, rộng lớn như trời
che đất chở. Đây là Pháp môn tổng tŕ của chư
Phật ba đời, là đạo mầu đặc biệt trong một đời
giáo hóa của đức Thích Ca. Trên như bậc đẳng
giác Bồ Tát, không thể vượt ra ngoài phạm vi của
môn này: Dưới dù kẻ phạm tội nghịch ác cũng được
dự phần tế độ.
Tuy nhiên, bởi pháp môn cao siêu như thế mà phần
nhiếp cơ lại qúa phổ cập, dùng sức ít mà thu
thập kết qủa rất mau lẹ lớn lao, nên những vị
thông hiếu đôi chút về tông, giáo, đều xem
thường, cho là môn tu tŕ của kẻ ngu phu ngu phụ.
Truy nguyên, cũng do các vị ấy chưa hiểu rơ các
chỗ lớn nhỏ, khó, dễ của Phật lực và tự lực. Hai
phương diện này, sự hơn kém thật không thể dùng
lời nói, văn từ h́nh dung cho hết được. V́ sao?
Bởi tất cả pháp môn khác đều nương theo sức giới,
định, huệ, tu cho đến nghiệp sạch t́nh không,
mới có thể thoát luân hồi sanh tử. Nhưng địa vị
nghiệp sạch t́nh không đâu phải là dễ được?.
Trong hai phần hoặc nghiệp, dứt được kiến hoặc
khó cũng như ngăn chận ḍng nước đổ bốn mươi dậm,
huống nữa là tư hoặc ư? Dù cho bậc tỏ ngộ cao
siêu, nếu chưa dứt sạch phiền năo, vẫn c̣n bị
luân hồi. Và một khi đă thọ sanh th́ kẻ thối
thất trong một muôn có đến mười ngàn, kẻ tiến bộ
trong ức người khó được ba bốn. Thế th́ tự lực
không đủ ỷ lại, không chi vững vàng. Những kẻ
khoe ḿnh là trí, không chịu thuận theo ḷng từ
thệ nhiếp thọ của Như Lai, thử nghĩ có nên tụ
phụ chăng?
Riêng về môn Tịnh Độ, nếu người có đủ tín nguyện
chơn thiết, dùng ḷng chí thành niệm Phật như
con thơ nhớ mẹ và hằng ngày sự hành vi không
trái với đạo đức, th́ đến khi lâm chung, sẽ được
nhờ Phật tiếp dẫn sanh về Tây Phương. Dù người
ấy nghiệp hoặc hăy c̣n, nhưng khi đă văng sanh
th́ chỗ sở đắc cũng cao hơn bậc A La Hán t́nh
không nghiệp sạch, v́ lẽ chủng tánh không đồng.
Kẻ chưa dứt nghiệp hoặc c̣n như thế, người đă
hết nghiệp không đợi phải luận nhiều! „y bởi do
Phật lực, pháp lực và tâm lực của chúng sanh,
đều không thể nghĩ bàn: mà tâm lực lại nhờ năng
lực của Phật và Pháp, được hiển hiện một cách
vẹn toàn. Cho nên chỉ ỷ lại vào tự lực, sánh với
nương nhờ Phật Lực, thật kém xa nhau hằng hà sa
số sự cách biệt của đất trời! Lại nên biết, đạo
lư của môn Tịnh Độ này không thể đem luận chung
với các pháp môn phổ thông khác, v́ đây là pháp
môn đặc biệt! Tôi thường có đôi liễn:
Pháp môn cao cả, lợi khắp ba căn, nhân đây chín
cơi đồng về, mười phương khen ngợi.
Phật nguyện rộng sâu, không từ một vật, nên được
ngàn kinh đều chỉ, muôn luận tuyên bày.
Trong kinh Hoa Nghiêm về phẩm Phổ Hiền hạnh
nguyện, tất cả bậc pháp thân Đại Sĩ ở 41 vị (Thập
trụ, thập hạnh, thập hồi hướng, thập địa, đẳng
giác) nơi Hoa Tạng thế giới hải, đều y theo lời
khuyên của đức Phổ Hiền Bồ Tát, dùng công đức
mười đại nguyện vương cầu sanh Tây Phương, để
được viên măn qủa Phật. Các bậc đại sĩ mà c̣n
như thế, kẻ phàm phu đầy nghiệp lực, tự ỷ chút
tài chí mọn, xem thường môn Tịnh độ, thử xét
ḿnh có hơn các bậc Bồ Tát kia chăng? Hay là bởi
mê loạn cầu cao, để rồi muốn siêu trở thành đọa
lạc, muốn khéo hóa ra vụng về?
Những kinh sách hoằng dương Tịnh Độ xưa nay rất
nhiều. Trong ấy, đại sư Như Sầm tuyển ra những
lời hay ư đẹp của Phật, Bồ Tát, Tổ Sư và ngôn
luận của các bậc chí thức cận đại, chép thành
quyển Hương Quê Cực Lạc (nhan đề dịch thoát của
hai chữ Tự Quy) này. Đại sư nhờ tôi làm lời tựa,
tôi tự xét lúc trẻ tuổi không gắng sức, đến nay
già kém, tài năng chỉ đem nghĩa lư ḿnh đă tin
hiểu trong 59 năm viết ra để lấp cho rồi trách
nhiệm. Nhân tiện, dâng tỏ chút ngu thành, nguyện
khắp đồng nhơn đều được sanh về Cực Lạc. Chỗ
thật tâm của thôi là thế, ngoài ra những bậc tài
chí có b́nh luận chê cười, tôi chưa từng nghĩ
đến. Theo đây, xin có mấy lời ca rằng:
"Khắp khuyên đồng phát nguyện lành, nguyện cầu
văng sanh. Đất khách suối non hiểm nhiều, mặc ai
luyến t́nh! Tự ḿnh không muốn về thôi, quyết về
tất được. Đường quê có ai tranh giành, gió mát
trăng thanh!"
Những khách nhớ quê, xin cùng chú ư!
Đời Dân Quốc thứ 28, năm Kỷ Măo, tiết Đông Chí.
Thích Ấn Quang cẩn soạn
|
|
Phần Một |
|
| |
|
|
| |
|
|
|
(Thích ca Mâu Ni là
tiếng Phạn, dịch: Năng Nhân-Tịch-Mặc, Thích Ca
là họ, Mâu Ni là tên; Phật có nghĩa là: đấng
giác ngộ, Đức Bổn Sư khi xưa là Thái Tử Tất Đạt
Đa, ở xứ Trung „n Độ, nước Ca Tỳ La Vệ, cha là
Vua Tịnh Phạn, mẹ là Ma Da Hoàng Hậu, Thái tử
xuất gia lúc 19 tuổi, đến 30 tuổi thành đạo,
thuyết pháp 50 năm trụ đời 80 tuổi. Đức Phật ra
đời độ vô lượng chúng sanh, hiện nay đạo pháp
của Ngài được khắp giới Á, Âu tôn trọng).
