Đề Từ:
Ngoài song non xanh giăng
màn hoa
Triền non thanh tuyền buông cầm ca
Trong song ḱa ai im như mơ
Ngồi xem Thiên Như câu Di Đà
Người đời đều ưa cơ Thiền sâu
Hành nhơn ai vào tâm vương mầu
Đèn sương trơ vơ ngoài trời thu
Non Tu vi trần đều gồm thâu
Mà trong A Di hồng danh thâm
Ngàn muôn khôn t́m ra tri âm!
Thiên Như ḷng từ soi chân đăng
Đưa người mau ra ṿng mê lầm
Hư không chim bay dường như tranh
Lưu tuyền quanh co triền non xanh
Người đi xa xa làn mây trôi
Di Đà chân như nầy tâm lành
Ôi câu hồng danh mầu thâm xa
Sâu cùng chư tông làng thiền na
Buông ra thâu vào đều như như
Tương tư tâm đầy trời Liên Hoa
Thuật ư Thành Thời Đại Sư.
Liên Du
Thiên Như lăo nhơn đang tĩnh tọa nơi thất Ngọa Vân,
bổng có người đẩy cửa bước vào, tự xưng là Thiền
khách. Lăo nhơn im lặng gật đầu chào, đưa tay ra ư
mời ngồi. Đối tọa đă lâu, ánh tịch dương tà tà xuyên
qua song trúc, ḷ hương thiền khói sắp muốn tan,
khách từ từ đứng dậy, sửa y phục nghiêm trang, thư
thả mở lời thưa thỉnh:
1. Hỏi rằng:- Trộm nghe Vĩnh Minh Ḥa Thượng ẩm
thọ môn học đơn truyền nơi Thiều Quốc Sư ở Thiên
Thai, mà cũng chính là đích tôn của ngài Pháp Nhăn.
Khi Ḥa Thượng trụ tŕ chùa Tịnh Từ ở Hàng Châu, đă
khai thị cho học chúng rất nhiều, biện tài cơ trí
dường như gió cuốn sấm vang, hải nội thiền lâm đều
kỉnh xưng là bậc đại tông tượng. Tại sao ngoài sự
nói Thiền, ngài lại tự tu Tịnh Độ, khuyên người niệm
Phật, viết sách rộng truyền môn ấy nơi đời. Hơn nữa,
ngài lại làm kệ Tứ Liệu Giản, đại ư nói: 'Có Thiền
không Tịnh Độ, mười người chín ngại đường, không
Thiền có Tịnh Độ, muôn tu muôn người sanh.' Qua mấy
câu ấy, có phải ngài đă chủ trương Tịnh Độ, tự hạ
môn Thiền của ḿnh, lời nói dường như quá đáng chăng?
Ngu ư nghi ngờ việc nầy rất nhiều, mong Đại Sư chỉ
thị.
Đáp:- Lời hỏi ấy rất thích đáng! Tuy nhiên, Vĩnh
Minh Đại Sư không phải quá khen Tịnh yểm Thiền, mà
thật ra lời nói của ngài rất có công với bên Tông
cũng như bên Giáo. Tiếc v́ trong Tứ Liệu Giản, ngài
chỉ nói lược qua đại cương, chưa phát minh hết ư thú,
nên chưa đánh tan được mối nghi hoặc của nhà Thiền.
Tôi học tập theo Thiền Tông, chưa tinh tường về Tịnh
Độ, nhưng cũng thường qua những kinh sách của môn đó,
nên cũng biết phần đại khái.
Tịnh Độ là pháp dễ tu dễ chứng, song cũng là môn khó
nói khó tin. Cho nên khi c̣n tại thế, Đức Thích Ca
Từ Phụ v́ hàng đệ tử nói Kinh A Di Đà đă dự biết
chúng sanh đời mạt pháp khó sanh ḷng tin tưởng, mới
dẫn lời thành thật của sáu phương chư Phật để phá
mối nghi và phát khởi tín tâm cho người sau. Lúc
thuyết kinh gần xong, nhân nói đến chư Phật khen
ngợi ḿnh, Đức Bổn Sư lại bảo: 'Nên biết ta ở nơi
đời ác năm trược làm việc khó nầy đắc quả Vô Thượng
Bồ Đề v́ tất cả thế gian nói pháp khó tin đây, thật
là một điều rất khó!' Ấy đều là những lời tha thiết
cặn kẽ, dặn ḍ để khuyên người tin tưởng vậy. Vă
Đấng Thế Tôn đă rủ ḷng đại bi, cứu đời trong kiếp
mạt, khi kim khẩu nói ra một câu một kệ, hàng nhơn
phi nhơn đều tín thọ phụng hành, nhưng riêng về
thuyết Tịnh Độ, thế gian có xen lẫn ḷng nghi, là
tại sao? Bởi giáo môn Tịnh Độ cực rộng lớn, mà pháp
tu Tịnh Độ lại quá giản dị, hai điểm ấy dường như
cách biệt, khiến cho người nghe khó nén ḷng nghi.
Nói rộng lớn, là môn nầy thâu nhiếp tất cả căn cơ:
trên từ bậc Đẳng Giác Bồ Tát, vị Nhứt Sanh Bổ Xứ đều
cầu về Tịnh Độ, dưới cho đến hàng ngu phu ngu phụ,
kẻ tạo ngũ nghịch, thập ác, nếu quyết tâm tín hướng
đều được văng sanh. Nói giản dị, là người tu không
phải quá gian nan lao khổ, không trải qua cảnh giới
sai biệt mê lầm, chỉ tŕ niệm sáu chữ hồng danh, mà
được thoát Ta Bà, được sanh Cực Lạc, được bất thối
chuyển, cho đến khi thành Phật mới thôi. Bởi có sự
rộng lớn mà lại giản dị như thế nên dù cho người trí
cũng sanh mối nghi ngờ. Nếu ông nhận thức rơ được
điểm nầy, tất sẽ biết lời khen của ngài Vĩnh Minh
rất có ư thâm, mà không phải là quá đáng.
2. Hỏi:- Sự rộng lớn và giản dị, tôi đă nghe lời
chỉ dạy. Nhưng bậc ngộ đạt trong Thiền Tông, đă gọi
thấy tánh thành Phật, há lại khứng chịu cầu sanh về
Tây Phương ư?
Đáp:- Thật ra ông chưa biết đó thôi. Chính những bậc
ngộ đạt càng cấp thiết cầu sanh. Cổ đức đă bảo: 'Không
cầu về Tịnh Độ, c̣n nguyện sanh cơi nào?' Nay ông
chưa ngộ đạo, giả sử khi được tỏ ngộ rồi, e cho tâm
niệm cầu sanh Cực Lạc của ông, muôn trâu cũng không
thể kéo lại!
3. Hỏi:- Sở dĩ Phật, Tổ ra đời v́ độ chúng sanh;
học giả chỉ lo việc lớn chưa xong, nếu đă phát minh
đại sự (tức ngộ đạo), nên theo gương đấng Đại Giác
hiện thân vào nơi khốn khổ, không hiềm đường sanh tử,
mà độ khắp hàm linh. Nếu bậc đă ngộ đạt mà c̣n cầu
sanh Tịnh Độ, đó chẳng qua là tâm niệm chán khổ t́m
vui, không đoái đến kẻ đang ở trong ṿng ch́m đắm?
Tôi dù ngu hèn, vẫn không thích làm như vậy!
Đáp:- Thấy chiếc trứng mà muốn cho nó nở liền, tâm
niệm ấy sao đà vội gấp! Ông cho rằng sau một phen tỏ
ngộ, th́ nghiệp tập đă dứt sạch, được ngay vị bất
thối chuyển ư? Và cũng không c̣n học khắp Phật Pháp,
không cần phải tu hành thêm để chứng những quả vị từ
thấp đến cao ư? Hay là ông lại nghĩ: sau một phen
ngộ đạo, tất đă đồng hàng với chư Phật, có thể vào
sanh ra tử không bị chướng duyên nhiễu loạn ư? Nếu
quả như thế th́ chư Đại Bồ Tát trải qua hằng hà sa
kiếp tu sáu độ muôn hạnh, cũng đều phải hổ thẹn với
ông vậy! Cổ giáo đă có lời răn nhắc: 'Hàng Thanh Văn
c̣n muội lúc ra thai, bậc Bồ Tát c̣n mê khi cách ấm!'
Hai hạng ấy mà c̣n như thế, huống chi người ngộ giải
non kém, tự cứu chưa xong giữa đời nay ư? Dù cho chỗ
tỏ ngộ có sâu xa, trí thông hiểu có cao sáng, hạnh
cùng giải hợp nhau, chí quyết muốn độ người; nhưng
v́ chưa lên hàng bất thối, lực dụng chưa đầy đủ, mà
muốn ở cơi đời ác nầy hóa độ kẻ cang cường, điều ấy
bậc Tiên Thánh cũng chưa hứa nhận. Ví như đem chiếc
thuyền đóng trám chưa kỹ, để vớt người nơi biển dậy
ba đào, cái họa trầm nịch cả đoàn tất không tránh
khỏi. Cho nên Luận Văng Sanh nói: 'Muốn du hành nơi
địa ngục, muốn cứu độ chúng hữu t́nh mê khổ, trước
phải cầu sanh về cơi kia, đợi khi chứng được Vô Sanh
Nhẫn rồi sẽ trở lại đường sanh tử mà thật hành bản
nguyện. Do nhân duyên ấy nên người tu mới cầu về
Tịnh Độ.' Lại Tiên Thánh cũng đă bảo: 'Chưa được vị
Bất Thối Chuyển, chưa chứng Vô Sanh Nhẫn, cần phải
thường không rời Phật. Ví như trẻ thơ không nên xa
mẹ, như chim non chỉ có thể bay chuyền theo cành cây.'
