Cùng Chung Lăn Chuyn Bánh Xe Pháp

     
 

TỊNH ĐỘ

---o0o---

Thư cho người em Tịnh Độ
Tác giả: Thích Hồng Nhơn
 
     
 

Lời đầu sách

Thư cho người em Tịnh độ là một bộ luận nhỏ, gom nhặt những yếu nghĩa của Tông Tịnh độ, chia thành từng bài nhỏ, mỗi bài là một chủ đề, nhằm giải quyết những thắc mắc, lo âu của hành giả mới phát tâm tu Tịnh nghiệp, để ḷng tin được sâu chắc, phát nguyện, thực hành.

Toàn tập gồm có mười bài. Ba bài đầu gọi thức những khách mộng mê, chỉ cho pháp dễ làm và giải hết nghi để có ḷng tin vững chắc. Hai bài kế là từ ḷng tin đă vững, khởi tâm quyết định, nguyện rộng độ tất cả chúng sinh. Năm bài cuối nói về tin, nguyện đă đủ, liền gắng sức thực hành bằng cách đoạn ái dục để diệt hiện hành phiền năo, tinh chuyên niệm Phật chánh hạnh, đồng thời cùng tu các trợ hạnh để phước huệ viên măn, khi lâm chung chắc được văng sinh.

Sách được tŕnh bày theo h́nh thức đàm thoại thân mật giữa người anh và đứa em tu Tịnh độ. Đặc biệt nhất là những ư kiến mà người anh đưa ra để giải quyết vấn đề, không phải ư riêng mà đó là lời ân cần khuyên bảo của chư cổ đức. Chính các Ngài đă thân chứng và đă được văng sinh Cực lạc. Do đó, những lời dạy của các Ngài sẽ đem lại cho hành giả một niềm tin vững chắc.

Tập luận này tuy lời ít nhưng chứa đựng tất cả ư nghĩa của pháp môn niệm Phật, nếu người xem để tâm suy ngẫm kỹ, có thể đi thẳng vào chỗ nhiệm mầu của môn niệm Phật. Đây là cánh sen nhỏ, chân thành kính tặng các bạn sen trong mùa kiết hạ an cư này.

                                                                                    Mùa an cư Nhâm Tuất, 1982
                                                                                        Hồng Nhơn cẩn bút

Gọi thức người mê

Ngày 15 tháng 04 Nhâm Tuất 1982.

Thưa anh!

Em là một đứa em lạc lơng bơ vơ qua bao cuộc bể dâu biến đổi. Nếu nói ở trần gian này có bao nhiêu đau khổ, có lẽ trời chỉ dành riêng để tặng em! Từ địa vị một chủ nhân ông, trong tay có hàng trăm triệu, nhà cửa huy hoàng, vợ đẹp con ngoan, lên xe xuống ngựa, thế mà chỉ phút chốc biến thành mây khói. Tiền bạc, nhà cửa bị tiêu tán, vợ đẹp con ngoan th́ ngàn trùng cách biệt. Thân thể cường tráng năm nào giờ đây vô cùng già nua tiều tụy sau cuộc giải phẫu v́ quá ưu phiền. Nhiều lần em muốn tự tử để thoát khỏi cơi đời ô trọc này. Nhưng hôm nay, rất may gặp lại anh trong hoàn cảnh tha hương đầy tuyệt vọng. Anh như liều thuốc hồi sinh, v́ xưa nay anh luôn luôn đối với em là niềm tin và lẽ sống. Mong anh hăy v́ đứa em khốn khổ này mà cho em vài lời vàng ngọc!

Em thân thương của anh!

Nh́n thân h́nh tiều tụy, mái tóc bạc phơ, đôi mắt thâm quầng, chứng tỏ em đă trải qua một hoàn cảnh quá khổ đau, cần t́m một nơi yên nghỉ tâm hồn. Anh rất thông cảm hoàn cảnh của em. Dù đă xuất gia, nhưng anh chỉ là một kẻ phàm, không thể diễn đạt hết ư Thánh, hầu có thể làm thức tỉnh được khách mộng mê. Nên anh chỉ đưa ra những lời khuyên vàng ngọc của các bậc Thánh triết cổ đức, biết đâu nhờ đó mà em có chỗ nương về thoát khỏi khổ đau!

Trong Long Thơ Tịnh Độ viết: “Người sinh ở đời luôn luôn mê chấp: nào cha mẹ, vợ con, nhà cửa, ruộng vườn, cơ xưởng, cho đến áo quần, thân thể đều là của ḿnh. Kho lẫm đă đầy vẫn cho chưa đủ, vàng bạc gấm vóc đă nhiều vẫn c̣n muốn thêm. Nhưng khi thần chết đến nơi, tất cả đều bỏ lại cho đời. Thân này c̣n không giữ được huống ǵ vật ở ngoài thân. Xét cho kỹ, đời người như giấc chiêm bao, nên người xưa nói:

“Một khi vô thường đến
Mới biết ḿnh trong mơ
Muôn vật đều đi hết
Chỉ có nghiệp theo ḿnh”.
Ngài Tử Thiên cũng có bài kệ:
“Muôn vật đều bỏ lại,
Chỉ có nghiệp theo ḿnh,
Gắng niệm Phật Di Đà
Chắc về cơi Cực lạc”.

Đời người không khác bọt nước, sống chết vô thường. Ta chỉ thấy người già, đâu biết thân ta mỗi lúc mỗi già, đi lần vào cơi chết. Thế gian luôn luôn là cảnh khổ, những cảnh vừa ư có được bao lâu! Ta hằng ngày tạo nhiều ác nghiệp, khi xuôi tay nhắm mắt, phải theo nghiệp lôi đi trong trạng thái mờ mờ mịt mịt c̣n biết về đâu! Hoặc vào địa ngục chịu các điều khổ, hoặc vào súc sinh bị người giết hại, hoặc vào ngạ quỷ đói khát đốt ḿnh, hoặc vào Tu la giận dữ ép ngặt. Dù có tạo được chút nghiệp lành sinh lên cơi trời, cơi người, song khi phước báo hết, quay lại luân hồi, ch́m nổi xuống lên không bao giờ ra khỏi. Chỉ có cầu sinh về Tây phương là con đường tắt thoát khỏi luân hồi. Thân này như núi lửa âm ỉ, không chắc có được an lành, phải mau mau t́m phương cứu khổ. Được sinh về Cực lạc mới khỏi lo sợ thấy lại Diêm vương.

Ḥa thượng Tử Tâm dạy: “Câu Nam Mô A Di Đà Phật thật dễ niệm, cơi Tịnh độ thật dễ sinh, nhưng người đời lại không chịu tin, chỉ biết tham sống, đâu ngờ phải chết. Đời người thường nói sống được trăm tuổi, nhưng ít có người sống quá bảy mươi. Khi thần chết đến rồi nào ai thoát khỏi. Như người nhiều công danh giàu có, của tiền như núi, thê thiếp đầy nhà, ngày đêm hoan lạc. Họ luôn luôn muốn sống lâu ở đời. Ngặt nỗi, đời người có hạn, mỗi lúc thêm già, mỗi lúc bước đi chân càng lụm cụm. Hằng ngày mắt thấy, tai nghe ở trước xóm sau nhà, biết bao nhiêu những bằng hữu, anh em tuổi hăy c̣n xuân mà đă vội biến thành người thiên cổ. Người xưa nói:

“Đừng đợi đến già mới niệm Phật
Thiếu chi mồ trẻ đă qua đời”.

V́ thế, Tử Tâm tôi chân thành khuyên những người thanh thiếu niên, trong lúc khí huyết c̣n mạnh, sức lực chưa suy, đó là thời gian tốt nhất để tu hành. C̣n người già suy yếu, rất cần phải tu hành, v́ tuổi tác đă nhiều, tháng ngày rất ít, tóc bạc da nhăn, mắt mờ tai điếc, đầu cúi lưng c̣ng, bước đi không vững, gần đất xa trời, c̣n chần chờ ǵ nữa mà không thành tâm niệm Phật!”.