Kinh Phật Thuyết A Di Đà nói: "Từ đây thẳng về
phương Tây, trải qua mười muôn ức cơi Phật, có
thế giới tên là Cực Lạc. Cơi ấy có đức Phật hiệu
là A Di Đà, hiện nay đương thuyết pháp. -- Tại
sao cơi kia gọi là Cực Lạc? V́ chúng sanh ở cơi
ấy không có các sự khổ, chỉ hưởng những điều vui,
nên gọi là Cực Lạc. -- Đức Phật ấy v́ sao hiệu
là A Di Đà? Bởi ánh sáng của đức Phật này không
lường, soi khắp mười phương quốc độ, không chỗ
nào chướng ngại, nên hiệu là A Di Đà. Lại nữa,
đức Phật kia cùng với nhân dân của ngài sống lâu
đến không lường, không ngằn A Tăng Kỳ kiếp, nên
gọi là A Di Đà. --Chúng sanh, sanh về cơi Cực
Lạc, đều là bậc A bệ bạt trí, trong ấy hàng nhứt
sanh bổ xứ rất nhiều, không thể dùng toán số
tính biết được, chỉ có thể dùng số vô lượng vô
biên A tăng kỳ để nói mà thôi. --Chúng sanh nào
nghe kinh này, nên phát nguyện sanh về nước
kia.--Tại sao thế? V́ được cùng các bậc người
thượng thiện ở chung một chỗ. --Nếu có người
thiện nam thiện nữ nào nghe nói đến Phật A Di Đà,
giữ niệm danh hiệu, hoặc một ngày, hai ngày, ba
ngày cho đến bảy ngày, một ḷng không loạn, khi
người ấy mạng chung, Phật A Di Đà cùng các Thánh
Chúng hiện ở trước. Bấy giờ kẻ ấy ḷng không
điên đảo, liền được sanh về cơi Cực Lạc. --Chúng
sanh các ngươi! Nên tin kinh "Xưng Tán Bất Khả
Tư Ngh́ Công Đức, Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm"
này.
* Kinh Đại Tập nói: Hành giả ngồi ngay thẳng,
chuyên tâm tưởng đức Phật A Di Đà, tướng đẹp như
thế, oai nghi như thế, đại chúng như thế, thuyết
pháp như thế, tưởng niệm như vậy, tâm tâm nối
nhau, thứ lớp không loạn, sẽ thấy được Đức Phật
kia. Ví như trong đời có người nam hay nữ đi xa
ở xứ khác, trong giấc mơ thấy nhà cửa của ḿnh.
Lúc bấy giờ thật ra người ấy chẳng biết là đêm
hay ngày, là ngoài hay trong, tường vách núi đá
không thể che ngăn, cho đến sự tối tăm mù mịt
không làm chướng ngại. Hành giả mỗi niệm cứ huân
tu như thế, lâu ngày sự quán tưởng sẽ sáng suốt
lanh lẹ, kết qủa thấy được đức Phật Di Đà.
* Kinh Thập Lục Quán nói: --Muốn sanh về Cực Lạc,
phải tu ba thứ phước: 1) Hiễu dưỡng cha mẹ,
phụng thờ Sư trưởng, tâm từ bi không giết hại,
tu mười nghiệp lành. 2) Thọ tŕ tam quy, giữ
trọn các giới, đừng phạm oai nghi. 3) Phát ḷng
bồ đề, tin sâu lư nhân qủa, đọc tụng kinh Đại
thừa, khuyến tấn người tu hành. Ba điều trên đây
gọi là tịnh nghiệp.
* Kinh Bảo Tích nói: -- Bấy giờ Di Lặc Bồ Tát
bạch Phật rằng: "Bạch đức thế Tôn! Như Thế Tôn
đă nói những công đức lợi ích của Phật A Di Đà
và thế giới Cực Lạc. Lại bảo: Nếu có chúng sanh
nào phát mười thứ tâm, một ḷng chuyên niệm
hướng về Phật A Di Đà, khi người ấy mạng chung
sẽ được sanh về thế giới của đức Phật kia. Bạch
đức Thế Tôn! Thế nào là phát mười thứ tâm, và do
tâm này sanh về Cực Lạc?" --Phật bảo: "Này Di
Lặc! Mười thứ tâm ấy không phải hạng người phàm
phu, bất thiện có thể phát được. Những ǵ là
mười tâm:
Đối với chúng sanh
khởi ḷng đại từ không làm tổn hại.
Đối với chúng sanh khởi ḷng đại bi không làm
bức năo.
Với chánh pháp của Phật khởi ḷng hộ tŕ không
tiếc thân mạng.
Với tất cả pháp lành sanh ḷng thắng nhẫn, không
chấp trước.
Tâm an vui trong sạch, tôn trọng, không tham lợi
dưỡng, sự cung kính.
Tâm cầu chứng trí của Phật, trong tất cả thời
không xao lăng.
Đối với tất cả chúng sanh hằng tôn trọng cung
kính, không khinh rẻ là hèn thấp.
Không say đắm theo thế luận, đối với phần bồ đề
sanh ḷng quyết định.
Tâm thanh tịnh tu các căn lành, không hề tạp
nhiễm.
Đối với các đức Như Lai, xả ĺa các tướng, ḷng
tùy niệm.
Di Lặc! Đó là mười thứ phát tâm của Bồ Tát, do
tâm nào sẽ được sanh về cơi Cực Lạc của Phật A
Di Đà. Di Lặc! Nếu có người nào trong mười tâm
này, tùy ư thành tựu được một tâm, ưa thích muốn
về Cực Lạc, quyết không lẽ nào không được văng
sanh.
(A Di Đà là tiếng
Phạn, dịch: Vô Lượng Thọ hoặc Vô Lượng Quang.
Ngài là vị giáo chủ ở thế giới Cực Lạc về phương
Tây. Theo Kinh Cổ Âm Vương th́ đời qúa khứ có
nước Diệu Hỉ, vị quốc vương là Kiều Thi Ca. Bấy
giờ có Phật Tự Tại Vương ra đời. Kiều Thi Ca
xuất gia đầu Phật, hiệu là Pháp Tạng. Lại Kinh
Vô Lượng Thọ nói: "Pháp Tạng Tỳ Khưu ở nơi Phật
Thế Tự Tại Vương phát ḷng bồ đề, lại phát 48
lời nguyện, mỗi nguyện đều nói: "nếu không được
như thế, tôi thề không thành Phật".
Những đại nguyện ấy đă thành tựu, và ngài Pháp
Tạng đă thành Phật tức là Đức A Di Đà ở nơi thế
giới Cực Lạc hiện nay).
*Theo kinh Vô Lương Thọ, 48 đại nguyện của Đức A
Di Đà, có mấy điều thiết yếu sau đây:
Nguyện thứ 18 - Khi tôi thành Phật, chúng sanh
trong mười phương hết ḷng tin ưa muốn sanh về
nước tôi, xưng danh hiệu tôi cho đến mười niệm,
nếu không được văng sanh, tôi thề không thành
chánh giác.
Nguyện thứ 19 - Khi tôi thành Phật, chúng sanh
trong mười phương phát ḷng Bồ Đề, tu các công
đức, chí tâm phát nguyện cầu sanh về nước tôi,
đến lúc lâm chung, nếu tôi không cùng thánh
chúng hiện ở trước người ấy tiếp dẫn, tôi thề
không thành chánh giác.