Nay ở cơi Ta Bà nầy Đức Thích Ca đă diệt, Phật Di
Lặc chưa sanh. Huống nữa, bốn đường khổ thú, nhân
quả dây dưa, trăm mối ngoại tà, thị phi rối loạn;
sắc tốt tiếng dâm hằng quyến dụ, cảnh hư duyên ác
măi vây quanh. Trong hiện trạng ấy, đă không có Phật
để nương nhờ, lại bị cảnh duyên làm khuấy động, hàng
sơ tâm ngộ đạo hỏi mấy ai không bị thối lui? Cho nên
Đấng Thế Tôn ân cần chỉ về Cực Lạc là bởi lư do ấy.
Phương chi ở cơi kia, Đức Di Đà hiện đang nói pháp,
cảnh diệu độ muôn thứ thuận duyên; đă nương nhờ hải
chúng, nhẫn lực mau thành, lại gần Đấng Pháp Vương,
Phật Thừa dễ đạt. Chừng ấy muốn ra ứng hoá độ sanh,
c̣n chi trở ngại? Cũng v́ lẽ ấy, nên bậc thượng căn
lợi trí c̣n nguyện thác sanh, huống chi ông là hạng
trung hạ mới được đôi chút giải ngộ đó ư?
Ông há không thấy trong kinh Quán Phật Tam Muội,
Ngài Văn Thù tự bày tỏ túc nhân, bảo ḿnh đă chứng
môn Niệm Phật Tam Muội, thường sanh ở Tịnh Độ ư? Do
bởi đó, Đức Thế Tôn mới thọ kư cho ngài rằng: 'Ông
sẽ được sanh về thế giới Cực Lạc.'
Lại chẳng thấy trong kinh Hoa Nghiêm, Phổ Hiền Bồ
Tát đem mười đại nguyện vương khuyến tấn Thiện Tài
Đồng Tử và đại chúng nơi hải hội, nên dùng công đức
đó cầu sanh về Cực Lạc ư? Trong ấy có đoạn nói: 'Tôi
nguyện khi đến lúc lâm chung. Dứt trừ tất cả điều
chướng ngại. Diện kiến Đức Phật A Di Đà, liền được
sanh về cơi Cực Lạc.'
Lại chẳng thấy trong Kinh Lăng Già, Đức Thế Tôn đă
huyền kư: 'Sau xứ Nam Thiên Trúc, có danh đức Tỳ
Khưu, tôn hiệu là Long Thọ. Hay phá hữu, vô tông.
Trong thế gian hiển ngă. Pháp Vô Thượng đại thừa.
Chứng Sơ Hoan Hỷ Địa. Sanh về cơi Cực Lạc' ư?
Và chẳng thấy trong Luận Khởi Tín, Mă Minh Bồ Tát,
khen ngợi sự văng sanh; trong Kinh Đại Bảo Tích,
Phật hứa khả cho Tịnh Phạn Vương và bảy muôn Thích
chủng đồng về An Dưỡng; trong Kinh Thập Lục Quán,
Đức Thế Tôn chỉ dạy phương pháp cho bà Vi Đề Hy cùng
năm trăm thị nữ được lễ cẩn Đức A Di Đà ư?
Trong mấy vị trên, như Vua Tịnh Phạn và bà Vi Đề Hy
hiện tiền đều đă chứng được Vô Sanh Pháp Nhẫn. Ở Tây
Trúc những hạng ấy cầu văng sanh rất nhiều. Bên đông
độ th́ có Viễn Công ở Lô Sơn cùng các bậc cao nhơn
trong Liên Xă, những vị tôn túc ở hai tông Thiên
Thai, Hiền Thủ, tất cả đều dùng môn niệm Phật tự tu
và độ người khuyến hóa hàng tăng tục đồng cầu sanh
về Tịnh Độ. Nói chung những bậc cao đức tu tịnh
nghiệp số lượng không biết bao nhiêu mà kể! Đến như
hai ngài Văn Thù, Phổ Hiền là bậc Đại Bồ Tát, Thiện
Tài Đồng Tử và hải chúng Hoa Tạng đều là bậc đại
nhơn trong bốn mươi mốt vị. Mă Minh, Long Thọ là
hàng Bồ Tát, mà cũng là bậc Đại Tổ Sư.
Những thánh nhơn ấy chỗ ngộ và chứng siêu xuất hơn
người ngộ đạt ngày nay như trời với vực, mà c̣n
nguyện sanh về Tây Phương, ông bảo rằng đă tỏ ngộ
không cầu về Cực Lạc, lại bác sự cầu sanh, th́ các
ngài Văn Thù, Phổ Hiền, Mă Minh, Long Thọ, chắc là
không bằng ông rồi! Ông thử tự lượng xem chổ tu
chứng có bằng hai bậc Đại Sĩ, và hai vị Tổ Sư; sự
tham ngộ có bằng ngài Thiện Tài cùng hải chúng, cảnh
giới sở đắc và được Phật hứa khả có bằng vua Tịnh
Phạn và bà Vi Đề Hy chăng? Vă Tịnh Phạn Vương là
thân sanh của Phật, bảy muôn Thích chủng là tộc
thuộc của Ngài, nếu sự về Tịnh Độ không có lợi ích
th́ Đức Thế Tôn đâu nỡ khiến phụ vương và hàng thân
thuộc cầu văng sanh? Trước kia đă nói bậc chứng được
Vô Sanh Nhẫn có thể vào tục độ sanh, nay vua Tịnh
Phạn và người thân thuộc của Phật đă đắc quả ấy mà
Đức Như Lai c̣n khuyên và thọ kư cho văng sanh, th́
tấm ḷng hộ tŕ bảo dưỡng của Ngài há chẳng là thân
thiết và sâu xa ư?
Tôi thấy hàng thiền giả đời nay phần nhiều không xét
liễu nghĩa của Như Lai, chẳng rơ huyền cơ của Đạt
Ma, bụng rỗng ḷng cao, tập quen thành bệnh cuồng
vọng. Khi thấy người tu Tịnh Độ, họ khinh thường và
cười bảo: 'Đó là việc làm thấp kém của hàng ngu phu
ngu phụ!' Tôi thường cho đó không phải khinh hạng
ngu phụ ngu phu, mà chính là khinh các Ngài Văn Thù,
Phổ Hiền, Mă Minh, Long Thọ; đó chẳng những tự mê
chánh đạo, tự làm mất căn lành mà c̣n tự bỏ quên huệ
thân và tự để tiêu Phật chủng. Đó cũng là tự gây ra
tội báng Chánh Pháp, tự kết thành nghiệp khinh Thánh
Tăng. Chư Phật, Tổ xem những kẻ ấy là hạng người
đáng thương xót! V́ lẽ ấy nên Ngài Vĩnh Minh động
mối bi tâm đem hết tâm can chủ trương Tịnh Độ, đă tự
tu lại khuyên đời. Nên khi lâm chung, Đại Sư biết
trước ngày giờ, có các điềm lành ứng hiện; lúc trà
tỳ xá lợi tuôn ra vô số. Về sau có một vị tăng ở Phủ
Châu thường cung kính đi nhiễu xung quanh tháp của
ngài, nhiều người hỏi lư do th́ vị tăng ấy đáp: 'Nhân
lúc tôi bị bịnh nặng thần thức đi vào minh giới,
Diêm Vương xét thấy thọ số chưa măn, cho đưa trở về.
Khi ấy tôi thấy bên phía tả đại điện có thiết bàn
thờ di tượng một vị Đại Đức, Diêm Vương lễ bái ân
cần. Hỏi ra th́ Quan Chủ lại bảo đó là chân dung của
Vĩnh Minh Diên Thọ Thiền Sư, v́ ngài tu hành tinh
tấn, được sanh về Thượng Phẩm ở Cực Lạc, nên Diêm
Vương họa tượng để thờ.' Vĩnh Minh Đại Sư là bậc đă
ngộ suốt môn thiền trực chỉ của tổ Đạt Ma, mà lại
gởi chất nơi phẩm sen thượng thượng bên trời An
Dưỡng; những sự kiện ấy đủ giải thích mối t́nh chấp
của người tu thiền, c̣n làm duyên khuyến tấn cho
chúng sanh đời mạt pháp. Cho nên tôi nói ngài rất có
công đối với bên tông cũng như bên giáo là ở điểm
nầy.