Nếu người có con trai, con gái nhiều cần nên niệm Phật. V́ từ lúc thanh niên, cưới vợ nuôi con, kinh doanh sự nghiệp, chịu trăm cay ngàn đắng. Hôm nay, con cái đă lớn trọn thành gia thất, nên giao hết gia sản, quyết chí niệm Phật tu hành. Nếu không biết quay về, đâu phải người trí, v́ khi hơi thở đă dứt, mọi vật đều không. May có con cháu hiếu thuận th́ cúng dường trai tăng được bao nhiêu tăng, đọc kinh được bao nhiêu bộ, khóc được bao nhiêu tiếng, thương nhớ ông bà có được bao lâu. Không may gặp những đứa con bất hiếu, cha mẹ chết chưa lạnh trán, tranh nhau phân chia tài sản, bán hết ruộng vườn, xài phá vui chơi. Nếu biết rơ được điều ấy th́ cần phải gấp gấp tu hành, v́ “con cháu tự có phước của riêng nó, đừng v́ con cháu mà quá lo xa”.

Người không có con, cần phải chí thành niệm Phật, cô đơn một thân, khỏi sự lo buồn. Không cần cưới dâu, không nhọc gả con, áo thô cơm hẩm, dễ được thanh nhàn. Nếu không tu hành sau ăn năn không kịp.

Người giàu sang niệm Phật càng tốt. Nhà cao cửa rộng, y phục đủ đầy, trăm vật đều vừa ư, do đời trước có tu. Người nghèo càng nên niệm Phật. Áo cơm không đủ, nghèo hèn hạ tiện, thường bị đói lạnh v́ đời trước ít tu, nên đời này phải gặp ác báo. Nếu không quyết chí tu hành, sau khi chết rồi, như bèo rơi vào giếng thẳm, biết thuở nào ra.

Người tu thiền cũng cần niệm Phật. Nếu căn cơ c̣n độn, e rằng đời này chưa được đại ngộ, cần phải nhờ vào nguyện lực của đức Phật A Di Đà tiếp dẫn văng sinh mà thoát sinh tử luân hồi, như người được chức quan ấm, khỏi lo mất chức, tước lộc dồi dào. Có những người không biết đạo, ḷng mơ ước cao xa, không cần niệm Phật, đó là những tà kiến, làm loạn tâm ư người đời, cần nên tránh. V́ thế, cổ đức dạy:

“Đáng cười những kẻ giàu
Đời sống như tên bắn
Kho lẫm gạo sinh trùng
Trong tủ tiền rỉ sét.
Ban ngày quay con vụ
Đốt đèn tính thâu đêm
H́nh hài như cây tăm
Như tơ căng sắp đứt
Đôi mắt vừa khép lại (chết)
Hối tiếc lúc nào nguôi”.

             Lại c̣n dạy:

“Niệm Phật chẳng sinh Tịnh độ ngay
Lưỡi ta sẽ bị ngục trâu cày
Nếu ai được thấy hoa sen nở
Mới biết Ta bà niệm Phật hay”.
Trong Khô Lâu Đồ, ngài Liên Tŕ đại sư có nói:
“Lần lần da mồi tóc hạc
Run run từng bước lần ḍ
Dù cho đầy nhà vàng ngọc
Sao khỏi đau bệnh co ro.
Dù được muôn ngàn khoái lạc
Vô thường luôn ép ngặt ta
Chỉ có đường tắt tu hành
Chuyên niệm A Di Đà Phật”.

Ư chính của bài kệ trên cho chúng ta biết, muôn vật đều bỏ lại, chỉ có nghiệp theo ḿnh. Tại sao muôn vật không đem theo được? V́ người đời có quan tước, vàng ngọc, lâu đài, vườn ruộng, ăn ngon, mặc đẹp, cho đến vợ đẹp con ngoan v.v… Nhưng khi tử thần đến th́ không có một vật ǵ có thể đem theo được. Trái lại, người tạo ra ác nghiệp như tham, sân, si, phi lễ, dâm dục, ác ư, giết hại, làm con chống cha, làm tôi khinh vua, hại người lợi ḿnh, ác độc hại vật… Các thứ nghiệp ấy khi vô thường đến phải mang theo hết và nhận lấy quả báo. Nếu chúng ta không mạnh mẽ thức tỉnh, bỏ dữ làm lành, hết ḷng niệm Phật, để khỏi uổng phí được làm thân người, sống đời vô ích, nhận chịu khổ đau.

 “Tôi (ngài Liên Tŕ) thấy mọi người đều có thể niệm Phật, đơn cử một vài người để chứng minh:

 Nếu người có hoàn cảnh rảnh rang, phải nên niệm Phật không kể ngày đêm. Người làm việc, nên niệm Phật theo hoàn cảnh công việc, sau đó lại tiếp tục niệm Phật. Người không có giờ rảnh, có thể sử dụng khóa lễ thập niệm, sau đó vẫn tiếp tục theo từng hoàn cảnh công việc. Người giàu phước lộc đầy đủ cần phải niệm Phật. Người bần cùng vẫn an phận thủ thường dốc ḷng niệm Phật. Có con cái đông, có người giúp đỡ, cũng nên niệm Phật. Người không con cái, khỏi bận ḷng lo, rảnh rang niệm Phật. Người không bệnh, thân h́nh cường tráng, cần nên niệm Phật. Người thông minh hiểu rành kinh lư, cần phải niệm Phật. Người quê mùa không có tạp tri kiến cần nên niệm Phật… Dám khuyên tất cả mọi người khi thân thể chưa thành khô lâu, mau mau nhất tâm niệm Phật, đợi đến khi muôn vật đều bỏ lại, chỉ có nghiệp theo ḿnh, chừng đó hối tiếc thời đă muộn”.

Trong Văn Khuyên Tu Tịnh Nghiệp, ngài Sư Tử Phong dạy:

“Người đời yêu mến sắc thân
Đâu biết thân là gốc khổ.
Tham hưởng khoái vui
Vui thật khổ thân.
Đời như bóng chớp qua mau
Không thể giữ lâu
Thân huyễn chẳng bền
Thoáng liền tan biến”.

Thân này do đất, nước, gió, lửa hợp thành, sao khỏi sinh, già, bệnh, chết. Cuộc sống như bọt nước, chốc lát liền tan, tai ách nối liền không bao giờ dứt. Người sống lâu được bảy tám mươi cũng phải chết, kẻ yểu mạng chỉ được vài mươi. Huống chi, độc trùng, gió xấu chết chẳng kịp đề pḥng; nhà sập, xe lăn làm sao cứu kịp. G̣ cao, vực thẳm phải chịu thọ ương; nước lửa, binh đao làm sao tránh khỏi. Việc ngày nay c̣n chưa biết được việc sáng mai, lên giường nằm chưa chắc mang lại giày cũ (có khi chết luôn). Khi hơi thở ra không trở lại mới biết ḿnh vĩnh biệt cơi đời. Thật thân này vô thường huyễn mộng, có người nào thoát khỏi tử thần!

Thân người chỉ là bọc da đựng thịt máu dơ, có chín lỗ thường chảy ra những đồ bất tịnh. Tóc, lông, răng, móng, bụi đóng không thanh; ghèn, mũi, nhớt, đờm, khóm hờm chẳng sạch. Trên mặt vi trùng ḅ lúc nhúc. Trên đầu chấy, rận cắn tứ tung. Chỉ chút nọc rắn, xương cá đủ để giết người, khí hậu lạnh, nóng bất thường làm người mau già chết.