Nguyện thứ 21 - Khi tôi thành Phật, hàng nhân
thiên trong nước tôi thảy đều đủ 32 tướng đại
nhân, nếu chẳng được như thế, tôi thề không
thành chánh giác.
Nguyện thứ 27 - Khi tôi thành Phật, từ hàng Nhân
Thiên cho đến tất cả muôn vật trong nước tôi,
h́nh sắc đều tốt đẹp, nghiêm sạch sáng rỡ, vi
diệu cùng cực, không thể tính kể. Nếu những
chúng sanh chứng được thiên nhăn mà có thể biện
thuyết rơ ràng được sanh số, tôi thề không thành
chánh giác.
Nguyện thứ 32 - Khi tôi thành Phật, từ cơi đất
lên đến hư không, những cung điện lầu quán, ao
nước cây hoa, tất cả vạn vật đều do vô lượng tạp
bảo, trăm ngàn thứ hương hoa hiệp tạo thành,
nghiêm đẹp kỳ diệu, hơn các thiên cung. Mùi
hương trong nước tôi lan tỏa khắp mười phương
thế giới, các Bồ Tát tiếp xúc được hương ấy, đều
tu Phật hạnh. Nếu chẳng được như thế, tôi thề
không thành chánh giác.
Nguyện thứ 39 - Khi tôi thành Phật, hàng nhơn
thiên trong nước tôi đều hưởng sự an vui như bậc
lậu tận tỳ khưu. Nếu chẳng được như thế, tôi thề
không thành chánh giác.
Quán Thế Âm Bồ Tát
Trong Kinh Bi Hoa,
về kiếp qúa khứ, thuở đời Phật Bảo Tạng, khi đức
A Di Đà c̣n làm Luân Vương, th́ Bồ Tát làm vị
Thái tử thứ nhất của Ngài, hiệu là Bất Thuấn.
Lúc Thái tử đối trước đức Bảo Tạng phát đại
nguyện rồi, Phật liền ban cho danh hiệu là Quán
Thế Âm. Hiện tại, Bồ Tát ở cơi Cực Lạc phụ giúp
Phật A Di Đà mà hoằng hóa và tiếp dẫn chúng sanh.
Về sau, Bồ Tát kế vị đức A Di Đà mà thành Phật,
hiệu là Biến Xuất Nhất Thế Công Đức Sơn Vương
Như Lai; thế giới Cực Lạc đổi tên lại là Nhất
Thế Trân Bảo Sở Thành Tựu.
Về phần nhân hạnh qủa đức cùng sự ứng hóa của Bồ
Tát, trong kinh Pháp Hoa, Lăng Nghiêm, và Đại Bi
có nói đến)
* Kinh Đại Bi Đà La Ni nói: "Nếu chuyên xưng
danh hiệu và cúng dường đức Bổn Sư ta là Phật A
Di Đà, th́ sẽ được vô lượng phước, tiêu trừ vô
lượng tội, khi mạng chung lại được văng sanh về
cơi Cực Lạc. Bấy giờ đức Như Lai đưa tay tiếp
dẫn và xoa đầu kẻ ấy mà bảo rằng: "Người đừng sợ
hăi, v́ đă được sanh về nước ta".
* Kinh Quán Thế Âm Bồ Tát Thọ Kư nói: "Kẻ nào
phát ḷng vô thượng Bồ Đề, nguyện sanh về Cực
Lạc, đều được thấy cơi ấy, lại thấy Phật A Di Đà
cùng các hàng Bồ Tát và Thanh Văn. Người đó thấy
như thế rồi, vui mừng khấp khởi, xướng lên rằng:
"Nam Mô A Di Đà Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến
tri!" Bấy giờ trong pháp hội có 84.000 chúng
sanh đều phát ḷng bồ đề, nguyện trồng căn lành
để được văng sanh về Cực Lạc.
Trong Kinh Bi Hoa,
về kiếp qúa khứ, thuở đời đức Phật Bảo Tạng, khi
đức A Di Đà c̣n làm Luân Vương, th́ Bồ Tát làm
vị Thái tử thứ hai của Ngài, hiệu là Ma Ni. Lúc
Thái tử Ma Ni đối trước với đức Phật Bảo Tạng
phát thệ nguyện rồi, Phật liền ban cho danh hiệu
là Đắc Đại Thế, và thọ kư cho sau thành Phật
hiệu là Thiện Trụ Trân Bảo Sơn Vương. Hiện tại,
Bồ Tát ở cơi Cực Lạc phụ giúp Phật A Di Đà hoằng
hóa và tiếp dẫn chúng sanh. Về sau Bồ Tát thành
Phật kế đức Quán Thế Âm, thế giới, thời kiếp và
Phật sự cùng Phật Công Đức Sơn Vương đồng. Trong
kinh Lăng Nghiêm, Bồ Tát nói pháp Môn niệm Phật
thật rất là tinh khiết, người tu tịnh nghiệp nên
tuân theo).
* Kinh Lăng Nghiêm nói: "Tôi nhớ hằng hà sa kiếp
về trước, có mười hai đức Như Lai nối nhau ra
đời trong một kiếp, vị đầu tiên là Vô Lượng
Quang, vị Phật rốt sau hiệu là Siêu Nhựt Nguyệt
Quang. Đức Phật sau này dạy tôi pháp môn Niệm
Phật tam muội. Ví như có hai người, một kẻ
chuyên nhớ, một kẻ chuyên quên, hai người ấy dù
gặp nhau cũng như không gặp, thấy cũng như không
thấy. Nếu hai người đều nhớ nhau, sức nhớ tưởng
càng sâu, th́ từ đời này đến đời khác, hai kẻ ấy
đồng như h́nh với bóng, không xa rời nhau được.
Các đức Như Lai trong mười phương mẫn niệm chúng
sanh cũng như mẹ nhớ con, nếu con cứ lẩn tránh,
dù mẹ có nhớ cũng không biết làm sao! Trái lại,
nếu con nhớ mẹ, cũng như mẹ nhớ con, th́ mẹ con
đời đời chẳng cách xa nhau. Nếu tâm của chúng
sanh hằng nhớ Phật, niệm Phật, th́ đời này, đời
sau, quyết định sẽ thấy Phật, cách Phật không xa,
chẳng cần dùng phương tiện chi khác, tâm ḿnh
được khai ngộ. Như người nhuộm các thứ hương,
thân kẻ ấy có mùi thơm đó là hương quang trang
nghiêm. Chỗ bản nhân của tôi là dùng tâm niệm
Phật được chứng vào vô sanh nhẫn, nay ở cơi này
nhiếp thọ người niệm Phật đem về Tịnh độ. Nay
Phật hỏi về viên thông, tôi không lựa chọn,
nhiếp cả sáu căn, tịnh niệm nối luôn được tam ma
địa, đây là bậc nhất.