Song chẳng những chỉ có Vĩnh Minh Đại Sư mới như thế
mà thôi. Ngoài ra, c̣n có Tử Tâm Tân Thiền Sư đă ngộ
bên Thiền, lại khuyên tu bên Tịnh. Ngài đă bảo: Di
Đà rất dễ niệm, Tịnh Độ rất dễ sanh. Người tham
thiền niệm Phật rất tốt. Nếu kẻ căn cơ hơi kém, sợ e
đời nay chưa được đại ngộ, kiếp sau dễ lạc bến mê,
th́ nên nhờ sức bi nguyện của Đức A Di Đà để sớm
văng sanh về Cực Lạc. Nếu vị nào chí tâm niệm Phật
mà không được sanh về Tịnh Độ, lăo tăng xin chịu đọa
vào địa ngục Bạt Thiệt (ngục rút lưỡi). Lại như Chân
Yết Liễu Thiền Sư, trong bài văn khuyên tu Tịnh Độ,
có nói: 'Tại sao người trong tông Tào Động, ngoài sự
tập thiền, c̣n mật tu Tịnh Độ? Sở dĩ có việc ấy, v́
pháp môn niệm Phật là con đường tắt trong các lối tu
hành. Xét trong Đại Tạng môn nầy ngoài sự tiếp dẫn
bậc thượng thượng căn c̣n thâu nhiếp hạng người
trung hạ... Bậc đại tượng trong tông môn đă ngộ pháp
phi không phi hữu, lại chăm chú tu tịnh nghiệp, có
phải sự thấy Phật cửa Tịnh Độ c̣n giản dị hơn tông
môn chăng? Cho nên dù Phật dù Tổ, hoặc Giáo hoặc
Thiền, đều do nơi cửa Tịnh Độ đồng về nơi chân
nguyên. Vào được môn nầy, tức có thể vào được vô
lượng pháp môn khác...'
Đến như các ngài: Thiên Y Hoài Thiền Sư, Viên Chiếu
Bản Thiền Sư, Từ Thọ Thâm Thiền Sư, Nam Nhạc Tư
Thiền Sư, Pháp Chiếu Thiền Sư, Tịnh Yết Thiền Sư,
Tịnh Từ Đại Thông Thiền Sư, Thiên Thai Hoài Ngọc
Thiền Sư, Lương Đạo Trân Thiền Sư, Đường Đạo Xước
Thiền Sư, Tỳ Lăng Pháp Chân Thiền Sư, Cô Tô Thủ Nạp
Thiền Sư, Bắc Nhàn Giản Thiền Sư, Thiên Mục Lễ Thiền
Sư, những đại lăo ấy là bậc tông tượng trong thiền
môn, song xét ra chỗ mật tu và hiển hóa đều phát
dương ư chỉ Tịnh Độ, tuy không ước hẹn mà ngẫu nhĩ
đồng đường. Chẳng những các vị đại lăo ấy như thế mà
thôi, tôi lại thường nghe một vị kỳ túc bên tông môn
nói: 'Hầu hết ngũ gia tông phái và những thiền tăng
trong thiên hạ, đă tỏ ngộ cùng chưa tỏ ngộ, đều quy
hướng về Tịnh Độ.' Hỏi lư do th́ vị đó đáp: 'Ngài Bá
Trượng Trí Hải Thiền Sư là đích tử của Giang Tây Mă
Tổ, những ṭng lâm trong thiên hạ đều y theo cách
thức của ngài mà kiến lập và thanh quy ở khắp thiền
môn đều y theo pháp chế của ngài mà cử hành. Từ xưa
đến nay không ai dám có lời thị phi và trái với pháp
chế ấy. Theo thanh quy của ngài, th́ nghi thức tụng
cầu cho những vị tăng bệnh nặng có lời văn như sau:
'Phải nhóm chúng lại, tất cả đồng tụng bài kệ tán
Phật A Di Đà, rồi cao tiếng niệm Nam Mô A Di Đà Phật,
hoặc trăm câu, ngàn câu. Khi niệm xong, hồi hướng
phục nguyện rằng: Nếu các duyên chưa măn, sớm được
an lành. Như hạn lớn đến kỳ, sanh về A Dưỡng.' Đó
chẳng phải là bằng chứng chỉ quy Tịnh Độ hay sao?
Lại trong nghi thức đưa những vị tăng đă tịch có
đoạn nói: 'Đại chúng đồng niệm A Di Đà Phật hồi
hướng phục nguyện rằng: Thần siêu cơi tịnh, nghiệp
dứt đường trần, thượng phẩm sen nở hiện kim thân,
nhứt sanh Phật trao phần quả kư.' Đó không phải là
bằng chứng chỉ quy Tịnh Độ hay sao? Đến như lúc trà
tỳ, trong thanh quy lại dạy: Vị Duy Na chỉ dẫn khánh
niệm Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại
Bi A Di Đà Phật mười lần, đại chúng đồng xướng họa
theo.
Khi xướng xong, lại hồi hướng rằng: 'Trước đây xưng
dương mười niệm, phụ giúp văng sanh...' Đó không
phải là bằng chứng chỉ quy Tịnh Độ hay sao? Cho nên
lăo tăng nói: 'Các thiền gia trong thiên hạ đều quy
hướng Tịnh Độ, là bởi nguyên nhân đó.' Tôi nghe
những lời dẫn chứng của vị kỳ túc ấy đều có y cứ,
nên không biện bác ra sao được. Nhân đó tôi lại chợt
hiểu chỗ lập pháp của ngài Bá Trượng tất có thâm ư
nhiệm mầu.
Nay ông ở ṭng lâm, thân đă đưa không biết bao nhiêu
vị tăng quy tịch, tai cùng miệng đă nghe và xướng
không biết bao nhiêu lần mười niệm, ư đă chuyên chú
hồi hướng về Tịnh Độ lại không biết bao nhiêu lần
nữa! Thế mà ông đă không hiểu ư Tổ Sư, đă không phát
ḷng thức tỉnh, lại lầm bảo: những bậc ngộ đạt không
nguyện văng sanh. Quả thật cái bệnh chấp thiền trong
thiên hạ, không c̣n ai hơn ông được.
4. Hỏi:- Sự nhiếp cơ của Tịnh Độ quả thật là
rộng, ngu giả không c̣n dám luận bàn. Nhưng tôi
thường nghe nói: 'Di Đà bản tánh, Tịnh Độ duy tâm,'
trong ư cũng có trộm mừng! Đến chừng xem qua các
kinh luận về tông nầy, th́ Tịnh Độ là miền Cực Lạc
ngoài muôn ức cơi. Di Đà là vị giáo chủ ở Liên Bang.
Như vậy th́ kia đây cách xa, ngoài nghĩa lư duy tâm
bản tánh rồi! Thế là ư chỉ ǵ?
Đáp:- Chỗ hiểu ấy c̣n nông cạn hẹp ḥi. Ông không
biết rằng chân tâm của ông rộng răi và sáng suốt vô
cùng? Kinh Lăng Nghiêm nói: 'Những non sông đất liền
cho đến hư không ở ngoài sắc thân ta, đều là cảnh
vật trong chân tâm mầu sáng.' Lại nói: 'Các pháp
sanh hóa, đều là hiện cảnh của duy tâm.' Thế th́ đâu
có cơi Phật nào ngoài tâm ta ư? Cho nên ư nghĩa của
Tịnh Độ duy tâm là nói cơi Tịnh Độ ở trong chân tâm
của ta, như biển cả nổi lên vô lượng bóng bọt, mà
không có bóng bọt nào ở ngoài biển cả. Lại như những
hạt bụi nơi đất liền, không có hạt bụi nào chẳng
phải là đất; cũng như không có cơi Phật nào chẳng
phải là tâm. Nên Tiên Thánh đă nói: 'Chỉ một tâm nầy
có đủ bốn cơi là: Phàm Thánh Đồng Cư, Phương Tiện
Hữu Dư, Thật Báo Vô Chướng Ngại, và Thường Tịch
Quang.'
Cơi Phàm Thánh Đồng Cư có hai: Đồng Cư Tịnh Độ và
Đồng Cư Uế Độ. Đồng Cư Uế Độ là như cơi Ta Bà trong
quốc độ nầy có phàm có thánh ở chung lẫn, mà phàm và
thánh đều có hai hạng. Hai hạng của phàm là ác chúng
sanh, tức bốn thú, và thiện chúng sanh, tức trời
người. Hai hạng của thánh là thật thánh và quyền
thánh. Thật thánh là các thánh nhơn thuộc bốn đạo
quả, bậc Bích Chi Phật, bậc thất địa trong Thông
giáo, thập trụ trong Biệt giáo, thập tín hậu tâm
trong Viên giáo. Những vị nầy phần thông hoặc tuy
dứt song sắc thân quả báo hăy c̣n, nên đều gọi là
thật. Quyền thánh là các vị Bồ Tát trụ ở những cơi
Phương Tiện, Thật Báo, Tịch Quang cùng bậc Diệu Giác
(Phật) v́ làm lợi lạc cho kẻ hữu duyên nên ứng sanh
vào cơi Đồng Cư. Bởi tùy cơ thị hiện nên gọi là
quyền. Những vị trên đây cùng với phàm phu đồng ở,
nên gọi là Phàm Thánh Đồng Cư, và cảnh cư trú về
phần khí thế giới, có hầm hố, gai gốc, bùn đất, cùng
các tướng nhơ nhớp, về phần hữu t́nh giới có bốn ác
thú, nên gọi là Uế Độ. Đồng Cư Tịnh Độ là như cơi
Cực Lạc, tuy y báo chánh báo nơi đây trang nghiêm
mầu nhiệm, không có bốn ác thú, song cũng gọi Phàm
Thánh Đồng Cư v́ chúng sanh sanh về cơi nầy không
phải đều là bậc đắc đạo. Như trong kinh nói: 'Hạng
người phạm tội nặng, khi lâm chung chí tâm sám hối
và niệm Phật, đều được văng sanh.' Do đó nên biết
nơi cơi nầy chúng sanh c̣n hoặc nhiễm cũng có thể
được ở. Thế Giới Cực Lạc cũng có hai hạng Thánh Cư
và bởi y báo chánh báo đều sạch sẽ trang nghiêm, nên
gọi là Tịnh Độ. Để nói rộng thêm, tuy gọi Tịnh Độ
nhưng thật ra trong ấy có nhiều hạng hơn kém không
đồng. Như thế giới Diệu Hỉ tuy là Tịnh Độ, song c̣n
có nam nữ và núi Tu Di, và Tịnh Độ đă như thế, uế độ
cũng như vậy.