Nghiệp mê sắc bị xô vào ngạ quỷ, tai mê tiếng dễ vào ngục A–tỳ. Người đời dù miệng ăn hết ngàn vị ngọt, chết rồi c̣n được ǵ đâu! Được chăng chỉ vài ngọn đèn dầu, thân này như cỏ úa hoa rơi, không thể tiếc thương, sao lại mê đắm trong chốn phong lưu để có một cuộc sống vô cùng điên đảo!

Có người thấy kẻ tóc dài da trắng, thân thể ướp hương, áo lụa gói thân, gấm vóc che phủ. Nhân đây nên sinh ḷng yêu quư, mong hưởng trọn sắc thân, trăm phương ngàn kế, muốn chiếm trọn trăm năm. Họ đâu biết khi đầu nhức mắt hoa, Diêm vương sẽ sai người đến đón. V́ răng long tóc bạc là thiệp gọi của vô thường, mọi thứ luyến sắc ham tài chính là con đường mất mạng. Ngày ngày ăn thịt uống rượu, biết đâu đó là gốc khổ địa ngục; hiện tiền vui sướng một thời, thân sau phải chịu muôn ngàn khổ năo.

Có một ngày mạng căn tan ră, bốn đại chia ĺa. Bên ngoài tay chân run rẩy, bên trong gân cốt nhức đau. Dù cho vợ con vô cùng thương tiếc cũng chỉ một ḿnh chịu khổ mà thôi, khi hành hạ bị thịt nát xương tan, có ai dám đứng ra chịu thế! Mới biết sinh tiền đáng buồn đáng khóc, chết rồi phải chịu thần thức lôi đi. Trước mắt không có ánh sáng, nh́n ngắm toàn người xa lạ. Qua bến bờ sông Nại (Âm phủ), cảnh nào lại chẳng đau thương; vào cửa quỷ rồi, người đến phải chịu nhiều sầu khổ. Dương gian chỉ có bảy ngày, âm cảnh đă qua thập điện. Vị Tào quan tuyên án không hề thiên vị, ngục tốt cầm xoa mặt chẳng chút nụ cười.

B́nh thời, tạo thiện nghiệp được đưa lên cơi trời, tạo nghiệp ác bị lôi đến núi đao hầm lửa. Bị liệng lên núi đao, thân ḿnh máu me be bét; bị ném vào núi băng, da thịt bỗng nổ bong. Thân vừa nát ra, gió nghiệp thổi qua, phải sống lại chịu khổ; mạng vừa chung dứt, La sát bắt phải sống thêm. Một ngày đêm ở địa ngục lâu bằng ở nhân gian mấy năm. Thây chết c̣n nằm ở quan tài chưa chôn, đă bị lúc nhúc côn trùng ăn rút. Lúc sống hồng nhan xinh đẹp, trở thành ṿi tửa xương khô. Da thịt là bùn bẩn, những việc thương yêu tha thiết, rốt cuộc thành không. Ngày xưa quả thật anh hùng, nhưng giờ c̣n chi đâu nữa? Tiếng khóc qua rồi im bặt, gió buồn dấy động lạnh căm. Đêm nghe quỷ khóc ma kêu, năm tháng chịu quạ chim mổ. Nếu may ra c̣n có chút thạch bia trên bờ cỏ, nhưng năm mười tháng mới được vài tiền giấy, thếp nhang. Vô thường không ai tránh khỏi. Tại sao chẳng tỉnh mộng hồn?

Có người đủ cả đạo nhăn, lại sớm hồi đầu tự ḿnh thoát khỏi sông mê, giây lát thoát qua lưới ái. Miệng nói vượt qua hang quỷ, có ai quả thật chơn nhơn? V́ thế, đức Thếâ Tôn thương xót, cứu giúp hết ḷng, muốn giúp tất cả mọi người thoát ra ba cơi, đặc biệt chỉ dạy cho Tịnh độ pháp môn, bốn mươi tám nguyện rộng sâu, độ mọi người thoát ra bể khổ. Cách mười muôn ức cơi tuy xa tuyệt, nhưng nương sức Phật giây lát sẽ tới nơi. Sinh vào hoa sen, áo cơm đầy đủ. Thân được về cơi tịnh, khỏi sáu nẻo luân hồi. Người nam kẻ nữ đều dễ tu, kẻ trí người ngu đều về Cực lạc. Chỉ mong mọi người phản tỉnh, mới biết thể tánh toàn không. Nếu chưa học đạo tham thiền, cần phải ăn chay niệm Phật. Nếu được nhất tâm bất loạn. Phật dạy bảy ngày thành công. Đổi sáu giặc thành sáu thần thông, ĺa tám khổ biến thành tám tự tại. Trong Tịnh Độ Văn, lời tam kinh chứng tỏ, tích văng sinh truyền lại rất nhiều. Vậy mọi người hăy chuyên tâm niệm Phật, niệm về nhà (Cực lạc) được giải thoát cả nhà. Nếu dạy nơi nơi đều biết niệm Phật, giúp mọi người khỏi khổ luân hồi. Ấy là, trên giúp chư Phật chuyển pháp luân, dưới dắt chúng sinh ra bể khổ. Lời Phật rơ ràng căn dặn, nếu không tin c̣n biết tin ai! Đạo làm người không tṛn làm sao tu theo đạo Phật, đừng đợi lâm chung mới biết, dù có ngàn Phật cũng chẳng giúp được ǵ? Mau mau niệm Phật tu hành, ngày giờ (chết) không hẹn cùng người, phải quyết chí thực hành ngay để khỏi đời này vô ích!

Trong Tịnh Độ Thần Chung, ngài Hiếu Trực dạy: “Từ xưa nay, ba cơi luân hồi giống như lao ngục. Đă bị đày vào trong ngục, kêu xin tha thật chẳng ích ǵ. Lúc yên lành phải t́m kế thoát thân, mới gọi là người có trí. Thân này vô thường, đợi đến già chết gần kề thật là quá muộn. Người đời đều biết tất cả đều phải chết sao chẳng lo xa, sớm tiến tu hành, để ngày lại ngày qua, khi quỷ vô thường đến nơi, ăn năn trở thành vô ích”.

Ngài Viên Trung Lang cũng nói: “Chúng sinh ở trong đời dữ năm trược, như người ở trong ngục. Đă vào ngục tức là tội nhân. Dù được sinh về cơi trời, cơi người cũng chỉ ở trong phần đoạn sinh tử. Tội nhân ở trong ngục muốn trốn thoát phải vượt qua nhiều cạm bẫy, trèo vách chông gai, làm sao có được sự bảo đảm nếu không nhờ Phật lực? Lại nữa, ngày nay chúng sinh lấy phiền năo làm nhà, lấy sinh tử làm ruộng vườn, không biết núi đại Thiết Vi là pháp trường hiểm độc của ba cơi”.

Chư Phật v́ thương chúng sinh mê lầm, nên phân biệt cơi tịnh, cơi uế, chỉ cho con đường thoát ly, đổi nhà lửa làm nhà yên ổn, chỉ cho thấy con đường địa ngục lại qua, làm cho mọi người xa ĺa đường dữ, khỏi nẻo luân hồi.

Trong kinh viết: “Đức Như Lai v́ một việc lớn mà hiện ra trong đời, việc lớn ấy chính là sinh tử”. Đức Phật luôn luôn đưa tay tiếp dẫn, chúng sinh cứ quay mặt làm ngơ, thật đáng buồn thương!

Lại nói: “Có người cho rằng ḿnh nghèo, thiếu thốn trăm bề, khó có thể niệm Phật. Họ đâu biết rằng ai cũng có hoàn cảnh khổ, đâu phải riêng ḿnh. Như người giàu suốt ngày đêm lo lường tính toán, giặc cướp vây quanh nào có vui ǵ! Sao bằng người nghèo mà biết đủ, cơm đủ no, áo đủ che ấm, cần ǵ cao lương mỹ vị, ḷe loẹt áo hoa. Người giàu dù kho lẫm đầy dẫy, cũng chỉ giường nằm hơn thước. Nhà rộng một gian, cơm ngày ba bữa no, nhưng họ vẫn bị già chết vây quanh, suốt đời làm con ma giữ của. Nhưng khi thần chết đến nơi, tất cả đều bỏ lại cho đời, chỉ c̣n mang theo được có họa phúc mà thôi.