(Văn Thù Sư Lợi có
chỗ gọi là Mạn Thù Thất Lỵ, dịch là Diệu Đức
hoặc Diệu Kiết Tường. Theo Kinh Bi Hoa, Bồ Tát
khi xưa là thái tử Vương Chúng, con thứ ba của
Luân Vương thời đức Phật Bảo Tạng. Khi Thái tử
phát hoằng thệ ở trước Phật rồi, liền được đổi
tên là Văn Thù Sư Lợi, và được thọ kư về sau
thành Phật hiệu Phổ Hiện, ở thế giới Thanh Tịnh
Vô Cấu Bảo Chi về phương Nam. Lại kinh Văn Thù
Bát Niết Bàn nói: "Văn Thù Bồ Tát thị hiện sanh
ở nước Xá Vệ, làng Đa La, làm con của Phạm Đức
Bà La Môn, Bồ Tát từ hông bên mặt của mẹ sanh ra,
thân sắt tử kim, biết nói liền lúc ấy. Lớn lên
theo Phật xuất gia.
* Kinh Hoa Nghiêm nói: "Bấy giờ, ánh sáng chiếu
qua ngàn thế giới, tất cả đức Văn Thù ở các cơi
đều đồng thời đối trước Phật nói kệ rằng: "Trong
tất cả oai nghi. Thường nhớ công đức Phật. Ngày
đêm không xen hở. Nghiệp như thế nên tu".
* Kinh Quán Phật Tam Muội Hải nói: "Sau khi Văn
Thù Sư Lợi Bồ Tát này bỏ túc nhân, tự nói đă
chứng được Niệm Phật Tam Muội, tất sanh về Tịnh
Độ, đức Thế Tôn thọ kư rằng: "Ông sẽ được sanh
về cơi Cực Lạc". Bồ Tát liền đọc kệ phát nguyện:
"Tôi nguyện lúc mạng chung. Trừ tất cả chướng
ngại. Thấy Phật A Di Đà. Sanh về cơi Cực Lạc.
Khi đă về nơi ấy. Thành tựu các đại nguyện. A Di
Đà Thế Tôn. Thọ kư cho thành Phật".
* Trong Tịnh Độ Thánh Hiền Lục nói: "Đời Đường,
Pháp Chiếu Đại sư nhờ đức Văn Thù dùng thần lực
nhiếp vào thánh cảnh ở non Ngũ Đài. Đại sư đảnh
lễ Bồ Tát và thưa thỉnh về yếu môn tu hành. Đức
Văn Thù bảo: "Nay ngươi nên niệm Phật, chính là
lúc hợp thời, bởi các môn tu hành không chi hơn
niệm Phật. Siêng năng cúng dường Tam Bảo, gồm tu
phước huệ, hai điều này rất là cần yếu. Đời qúa
khứ ta nhân cúng dường, quán tưởng và niệm Phật
mà được Nhứt thế chủng trí. Cho nên tất cả pháp,
pháp bát nhă ba la mật, môn thiền định rất sâu,
cho đến chư Phật, đều từ nơi niệm Phật mà sanh.
Thế nên biết niệm Phật là vua của các pháp".
Ngài Pháp Chiếu hỏi: "Đệ tử phải niệm như thế
nào?" Bồ Tát bảo: — thế giới phương Tây có Phật
A Di Đà. Nguyện lực của đức Phật ấy không thể
nghĩ bàn, ngươi nên tưởng niệm chớ cho gián đoạn,
khi mạng chung quyết định sẽ được văng sanh
không c̣n thối chuyển". Nói rồi, Bồ Tát đưa cánh
tay sắc vàng xoa đảnh ngài Pháp Chiếu và bảo
rằng: "Do ngươi niệm Phật, không bao lâu sẽ
chứng qủa vô thượng bồ đề". Đại sư được thọ kư
rồi, vui mừng đảnh lễ lui ra.
Theo kinh Bi Hoa,
Bồ Tát khi xưa là Thái Tử Vẫn Đồ, con thứ tám
của Vua Luân Vương, thời đức Phật Bảo Tạng. Sau
Khi Thái tử đối trước Phật phát đại nguyện, liền
được đổi tên là Phổ Hiền và được thọ kư về sau
thành Phật hiệu là Trí Cang Hầu Tự Tại Tướng
Vương ở thế giới Trí Thủy Thiện Trụ Tịnh Công
Đức nơi phương Bắc. Lại theo Kinh Hoa Nghiêm, Bồ
tát đă là vị tả phụ của Phật Tỳ Lô Giá Na mà c̣n
dùng mười đại nguyện vương khuyến dẫn hải chúng
Bồ tát trong cơi Hoa Tạng đồng về Cực Lạc. Chúng
ta là kẻ hạ phàm há chẳng phát nguyện làm theo
ư?)
* Kinh Hoa Nghiêm nói: "Khi Phổ Hiền Bồ Tát khen
ngợi công đức thù thắng của Như Lai rồi, liền
bảo các Bồ Tát và ngài Thiện Tài rằng: "Nếu muốn
thành tựu công đức ấy, phải tu mười điều hạnh
nguyện rộng lớn.
Kính lễ chư Phật
Khen ngợi Như Lai
Rộng tu sự cúng dường
Sám hối nghiệp chướng
Tùy hỉ các công đức
Thỉnh Phật chuyển pháp luân
Thỉnh Phật trụ ở đời
Thường theo Phật tu học
Hằng thuận các chúng sanh
Hồi hướng khắp tất cả.
Nếu có người nào
dùng ḷng tin sâu, thọ tŕ đọc tụng đại nguyện
này, cho đến biên chép bốn câu kệ, sẽ được mau
tiêu trừ tội ngũ gián. Khi người ấy lâm chung,
trong khoảng sát na rốt sau tất cả các căn thảy
đề tan hoại, chỉ có đại nguyện này không rời bỏ
nhau, liền được sanh về thế giới Cực Lạc".
* Kinh Như Lai Bất Tư Ngh́ Cảnh Giới nói: "Nếu
có người v́ cầu đạo vô thượng bồ đề, ở trong một
việc chuyên tâm tu tập, tất sẽ được thành tựu.
Ví như có người uống một bụm nước ở biển cả, tức
là đă uống tất cả nước sông trong cơi Diêm Phù
Đề. Nếu Bồ Tát có thể tu tập môn Niệm Phật bồ đề
hải này, tức là đă tu tập tất cả tam muội, các
nhẫn, các địa, các đà la ni.
Theo bộ Truyền đăng
lục, khi Bồ Tát sanh ra, cảm động đến bầy ngựa
đều bi thương kêu la. Bồ tát lại khéo thuyết
pháp, có thể khiến cho bầy ngựa nghe rồi rơi lệ
kêu thương. Sau khi đức Thích ca diệt độ 600 năm,
96 thứ ngoại đạo ở Tây Vực đều phục hưng, phá
hủy Phật Pháp; Bồ Tát bèn thị hiện sanh ở miền
đông „n độ, nước Tang Kỳ Đa, làm nhiều bộ luận
hiểu chánh phá tà. Trong bộ luận Khởi Tín, Bồ
Tát khuyên người niệm Phật, cầu sanh Tây Phương.