Cơi Phương Tiện Hữu Dư là chỗ ở của bậc Nhị Thừa và
ba hạng Bồ Tát đă chứng Phương Tiện Đạo. Những vị
nầy do tu hai môn quán, dứt phần thông hoặc, phá hết
trần sa, bỏ thân phân đoạn thọ thân pháp tánh, tự
tại ở ngoài ba cơi; nhưng v́ họ chưa đoạn được biệt
hoặc vô minh nên c̣n có sự biến dịch sanh tử. Sở dĩ
gọi phương tiện v́ đó là cảnh giới của hành nhơn tu
chứng Phương Tiện Đạo. Gọi hữu dư là bởi họ chưa
đoạn được vô minh. Cho nên trong Thích Luận nói:
'Ngoài tam giới có cơi Tịnh Độ, đây là chỗ của hàng
Thanh Văn, Bích Chi Phật cư trú, thọ Pháp Tánh thân,
không c̣n sự phân đoạn sanh tử.'
Cơi Thật Báo Vô Chướng Ngại là nơi không có hàng Nhị
Thừa, chỉ thuần là bậc pháp thân Bồ Tát ở. Những vị
nầy phá từng phần vô minh, chứng từng phần pháp
tánh, được quả báo chân thật. Song v́ họ chưa đoạn
hết vô minh nên c̣n nhuận vô lậu nghiệp, thọ báo
thân pháp tánh, và cảnh giới nầy cũng gọi là Quả Báo
Độ. Kinh Nhân Vương nói: 'Ba hiền mười thánh trụ quả
báo' là chỉ cho sự việc trên đây. Sở dĩ gọi Thật
Báo, v́ các Đại Sĩ ấy do quán thật tướng, phát được
chân vô lậu thọ hưởng quả báo chân thật. Gọi Vô
Chướng Ngại là bởi chư Bồ Tát đây, tu chân không
định, sắc cùng tâm không ngăn ngại lẫn nhau. Trong
Kinh Hoa Nghiêm thuyết minh thế giới Nhân Đà La
Vơng, chính là cảnh nầy.
Cơi Thường Tịch Quang là chân lư pháp giới như như,
sáng suốt cùng cực của bậc Diệu Giác. Đây là Phật
Tánh Chân Như, tức độ là thân, tức thân là độ, thân
và độ không hai, là trụ xứ của Đức Tỳ Lô Giá Na,
cũng gọi là Pháp Tánh Độ. Thường chính là đức pháp
thân. Tịch là đức giải thoát. Quang là đức bát nhă ,
như chữ Y (() có ba điểm, không thể cách ĺa, một
tức là ba, ba nguyên vẫn một. Đây cũng gọi là Bí Mật
Tạng, là cảnh giới du hóa của Như Lai, cứu cánh chân
thường, thanh tịnh cùng cực.
Hai cơi trước là chỗ ở của Ứng Thân Phật. Cơi thứ ba
cũng thuộc về Ứng cũng thuộc về Báo, mà chánh thức
là chỗ ở của Báo Thân Phật. Cơi thứ tư không phải
Ứng và Báo mà kiêm cả Ứng, Báo, là chỗ ở của Pháp
Thân Phật.
Bốn cơi trên đây tùy theo chỗ tu chứng mà phân chia,
song kỳ thật vẫn là một. Cho nên chân tâm bao trùm
muôn tượng, vô biên quốc độ như vi trần ở khắp mười
phương, chính là cảnh giới trong tâm ta, hằng sa chư
Phật trong ba đời, cũng là các Đức Phật trong tâm
ta; tất cả không ngoài bản tâm mà có. Hiểu được lư
nầy th́ biết không có cơi nào chẳng nương nơi tâm ta
mà kiến lập, không có vị Phật nào chẳng nương nơi
tánh ta mà xuất sanh. Thế th́ miền Cực Lạc ngoài
mười muôn ức cơi há chẳng phải là cảnh Tịnh Độ của
duy tâm ư?
Thế Giới Cực Lạc đă như thế, th́ vị giáo chủ ở cơi
ấy cũng là Đức Di Đà của bản tánh. Nên biết chỉ một
tâm nầy bao trùm đủ mười giới, thân và độ dung
thông, trùng trùng không ngại. Lại nên biết tâm,
Phật, chúng sanh, ba chính là một, đồng thể không
khác nhau, chúng sanh và Phật hỗ hiện, mỗi niệm giao
tham. Cho nên cổ đức nói: 'Chúng sanh trong tâm chư
Phật, mỗi trần đều là Cực Lạc, chư Phật trong tâm
chúng sanh, mỗi niệm chính thật Di Đà. Mười phương
tịnh uế gom về trong khoảng sát na. Một niệm sắc
tâm, bủa khắp gồm thâu pháp giới.' Xem thế th́ biết
tất cả đều sẵn đủ trong thể thiên chân, không phải
do duyên khởi mới thành lập. Một tâm niệm đă như
thế, một điểm trần lại khác chi? V́ vậy nên mới có
thể: 'Trong mỗi mỗi trần tất cả cơi. Trong mỗi mỗi
tâm tất cả tâm. Mỗi mỗi tâm trần lại khắp nhau.
Trùng trùng không tận không chướng ngại. Đồng thời
hiện rơ không ẩn hiển. Tất cả viên thành chẳng kém
hơn.' Cảnh giới chân tâm bao hàm vô biên quốc độ
trên đây, như lưới báu Thiên Châu của trời Đế Thích,
bóng và ánh sáng của bao nhiêu hạt châu đều gom hiện
vào một hạt châu, bóng và ánh sáng của một hạt châu
lại hiện khắp vào tất cả các hạt châu khác. Tuy mỗi
mỗi hạt châu giao hiện lẫn nhau, nhưng hạt châu nầy
không thể là hạt châu kia, hạt châu kia không thể là
hạt châu nầy, xen mà không tạp, ĺa mà chẳng phân,
mỗi mỗi khắp bày, vẫn không sở tại! Thế giới Cực Lạc
cho đến mười muôn ức cơi mỗi miền cũng như một trong
các hạt châu. Nói tinh tế hơn khắp mỗi cơi từ tam
thừa thánh nhơn cho đến trời, người, tu la, súc
sanh, ngạ quỉ, địa ngục, mỗi mỗi lại cũng như một
trong các hạt châu. Và Đức A Di Đà cũng là một trong
các hạt châu. Cho nên, thấy một vị Phật, tức thấy
mười phương chư Phật, mà cũng là thấy chín giới
chúng sanh ở khắp mười phương. Cơi Phật vô biên,
mười phương kim cổ toàn thể là một hải ấn đốn viên,
không c̣n pháp chi khác nữa!
Như thế th́, thần trải qua mười muôn ức cơi, chính
hóa sanh trong bản tâm ta; chất gởi nơi chín phẩm
hoa sen, há cách biệt ngoài chân như Phật? Những lời
dẫn giải trên đây đều là những minh huấn của Phật,
Tổ, Thánh, Hiền đă tuyên dương vậy. Hiểu được lư này
tất sẽ thấy thế giới Cực Lạc là duy tâm, mỗi cơi
Phật mỗi điểm trần đều là duy tâm; Đức Di Đà là bản
tánh, mỗi vị Phật mỗi chúng sanh cũng đều là bản
tánh. Như thế lại c̣n chi phải nghi ngờ?
Lời phụ:
Pháp giới chân tâm là một thể rộng răi vô biên, bao
hàm vi trần thế giới, chư Phật và chúng sanh. Trong
thể nhất chơn ấy, phần thế giới chúng sanh luôn luôn
biến đổi, thuộc về sanh diệt môn; phần tịch quang
lặng mầu sáng suốt và thường hằng, gọi là chân như
môn. Chân tâm là một thật thể chung, gồm hai môn hữu
vi và vô vi đó. Tất cả những danh từ: Chân Tâm, Bản
Tánh, Bản Thể, Phật Tánh, Như Lai Tạng, Pháp Giới,
Pháp Tánh, Thật Tướng, Niết Bàn, Pháp Thân, Vô Cấu
Bạch Tịnh Thức, Như Lai A Lại Da Thức, Bản Lai Diện
Mục, Bát Nhă, Chân Không, đều là chỉ cho thật thể
ấy. Để trở về thật thể nầy, giáo môn của Phật chia
làm hai. Các tông như: Thành Thật, Tam Luận, Thiên
Thai, Thiền, Thai Tạng Bộ của Mật Giáo, từ nơi không
môn mà đi vào. C̣n các tông: Câu Xá, Pháp Tướng,
Luật, Hoa Nghiêm, Tịnh Độ, và Kim Cang Bộ của Mật
Giáo, lại do nơi hữu môn mà thể nhập. Cho nên những
vị hiểu sâu về lư Bát Nhă của Thiền, hay lư huyền
môn của Hoa Nghiêm, đều nhận rơ sắc chẳng khác
không, không chẳng khác sắc, sắc chính là không,
không chính là sắc. Trái lại, các vị học chưa thấu
đáo, nếu không chấp có tất cũng chấp không. Nhưng
chấp có th́ c̣n biết kiêng sợ nhân quả, lánh dữ làm
lành, đời sau hưởng phước nhân thiên, hoặc chuyên
niệm Phật lại có thể sanh về Tịnh Độ. Đến như chấp
không tất sẽ đi đến chỗ bài nhân quả, bác Phật
Thánh, tương lai bị đọa xuống tam đồ. Cho nên tiên
đức đă răn bảo: 'Thà chấp có như non Tu, chớ chấp
không như hạt cải!'