Em thân thương của anh!
   Qua dẫn chứng trên, chúng ta thấy rơ thân vô thường, tâm vô thường, hoàn cảnh vô thường, đời người là một giấc mơ. Hoàn cảnh của em không khác ǵ hoàn cảnh của Lữ Tổ. Sau khi tỉnh mộng, ông đă ngậm ngùi than: “Giàu sang vinh dự hơn năm mươi năm, chỉ là một giấc mơ hoa. Khi tỉnh lại rồi nồi cháo kê vẫn c̣n chưa chín”. Tại sao chúng ta không nhận thức sự khổ năo của cuộc đời, quyết ḷng tu tập để thoát nẻo khổ luân hồi? Anh mong em:

“Từ rày khép cửa pḥng thu
Chẳng tu th́ cũng là tu mới là”.

 

Chỉ phương pháp dễ làm

                                                  Ngày 29 tháng 04 Nhâm tuất 1982.

Thưa anh!

Qua những lời dạy của cổ nhân, em như người vừa tỉnh mộng. Tất cả sự mê chấp cảnh trí phù du của cuộc đời lần lần tan biến như sương sớm gặp thái dương, ḷng em cảm thấy lâng lâng không c̣n chút ǵ ràng buộc. Nhưng em rất lo ngại, v́ Phật pháp cao siêu mầu nhiệm, nếu không phải là bậc thượng căn, có nhiều túc nghiệp thiện, sợ khó có thể thực hành. Lại nữa, em gần suốt cuộc đời, đắm ch́m trong danh lợi, trong nghiệp khổ mộng mơ, tội nghiệp chất chồng, phúc duyên quá mỏng. Sợ rằng, dù có thật sự hồi đầu cũng khó có thể đến bờ kia. Mong anh v́ thương đứa em sơ cơ này mà chỉ cho phương pháp thật dễ tu, dễ làm, để  từ đó em có cơ hội trở về bến giác!

Em thân thương của anh!

Đường vào cơi Phật có rất nhiều lối, có ngơ tắt, đường cong. Có người ư chí kiên cường muốn tự ḿnh chiến thắng tất cả ma quân phiền năo để đi vào, dù phải vượt qua vô vàn nguy hiểm. Có người cảm thấy bóng quang âm thấp thoáng, ngày chết gần kề, cần nương vào đại nguyện của đức Từ phụ mà thoát qua bể khổ. Nh́n mái tóc em đă điểm sương, thân thể vơ vàng tiều tụy, răng rụng mắt lờ, chứng tỏ thiệp mời vô thường đă nhiều lần gởi đến. V́ thế, anh trân trọng giới thiệu cho em một phương pháp thẳng tắt dễ tu, hợp thời cơ mà đức Thế Tôn đă ân cần khuyên bảo.

Trong Tịnh Độ Truyện, ngài Long Thơ nói: “Đức Phật A Di Đà và hai vị Bồ tát nương theo thuyền đại nguyện, vượt bể sinh tử đến cơi Ta bà, dẫn dắt chúng sinh lên thuyền từ, đưa về Tây phương Cực lạc, được sinh trong hoa sen, dự vào hàng bất thối”. Qua lời kể trên, chúng ta thấy Phật và Bồ tát thương nhớ chúng sinh ch́m đắm trong bể khổ không bao giờ ra khỏi, nên dùng oai lực của thệ nguyện tiếp độ mọi người sinh về cơi tịnh, như vị thuyền trưởng đưa mọi người lên thuyền để thẳng đến bờ kia.

Hành giả nếu có ḷng tin, muốn được văng sinh, dù có nghiệp nặng cũng được văng sinh. Ḷng ham muốn vô cùng quan trọng trong hiện tại. Nếu tâm muốn đi, thân họ cũng phải đi theo. Tâm muốn đứng, thân vẫn đứng theo. Tất cả hành động của thân này đều do tâm niệm mà hành động. V́ thế, nếu người có tâm niệm văng sinh, thân thoát được sự trói buộc, chỉ c̣n có tâm niệm, chắc chắn tâm niệm muốn chỗ nào sẽ sinh vào chỗ đó. Do đó, người có tâm niệm muốn sinh về Tịnh độ, chắc chắn được sinh, huống chi c̣n thêm sức Phật và Bồ tát tiếp dẫn, việc văng sinh càng thêm chắc chắn.

Ngài Thừa Tướng Đặng Thanh nói: “Người học Phật đời nay thường nghiên cứu Thiền, Giáo, Luật. Nều nói về cứu cánh viên đốn không pháp nào bằng thiền, nhưng không phải là bậc thượng căn, thần lănh, ư giải sẽ khó khỏi dẫn vào chỗ sai lầm ngoan không. Nghiên cứu Tam thừa không pháp nào bằng Giáo, nhưng không phải là người được cá quên nôm, theo ngón tay để thấy mặt trăng, vẫn chưa khỏi bị chê là con mọt đục giấy. Bỏ dữ làm lành không pháp nào bằng Luật, nhưng không phải người thân tâm hoàn toàn thanh tịnh, trong ngoài là một, vẫn chưa khỏi cái khổ tự trói buộc. Tóm lại, chỗ quy túc của Thiền, Giáo, Luật là Giới, Định, Huệ. Không do Thiền, Giáo, Luật mà được Giới, Định, Huệ chỉ có một pháp môn duy nhất là pháp môn Tịnh độ. V́ trong khi niệm Phật, miệng niệm, tâm dừng, các việc ác không làm, tức là Giới. Ḷng nhớ cơi tịnh, mảy trần không c̣n tức là Định. Niệm Phật khi không niệm là niệm, ánh sáng thường chiếu tức là Huệ. Nếu có người trừ hết muôn việc nghĩ xằng, một ḷng hướng về Tây phương, thời không cần lấy gậy đánh hoặc la hét (thiền cơ) mà thuộc về căn cơ viên đốn. Không cần xem hết Đại tạng kinh mà được chánh pháp nhăn tạng, không cần giữ tứ oai nghi mà đặng đại tự tại. Không nhơ, không sạch, không trói buộc, không giải thoát, trong lúc ấy hoàn toàn được Giới, Định, Huệ, hoàn toàn được công năng trọn vẹn Thiền, Giáo, Luật, tâm ta và tâm Phật không khác ǵ. Đây chính là chỗ rốt ráo của pháp môn niệm Phật. Chừng đó, nước tám công đức đầy trong ao báu, nghiễm nhiên ngồi đài sen, c̣n có ngại chi!

 Liên Tŕ đại sư nói: “Người tu theo pháp môn niệm Phật là theo một con đường vô cùng thẳng tắt, thực hành rất giản dị nhưng thành công rất to lớn và mau chóng, nên Ḥa thượng Thiện Đạo khuyên: “Chỉ có đường tắt tu hành, gắng niệm A Di Đà Phật”. Người tu hành có mục đích duy nhất là thoát ly sinh tử, như con mọt đục ống tre, mục đích làm thế nào thoát khỏi ống tre. Người học các pháp môn khác là phương pháp thoát ly sinh tử theo đường dọc, như con mọt đục theo chiều dọc phải qua 52 lóng mới thoát được ra ngoài thật vô cùng khó. C̣n người niệm Phật cầu văng sinh thoát sinh tử theo chiều ngang, như con mọt chỉ cần đục trong chốc lát là có thể ra ngay, khỏi cần trải qua nhiều thềm bậc. Do đó, pháp môn niệm Phật được coi là pháp môn thẳng tắt dễ tu hành nhất”.

