|
Kính
thưa chư vị đồng tu:
Trong buổi giảng kinh ở Los Angeles và San Jose có
rất nhiều vị đồng tu lại gặp tôi và nói đến chuyện
công phu tu học không được đắc lực, chúng ta không
thể gặt hái được những công đức và lợi ích thù thắng
mà đức Phật nói trong kinh. Nguyên nhân chánh là ở
chỗ nào? Lần này tuy thời gian chúng ta tựu hội rất
ngắn nhưng tôi nghĩ trong ba ngày hôm nay chúng ta
nên thảo luận về vấn đề này.
A. TẠI SAO CHÚNG TA TU THEO PHÁP MÔN TỊNH ĐỘ?
Mục đích thứ nhất của chúng ta khi tu học Phật Pháp
đương nhiên là để liễu thoát sanh tử luân hồi, ra
khỏi tam giới. Đây là một vấn đề trọng đại, là “một
đại sự nhân duyên” mà Phật nói trong kinh Pháp Hoa;
trong rất nhiều kinh luận Đại thừa không kể là trên
lư luận hoặc phương pháp đức Thế tôn không có chỗ
nào không lấy đó làm mục tiêu tối hậu.
Nhưng Phật pháp truyền đến ngày nay, y cứ theo cách
ghi chép của người Trung quốc đă trải qua ba ngàn
năm, và theo cách tính của các nước khác th́ cũng
trên hai ngàn năm trăm năm. Pháp truyền qua thời
gian dài như thế sẽ không tránh khỏi sanh ra tệ đoan.
Hiện nay là thời mạt pháp, hai ngàn năm trăm năm sau
khi đức Phật Thích Ca diệt độ, căn tánh của chúng
sanh trong thời đại này dĩ nhiên không giống với
thời xưa v́ vậy có rất nhiều kinh luận và pháp môn
không phải là không tốt nhưng người hiện đại chúng
ta tu học không được, thực hành không được.
Y cứ theo lư luận
và nguyên tắc của kinh điển đại thừa, không kể là tu
học pháp môn nào, Hiển Giáo, Mật Giáo, Thiền Tông,
hay Giáo Hạ cũng vậy, tất cả đều phải đoạn dứt kiến
tư phiền năo mới có thể liễu thoát sanh tử. Cái ǵ
là kiến tư phiền năo? Nói một cách đơn giản ‘kiến’
là kiến giải sai lầm, cái nh́n không đúng đối với vũ
trụ nhân sanh, đó gọi là ‘kiến phiền năo’. ‘Tư’ chỉ
tư tưởng sai lầm và cách suy nghĩ không chính xác.
Phạm vi của ‘kiến tư’ quá rộng quá lớn.
Trong kinh luận đức Phật đem vô lượng kiến tư phiền
năo quy nạp vô mười loại, đây là v́ để thuận tiện
thuyết pháp. Nói thiệt ra người hiện đại chúng ta
không thể đoạn dứt được bất cứ thứ nào trong mười
thứ kiến tư phiền năo này; một thứ cũng đoạn không
nổi, huống chi là mười thứ! Nếu đoạn không nổi phiền
năo th́ tu học cả đời cũng không thể thành tựu. Đây
không phải là khuyết điểm của một vài người mà là
căn bịnh chung của mọi người hiện nay.
Chúng ta thấy trong quyển ‘Niệm Phật Luận’ của Đàm
Hư đại sư, ngài nói cả đời ngài gặp được hoặc nghe
đến những người tham thiền đến mức đắc được Thiền
định đă là rất ít, c̣n người tham thiền đến khai ngộ
th́ không những một đời chưa gặp, mà nghe cũng không
nghe đến. Ở đây chỉ nêu lên một thí dụ để nói mà
thôi.
Nếu tham thiền mà không thể đại triệt đại ngộ và
minh tâm kiến tánh th́ không kể là thành công; công
phu đắc được thiền định có sâu có cạn, công phu cạn
th́ sanh đến cơi trời Sơ Thiền, Nhị Thiền; công phu
sâu th́ sanh đến cơi trời Tam Thiền, Tứ Thiền. Cơi
trời Tứ Thiền và Tứ Không cũng chưa thoát khỏi Thiên
đạo, huống hồ những người đắc được thiền định th́
hiếm như ‘lông phụng sừng lân’ vậy. Điều này nói rơ
chúng sanh trong thời mạt pháp phiền năo tập khí quá
nặng, lại c̣n thêm hoàn cảnh ngoại duyên không thiện.