Vị thiền giả trên, v́ chưa nhận rơ chân tâm, nên
nghe nói 'duy tâm Tịnh Độ, bản tánh Di Đà', vội hiểu
lầm rằng tâm ḿnh thanh tịnh đó là Tịnh Độ là Di Đà
rồi, chớ không có cơi Cực Lạc hay Đức Di Đà nào khác
nữa. Phật Pháp dù ở xứ nào, Trung Hoa hay Việt Nam
cũng có hạng người tà kiến chấp không ấy. Đại khái
họ bác không có Di Đà, Cực Lạc, không có địa ngục,
thiên cung, hoặc như nói Địa Tạng là tâm địa tánh
tạng, chớ không có Đức Địa Tạng nào cả. Như người
đeo cặp kiến đen th́ thấy nơi nào cũng tối tăm,
những kẻ ấy dù có giảng thuyết bao nhiêu lời, diễn
dịch bao nhiêu kinh sách, kết cuộc cũng lạc vào bịnh
không chấp. Những kẻ chấp không thường tự cao tự
măn, cho ḿnh là cao siêu, bác người là chấp tướng.
Xét ra khi diễn dịch kinh, họ cũng có tâm muốn hoằng
dương Phật Pháp, không dè ngược lại thành ra kết quả
hủy báng Tam Bảo; tự ḿnh đă sai lầm, khiến cho bao
nhiêu người khác bị lầm lạc theo. Ví như kẻ dung y
đem tâm muốn cứu đời, chẳng ngờ sự học hiểu về y
dược không rành, trở lại làm cho nhiều người thêm
bịnh.
Cho nên sự dịch kinh, thuyết pháp, vị tất là có
phước, là hoằng dương Phật Giáo nếu hành giả lạc vào
tà kiến, không hiểu ư kinh.
5. Hỏi:- Đă gọi tịnh uế dung thông, mỗi điểm trần
đều là Cực Lạc, tại sao cơi Ta Bà lại thành uế độ?
Đáp:- Do nghiệp cảm của phàm phu, chính nơi tịnh mà
thành uế. C̣n Phật nhăn nh́n xem tất cả uế đều thành
tịnh. Báo cảnh của Đức Thích Ca, há phải thật là uế
ư?
6. Hỏi:- Lư duy tâm bao gồm tất cả, viên dung
không ngại, tôi đă tin là rộng lớn, là nhiệm mầu.
Nhưng kẻ c̣n trệ nơi t́nh mê, chưa ĺa nghiệp uế,
làm sao mà được thanh tịnh?
Đáp:- Tâm nhơ th́ cơi nhơ, tâm sạch th́ cơi sạch.
Kinh Duy Ma nói: 'Muốn được Tịnh Độ, trước phải tịnh
tâm; tùy tâm thanh tịnh, cơi Phật thanh tịnh.' Pháp
tu Tịnh Độ là một môn huyền diệu để đi đến chỗ tịnh
tâm, không c̣n phương tiện nào đặc biệt hơn nữa!
7. Hỏi:- Về phần đại khái của pháp môn Tịnh Độ,
tôi có thể nghe được chăng?
Đáp:- Tịnh Độ nguyên không chi tu, tu nhân bởi mê
lầm mới có; pháp môn vẫn không cao thấp, cao thấp do
căn lành mà phân. V́ chúng sanh căn cơ sai biệt
nhau, nên pháp tu cũng có nhiều cách. Tuy nhiên, nếu
tóm lại, có thể chia thành ba môn là: quán tưởng, ức
niệm, và chúng hạnh.
Môn thứ nhất, nói quán tưởng là như trong Quán Kinh
dạy: 'Chư Phật Như Lai là thân pháp giới, vào trong
tâm tưởng của tất cả chúng sanh. Cho nên khi tâm các
ông tưởng Phật, th́ tâm ấy chính là 32 tướng tốt, 80
vẽ đẹp tùy h́nh, tâm ấy làm Phật, tâm ấy là Phật.
Biển chánh biến tri của Phật từ nơi tâm tưởng mà
sanh. V́ thế các ông phải nhớ nghĩ và quán tưởng kỹ
thân Đức Phật kia.'
Thiên Thai Sớ nói: Mấy chữ chư Phật Như Lai sắp
xuống, là thuyết minh tất cả chư Phật; mấy chữ phải
nhớ nghĩ sắp xuống, là chỉ cho quán tưởng riêng Đức
A Di Đà. Pháp giới thân là pháp thân của Báo Phật.
Tâm chúng sanh tịnh, pháp thân tự hiện, nên gọi là
vào; như khi vầng hồng nhật mọc lên tất bóng hiện
xuống trăm sông. Đây là chỉ cho Phật thân tự tại, có
thể tùy vật hiện h́nh vậy. Lại pháp giới thân là chỉ
cho thân Phật, khắp tất cả chỗ, lấy pháp giới làm
thể. Khi hành giả chứng được môn quán Phật Tam Muội
nầy, giải nhập tương ưng, nên nói vào trong tâm
tưởng. Tâm nầy làm Phật là Phật nguyên vẫn không,
nhân chúng sanh tâm tịnh mới có. Tâm nầy là Phật, ư
nói trước nghe bảo: Phật nguyên vẫn không, nhân
chúng sanh tâm tịnh mới có, sợ e người hiểu lầm cho
rằng bổng nhiên mà có, nên mới nói là Phật. Mới khởi
tu quán nên nói làm, sự tu đă thành nên gọi là.
Diệu Tông Thích nói: 'Muốn tưởng thân Phật, phải
hiểu rơ quán thể. Thể đó là bản giác, từ nơi đây mà
khởi thành pháp quán. Bản giác là thân pháp giới của
chư Phật, v́ chư Phật không sở chứng chi khác, toàn
chứng bản tánh của chúng sanh. Nếu thỉ giác có công,
bản giác mới hiển, nên nói 'pháp thân từ nơi tâm
tưởng mà sanh.' Lại Đức Di Đà cùng tất cả chư Phật
đồng một Pháp thân một trí huệ, sự ứng dụng cũng như
vậy. Hiển được thân Đức Di Đà tức là hiển được thân
chư Phật, tỏ được thân chư Phật tức là lộ được thể
Di Đà. Cho nên trong văn kinh nói rộng qua chư Phật
để kết về sự quán tưởng Đức A Di Đà. Từ mấy chữ thân
pháp giới trở xuống là nói về sự giao cảm của đạo
cảm ứng và ước về lư giải nhập tương ưng.
Phê b́nh về hai lời giải trên, ngài Dung Tâm đă nói:
'Nếu không có lời giải trước, th́ môn quán tưởng ấy
không phải là quán Phật; như không có lời giải sau,
e học giả hiểu lầm rằng thể của chúng sanh và Phật,
khác nhau. Hai lối giải đă tác thành cho nhau mà
thuyết minh quán pháp vậy.'
Môn thứ hai, nói ức niệm là hành giả hoặc duyên theo
tướng tốt, hoặc tŕ danh hiệu của Phật, đều gọi là
ức niệm. Môn nầy có lư có sự. Trong Kinh Hoa Nghiêm,
Giải Thoát trưởng giả nói: 'Nếu tôi muốn thấy Đức Vô
Lượng Thọ Như Lai và thế giới An Lạc, th́ tùy ư liền
được thấy. Tôi có thể biết rơ tất cả chư Phật, quốc
độ tùy thuộc, cùng những việc thần thông của các
Ngài. Bao nhiêu cảnh tướng trên đây, không từ đâu mà
đến, không đi về đâu, không có xứ sở và không chỗ
trụ; cũng như thân tôi không thật có đi, đứng, tới
lui. Các Đức Như Lai kia không đến chỗ tôi, tôi cũng
không đi đến chỗ của các Ngài. Sở dĩ như thế, v́ tôi
hiểu rơ tất cả chư Phật cùng với tâm ḿnh, đều như
mộng. Lại hiểu tự tâm như nước trong chum, các pháp
như h́nh bóng hiện trong nước. Tôi đă ngộ tâm ḿnh
như nhà huyễn thuật, tất cả chư Phật như cảnh huyễn
hóa. Lại biết chư Phật Bồ Tát trong tự tâm, đều như
tiếng vang, như hang trống tùy theo âm thanh mà phát
ra tiếng dội lại. V́ tôi ngộ giải tâm ḿnh như thế
nên có thể tùy niệm thấy Phật.'