Khi lâm chung, ngài vào phép Long Phấn Tấn Tam
Muội, đưa ḿnh lên hư không, tỏa ra ánh sáng rực
rỡ như mặt trời, kế đó lại trở về bản vị mà nhập
niết bàn.
* Luận Đại Thừa Khởi Tín nói: "Nên mạnh mẽ tinh
tấn, ngày đêm sáu thời, lễ bái chư Phật; thành
tâm sám hối, khuyến thỉnh, tùy hỉ, hồi hướng về
qủa bồ đề. Tu tập như thế không thôi nghỉ th́ sẽ
được khỏi các chướng, căn lành thêm lớn". Lại
nói: "Như Lai có thẳng phương tiện để nhiếp hộ
kẻ tín tâm. „y là dùng nhân duyên chuyên nhớ
niệm Phật tùy nguyện cầu sanh về tịnh độ ở
phương khác, do được thường thấy Phật nên vĩnh
viễn xa ĺa ác đạo. Như trong Tu Đa La nói: "Nếu
người chuyên niệm Phật A Di Đà ở phương Tây, đem
những căn lành ḿnh tu hồi hướng về cơi kia, th́
được văng sanh. Do thường thấy Phật nên không
c̣n lo thối chuyển.
Nhân v́ ngài sanh
dưới cội cây có rồng ở, lại đắc đạo ở Long Cung,
nên gọi là Long Thọ Bồ Tát ḍng Phạm Chí, người
xứ Nam Thiên Trúc, rộng hiểu các môn học thế
gian, mới xuất gia ba tháng đă thông suốt tam
tạng. Bấy giờ Long Vương rước ngài xuống Long
Cung; trong chín tuần ngài xem Long Tạng chưa
đầy muôn một, liền ngộ vô sanh nhẫn. Khi trở về
nhân gian, Bồ Tát hoằng truyền Phật Giáo, tạo ra
bộ Bà Sa Luận, trong ấy có khuyên người niệm
Phật cầu sanh Tây phương. Sau ngài vào Nguyện
Luân định mà tịch. Trong kinh Lăng Già, đức Phật
đă huyền kư: Sau xứ Nam Thiên Trúc. Có Long Thọ
tỳ khưu. Hay hiển nghĩa trung đạo. Chứng Sơ Hoan
Hỷ địa. Sanh về cơi Cực Lạc.
* Luận Đại Trí Độ nói: "Niệm Phật Tam Muội có
thể trừ các thứ phiền năo và tội đời trước. Lại
nữa, niệm Phật Tam Muội có phước đức lớn hay độ
chúng sanh. Cho nên các Bồ Tát muốn độ sanh, nếu
tu các pháp tam muội khác, tất không bằng môn
Niệm Phật Tam Muội, v́ môn này có phước đức lớn,
mau diệt các tội. Phật là pháp vương, Bồ Tát là
pháp tướng, chỗ Bồ Tát tôn trọng duy có Phật,
Thế Tôn. Bồ Tát thường khéo tu nhân duyên niệm
Phật, nên thường gặp chư Phật, như kinh Bát Chu
có nói: "Bồ Tát vào tam muội này, liền hiện sanh
về cơi Phật A Di Đà".
* Luận Bà Sa nói: "Đức A Di Đà có bản nguyện như
thế này: "Nếu người xưng niệm danh hiệu và quy y
nơi ta, kẻ ấy quyết được qủa vô thượng Bồ Đề".
Cho nên, phải thương nhớ niệm Phật. Lại dùng kệ
khen ngợi Phật rằng:
Trí huệ sáng vô
lượng.
Thân như ṭa kim sơn.
Con dùng thân, miệng ư,
Chắp tay cúi đầu lạy.
Chân Phật ngàn bức luân,
Sắc hoa sen mềm dịu,
Kẻ thấy đều vui mừng,
Cúi đầu lễ chân Phật.
Tướng bạch hào sáng đẹp,
Trong sạch như trăng thu,
Ánh tỏa khắp mặt vàng,
Nên con cúi đầu lạy,
Nếu người muốn thành Phật.
Tâm niệm A Di Đà,
Theo thời v́ hiện thân,
Cho nên con quy mạng.
Người xưng niệm nơi Phật,
Sức công đức không lường,
Th́ liền được vào định.
Cho nên con thường niệm.
Nếu người trồng căn lành,
Nghi th́ hoa không nở,
Kẻ ḷng tin trong sạch,
Hoa nở liền thấy Phật
Do nhân duyên phước này,
Tất được đức thắng diệu,
Nguyện các loài chúng sanh,
Cũng đều được như vậy.
Thiên Thân Bồ Tát
Bồ tát người xứ
Thiên Trúc, khi mới xuất gia học theo pháp Tiểu
Thừa, hủy báng kinh điển Đại Thừa. Sau ngài nhờ
anh là Vô Trước nhiều phen chỉ dẫn, mới hối ngộ
sự lỗi lầm, muốn tự cắt lưỡi. Vô Trước bồ tát
bảo: "Xưa em dùng lưỡi hủy báng Đại Thừa, nay
phải dùng lưỡi mà tán dương pháp ấy để chuộc tội.
Việc sửa lỗi hăy c̣n chưa muộn, nếu cắt lưỡi đi,
nào có ích ǵ?" Vâng lời anh, Ngài Thiên Thân từ
đó đem hết tâm tư, tạo ra hơn 100 bộ luận Đại
Thừa. Trong ấy có luận Văng Sanh, phát huy rơ
ràng sự trang nghiêm lợi ích của cơi Tịnh độ.
Người niệm Phật nên chú ư đến luận này.
* Vô Lượng Thọ Kinh Luận nói: "Nếu tu ngũ niệm
môn thành tựu, kết qủa sẽ được văng sanh về Cực
Lạc, thấy Phật A Di Đà. Ngũ niệm môn là ǵ?
Lễ bái môn
Tán thán môn
Phát nguyện môn
Quán sát môn
Hồi hướng môn.
Lễ bái là thế nào?
„y là dùng thân lễ Đức Phật A Di Đà, tỏ ư cung
kính, cầu Phật nhiếp thọ.
Tán thán môn là thế nào? Đây là dùng miệng khen
ngợi sắc thân, danh nghĩa, ánh sáng, trí huệ của
Đức Như Lai kia, muốn tu hành như thật cho được
tương ưng.
Phát Nguyện môn? „y là một ḷng chuyên niệm vào
nơi chánh định, nguyện sanh về Cực Lạc.
Quán sát là thế nào? Đây là dùng chánh niệm quán
sát công đức trang nghiêm của cơi Cực Lạc, công
đức trang nghiêm của Phật A Di Đà, và công đức
trang nghiêm của chư Bồ Tát, và Thánh Chúng.
Hồi hướng là thế nào? „y là tâm từ bi không bỏ
những chúng sanh khổ năo, nguyện đem căn lành
công đức của ḿnh, hồi hướng cầu cho tất cả loài
hữu t́nh đều được sanh về Cực Lạc.