Cái ǵ ‘không thiện’? Danh, văn, lợi, dưỡng, tài,
sắc, danh, thực, và thùy (danh, văn, lợi, dưỡng,
tiền tài, sắc đẹp, tiếng tăm, thức ăn ngon, và ngủ
nghỉ) đều đang mê hoặc, dụ dỗ; bên trong có phiền
năo, bên ngoài có mê hoặc, bạn làm sao có thể thành
tựu được?
Huống chi trong lúc tu học, những đại đức hồi xưa có
nhắc đến chuyện ‘không lăo thật’ (không thiệt t́nh
không thật thà), phân lượng của câu này rất nặng,
rất nặng, ư nghĩa rất sâu rộng. Chúng ta nghe xong
không màng tới chỉ cười trừ rồi thôi, không coi
trọng mà không hiểu được câu này đă nói trúng phóc
yếu điểm của chúng ta.
Tại sao không thiệt thà? Không tránh khỏi hai nguyên
nhân, nếu nói theo kinh Phật th́ là thiện căn mỏng,
không có phước báo. Nếu dùng ngôn ngữ của người hiện
đại mà nói là:
a. Chúng ta chưa hiểu rơ hoàn toàn nghĩa lư trong
kinh điển.
b. Chúng ta chưa nếm đủ chuyện khổ và vị đắng cay
trong thế gian!
Cho nên tu học không thành thật và làm hỏng chuyện
thoát ly sanh tử trọng đại của đời ḿnh.
Như vậy làm thế nào để có thể đạt được sự lợi ích
thù thắng của Phật pháp? Tu học như thế nào th́ đời
này chúng ta mới có thành tựu? Đây đều là sự mong
mỏi của mỗi vị đồng tu. Nếu chúng ta có nguyện vọng
như vậy, tâm nguyện này có thiệt là rất thiết tha
không? Nếu thiệt đúng là có sự nhận thức như vậy,
thiệt là có tâm nguyện thiết tha như vậy, th́ trong
kinh Phật gọi là ‘người giác ngộ’. Người này thiệt
đă giác ngộ!
Nếu chúng ta c̣n say đắm mơ mộng trong sanh tử, qua
được ngày nào hay ngày đó, lấy tâm trạng này đi học
Phật, vẫn trong vô minh mê hoặc như cũ mà không tỉnh
thức (giác ngộ), tu học công phu như vậy làm sao có
thể đắc lực được?
Những năm gần đây quư vị nghe giảng kinh, hoặc đă
nghe được từ băng video, hoặc có một số viết thành
sách các vị đă đọc qua, chúng ta phải bắt đầu từ chỗ
nào? Nhất định phải từ ‘Tam phước, Lục ḥa’. Lục ḥa
không phải chỉ dành riêng cho đạo tràng của các vị
xuất gia; nếu Lục ḥa chuyên dành cho đạo tràng của
các vị xuất gia vậy th́ các vị tại gia làm sao có
thể thành tựu được?
Chúng ta phải hiểu Lục ḥa không phân biệt xuất gia
và tại gia, cho nên nói Phật pháp là pháp b́nh đẳng.
Đặc biệt là pháp môn Tịnh Độ, đức Phật A Di Đà đại
từ đại bi có thể làm cho chúng sanh trong chín pháp
giới đều b́nh đẳng thành Phật, trong thời mạt pháp
muốn thành tựu được th́ chỉ có pháp môn này thôi.
Trong số những người niệm Phật có người đứng văng
sanh, có người ngồi văng sanh, biết trước ngày giờ
ra đi, không có bịnh khổ, chúng ta đều có chứng kiến
tận mắt hoặc đă nghe nói đến. Pháp môn này được gọi
là ‘Dị hành đạo’ (đạo dễ thực hành). Cơ sở căn bản
tu học của pháp môn này cũng chỉ là ‘Tam phước, Lục
ḥa’. Tôi nghĩ chúng ta ai cũng biết đến Tam phước,
Lục ḥa, ai cũng có thể nói được, nhưng đă làm được
chưa? Chưa làm được th́ không có ích lợi ǵ hết.