Về đoạn kinh trên, ngài Trinh Nguyên giải rằng: 'Từ
câu đầu đến mấy chữ chỗ của các ngài chính là thuyết
minh lư duy tâm, nếu ngộ tức tâm mà vô tâm liền vào
chân như Tam Muội. Khi hành giả hiểu rơ các cảnh
tướng đều hư huyễn, duy tâm hiện ra, đă ngộ duy tâm
và tức tâm là Phật, th́ tùy chỗ tưởng niệm, không
đâu chẳng là Phật. Đoạn sau nêu ra bốn điều thí dụ:
cảnh mộng là dụ cho lư không đến không đi, h́nh bóng
trong nước là dụ cho lư không ra không vào, tướng
huyễn hóa là dụ cho lư chẳng có chẳng không, tiếng
vang là dụ cho lư chẳng tan chẳng hợp. Và dụ thứ
nhất là nói toàn thể đều duy tâm, dụ thứ hai nói v́
duy tâm nên không, dụ thứ ba nói v́ duy tâm nên giả
dụ, thứ tư nói v́ duy tâm nên trung. Bốn dụ đều đủ
bốn quán gồm thông và biệt để hiển lư duy tâm, tất
cả vẫn viên dung không ngại, đó là ư Kinh Hoa
Nghiêm.'
Nếu hành giả hiểu rơ lư trên đây, rồi chấp tŕ bốn
chữ A Di Đà Phật, không dùng tâm có, tâm không, tâm
cũng có cũng không, tâm chẳng phải có chẳng phải
không, dứt cả quá khứ hiện tại vị lai mà niệm, đó
gọi là lư ức niệm. Và ngày đêm sáu thời cứ như thế
mà nhiếp tâm tŕ niệm không cho gián đoạn, không
sanh một niệm th́ chẳng cần vượt giai tầng mà đi
thẳng vào cơi Phật. Đây cũng gọi là lư nhất tâm.
Về sự ức niệm, như trong Kinh Lăng Nghiêm nói: 'Nhớ
Phật niệm Phật, hiện đời hoặc đương lai nhất định sẽ
thấy Phật, cách Phật không xa, không cần mượn phương
tiện chi khác mà tâm tự được khai ngộ.' Hay như các
kinh sách khác đă chỉ dạy, hoặc hệ niệm suốt một
đời, hoặc tŕ niệm trong ba tháng, bốn mươi chín
ngày, một ngày đêm, cho đến bảy ngày đêm, hoặc mỗi
buổi sớm mai giữ mười niệm. Nếu hành giả dùng ḷng
tin sâu, nguyện thiết, chấp tŕ câu niệm Phật như
rồng gặp nước, như cọp dựa non, th́ được sức Phật
gia bị đều văng sanh về Cực Lạc. Theo trong kinh,
cho đến hạng phàm phu tạo tội ngũ nghịch thập ác,
nếu khi lâm chung chí tâm xưng danh hiệu Phật mười
niệm, cũng được văng sanh. Và đây gọi là sự nhất
tâm.
Nói tóm lại, lư nhất tâm là người thông đạt bốn lư
quán trên, dùng tâm ấy mà niệm Phật, tương ưng với
không huệ, đi đến chỗ thuần chơn. Sự nhất tâm là
hành giả tâm c̣n giữ niệm, mỗi niệm không cho xen
hở, đi đến chỗ không c̣n tạp niệm. Lư nhất tâm là
hành môn của bậc thượng căn, sự nhất tâm thông về
hàng trung hạ.
Môn thứ ba, nói chúng hạnh là hành giả dùng nhiều
hạnh để văng sanh về Cực Lạc. Như trong Kinh Hoa
Nghiêm, Phổ Hiền Bồ Tát khuyến tấn Thiện Tài Đồng Tử
và đại chúng nơi hải hội dùng mười đại nguyện vương
cầu sanh Tịnh Độ. Mười đại nguyện ấy là: lễ kính chư
Phật, khen ngợi Như Lai, rộng tu sự cúng dường, sám
hối nghiệp chướng, tùy hỷ các công đức, thỉnh Phật
chuyển pháp luân, thỉnh Phật trụ ở đời, thường theo
Phật tu học, hằng tùy thuận chúng sanh, và hồi hướng
khắp tất cả. Trong mỗi nguyện ấy đều có nói: khi nào
cơi hư không, cơi chúng sanh, nghiệp chúng sanh,
phiền năo của chúng sanh hết, th́ nguyện tôi mới
hết. Và hành giả phải dùng ba nghiệp thân, khẩu, ư,
thật hành nguyện đó không gián đoạn, không chán mỏi.
Đến khi lâm chung, tất cả mọi thứ tùy thân đều để
lại, cho đến các căn đều tan ră, duy đại nguyện ấy
hằng theo bên ḿnh trong khoảng sát na hành giả liền
được sanh về Cực Lạc. Đây là nói về dùng nguyện lực
để văng sanh.
Lại như trong Kinh Đại Bảo Tích, Đức Thế Tôn bảo
ngài Di Lặc: 'Mười thứ tâm nầy, không phải hạng phàm
ngu, bất thiện, kẻ nhiều phiền năo có thể phát được.
Mười thứ tâm ấy là ǵ?
1- Đối với chúng sanh khởi ḷng đại từ, không làm
tổn hại.
2- Đối với chúng sanh khởi ḷng đại bi, không làm
bức năo.
3- Với chánh pháp của Phật, hết ḷng hộ tŕ, không
tiếc thân mạng.
4- Với chánh pháp sanh ḷng thắng nhẫn, không chấp
trước.
5- Tâm điềm tĩnh an vui, không tham sự lợi dưỡng,
cung kính, tôn trọng.
6- Tâm cầu chủng trí của Phật trong tất cả thời
không quên lảng.
7- Đối với chúng sanh khởi ḷng tôn trọng cung kính,
không cho là hạ liệt.
8- Không tham trước thế luận, với phần Bồ Đề sanh
ḷng quyết định.
9- Tâm thanh tịnh không tạp nhiễm, siêng trồng các
căn lành.
10- Đối với chư Phật, xả ly các tướng, khởi ḷng tùy
niệm.
Đây là mười thứ phát tâm của Bồ Tát, do tâm nầy nên
được văng sanh. Nếu có kẻ nào thành tựu một trong
mười tâm trên, muốn sanh về thế giới Cực Lạc mà
không được như nguyện, đó là điều không khi nào có.'
Đoạn kinh trên là nói về dùng tâm lực để văng sanh.
Lại nữa, như trong Kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni, Đức
Quán Thế Âm Bồ Tát bạch Phật: 'Bạch Thế Tôn! Nếu
chúng sanh nào tụng tŕ thần chú Đại Bi, mà c̣n bị
đọa vào ba đường ác, tôi thề không thành Chánh Giác.
Tụng tŕ thần chú Đại Bi, nếu không được sanh về các
cơi Phật, tôi thề không thành Chánh Giác. Tụng tŕ
thần chú Đại Bi, nếu không được vô lượng Tam Muội
biện tài, tôi thề không thành chánh giác. Tụng tŕ
thần chú Đại Bi, tất cả sự mong cầu trong đời hiện
tại, nếu không được như nguyện, th́ chú nầy không
được gọi là Đại Bi Tâm Đà La Ni; duy trừ cầu những
việc bất thiện, trừ kẻ tâm không chí thành.' Ngoài
ra, những kẻ chí tâm tŕ tụng các chú như: Bạch Táng
Cái, Chuẩn Đề, Văng Sanh, đều có thể sanh về Cực Lạc
hoặc các Tịnh Độ khác. Đây là nói về dùng thần lực
để văng sanh.
Và, như trong Kinh Quán Vô Lượng Thọ nói: 'Muốn sanh
về Cực Lạc, phải tu ba thứ phước: 1. Hiếu dưỡng cha
mẹ, phụng thờ sư trưởng, tâm từ bi không giết hại,
tu mười nghiệp lành. 2. Thọ tŕ tam quy, giữ kỹ các
giới, không phạm oai nghi. 3. Phát ḷng Bồ Đề, tin
lư nhân quả, đọc tụng kinh điển đại thừa, khuyến tấn
người tu hành. Ba thứ phước nầy là chánh nhân tịnh
nghiệp của chư Phật quá khứ, hiện tại và vị lai.'
Đây là nói về dùng phước lực để văng sanh.
Ngoài ra những kẻ cất chùa, xây tháp, tạo tượng, lễ
bái tán tụng, giữ ǵn trai giới, đốt hương, rải hoa,
cúng dường tràng phang bảo cái, trai tăng bố thí,
nếu hạnh lành thuần thục, dùng ḷng tín nguyện hồi
hướng, đều có thể văng sanh. Các điều dẫn ra trên
đây gọi là chúng hạnh. Nhưng nguyện hạnh đă có lớn
nhỏ không đồng, lư sự sai biệt, th́ việc thấy Phật,
nghe pháp, cảm thọ y chánh tất cũng có hơn kém khác
nhau, đây là chỉ nói phần đại lược.
Lời phụ:
Muốn sanh về Cực Lạc, hành giả có thể dùng một trong
các hạnh: nguyện lực, tâm lực, thần lực, phước lực
để hồi hướng, không phải chỉ đặc biệt có môn quán
tưởng hay tŕ danh. Tuy nhiên, trong bốn phương pháp
ấy, người tu phải thật hành cho đến độ công đức tinh
thuần, hạnh lành thành tựu mới có hy vọng. Mà kẻ
dung thường th́ nghiệp chướng nặng không dễ ǵ đoạn,
hạnh lành khó không dễ ǵ thành, duy có hạnh tŕ
danh nương cầu nơi tha lực, là chắc chắn nhất. Cho
nên, Ấn Quang Pháp Sư đă nói: 'Hạng phàm phu kém cỏi
mà được văng sanh, toàn là nhờ từ lực của Như Lai.'