Theo bộ Tây Phương
xác chỉ, Bồ tát tự bày tỏ túc nhân như sau: "Thuở
trước, về đời vua Minh Đế nhà Tấn, ta là một kẻ
bần cùng. Tự thương cảnh ngộ của ḿnh, ta phát
đại nguyện rằng: "Tôi v́ túc nghiệp nên chịu qủa
báo nghèo khổ này. Từ đây tôi nguyện niệm Phật
tu hành, nếu không được thấy Phật A Di Đà và
sanh về Cực Lạc để thành tựu tất cả công đức,
th́ dù có phải tan nát thân mạng này, tôi cũng
không thôi bỏ". Phát nguyện rồi, trong bảy ngày
đêm ta chuyên tinh tưởng niệm, liền được tâm
khai, thấy thân tướng Phật A Di Đà, đẹp đẽ sáng
chói, đầy khắp mười phương thế giới. Lúc ấy ta
được Phật thọ kư cho, và về său năm 75 tuổi ta
thoát hóa, sanh về Cực Lạc. Nay v́ bản nguyện
lợi sanh, ta trở lại cơi này, tùy phương hóa độ".
* Trong Bộ Tịnh Độ Thánh Hiền Lục có nói: "Từ
năm Sùng Trinh thứ 16 đời nhà Minh, đến năm
Thuận Trị thứ 4 đời nhà Thanh, Bồ Tát thường hay
giáng thần nơi Ngô môn chỉ dạy về pháp môn niệm
Phật.
* Trong bộ Tây Phương xác chỉ, Bồ Tát dạy: "Tâm
vốn không niệm, niệm do tưởng sanh, cái tưởng ấy
giả dối, khiến cho chúng sanh măi chịu luân hồi.
Nay các ngươi nên biết một câu A Di Đà Phật đây,
không từ nơi tưởng mà sanh, chẳng do nơi niệm mà
có, không dính mắc trong ngoài, chẳng có tướng
mạo chi. Hiểu rơ như thế th́ trừ hết các vọng
tưởng, cùng với pháp thân của Phật cùng đồng
không khác, không thể phân biệt. Niệm như thế
th́ không phiền năo trần lao, không đứt đoạn,
không bỏ cuộc, thế là nhứt tâm. Được chỗ nhất
tâm này, mới gọi là "giữ lấy danh hiệu" mới gọi
là "một ḷng không loạn."
*Nếu niệm Phật không nhất tâm, phải quyết ư dứt
những tư tưởng vẩn vơ, chậm răi mà niệm, làm sao
cho tiếng hiệp với tâm, tâm hiệp cùng tiếng. Cứ
như thế niệm măi, lâu lâu vọng tưởng sẽ lặng
dừng, tâm cảnh sẽ sáng tỏ chứng vào Niệm Phật
tam muội. Kệ rằng:
Nói ít một câu chuyện,
Niệm nhiều một câu Phật.
Đánh được vọng niệm chết,
Hứa pháp thân ngươi sống.
Trước khi niệm Phật, phải phát đại nguyện sanh
về Cực Lạc, rồi sau chí thành khẩn thiết xưng
thánh hiệu đức A Di Đà. Khi niệm phải khiến cho
tiếng duyên theo tâm, tâm duyên theo tiếng, tâm
và tiếng nương nhau, giữ cho bền lâu đừng mất,
th́ sẽ được vào Chánh ức niệm tam muội.
* Đại để người tu tịnh nghiệp, khi đi đứng nằm
ngồi, đều phải hướng về phương Tây th́ cơ cảm dễ
thành, căn cảnh dễ thuần thục. Trong thất chỉ
cúng một tượng Phật, một quyển kinh, một lư
hương, c̣n bàn, ghế và giường mỗi thứ chỉ một
cái, không nên để nhiều vật khác. Ngoài sân cũng
phải quét dọn sạch sẽ, để cho khi đi kinh hành
không bị trở ngại. Điều cần yếu là làm sao cho
tâm ḿnh không vướng một mảy trần, dứt bặt muôn
điều lo nghĩ, rổng rang trong sáng, không biết
có thân, có đời, cũng không biết hành động của
ḿnh hôm nay là việc tu hành. Được như thế th́
cùng với đạo ngày gần, với đời ngày xa, có thể
xu hướng về tịnh nghiệp.
Phép tu tịnh độ không ngoài hai chữ chuyên cần,
chuyên th́ không thêm một việc chi khác, cần th́
không bỏ phí phút giây. Lại phép tŕ danh, cần
mỗi chữ mỗi câu tâm và tiếng nương nhau, không
xen lẫn một mảy niệm đời, lâu ngày thành thục,
quyết định được sanh về Cực Lạc, ngồi ṭa bảo
liên, lên ngôi bất thối.
Bài Kệ Phát Nguyện Của Đại Từ Bồ Tát
Phật mười phương ba
đời,
A Di Đà bậc nhất,
Chín phẩm độ chúng sanh,
Oai đức không cùng cực
Nay con đại qui y,
Sám hối tội ba nghiệp
Có bao nhiêu phước lành,
Hết ḷng xin hồi hướng.
Nguyện chúng bạn đồng tu,
Cảm ứng theo thời hiện,
Khi lâm chung, cảnh Phật,
Hiện trước mắt rơ ràng
Kẻ thấy, nghe tinh tấn,
Đồng sanh về Cực Lạc,
Thấy Phật khỏi sanh tử,
Như Phật độ muôn loài. |
|
Phần Hai |
|
| |
|
|
| |
|
|
Huệ Viễn Đại Sư
Đại sư họ Cổ, người
xứ Nhạn Môn, tinh học về thuyết Nho, Lăo. Năm 21
tuổi, sư nghe ngài Đạo An giảng kinh Bát Nhă,
bỗng tỏ ngộ than rằng: "Các môn học Nho, Lăo,
đều như lúa ép thôi!" Nhân đó bèn xuất gia, thệ
hoằng dương Phật Giáo. Ngài Huệ An từng khen:
"Chánh pháp truyền bá ở Trung Hoa, là do Huệ
Viễn này chăng?" Sau đại sư vào Lô Sơn, cảm rồng
khai mạch nước, thần vận chuyển cây để cất chùa
Đồng Lâm. Ngài từng đào ao trồng sen, hợp chúng
lại ngày đêm sáu thời niệm Phật cầu sanh Tây
phương, nhân gọi là Liên xă, Đại sư ở trong non
hơn 30 năm, vua vời cũng không đi, từng ba lần
trông thấy thánh tướng, song trầm hậu không nói
ra. Năm Nghĩa Hi thứ 12, Phật lại hiện, ngài bèn
ngồi ngay nhập diệt, thọ được 83 tuổi. Người sau
tôn Đại sư làm Sơ Tổ trong Liên Tông)
* Đại sư nói: "Sao gọi là Niệm Phật tam muội?" -
„y là nhớ chuyên, tưởng lặng vậy. Nhớ chuyên th́
chí không chia, tưởng lặng th́ khí thanh thần
sáng. Khí thanh th́ trí giác soi khắp, thần sáng
th́ chiếu suốt chỗ tối tăm. Hai điều này thầm
hợp nhau, hội lại mà ứng dụng. Các môn tam muội,
danh mục rất nhiều, nhưng về phần công đức cao,
dễ tu tiến, th́ niệm Phật là bậc nhất. Tại sao
thế? - V́ Như Lai là đấng đă chứng cùng cực lư
huyền tịch, thể và thần hiệp biến, ứng hóa không
cùng. Cho nên kẻ tu môn định này nương nhờ Phật
lực, bỗng nhiên vọng giác tiêu tan, tức nơi cảnh
sở duyên mà lặng lẽ dường như gương sáng, gương
ḷng sáng th́ ánh linh giao chiếu, muôn tượng
sanh bày. Chừng ấy sự thấy nghe dung thông,
không c̣n cuộc hạn trong ṿng tai mắt, linh thể
một màu, tự nhiên trong sáng. Và khi ấy tâm hợp
lư huyền, vọng t́nh tan mất, chỗ tuyệt diệu
trong đời có chi hơn đây ư?