Mấy tuần trước tôi ở Los Angeles thuyết giảng, có
một vị đồng tu lại nói với tôi là ông có ‘tŕ’ kinh.
Tôi hỏi: “Ông tŕ kinh ǵ?”
Ông nói: “Con tŕ kinh ‘Vô Lượng Thọ’ đă được ba
ngàn biến (lần).”
Tôi trả lời: “Ông không có tŕ kinh.”
Ổng hỏi: “Như vậy nghĩa là sao? Con mỗi ngày đều có
đọc tụng mà.”
Tôi nói: “Ông chỉ đọc kinh, ông đọc qua ba ngàn lần,
ông không có ‘tŕ’.”
Ổng hỏi: “Thế nào mới gọi là ‘tŕ’?”
Tôi trả lời: “ ‘Tŕ’ nghĩa là làm được. Những việc
Phật dạy trong kinh, ông có làm được chưa? Nếu ông
chưa làm được th́ gọi là ‘đọc kinh’, cho đến ‘niệm
kinh’ cũng không có niệm. ‘Niệm’ là ǵ? Trong tâm
ông thiệt có; miệng có đọc mà trong tâm ông không có,
phải không?”
Ông nói: “Dạ đúng”.
Miệng đọc mà tâm không thiệt có th́ gọi là đọc kinh,
‘niệm kinh’ c̣n không có niệm th́ làm sao có thể nói
‘tŕ kinh’ được?
“Tôi cử ra một câu nói trong kinh: ‘Thiện hộ khẩu
nghiệp, bất cơ tha quá’ (Khéo giữ ǵn khẩu nghiệp,
đừng chế giễu và bàn chuyện quấy của người khác) ông
có làm không?”
Ông cũng rất thiệt thà, lắc đầu và nói: “Con làm
không được”. Làm không được th́ bạn không có ‘tŕ’
kinh. Trong kinh luận Đại thừa đức Phật nói với
chúng ta: ‘Thọ tŕ đọc tụng, diễn thuyết cho người
khác biết’. Thọ tŕ được đặt ở hàng đầu. Bạn đă hiểu
những lư luận đức Phật dạy và đă biết phương pháp tu
hành, bạn có thể đem lư luận phương pháp đi thực
hành được hoàn toàn trong đời sống hàng ngày, đó mới
gọi là ‘thọ tŕ’. Cho nên thọ tŕ và đọc tụng là hai
chuyện khác nhau, không thể xem là giống nhau được.
Tôi dạy những người mới học Phật, lúc ban đầu phải
đem kinh niệm ba ngàn lần, mục đích để làm ǵ? Đó là
dạy bạn đem những lời đă dạy trong kinh nhớ thuộc
ḷng, rồi trong đời sống hàng ngày lúc đối xử với
người và tiếp xúc với sự việc phải hoàn toàn làm
theo những lời dạy đó. Như vậy mới gọi là ‘thọ tŕ’,
mới có cảm ứng. Giả sử bạn không làm theo rồi nói
với tôi, tôi tin không? Tôi tin. Tại sao tôi tin? Sự
cảm ứng của bạn được không phải từ chư Phật Bồ Tát,
mà là cảm ứng của yêu ma quỷ quái, thiệt là có cảm
ứng! Yêu ma quỷ quái gia tŕ bạn, giúp cho bạn tăng
trưởng thêm tham sân si, giúp cho bạn tạo thêm ác
nghiệp, giúp cho bạn đi đọa địa ngục A Tỳ mau hơn.
Trong kinh Lăng Nghiêm đoạn sau chót đức Thế Tôn nói
người học Phật có năm mươi thứ ấm ma; ma sẽ gia tŕ
(phá khuấy), chúng ta không thể coi thường oai thần
sức mạnh của ma. Nếu tâm bạn chánh trực, hành vi
ngay thẳng th́ sẽ ‘cảm ứng đạo giao’ với Phật Bồ Tát.
Nếu tâm và hành vi tà vạy th́ sẽ ‘cảm ứng đạo giao’
với yêu ma quỷ quái.
Xă hội ngày nay rất phức tạp, t́nh h́nh trong lục
đạo so với chúng ta c̣n phức tạp hơn. Một người
trong thời đại này muốn liễu sanh tử ra khỏi tam
giới đích thật là không dễ, nhưng cũng không thể xem
là quá khó. Xem là quá khó th́ cũng sai lầm. Đích
thật là có phương pháp, có con đường dẫn đến, nhứt
định phải tuân theo lời dạy của đức Phật và y theo
đó mà thực hành.