Vậy người niệm Phật đời nay muốn cho phần văng sanh
được đảm bảo, nên lấy sự tŕ danh làm phần chánh,
c̣n các công đức như: tụng kinh, tŕ chú, bố thí và
những hạnh lành khác, để vào phần trợ, mới là đường
lối an toàn.
Trong ba môn của ngài Thiên Như tŕnh bày, đại khác
môn thứ nhất nói về Thật Tướng Niệm Phật, hạng trung
hạ khó hành tŕ. Môn thứ ba, th́ hạng dung thường,
nhiều nghiệp duyên, cũng ít có hy vọng, chỉ nên dùng
làm phần trợ. Duy phương pháp sự tŕ danh thuộc môn
thứ hai là mọi người đều có thể thật hành và có hy
vọng thành tựu. Tuy nhiên, v́ căn tánh của chúng
sanh khác nhau, ngài phải nói cho đủ để mọi người
tùy sở thích mà lựa chọn. Về phần dịch giả chỉ căn
cứ theo phần đông hạng dung thường đời nay mà biện
minh sự lợi hại thế thôi.
8. Hỏi:- Tôi nghe Thiện Tài Đồng Tử là bậc viên
đốn lợi căn, một đời được chứng quả. Sao Đức Phổ
Hiền không khuyên ngài sanh về cơi Hoa Tạng mà lại
khuyên sanh về Cực Lạc, là ư thế nào?
Đáp:- Trong Hoa Nghiêm Sớ có lời hỏi ấy. Sớ bản đă
đáp: 'Việc đó hàm ẩn nhiều lư do: v́ có nhân duyên,
v́ để tâm niệm được quy nhứt, v́ không ĺa cơi Hoa
Tạng, v́ tức là bản sư.' Hai lư do trước dễ hiểu. Lư
do thứ ba là trong thế giới Hoa Tạng có vi trần cơi
Phật, miền Cực Lạc cách đây mười muôn ức Phật độ,
tất cả đều không ngoài số sát chủng ấy. Lư do thứ tư
là như trong kinh nói: 'Hoặc thấy pháp hội Phật Vô
Lượng Thọ, có nhiều vị Bồ Tát như Quán Thế Âm vi
nhiễu, liền khen ngợi thân dị hóa của Đức Tỳ Lô Giá
Na. Tỳ Lô Giá Na Như Lai là Giáo Chủ cơi Hoa Tạng,
Đức A Di Đà đă là thân dị hóa của ngài th́ đâu có
khác chi ngài, v́ thế nên mới nói 'tức là bản sư.'
Trong ấy lại nói: 'Phổ Hiền Bồ Tát v́ Thiện Tài và
hải chúng kết khuyến về Cực Lạc bởi ngài Thiện Tài
là bậc tin hiểu viên thông, vào trí Văn Thù, tu hạnh
Phổ Hiền, phước huệ và sự lư đều xứng hợp pháp giới.
Đó là bậc đại tâm, tuy đă ngộ thể bản minh, đồng
hàng với chư Thánh, nhưng v́ lực dụng chưa đầy đủ,
không thể nhập thế làm lợi ích khắp quần sanh như
các Đức Như Lai. V́ thế Phổ Hiền Bồ Tát khuyên ngài,
cho đến hải chúng, nương về Tịnh Độ, gần gũi Di Đà,
không ngoài ư muốn cho tất cả được mau chứng quả
Phật.'
9. Hỏi:- Trong môn chúng hạnh nói: 'Nguyện hạnh
đă có lớn nhỏ không đồng, lư sự sai biệt, th́ việc
thấy Phật, nghe pháp, cảm thọ y chánh, tất cũng có
hơn kém khác nhau; thế th́ hai môn quán tưởng ức
niệm, nhân tu không đồng, sự cảm tướng có khác nhau
chăng?
Đáp:- Việc ấy cố nhiên là phải khác. V́ thế ngài
Vĩnh Minh đă bảo: 'Sự văng sanh có chín phẩm, không
phải đồng một bậc. Hoặc có kẻ nương về hóa quốc,
thấy ứng thân của Phật; hoặc có vị sanh nơi báo độ,
thấy chân thể của Như Lai; hoặc có kẻ trải qua nhiều
kiếp, mới chứng quả tiểu thừa, hoặc có vị vừa sanh
một đêm liền siêu lên thượng địa. Nói tóm lại, v́
người văng sanh căn hạnh không đồng, có độn căn lợi
căn, có định ư tán ư, nên hoa nở có sớm muộn, quả
chứng có chậm mau, thời hạn rất là cách biệt.' Từ
Vân Sám Chủ cũng bảo: 'Tuy chia ra chín phẩm nhưng
đó chỉ là lược phân; nếu tế phân lẽ ưng phải có vô
lượng phẩm.'
10. Hỏi:- Cực Lạc chỉ là cơi Đồng Cư, không phải
cơi Thật Báo, tại sao lại nói: 'hoặc có vị sanh nơi
báo độ, thấy chân thể của Như Lai?'
Đáp:- Ông cho rằng có cơi Thật Báo ở riêng ngoài cơi
Đồng Cư hay sao? Nên biết ba cơi kia không ĺa cơi
Đồng Cư mà có, chỉ khác là thân, cảnh và sự thọ dụng
không đồng nhau thế thôi! Như trong kinh nói: 'Thân
của Phật A Di Đà cao sáu mươi muôn ức na-do-tha hằng
hà sa do tuần.' Các bậc cổ đức b́nh giải cho đó là
thân Thật Báo. Chẳng những thế giới Cực Lạc có bốn
độ không đồng, mà các cơi khác cũng đều như vậy. Nên
ngài Kinh Khê nói: 'Ngay cơi Ta Bà nầy có đủ bốn độ.
Như đương thời hải hội Hoa Nghiêm không ĺa Thệ Đa
Lâm, mà các bậc đại Thanh Văn vẫn không nghe thấy và
hay biết.'
11. Hỏi:- Nếu cơi Ta Bà có đủ bốn độ, th́ chỉ nên
ở tại đây mà lần lượt tu hành, cần chi phải cầu sanh
Cực Lạc?
Đáp:- Cơi nầy tuy đủ bốn độ, nhưng v́ thuộc về Đồng
Cư Uế Độ, nên người tu khó trừ nghiệp nhiễm. Muốn
thoát ly nhiễm nghiệp, hành giả phải cầu sanh về
Đồng Cư Tịnh Độ ở Liên Bang. Nên Tứ Minh Tôn Giả
nói: 'Cơi Ta Bà cảnh duyên trược ác nặng, người tu
phải chứng đến vị thập tín mới thoát khổ luân. Miền
Cực Lạc cảnh duyên thắng diệu nên khi về chín phẩm
đều lên hàng bất thối. Ông há không nghe trong Kinh
Pháp Hoa nói có những vị thọ giáo với Đại Thông Trí
Thắng Như Lai, từ đó đến nay đă trải qua số kiếp như
bụi nhỏ của vô lượng vô biên cơi Phật mà c̣n ở nơi
địa vị Thanh Văn hay sao? Ấy đều bởi do măi thối
chuyển nên phải trải qua thời kiếp lâu xa. Chẳng hạn
như ngài Xá Lợi Phất tiền kiếp đă chứng đến lục trụ
mà c̣n thối tâm, huống nữa là hạng tu hành lơ láo ư?
Nói chung, ở cơi nầy v́ có nhiều chướng duyên, nên
người tu dễ bị lui sụt. Nên tiên đức đă bảo: 'Số
lượng Bồ Tát mới phát tâm nhiều như bông xoài trứng
cá, nhưng kết cuộc c̣n lại không được bao nhiêu.'
Nếu kẻ nào biết hướng về Cực Lạc, nhờ thắng duyên
bên cơi ấy, dù cho hạng phàm phu thấp thỏi, cũng lên
ngay ngôi bất thối. Đây là lư do tất yếu trong sự
cầu sanh, mà các hành nhơn nên suy gẫm kỹ.
12. Hỏi:- Trong mười phương, cơi đồng cư Tịnh Độ
rất nhiều. Nay lại riêng chỉ thế giới Cực Lạc và duy
khen cảnh duyên ở cơi ấy thắng diệu, là tại sao?
Đáp:- Kinh Phật Thuyết A Di Đà nói: 'Chúng sanh ở
cơi ấy không có các sự khổ, chỉ hưởng những điều
vui, nên gọi là Cực Lạc.' Cảnh duyên ở Cực Lạc rất
thù thắng, có nhiều sự kiện thuận lợi cho chúng sanh
nơi cơi nầy hơn các Tịnh Độ khác, mà tâm lượng của
phàm phu trong tam giới không thể thấu hiểu được.