Rất mong các hiền giả tu theo pháp này gắng chí
hành tŕ, làm sao cho được khế ngộ, cảm tất bóng
dễ tàn, lo chưa đầy công đức, ngồi ngay ngắn
trên bồ đoàn, rửa sạch ḷng nơi pháp tọa, ban
ngày siêng năng, ban đêm quên ngủ. Như thế mới
mong sánh bước người trên, dắt d́u kẻ dưới được.
Đàm Loan Đại Sư
Đại sư người xứ
Nhạn Môn, thuở nhỏ dạo chơi non Ngũ Đài, cảm
điềm linh dị mà xuất gia. Ngài ưa thuật trường
sanh, từng theo Đào Ẩn Cư thọ mười quyển Tiên
Kinh. Sau gặp ngài Bồ Đề Lưu Chi, đại sư hỏi:
"Đạo Phật có thuật trường sanh chăng?" Ngài Lưu
Chi trao cho kinh Thập Lục Quán và bảo: "Đây là
phép trường sanh của Phật Giáo". Đại sư cả mừng,
liền đốt Tiên Kinh, chuyên tu tịnh nghiệp, dù
đau yếu cũng không tạm nghỉ. Ngụy chúa nghe danh
phong cho hiệu là Thần Loan. Khi lâm chung, đại
sư kêu chúng lại dạy rằng: "Biển trần lao khổ
nhọc, không biết đâu là bến nghỉ ngơi, cảnh địa
ngục rất đáng kinh sợ, môn Tịnh độ cần phải tu
hành" Nói xong, bảo chúng cao tiếng niệm Phật
hướng về Tây cúi đầu mà tịch. Khi ấy mọi người
đều nghe tiếng thiên nhạc từ phía Tây trổi lên,
giây lâu mới dứt.
* Đại sư dạy: "Ngoài bổn nguyện cầu sanh, lại
cần phải phát ḷng bồ đề, được văng sanh cùng
không, lấy đây làm chỗ y cứ".
* Thế nào là "Thập niệm tương tục". - Đáp: Ví
như có người ở nơi đồng vắng bị giặc cướp rút
gươm rượt theo muốn giết, sợ hăi qúa chạy thẳng
miết đến một con sông. Đến đây người ấy thoáng
nghĩ: "Nếu qua được sông này ta mới mong bảo
toàn thân mạng, nhưng bây giờ để y phục lội sang
hay là cởi bỏ? Nếu để y phục sợ e sông rộng
vướng mắc lội không thoát c̣n cởi bỏ th́ không
kịp v́ giặc đuổi gần tới! Bấy giờ người ấy chỉ
có một niệm t́m phương tiện làm sao cho qua được
sông thôi, tuyệt không có ư nghĩ chi khác. Hành
giả niệm Phật lại cũng như thế, chỉ chuyên thiết
niệm, không có tạp tưởng, tâm tâm nối nhau cho
đến mười niệm, gọi là "Thập niệm tương tục".
* Người niệm Phật khi b́nh thời nên ước hẹn với
năm ba bạn đồng tu, đến lúc lâm chung nhắc nhở
trợ niệm lẫn nhau. Như thế sự văng sanh mới có
phần vững chắc.
Trí Giả Đại Sư
Đại sư húy là Trí
Khải, vị sơ tổ của tông Thiên Thai. Ngài họ
Trần, người đất Vĩnh Xuyên, khi sanh ra có thần
quang chiếu sáng cả nhà. Năm 18 tuổi ngài xuất
gia, tham học với Huệ Tư thiền sư. Thấy ngài
đến, thiền sư nói :"Năm xưa ta với ngươi đồng ở
Linh Sơn pháp hội, túc duyên đeo đuổi, nay lại
gặp nhau". Đại sư nương theo ngài Huệ Tư, chuyên
tu không bao lâu chứng được Pháp Hoa Tam muội,
trí huệ biện tài vô ngại. Ngài có soạn ra bộ
Tịnh độ thập nghi luận, khuyên người niệm Phật.
Vua Tuyên Đế nhà Trần mến đức, cất chùa thỉnh
đại sư về trụ tŕ. Vua Dượng đế nhà Tùy cũng thọ
giới cùng ngài lại tứ hiệu là Trí Giả. Sau đại
sư trở về núi Thiên Thai, pháp hóa càng thạnh.
Mùa đông năm Khai Hoàng thứ 17, ngài hướng về
Tây niệm Phật tọa hóa, thọ được 67 tuổi.
* Đại sư nói: "Muốn quyết định được sanh về Tây
Phương cần phải đủ hai hạnh: Yểm ly và Hân
nguyện.
Thế nào là hạnh yểm ly? Phải quan sát thân này
đầy đủ sự nhơ nhớp, chịu nhiều nỗi đau khổ,
không có chi là vui, mà sanh ḷng nhàm chán muốn
thoát ly. Nghĩ tưởng như thế th́ lửa dâm dục
phiền năo lần lần giảm bớt. Lại phát nguyện cầu
được vĩnh viễn xa ĺa cơi trần khổ lụy, không
c̣n thọ cái nghiệp thân nam nữ, máu mủ, tanh
hôi, đắm mê theo ngũ dục, cầu được mau về tịnh
độ chứng thân pháp tánh trong sạch quang minh.
Đó là hạnh yểm ly.
Thế nào là hạnh hân nguyện? Trong đây có hai
điều:
1. Nên nghĩ chúng sanh ch́m trong biển khổ, ḿnh
là phàm phu không đủ sức cứu độ. Nay tha thiết
muốn về Cực Lạc, gần gũi với Phật, tu hành chứng
qủa vô sanh, để độ thoát lấy ḿnh, báo đáp bốn
ấn, cứu chúng sanh khổ năo. Đó là mục đích cầu
sanh.
2. Duyên tưởng báo thân của Phật sắc vàng sáng
rỡ, có 84,000 tướng, mỗi tướng có 84,000 vẻ đẹp,
mỗi vẻ đẹp phóng ra 84,000 tia sáng, soi khắp
pháp giới nhiếp lấy những chúng sanh niệm Phật.