Niệm Phật có 4 cách:
   01. Thật tướng niệm Phật: Bản tánh chúng sinh có đủ thật tướng, nhưng bị nghiệp chướng nặng nề nên ít có người được giác ngộ.

02. Quán tượng niệm Phật: Khi tượng mất lại về không, do đó mỗi niệm trở thành giai đoạn.

03. Quán tưởng niệm Phật: Chúng sinh rất khó quán tưởng v́ tâm thô mà Thánh cảnh rất vi tế, diệu quán khó thành.

04. Tŕ danh niệm Phật: Phương pháp này vô cùng giản yếu, thẳng tắt. Chỉ gắng niệm danh hiệu Phật không gián đoạn sẽ được văng sinh. Khi được văng sinh rồi, lo ǵ không tỏ ngộ. Lúc ấy, không cần thật tướng, mà thật tướng hiện rơ ra. Niệm Phật pháp môn là con đường tắt tu hành, mà tŕ danh là ngơ tắt nhất trong con đường tắt ấy.

Trong Liên Tôn Bửu Giám viết: “Ta bà là cơi trược, rất nhiều khổ và cầu đạo khó thành. Tịnh độ là cơi vui, các lành đều họp và vị lên bất thối. Người xưng hiệu Phật nhờ chư Phật hộ niệm mà được văng sinh. Kẻ phát Bồ đề tâm đó, ánh sáng từ bi chiếu rọi mà luôn luôn tinh tấn. Bồ tát, La hán đều là bạn tốt; cây nước, chim rừng nghe rồi niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng. Bên tai thường nghe diệu pháp, trong ḷng dứt hết tham sân. Vui vẻ vô biên, sống lâu vô lượng. Người vừa văng sinh Cực lạc, liền được vào vị bất thối. Điều ấy, người trời không bao giờ dám nghĩ đến”.

“Trái lại, cơi trược mở mắt ra dẫy đầy thuận nghịch. Trên đường đến quyền thừa, người căn lành ít, khó được chu toàn. Ở quốc độ Tam thừa, trải qua muôn ngàn ức kiếp mà công hạnh khó thành, niệm Phật pháp môn chỉ trong khảy móng tay liền được sinh về An Dưỡng. Người sơ cơ học đạo không nương vào tha lực, khó có thể tiến tu. Đức Phật có nguyện rộng sâu, nếu người có duyên tŕ danh chắc được tiếp dẫn. Các pháp môn khác học đạo khó như con kiến ḅ lên núi cao, niệm Phật cầu văng sinh dễ như buồm căng gặp nước thuận. Đức Phật A Di Đà tiếp dẫn thẳng vào quả Bồ đề, các Thánh dắt d́u mau ra ba cơi. Bậc thượng phẩm hoàn thành Phật quả, hạ sinh c̣n vui hơn thiên cung. Kính mong toàn thể đừng nghi, chắc sẽ chứng được quả bất thối”.

 Trong Tây Phương Công Cứ dạy: “Làm lành ở thế gian có muôn ngàn cách, tại sao chỉ khuyên người niệm Phật? Ư niệm con người có nhiều quan hệ đến đời sống. Người có ư niệm lành sinh về thiên đường, có ư niệm ác sinh về địa ngục. Ư niệm ngay thẳng làm người, ư niệm tà vạy làm quỷ, súc. Ư niệm là động cơ chánh của đời sống. Ư niệm ma thành ma, ư niệm Phật thành Phật. Nếu muốn ra khỏi ba cơi sáu đường phải một ḷng niệm Phật, để mất thân người muôn kiếp khó gặp lại. Đức Phật dạy người niệm Phật, Tổ sư khuyên niệm Di Đà, những lời ấy hoàn toàn là chơn thật. Sở dĩ niệm Phật không được thành Phật, v́ người niệm Phật miệng niệm nhưng tâm không niệm, tuy nói là có niệm, nhưng hoàn toàn giống như người chưa niệm, uổng qua một đời, chưa niệm được một tiếng. Khi niệm, chữ ḿnh niệm phải phát xuất từ tâm, gốc không phải từ miệng. Mỗi niệm từ tâm sinh, tiếng từ miệng phát ra. Tâm là Phật, miệng là Phật, cả hai hợp nhau đó gọi là niệm Phật”.

Có người nghi, trong mười phương có muôn ngàn vị Phật mà tại sao Phật, Tổ lại khuyên ta chỉ nên niệm Phật A Di Đà? Nguyên nhân do đức Phật A Di Đà có 48 đại nguyện, thệ nguyện độ hết tất cả chúng sinh trong mười phương. Trong ấy có nguyện: “Nếu tất cả chúng sinh trong các thế giới ở mười phương, có người xưng niệm danh hiệu ta, mà không được sinh về cơi nước ta, ta thề sẽ không làm Phật”. Cơi nước Cực lạc có chép đủ trong kinh A Di Đà.

Người đời giàu sang vinh hiển, trăm tuổi rồi cũng thành không! Cơi trời hoa trổ ngàn năm, rồi cũng dứt! Sao bằng vào được thế giới Cực lạc sống lâu vô lượng, và phương pháp văng sinh chỉ có một câu Di Đà mà tựu thành! Ở thế gian có người dốc ḷng t́m đạo, ṃn gót phong trần. Nếu không phát thệ nguyện niệm Phật cầu sinh Tây phương là tự dấn thân ḿnh vào con đường gian khổ nhiều ma lực. Ba tạng, mười hai bộ kinh nhường cho người khác. Thiền ngộ, tám muôn bốn ngàn pháp môn để cho người khác (giáo) thực hành. Ngoài câu Nam Mô A Di Đà Phật không dùng thêm một chữ.

Khi đă quyết tâm, ban đầu mỗi người cần một gian tịnh thất, một ảnh Phật, một ḷ hương, một bát nước, một ngọn đèn, một tờ giấy vẽ. Từ sáng đến chiều chí thành chí kính, xâu chuỗi chẳng rời tay, câu Phật hiệu không rời miệng. Niệm lớn, niệm nhỏ hoặc sáu chữ Nam Mô A Di Đà Phật, hoặc bốn chữ A Di Đà Phật. Niệm gấp, niệm hưởn, niệm chậm, niệm thầm, chấp tay niệm, quỳ gối niệm, nh́n tượng niệm, hướng phía Tây niệm, đánh mơ niệm, lần chuỗi niệm, kinh hành niệm, lễ bái niệm, một ḿnh niệm, ḥa chúng niệm, ở nhà niệm, ra ngoài niệm, rảnh niệm, bận rộn niệm, đi niệm, đứng niệm, ngồi niệm, nằm niệm, niệm lúc thức, niệm trong mộng… Niệm được như thế gọi là chơn niệm. Dần dần niệm đến nước mắt rơi đầy thất (chí thành), niệm đến lửa tắt ḷ lạnh (vọng niệm tan mất), niệm đến thần sầu, quỷ khóc (ma đều tiêu diệt), niệm đến trời vui đất cười (thiên nhân cung kính), vạc than xa lắc, ao sen báu gần kề. Dù có muôn ngàn áp lực bắt ta không niệm Phật cũng không thể được. Quyết chí như thế là chuyên tu. Ngàn người tu ngàn người được văng sinh.

Thiền sư Hán Nguyệt dạy: “Cầu sinh Tịnh độ phương pháp rất nhiều, không cần ham hố, chỉ chọn một pháp. Chúng ta có thể hằng ngày phân thời khóa, mỗi thời tụng kinh A Di Đà, tŕ chú văng sinh, rồi niệm danh hiệu Phật. Niệm ra tiếng nên niệm sáu chữ Nam Mô A Di Đà Phật, khi niệm thầm nên niệm bốn chữ A Di Đà Phật, v́ bốn chữ dễ niệm, dễ thành công. Dù vậy, trong thời khóa tụng, để việc niệm Phật càng ngày càng tinh tiến, cần nên lần chuỗi, thiết niệm. Đọc không luống theo hơi, tuy có niệm mà không khít khao, khó được thành tựu. Khi niệm cần phải hết ḷng, câu trước đuổi theo câu sau, một tiếng khít một tiếng. Gắng niệm từ một ngày đến bảy ngày, niệm đến hư không tan hết (hết vọng), năm uẩn đều tiêu (dứt hết bỉ thử), gọi là nhất tâm bất loạn. Chừng đó, Tịnh nghiệp đă thành, chỉ chờ ngày văng sinh Cực lạc”.