B. TAM PHƯỚC:
1. Hiếu dưỡng phụ mẫu. Phụng sự sư trưởng. Từ tâm
không sát hại sinh vật. Tu thập thiện nghiệp.
Phước thứ nhất trong tam phước là hiếu dưỡng cha mẹ.
Chúng ta đă nói rất nhiều lần rồi. Chúng ta không
niệm thuộc ḷng kinh, nghĩa của kinh lờ mờ không rơ,
tâm hạnh trái ngược với lời dạy trong kinh, phải nên
biết đây là tội bất hiếu rất nặng, rất không kính
trọng.
Phụng sự thầy giáo. Ông thầy đệ nhất của chúng ta,
những người học Phật, là ‘Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni
Phật’. Bổn sư dạy chúng ta học theo A Di Đà Phật,
cho nên A Di Đà Phật cũng là ‘Bổn sư’ của chúng ta.
Trong đời sống hàng ngày chúng ta khởi tâm động niệm
ǵ, tâm đó có giống tâm của Phật không? Niệm đó có
giống niệm của Phật không? Tâm của Phật ra sao, niệm
của Phật giống ǵ? Những ǵ nói trong kinh Vô Lượng
Thọ và kinh A Di Đà là chân tâm của Phật, là h́nh
dáng của Phật. Chúng ta có thiệt t́nh t́m hiểu,
thiệt t́nh tu hành và làm theo không?
Tu hành là y chiếu theo tiêu chuẩn của Phật đă nói
ra, đem những sự suy nghĩ, tư tưởng, và cái nh́n sai
lầm của chúng ta trong đời sống hàng ngày sửa đổi
cho đúng trở lại. Đó gọi là ‘tu hành’. Nếu chúng ta
hàng ngày c̣n giả vờ để làm giống như một người học
Phật mà trên thực tế th́ đang gạt ḿnh và gạt người,
như thế nhất định sẽ có cảm ứng với ma; Phật sẽ
không gia tŕ bạn mà ngược lại ma sẽ gia tŕ bạn.
Dụng ư của ma gia tŕ ở chỗ nào? Dụng ư ở chỗ muốn
tiêu diệt Phật Pháp, làm chướng ngại Phật Pháp.
Không những trong đời này bạn không được tự tại,
không được như ư, tương lai quả báo c̣n đáng sợ hơn
nữa. Chúng ta có ư thức đến hay không? Chúng ta có
cảnh giác đến hay không? Cho nên tôi khuyến khích
các vị đồng tu cơ duyên của chúng ta thiệt là vô
cùng thù thắng, trong đời này mất đi thân người mà
đọa vào ba đường ác (tam đồ) th́ rất đáng tiếc, nói
khó nghe một chút th́ thiệt là quá oan uổng.
Cho nên cơ sở của Phật Pháp, căn bản nhất của các
thứ căn bản là ‘hiếu kính’. Đem hiếu kính triển rộng
ra đến hiếu kính tất cả chúng sanh, đây là Phật Pháp.
Nếu quả nhiên có thể làm được hiếu kính tất cả chúng
sanh, th́ xin chúc mừng bạn đó, bạn không những vượt
ra khỏi luân hồi, bạn c̣n thoát ra mười pháp giới
luôn. V́ chỉ có Pháp Thân Đại Sĩ mới có thể hiếu
kính tất cả chúng sanh được một cách chân thật. Kinh
Hoa Nghiêm có nói Bồ Tát Viên Giáo Sơ Trụ trở lên
mới làm được. Bởi vậy không thể không phát tâm; phát
tâm rồi phải hết sức nỗ lực thực hiện, phải làm cho
bằng được.
Trong các hành vi, tội nghiệp nặng nhất là nghiệp
sát sanh, cho nên trọng tâm của các giới luật tổng
hợp của Phật dạy cho chúng ta ‘từ tâm không sát hại
sanh vật’. Trong nhà Phật thường nói: ‘Lấy từ bi làm
căn bản, lấy phương tiện làm đường lối ’. Phải vun
bồi tâm từ bi, tuyệt đối không được sát hại và không
được làm tổn hại tất cả chúng sanh. Không có tâm từ
bi không thể học Phật; làm năo hại tất cả chúng sanh
nhất định sẽ đem đến rất nhiều oán thù, những mối
oan gia và chủ nợ liên tục báo đền lẫn nhau không
khi nào dứt được.