Nay xin tạm đem cảnh duyên ở Ta Bà đối chiếu để so
sánh lược qua:
Ở cơi nầy loài người bẩm thọ thân h́nh huyết nhục,
có sanh là có khổ; cơi kia th́ chúng hữu t́nh đều
hóa chất nơi hoa sen, không c̣n sự khổ về sanh. Ở
cơi nầy thời tiết đổi dời, con người lần lần đi đến
cảnh già yếu; cơi kia là thế giới trường xuân, không
có đêm, ngày, nóng, lạnh, chúng sanh không bị sự khổ
suy già. Ở cơi nầy con người thân tứ đại khó điều
ḥa, dễ sanh nhiều bệnh hoạn; cơi kia th́ chúng sanh
thể chất kim cương thơm sạch, không có sự khổ về yếu
đau. Ở cơi nầy con người ít ai sống đến bảy mươi,
cơn vô thường mau chóng; cơi kia th́ chúng sanh thọ
số đến kiếp lượng vô biên, không có sự khổ về chết.
Ở cơi nầy con người bị sợi dây thân t́nh ái luyến
ràng buộc, chịu đau khổ v́ nỗi tử biệt sinh ly; nơi
cơi kia chúng sanh hóa thân nơi hoa sen, không có
cha mẹ vợ con, nên không bị khổ về ân t́nh chia
cách. Ở cơi nầy ai không có kẻ thương người ghét,
nên khi oán thù gặp gỡ tất phải chịu nhiều nỗi phiền
năo gian truân; nơi cơi kia toàn là bậc thiện nhơn
dắt d́u giúp đỡ lẫn nhau, không có sự khổ về oan gia
hội ngộ. Ở cơi nầy con người phần nhiều nghèo khổ
thiếu kém, dù kẻ giàu sang cũng có biết bao ước vọng
không thành; nơi cơi kia, sự thọ dụng về ăn, mặc, ở,
các thứ trân bảo, bao nhiêu điều mong muốn, đều được
hóa hiện tự nhiên, chúng sanh an vui, không có nổi
đau buồn về thất vọng. Ở cơi nầy con người hoặc h́nh
thể xấu xa, các căn không đủ; cơi kia chúng sanh đều
có 32 tướng tốt, thân kim cương xinh đẹp, có ánh
quang minh. Ở cơi nầy chúng sanh xoay vần trong nẻo
luân hồi, nơi cơi kia bậc thượng thiện đều chứng Vô
Sanh Pháp Nhẫn. Ở cơi nầy có đủ bốn ác thú khổ năo;
nơi cơi kia tên ba ác đạo hăy c̣n không. Ở cơi nầy
nhiều g̣ nổng hang hố, rừng rậm chông gai, dẫy đầy
các tướng nhơ ác; nơi cơi kia th́ vàng ṛng làm đất,
cây báu vút trời, lầu chói trân châu, hoa đua bốn
sắc. Ở cơi nầy th́ Song Lâm đă khuất, Long Hoa c̣n
xa; nơi cơi kia, Di Đà Thế Tôn hiện đang thuyết
pháp. Ở cơi nầy th́ Quán Âm, Thế Chí, luống mến danh
lành; nơi cơi kia, chư Bồ Tát thượng nhơn hằng làm
thắng hữu. Ở cơi nầy th́ các ma cùng ngoại đạo, làm
năo loạn bậc chánh tu; nơi cơi kia, Phật hóa tinh
thuần, ngoại ma tuyệt tích. Ở cơi nầy th́ sắc thinh
danh lợi, khiến mê hoặc người tu; nơi cơi kia, y
chánh sạch nghiêm, không c̣n duyên nhiễm. Ở cơi nầy
th́ ác thú muỗi ṃng, khiến hành nhơn không yên ổn;
nơi cơi kia, nhạc cây chim nước, hằng nói pháp âm.
So sánh lược qua hai cơi, cảnh duyên hơn kém thật đă
cách xa, nếu nói cho kỹ th́ sự ưu liệt làm sao kể
xiết! Tuy nhiên tóm lại phần khái yếu cũng không
ngoài hai quan điểm: một là v́ cảnh Cực Lạc thù
thắng, nên có thể khích phát ḷng mong mến và quy
hướng của loài hữu t́nh; hai là duyên liên quốc
nhiệm mầu, nên có thể giúp ích cho người văng sanh
dễ tiến mau trên đường tu chứng. V́ thế, cơi Đồng Cư
Tịnh Độ ở mười phương tuy nhiều, song riêng cơi Cực
Lạc có đầy đủ thắng duyên, các kinh luận đều chỉ
quy, cũng do lẽ đó.
13. Hỏi:- Trong mười phương có vô số chư Phật,
những chúng sanh hữu tâm đều có thể thân cận. Nay
lại riêng suy cử Đức A Di Đà, là tại sao?
Đáp:- Trong ấy có ba lư do: V́ Đức A Di Đà thệ
nguyện sâu rộng, v́ chúng sanh ở cơi này có nhân
duyên lớn với Ngài, và v́ sự giáo hóa của hai Đức
Thế Tôn ở Tây Phương và Đông Độ liên quan nhau.
Về nguyên nhân thứ nhứt, như kinh Vô Lượng Thọ nói:
Đức A Di Đà trong thời kỳ tu nhân, đă phát nhiều thệ
nguyện rộng lớn. Phần khái yếu trong các lời nguyện
ấy là: 'Khi tôi thành Phật, nếu có chúng sanh nào
muốn sanh về nước tôi, siêng tu các căn lành và chí
tâm xưng danh hiệu tôi cho đến mười niệm, như kẻ ấy
không được văng sanh th́ tôi thề không thành chánh
giác. Kẻ nào đă sanh về nước tôi mà c̣n bị thối
chuyển và không quyết định được thành Phật, tôi thề
không thành chánh giác.' Nên trong Hoa Nghiêm Sớ
nói: 'Phật A Di Đà có lời thề sâu nặng nguyện tiếp
dẫn chúng sanh ở cơi Ta Bà.'
Về nguyên nhân thứ hai, khi Phật Thích Ca c̣n ở đời,
chúng sanh nghe lời từ huấn, quy hướng về Đức A Di
Đà rất nhiều. Từ khi Đức Thế Tôn niết bàn về sau,
không luận là hàng tăng tục nam nữ, giàu nghèo sanh
hèn, kẻ đă nghe chánh pháp hay chưa biết ǵ về Phật
Giáo vẫn thường xưng niệm danh hiệu A Di Đà Phật. Dù
cho hạng hung dữ, kẻ không ḷng tin, khi gặp cảnh
nguy khốn tai nạn, hay lúc vui mừng, thán oán, bất
giác cũng kêu gọi A Di Đà Phật. Cho đến trẻ nhỏ khi
chơi đùa vẫn thường nắn h́nh, vẻ tượng Phật A Di Đà;
người hát xướng hay đứa hài nhi năm ba tuổi nói năng
chưa rành, cũng biết niệm A Di Đà Phật. Sự không ai
khuyến khích mà vẫn biết niệm ấy không phải do nhân
duyên là ǵ? Lại như trong kinh Vô Lượng Thọ, Đức
Thế Tôn đă bảo: 'Nay ta nói kinh nầy khiến cho chúng
sanh được thấy Phật Vô Lượng Thọ và quốc độ của
Ngài. Những kẻ muốn bước lên đường giải thoát, nên
cầu văng sanh. Pháp môn nầy mọi người đều có thể tu,
chớ v́ ta diệt độ rồi mà sanh ḷng nghi hoặc. Trong
đời đương lai, khi tam tạng giáo điển đă diệt hết,
ta dùng nguyện lực từ bi, duy lưu kinh nầy trụ thế
một trăm năm. Những chúng sanh nào có duyên được
gặp, tùy ư mong cầu thảy đều đắc độ.' Lại nói: 'Sau
khi kinh nầy diệt rồi, Phật pháp hoàn toàn mất hẳn
trong đời, chỉ c̣n lưu truyền bốn chữ A Di Đà Phật
để cứu độ chúng sanh; kẻ nào không tin mà hủy báng,
sẽ bị đọa vào địa ngục, chịu đủ các sự khổ.' V́ lẽ
đó, nên ngài Thiên Thai nói: 'Phải biết Đức Phật kia
đối với cơi trược nầy, có nhân duyên rất lớn.'
Về nguyên nhân thứ ba, th́ các vị tiên giác đều bảo:
'Đức Thích Ca ứng sanh nơi cơi uế, đem các duyên:
nhơ ác, khổ năo, vô thường, chướng nạn, mà chiết
phục chúng sanh, khiến cho họ sanh ḷng nhàm chán mà
tu theo chánh đạo. Đức Di Đà hiện thân nơi cơi tịnh,
dùng các duyên: trong sạch, an vui, lâu dài, không
thối chuyển mà nhiếp hóa loài hữu t́nh, khiến cho họ
khởi tâm ưa mến mà trở lại nguồn chân. Hai bậc Thánh
Nhơn đă dùng hai môn chiết và nhiếp làm cho chánh
giáo lưu hành, nên sự hóa độ có liên quan nhau. Lại
Đức Bổn Sư ngoài sự chỉ dạy ba thừa để giáo hóa
chúng sanh, đặc biệt nói thêm môn Niệm Phật để nhờ
Đức A Di Đà tiếp dẫn những kẻ c̣n chưa được độ. V́
thế, trong các kinh đại thừa, Đức Thế Tôn đă ân cần
dặn bảo, luôn luôn khen ngợi và khuyến khích sự văng
sanh.'
Ba lư do trên đây đă nói rơ tại sao Đức A Di Đà được
riêng suy cử, trong số m |