Em thân thương của anh!
Qua dẫn chứng trên, chúng ta thấy, Phật pháp có nhiều pháp môn, nhưng tất cả đều phải tự ḿnh diệt trừ vọng nghiệp để vượt qua bể khổ sinh tử, thật vô cùng khó đối với chúng sinh trong thời mạt pháp nghiệp chướng nặng nề. Duy có pháp môn niệm Phật nương vào sức ḿnh và sức Phật để được văng sinh. Khi về Cực lạc rồi, pháp nào không ngộ, quả nào không tṛn! Chỉ cần một danh hiệu Phật, do đó việc làm dễ mà thành công cao, dùng sức ít mà công hiệu nhanh chóng, mà cũng là pháp môn duy nhất để những người nhiều trần ai hệ lụy có cơ hội quay về. Khuyên em nên nghe theo ngài Đại Trí luật sư khuyên:

“Cực lạc Tây phương thật dễ cầu
Cuối thu lá đổ, nghiệp c̣n đâu
Lần châu lần măi không ra mối
Mới biết Di Đà ước nguyện sâu!”.

 

Giải quyết căn bản nghi vấn

Ngày 15 tháng 05 Nhâm tuất 1982.

Thưa anh!
   Qua những lời dạy bảo chân thành của chư Phật Tổ, cho thấy pháp môn niệm Phật thật dễ thành công. Chính v́ sự dễ dàng đó đă làm cho em nhiều nghi hoặc:

Thứ nhất, có phải pháp môn Tịnh độ chỉ độ cho kẻ độn căn, tội nặng không?
Thứ hai, niệm Phật tức gọi tên Phật có mang tội bất kính không?
Thứ ba, kinh nói “duy tâm Tịnh độ”. Vậy cơi Tịnh độ có thật không?
Thứ tư, niệm Phật hiện đời có lợi ích ǵ?

Mong anh vui ḷng giải quyết để ḷng tin của em thêm sâu chắc và quyết chí thực hành!
 

Em của anh!

Lời phát biểu thành thật của em, chứng tỏ em quyết tâm trong việc lựa chọn một hướng đi. Khi đức Phật c̣n trụ thế, Ngài thường dạy: “Nghe ta thuyết pháp các ngươi đừng vội tin ngay, mà cần suy ngẫm để thấy có lợi ích thật sự rồi mới thực hành”. Sự nghi hoặc của em vô cùng chính đáng. Không phải chỉ một ḿnh em mà từ xưa đến nay, hầu hết những người quyết tâm t́m đạo cũng đều có nghi vấn như thế. Em hăy gắng nghe những lời quyết nghi của chư Tổ dạy!

Thiền sư Huệ Giác Ngọc dạy: “Có người cho rằng pháp môn niệm Phật là phương pháp tạm thời của đức Phật để tiếp dẫn những kẻ độn căn, chứ đâu có thể nhờ tha lực mà có thể vào địa vị của Như Lai được? Thật ra, họ đâu biết rằng khi đức Phật c̣n tại thế, ngài Văn Thù, Phổ Hiền là những bậc đại trí. Sau khi Phật diệt độ, Tổ Mă Minh, Long Thọ và hầu hết các tông chủ của các tông đều phát nguyện cầu sinh Cực lạc. Không lẽ, các vị ấy đều là những kẻ độn căn sao? Trong kinh Đại Bảo Tích, đức Phật khuyên vua cha Tịnh Phạn cùng bảy muôn người họ Thích đều nên phát nguyện cầu sinh Cực lạc, đó lại là phương pháp tầm thường sao? Nếu các bậc Bồ tát, Tổ sư là độn căn th́ đời này ai là người lợi căn? Nếu pháp của Bồ tát, Tổ sư tu hành mà cho là quyền th́ pháp nào là thật? Điều đó không cần trả lời, ta tự suy ngẫm cũng có thể biết được”.

Ngài Vương Long Thơ nói: “Có người nghi rằng, người đời niệm Phật làm sao sinh vào được hoa sen trên ao thất bảo ở Tây phương? Thật ra, điều này cũng không khó biết, v́ mỗi chủng loại có một cách thọ sinh khác nhau. Ao thất bảo như một tấm gương lớn, nếu có vật đến th́ ảnh hiện ra, tấm gương cần ǵ biết đến. Việc ảnh hiện trong gương là điều tự nhiên. Cơi đức Phật A Di Đà sáng suốt trong sạch, tự nhiên ảnh mười phương thế giới hiện ra, cũng như gương sáng có thể soi mặt. Do đó, những người niệm Phật, trong ao thất bảo sẽ sinh một đóa sen, đó là điều tự nhiên, không có ǵ đáng nghi ngại”.

Trong kinh nói: “Người niệm chú văng sinh, đức Phật A Di Đà thường đứng trước mặt để hộ vệ người đó”. Nếu có vô lượng chúng sinh trong các thế giới đồng niệm chú văng sinh, đức Phật làm sao đứng trước mặt hết các người ở các thế giới đó để hộ vệ? Thật ra, điều ấy rất tự nhiên. Như ở trên bầu trời có một vầng trăng, tất cả chỗ đều có trăng hiện. Trăng hiện ở đại dương, ở sông rạch, và cả trong bát nước đâu có ǵ là lạ.

Cũng có người nghi rằng: “Trong mười phương thế giới có vô lượng chúng sinh tinh tấn niệm Phật, cùng lâm chung một giờ, chỉ có một ḿnh đức Phật làm sao có thể cùng một lượt tiếp dẫn hết chúng sinh đó về Cực lạc?”. Thật ra, việc ấy cũng tự nhiên thôi. Như trên ṿm trời chỉ có một mặt trời, có thể chiếu sáng tất cả cảnh giới trên trái đất, đâu có chi lạ. Huống chi, oai thần của Phật vô biên, mặt trời, mặt trăng làm sao có thể so sánh được! Dĩ nhiên, đức Phật biết rơ tâm niệm của vô lượng chúng sinh, nên Ngài luôn ở bên người niệm Phật để hộ vệ và biết rơ kỳ hạn khi người ấy sắp lâm chung để đến tiếp dẫn, đâu c̣n ǵ để nghi ngại.

Có người nghe nói cảnh giới Cực lạc quá thù thắng lại không tin. Thật cũng không có ǵ lạ. Như người ở quê, suốt đời với cḥi tranh nghèo nàn. Khi nghe người đi thủ đô về kể lại lâu đài nguy nga tráng lệ, họ sẽ không tin v́ chính mắt họ không thấy. Nhưng xét vào tư cách người kể, ta có thể tin là có. Chúng ta thấy, đức Phật cấm mọi người không được vọng ngữ, có lư ǵ Ngài lại nói dối để gạt mọi người làm ǵ? Người đời nói dối phần nhiều để hưởng lợi hoặc tránh tai họa. Đức Phật bỏ tất cả việc đời, đâu cần hưởng lợi lộc; Ngài xem việc sống chết như dao chém vào hư không, đâu cần ǵ tránh tai họa. Như thế, Ngài cần ǵ nói dối! Ở đời, những người có chút tự ái c̣n không bao giờ nuốt lời để mang tiếng xấu, huống ǵ là đức Phật ư!

Lời đức Phật nói ra đáng được tin tưởng, không có ǵ phải nghi ngờ. Huống chi từ xưa đến nay, những người tu theo pháp môn này được chứng quả rất nhiều, chính các Ngài đă thân chứng xác nhận, đâu không thể không tin!