Người thức tỉnh (giác ngộ) tuyệt đối không kết oán
thù với chúng sanh. Người kết oán thù với chúng sanh
đều v́ họ c̣n mê hoặc điên đảo và bị vô minh phiền
năo trói buộc. Mười nghiệp thiện là nền móng căn bản
của hành môn (phương pháp tu hành), chúng ta phải
đem thập thiện nghiệp áp dụng trong đời sống sanh
hoạt thường ngày, noi theo những tiêu chuẩn dạy
trong kinh luận, phải từ cơ sở này mà bước vào cửa
Phật.
2. Thọ tŕ tam quy, cụ túc chúng giới, không phạm
oai nghi.
Bước vào cửa Phật chuyện đầu tiên phải làm là thọ
tŕ tam quy y. Tam quy y là điều Phật dạy để chúng
ta thoát ly lục đạo luân hồi, là mục tiêu phương
hướng dẫn đến bồ đề (giác ngộ) niết bàn, mục tiêu
phương hướng này được gọi là ‘Tam Bảo’. Tam Bảo gồm
có: ‘Giác, Chánh, và Tịnh’. Trong bất cứ lúc nào
cũng giữ ǵn được cái tâm giác ngộ của ḿnh, luôn
luôn giác mà không mê. Chúng ta từ trước đến nay mê
mà không giác bây giờ thay đổi ngược lại nên gọi là
‘quay lại’ (hồi quy). Quay ngược lại phải quy y (nương
vào) ‘Giác mà không mê’.
Đức Phật dạy chúng ta từ trong sự hiểu biết (tri
kiến), sự suy nghĩ, và cái nh́n sai lầm quay ngược
lại, đi theo sự hiểu biết chân chánh (chánh tri
chánh kiến). Sự hiểu biết thế nào mới gọi là chánh?
Chư Phật Bồ Tát tuyệt đối không nói ‘Tri kiến của ta
mới là chánh tri chánh kiến, tri kiến của các vị đều
là tri kiến sai lầm’. Không có Phật Bồ Tát như vậy.
Chư Phật Bồ Tát nói với chúng ta: ‘Tri kiến tương
ứng với tự tánh là chánh tri chánh kiến, tri kiến
đối nghịch với tự tánh là tà tri tà kiến’. Nói theo
cách này th́ chúng ta mới đồng ư. V́ chúng ta chưa
minh tâm kiến tánh, phải thừa nhận cái nh́n và sự
suy nghĩ của chúng ta c̣n sai lầm, cho nên lúc mới
bắt đầu học không thể không nương nhờ vào Phật.
Nhưng Phật nói rất hay, Phật không dạy chúng ta phải
vĩnh viễn nương nhờ Phật, chỉ nương nhờ vào Phật
trong ṿng một thời gian ngắn, không dạy chúng ta ỷ
lại lâu dài. Phật dạy chúng ta tự ḿnh phải minh tâm
kiến tánh, kiến tánh rồi th́ không cần ỷ lại Phật
nữa. Nhưng lúc chưa kiến tánh chúng ta không nương
nhờ vào Phật th́ không có phương pháp nào hay hơn
nữa.
Minh tâm kiến tánh đâu có dễ vậy sao? Phải đoạn
phiền năo, phải phá phiền năo chướng. Phiền năo làm
chướng ngại tự tánh của chúng ta, bạn c̣n phiền năo
th́ tuyệt đối không thể kiến tánh, phải c̣n học pháp
môn. Học pháp môn phải phá sở tri chướng. Sở tri (sự
hiểu biết của ḿnh) cũng làm chướng ngại tự tánh.
Phá trừ hai thứ chướng ngại này rồi mới minh tâm
kiến tánh.
Chuyện này nói th́ dễ mà làm th́ quá khó. Cho nên
đức Phật dạy những phàm phu đầy dẫy nghiệp chướng và
căn tánh ám độn như chúng ta phải phát nguyện cầu
sanh Tịnh Độ; phương pháp này tuyệt diệu quá đi thôi!