Lại quán tưởng cơi Cực Lạc bảy báu trang nghiêm,
đầy đủ sự an vui mầu niệm, mà sanh ra ḷng ưa
thích. Do đó gắng sự bố thí, tŕ giới, niệm
Phật, tu các hạnh lành, rồi đem hồi hướng,
nguyện ḿnh cùng tất cả chúng sanh, đều được
sanh về Tịnh độ. Làm như thế th́ quyết định được
văng sanh, và đây là hạnh hân nguyện.
Đạo Xước Đại Sư
Đại sư họ Vệ, người
Tính Châu. Năm 14 tuổi, ngài xuất gia, học kinh
luận, lại theo Toản thiền sư tập tham thiền. Sau
nhân về ở chùa Huyền Trang miền Bích cốc, ngài
mến hạnh nghiệp của Đàm Loan pháp sư, thường lễ
niệm sáu thời hướng về Tây ngồi tĩnh tọa. Đại sư
định khóa niệm Phật ngày đêm bảy muôn câu. Có
một vị tăng nhập định, thấy ngài cầm chuỗi chói
sáng như ḥn núi thất bảo. Ngoài ra, những điềm
linh dị khác không thể kể xiết. Đại sư giảng
Tịnh độ tam kinh gần vài trăm lượt, giảng xong
đại chúng tản mác ra niệm Phật tiếng vang động
khắp rừng núi. Cho đến mấy huyện ở gần, trẻ em
từ bảy tuổi sắp lên đều biết niệm Phật. Lúc sư
lâm chung, đại chúng thấy Hóa Phật giữa hư
không, hoa trời rơi xuống như mưa, xem lại ngài
đă tịch.
* Đại sư bảo: "Người tu tịnh nghiệp khi ngồi nằm
không được xây lưng về hướng Tây, cũng không
được hướng về Tây khạc nhổ cùng đại tiểu tiện.
Bởi đă quy y về liên bang, nên tôn sùng miền kim
địa, nếu ḷng không trân trọng, đâu phải là chí
nguyện cầu sanh?"
* Hỏi: Niệm hồng danh đức A Di Đà, có thể tiêu
trừ nghiệp vô minh tăm tối và được văng sanh;
sao có người xưng niệm mà vô minh vẫn c̣n, lại
không măn nguyện, là duyên cớ ǵ? Đáp: Do không
như thật tu hành, cùng với danh nghĩa không hợp
nhau, ấy bởi chẳng biết Như Lai là thân thật
tướng, là thân vị Phật. Lại có ba thứ không
tương ứng, nên không được văng sanh.
1. Ḷng tin không thuần, khi c̣n khi mất.
2. Ḷng tin không duy nhất thường đổi thay không
quyết định.
3. Ḷng tin không tương tục, hằng bị tạp niệm
làm cho gián đoạn.
Cho nên khi niệm Phật phải nhiếp tâm đừng cho
tán loạn, nếu niệm được tương tục là tín tâm, là
nhất tâm, là thuần tâm. Niệm như vậy mà không
vănh sanh, ấy là vô lư.
Thiện Đạo Đại Sư
Đại sư là tổ thứ
hai trong Liên Tông. Ban sơ, nhân thấy đạo tràng
tịnh nghiệp của Ngài Đạo Xước, sư mừng rỡ nói
rằng: " Đây mới là nẻo bí yếu để thành Phật".
Rồi đó ngài đến Kinh đô khuyên chúng tu Tịnh Độ,
thường quỳ niệm Phật cho đến khi kiệt lực mới
thôi. Đại sư giảng môn Tịnh độ hơn 30 năm, tu
hành chuyên cần, chưa từng ngủ nghỉ. Được bao
nhiêu của thí, ngài dùng tả kinh Di Đà hơn mười
muôn quyển, vẽ thánh cảnh Tây Phương hơn ba trăm
bức. Đại sư, cảm hóa hàng đạo tục rất đông,
trong ấy số người được tam muội sanh tịnh độ
nhiều không xiết kể. Một hôm, ngài leo lên cây
liễu, hướng về Tây, chú nguyện xong gieo ḿnh
xuống rơi nhẹ như lá, ngồi kiết dà mà tịch. Vua
Cao Tông phục sự thần vị của Ngài, phong cho
hiệu chùa là Quang Minh.
* Đại sư dạy: "Đấng đại thánh xót thương, khuyên
người chuyên xưng danh hiệu, bởi v́ phép xưng
danh rất dễ, nếu có thể giữ mỗi niệm nối nhau,
lấy suốt đời làm hạnh, th́ mười người tu, mười
người văng sanh, trăm người tu, trăm người văng
sanh. Tại sao thế? V́ không có duyên tạp nên
được chánh niệm, v́ cùng với bản nguyện của Phật
hợp nhau, v́ không trái với kinh giáo, v́ thuận
theo lời Phật. Nếu bỏ chuyên niệm mà tạp tu
trong trăm người may ra được một hai người,
trong ngàn người hy vọng được ba bốn người văng
sanh mà thôi".
* Người niệm Phật khi lâm chung chớ nên sợ chết.
Phải thường nghĩ rằng: thân này không sạch, chịu
nhiều sự khổ, nếu được bỏ huyễn thân mà sanh về
Tịnh độ, chính là điều đáng vui mừng!
* Lúc đau yếu, chỉ nghĩ đến sự vô thường, một
ḷng niệm Phật chờ chết. Nhớ dặn người thân cận,
khi có ai đến thăm nên khuyên v́ ḿnh mà niệm
Phật, đừng nói chuyện tạp ở thế gian. Nếu bịnh
nặng sắp chết, người xung quanh không được khóc
lóc, phải đồng thanh niệm Phật đợi chừng nào
bịnh nhơn tắt hơi, trong ḿnh lạnh hết rồi mới
nên cử ai. Như được người hiểu rơ lư Tịnh độ
thường đến khuyên lơn nhắc nhở cho, đó thật là
điều đại hạnh. Dùng theo phương pháp trên đây
quyết định sẽ văng sanh.
* Việc sống chết luân hồi rất lớn lao, phải tự
ḿnh gắng sức mới được, nếu một niệm sai lầm để
luống qua, th́ nhiều kiếp chịu khổ, có ai thay
thế cho ḿnh? Nên suy nghĩ kỹ, nên suy nghĩ kỹ.
* Khi sắp đi nghỉ, lễ Phật quán tưởng, rồi đọc
bài văn phát nguyện rằng: "Con...là phàm phu
trong ṿng sanh tử, tội chướng nặng sâu, luân
hồi sáu nẻo, khổ không nói được! Nay găp trí
thức, được nghe thánh hiệu, đức Phật A Di Đà,
cùng với bổn nguyện, công đức của Phật, một ḷng
xưng niệm, cầu nguyện văng sanh, Nguyện Phật từ
bi không bỏ, xót thương nhiếp thọ. Nay đệ tử
con, chưa biết thân Phật, tướng đẹp quang minh,
xin Phật hiện ra, cho con được thấy. Lại con
chưa biết, Quán Âm, Thế Chí, các chúng Bồ Tát,
tướng mầu sáng rỡ, và thế giới kia, trong sạch
trang nghiêm, xin khiến cho con, thấy được tỏ
tường.
| | | | | | | |