Có người cho rằng, tụng hiệu Phật như kêu tên một người, kêu măi sẽ trở thành bất kính, do đó niệm hiệu Phật không tốt. Thật ra, chúng sinh từ vô thỉ đến nay, khẩu nghiệp tạo ác nhiều như núi. Chủ yếu miệng niệm Phật là để dứt trừ khẩu nghiệp. Hết ḷng niệm liên tục c̣n sợ không đủ, đâu thể lấy tên của người mà so sánh được! Phật tự khai pháp môn niệm Phật để chúng sinh diệt được khẩu nghiệp, thân nghiệp, ư nghiệp. Hết ḷng niệm danh hiệu Phật e rằng chưa đủ để tịnh tam nghiệp. Lại nữa, lời kêu c̣n định được thái độ của người kêu. Kêu để khinh mạn th́ gây cho người khác tức giận. Trái lại, lời thiết tha của đứa con kêu mẹ, càng kêu ḷng thương mẹ càng nhiều, quyết ḷng d́u dắt. Chúng sinh niệm Phật như con kêu mẹ, cầu xin giúp đỡ nào có lỗi ǵ?

Liên Tŕ đại sư dạy: “Có chỗ nói duy tâm Tịnh độ, không phải ngoài mười muôn ức cơi mà có cơi Cực lạc. Đây chỉ nói trong tâm mà thôi. Ư này rút từ trong kinh hoàn toàn là thật, nhưng người đem ra dẫn chứng lại hiểu lầm ư ấy. Ư ấy nói, tâm tức là cảnh, hoàn toàn không có cảnh ở ngoài tâm. Đă nói cảnh toàn là tâm, làm sao lại định chấp tâm mà bỏ cảnh? Bỏ cảnh nói tâm là người chưa hiểu được tâm. Hoặc có người nói, khi lâm chung thấy cơi Tịnh độ đều là từ trong tâm, thật không có cơi Tịnh độ. Họ không biết từ xưa đến nay, những người niệm Phật được văng sinh, khi lâm chung Thánh chúng đến rước, nhạc trời, hương lạ, tràng phang, lầu các đâu phải chỉ người văng sinh thấy được mà nói cảnh ở tâm. Chính lúc ấy, mọi người đều được thấy tràng phang, lầu các; tai đều nghe thấy nhạc trổi đi lần về hướng Tây, mùi thơm ở trong thất nhiều ngày chưa dứt. Như thế, sao gọi là không có cơi Tịnh độ?”.

Viên Chiếu Bổn thiền sư dạy: “Có người nghi rằng ai có thể thấy được nêu tên trên đài sen, v́ đâu ai có thể biết được tâm người khác? Ta thử hỏi người ấy, có người lâm chung tướng địa ngục hiện ra, có phải ở ngoài tâm chăng? Họ sẽ đáp trong tâm. Người ấy có đọa địa ngục chăng? Có. Nếu nói bị đọa vào địa ngục là phải có địa ngục để đọa chứ! Nếu tâm hiện tướng địa ngục th́ bị đọa vào địa ngục thật. Tâm hiện tướng Tịnh độ lại không sinh về Tịnh độ thật sao? Điều đó không c̣n ǵ đáng nghi nữa”.

Trong Thiên Như Tịnh Độ Văn có viết: “Có người hỏi, mọi người đều nói Tịnh nghiệp chỉ có ích cho thân sau, vậy hiện thân đâu có lợi ích ǵ? Thật chỗ thấy ấy c̣n quá hạn hẹp. Quư vị không thấy kinh chép người thọ tŕ danh hiệu Phật sẽ được mười sự lợi ích lớn đó sao:

01. Thường được tất cả thiên thần ẩn h́nh theo giúp đỡ.
02. Thường được các Bồ tát giúp đỡ.
03. Thường được chư Phật ngày đêm hộ niệm. Phật A Di Đà thường phóng hào quang giữ ǵn người ấy.
04. Tất cả quỷ dữ không thể làm hại, tất cả nọc độc của rắn rồng đều không thể trúng.
05. Tất cả nước, lửa, giặc, đao, tên, lao ngục, chết ngang, chết yểu… đều không bị hại.
06. Nghiệp của đời trước tất cả đều tiêu diệt, nếu lỡ giết oan mạng người, họ sẽ được giải thoát không c̣n gặp lại.
07. Đêm chiêm bao thấy việc tốt, hoặc thấy được thân tốt trang nghiêm của Phật A Di Đà.
08. Tâm thường vui vẻ, làm việc ǵ cũng có lợi ích.
09. Thường được mọi người kính trọng.
10. Khi mạng chung, ḷng không sợ sệt, chánh niệm vững vàng, được thấy Phật A Di Đà và các Thánh chúng tay cầm đài sen vàng, tiếp dẫn về cơi Cực lạc.

Mười điều lợi ích trên đây, trong kinh có chép, chính lời Phật nói ra. Như thế, niệm Phật đời này hoặc đời sau đều có lợi ích. Đó là phương pháp khẩn yếu để thoát khỏi sinh tử. Tất cả pháp môn không pháp nào bằng pháp môn niệm Phật. Mong quư vị cần tinh tấn niệm Phật đừng hoài nghi”.

Trong Tịnh Độ Thập Môn, ngài Từ Chiếu Tông Chủ dạy: “Người niệm Phật không sinh được về Tịnh độ v́ có ba điều nghi:

01. Nghi ta từ nhỏ đến giờ tạo nghiệp quá nhiều, tu hành quá ít, e không được văng sinh.
02. Nghi ta tuy có niệm Phật A Di Đà nhưng tâm nguyện chưa được chí thành, ḷng tham, sân, si, ái chưa dứt, e không được văng sinh.
03. Nghi ta tuy niệm Phật A Di Đà, đến khi mạng chung, e Phật không đến rước.

Do ba điều nghi này, v́ nghi thành ra chướng, mất hết chánh niệm, không được văng sinh. V́ thế, người niệm Phật cần thiết tin chắc lời Phật dạy trong kinh, đừng sinh ḷng nghi. Trong kinh dạy: “Niệm một câu A Di Đà Phật diệt được tám mươi ức kiếp tội nặng sinh tử”. Những người bậc thượng căn được nhất tâm bất loạn; kẻ bậc hạ chỉ mười niệm thành công, được Phật tiếp dẫn về Cực lạc. Nếu muốn thoát khỏi đời trược, phải có ḷng tin chắc, mỗi niệm không rời hiệu Phật, chắc chắn ḷng nghi chấm dứt, quyết định sẽ được văng sinh”.

 Trong bài Nhất Ư Tịnh Nghiệp, tiến sĩ Trần Tán nói: “Có người hỏi rằng: “Ông không nghe trong luận Đại Giám nói tất cả đều duy tâm, sao ông lại chán cơi uế để ưa cơi tịnh làm ǵ?”. Thật ra, họ nghe nói duy tâm Tịnh độ tự cho ḿnh là hiểu, nhưng thật họ không hiểu nguồn gốc của câu nói. Đức Phật nói: “Tâm ấy làm Phật, tâm ấy là Phật”, v́ khuyên những người đem ḷng bất tịnh để cầu sinh Tịnh độ, chứ không phải nói cơi nước không có cấu tịnh. Lại nữa, cái vui của Cực lạc không phải vui v́ có hoa, có ao, có lầu ngọc, chim nói, gió rung cây, mà chính là vui v́ được ở với các bậc thượng thiện, thấy Phật A Di Đà, gặp vô số Phật, chứng vô sinh nhẫn, thành vô thượng đạo, độ khắp tất cả chúng sinh, đó mới là cái chính. Ông chỉ thích cái vui ở cấu độ, c̣n ta chỉ thích cái vui ở Tịnh độ, ông cần ǵ quở ta!”.

Em thân thương của anh!

Qua dẫn chứng trên với những lời quyết nghi sắc bén của chư Tổ, chúng ta thấy pháp môn Tịnh độ dung thông cả ba căn, là nơi quy ngưỡng của các bậc thượng trí. V́ thế, các Tông chủ, Tổ sư một ḷng niệm Phật cầu văng sinh Cực lạc. Đức Đại Thế Chí dạy: “Người niệm Phật phải như con nhớ mẹ. Ḷng thiết tha kêu mẹ, th́ mẹ càng mến thương tiếp dẫn nên nào có hại ǵ!”. Cơi Tịnh độ do lời kim khẩu của đức Phật nói ra đều là có thật, người niệm Phật hiện đời cũng như kiếp sau được lợi ích không thể nghĩ bàn. Những lời quyết nghi như mặt nhật, làm tan hết phù vân sau cơn mưa. Chúng ta hăy sớm quyết định trở lại cố hương, như Sở Thạch thiền sư dạy:

“Cha lành Cực lạc hiệu A Di
Tiếp dẫn chúng sinh đến bảo tŕ
Đường cũ phẳng phiu, nhàn nhă bước
Quê xưa, Từ phụ ngại ngùng chi!”.

 

Quyết định một đời văng sinh

Ngày 15 tháng 05 Nhâm Tuất 1982.

Thưa anh!

Qua những lời giải nghi, tâm hồn em tự nhiên bừng sáng, như nhà tối ngàn năm, nay nhờ một ngọn đuốc, làm tiêu tan bóng tối. Em cảm thấy ḷng tin đă vững chắc, sẽ quyết định thực hành. Nhưng lư tưởng mà em đeo đuổi, đó là ư nguyện thoát ly sinh tử, về Cực lạc để thành nguyện độ sinh. Ước nguyện như thế có phù hợp với khả năng hoàn cảnh hay quá cao? Có thể thành tựu được chăng, hay trở thành không tưởng? Mong anh hăy xót thương mà cho em vài lời chỉ giáo!

Em thân thương của anh! 

Tin mà không ước nguyện, sự tin ấy trở thành vô nghĩa. Nhưng tất cả sự ước mong muốn có kết quả cần phải phù hợp với khả năng và hoàn cảnh. Đức Phật ra đời chỉ có một hoài băo duy nhất là làm sao cho mọi người thoát ly sinh tử, chứng thành Phật quả v́ tất cả chúng sinh đều có Phật tánh, có khả năng thành Phật. Pháp môn Tịnh độ hoàn toàn thích hợp với mọi căn cơ, hoàn cảnh chúng sinh thời mạt pháp. Như thế, những ước nguyện của em hoàn toàn phù hợp với hoài băo của chư Phật, chư Tổ. Em hăy nghe kỹ những lời vàng ngọc sau đây để làm tiêu chuẩn cho sự quyết định thực hành.

Ngài Liên Tông Ngũ Tổ, Vĩnh Minh Diên Thọ thiền sư dạy: “Trong kinh nói quả vị của chín phẩm không ngoài hai tâm: định tâm và chuyên tâm. Người tu theo định tâm thực hành theo định quán trong 16 phép quán sẽ được thượng phẩm thượng sinh. Người tu chuyên tâm chỉ niệm danh hiệu Phật. Các thiện đồng về, hồi hướng phát nguyện được vào hạ phẩm. Người niệm Phật phải một đời nương về đức Phật, chuyên tu hết ḷng. Nằm hay ngồi mặt phải thường hướng về phương Tây. Khi đi, đứng, kính lễ hoặc niệm Phật phát nguyện, phải khẩn thiết chí thành, không có niệm khác như đến h́nh ngục đề lao, hoặc oan gia theo đuổi, nước lửa ép ngặt. Nên hết ḷng cầu cứu, mong được thoát ṿng nguy khổ, mong mau chứng được vô sinh, rộng độ các loài, làm hưng thạnh Tam bảo, thề trả bốn ơn. Chí thành được như thế chắc chắn sẽ được văng sinh, khỏi uổng phí một đời. Như có người hoặc nói thực hành mà không làm, sức tin rất ít, mỗi niệm không nối tiếp nhau, ư thường bị gián đoạn. Giải đăi như thế, khi lâm chung mong được văng sinh, chỉ e nghiệp chướng ngăn che, sợ khó gặp bậc thiện tri thức, bị gió lửa (trong thân) bức bách, chánh niệm khó thành. V́ sao? V́ hiện đời là nhân, lâm chung là quả. Nên biết rằng, hạt giống chắc, quả sẽ tốt. Tiếng ḥa thời vang thuận, h́nh thẳng th́ bóng ngay”. 

Đại sư Ưu Đàm dạy: “Người chơn chánh tu hành cốt yếu phải cầu sinh về thế giới Cực lạc, phải chuyên ư vào một niệm Nam Mô A Di Đà Phật. Một niệm là bổn sư, một niệm là hóa Phật. Một niệm có khả năng phá tan sự kiên cố của địa ngục, một niệm là kiếm báu chém hết các tà. Một niệm là đèn sáng chiếu vào đêm tối, một niệm là thuyền lớn qua biển mê. Một niệm là liều thuốc hay trị lành bệnh sinh tử, một niệm là con đường tắt ra khỏi ba cơi. Một niệm là bản tánh Di Đà, một niệm là duy tâm Tịnh độ. Muốn được một niệm này, chỉ cần giữ câu Nam Mô A Di Đà Phật ở một chỗ đừng cho thất lạc, mỗi niệm thường hiện tiền, mỗi niệm không ĺa tâm. Rảnh cũng niệm như thế, bận rộn cũng niệm như thế. An vui cũng niệm như thế, bệnh cũng niệm như thế. Sống cũng niệm như thế, chết cũng niệm như thế. Môït niệm được rơ ràng không trại, không mờ, cần ǵ hỏi ai để t́m đường về!”.

 Người tu Tịnh độ, cốt yếu phải thoát khỏi sinh tử. Đó là việc lớn, không phải nói rồi bỏ qua. Phải nhớ vô thường mau chóng, thời gian không hẹn cùng người, phải quyết tâm làm cho thành công. Nếu bán tín, bán nghi, nửa tiến, nửa lùi, rốt cuộc không làm được việc ǵ, làm sao thoát luân hồi sinh tử! Nếu ḷng tin được chắc, mau phát ḷng đại dơng mănh, đại tinh tấn. Không cần thấy tánh hoặc đại triệt đại ngộ, chỉ cần giữ kỹ một câu Nam Mô A Di Đà Phật, không ai làm lay chuyển nổi. Chuyên ḷng nhất chí hoặc tham niệm, quán niệm, nhớ niệm, mười niệm, hoặc mặc niệm, chuyên niệm, lễ niệm, hệ niệm. Mỗi niệm ở ḷng thường nhớ thường niệm. Đứng niệm, đi niệm, ngồi niệm, tâm niệm không cho luống qua. Hiệu Phật không rời tâm, mỗi ngày mỗi giờ không cho xen hở. Niệm liên tục khít khao như gà ấp trứng cần hơi ấm đều đặn mới có thể nở con. Niệm được như thế mỗi niệm kế nhau, lại lấy trí huệ để quán chiếu, mới biết Tịnh độ ở trong tâm ḿnh, đó là công phu tiến tu của bậc thượng trí. Như thế là giữ được tâm định, làm chủ được tâm ḿnh. Lúc ấy, dù ở trong hoàn cảnh thuận nghịch hay khổ vui, trước mắt chỉ có một câu A Di Đà Phật, không c̣n một niệm nào khác thay đổi trong tâm, không c̣n tạp tưởng thụt lui, chắc được văng sinh về thế giới Cực lạc. Nếu quyết dụng công như thế, tất cả nghiệp chướng sinh tử nhiều đời nhiều kiếp tự nhiên tiêu diệt, những tập khí trần lao tự nhiên hết sN