Có thể tạm thời không cần đoạn kiến tư phiền năo mà
văng sanh Tây phương Tịnh Độ; cũng không cần tu tập
vô lượng pháp môn, chỉ cần có đầy đủ tín, nguyện, và
hạnh th́ đều có thể văng sanh. Sanh đến Tây phương
Cực Lạc thế giới thấy được đức Phật A Di Đà, tu học
theo Phật, rồi mới đoạn phiền năo và học pháp môn,
như vậy chúng ta mới có thể được giải thoát.
Do đó thọ tŕ tam quy, chúng ta phải quy y đức Phật
A Di Đà, quy y kinh điển Tịnh Tông. Kinh điển Tịnh
Tông hiện nay chỉ có năm quyển kinh và một quyển
luận. Bạn quy y năm kinh một luận th́ rất tốt; nếu
chê nhiều quá th́ chọn một thứ (bất kỳ thứ nào cũng
được) trong năm kinh và một luận. Có người sẽ hỏi,
một thứ không phải là quá ít hay sao? Chúng ta thấy
trong ‘Văng Sanh Luận’ và ‘Tịnh Độ Thánh Hiền Lục’,
từ xưa đến nay có người cho đến một bộ kinh cũng
không biết, trọn đời chỉ niệm câu ‘A Di Đà Phật’, họ
cũng có thể đứng văng sanh hoặc ngồi mà văng sanh.
Một câu danh hiệu cũng có thể thành tựu, huống chi
là một bộ kinh?
Điều này chúng ta ở
có thể tin được, giống như trong kinh Kim Cang có
nói ‘Tín tâm bất nghịch’ th́ chúng ta mới có thể
thành tựu.
Tăng bảo, chúng ta quy y Đại Thế Chí và Quán Thế Âm
Bồ Tát. Trong Tịnh Tông, chúng ta quy y Tam Bảo được
thực hiện trên ‘sự tướng’. Đại Thế Chí tượng trưng
cho lư trí, không phải cảm t́nh. Quán Thế Âm tượng
trưng cho từ bi. Cho nên kêu bạn quy y Tăng là kêu
bạn quy y tánh từ bi của lư tánh mà không phải tánh
từ bi của cảm t́nh. Từ bi của cảm t́nh rất dễ làm
hỏng việc. Từ bi phải dùng lư trí làm cơ sở, như vậy
mới gọi là thọ tŕ tam quy.
Chúng ta có thể giải thích chữ giới trong ‘Cụ túc
chúng giới’ là những lời răn dạy của đức Phật trong
kinh điển, chúng ta đều phải giữ lấy và làm theo.
Giới không chỉ là một vài giới điều nhất định, nếu
bạn coi những lời răn dạy trong kinh điển một cách
kỹ lưỡng, những giới điều này đều bao gồm ở trong đó
chứ không thiếu sót. Lại từ trong cơ sở này khế nhập
vào pháp môn của Bồ Tát.
Pháp thứ nhất của Bồ Tát là phát tâm rộng lớn, phát
tâm Bồ Đề. Muốn văng sanh Tây phương Cực Lạc thế
giới các vị đồng tu phải ghi nhớ kỹ càng, điều kiện
văng sanh mà Phật nói trong kinh có ‘hai câu tám
chữ’. Trong phẩm Ba Bậc Văng Sanh của kinh Vô Lượng
Thọ, không kể là bậc Thượng, bậc Trung, hoặc bậc Hạ
đều giống nhau ở chỗ ‘PHÁT BỒ ĐỀ TÂM, NHẤT HƯỚNG
CHUYÊN NIỆM’.
Cái ǵ là Bồ Đề tâm? Đó là tâm muốn độ chúng sanh,
‘chúng sanh vô biên thệ nguyện độ’; nếu bạn c̣n chán
ghét một chúng sanh, bạn c̣n thù oán chúng sanh đó,
th́ bạn có thể đến Tây phương Cực Lạc thế giới
không? Nói cho chư vị biết: ‘Không thể đến được’.
Đừng nói một ngày niệm đến mười vạn câu Phật hiệu,
niệm một triệu danh hiệu Phật, bạn cũng không văng
sanh được. Tại sao vậy? Bạn không có Bồ Đề tâm, điều
này không thể không chú ư!
Lúc trước thầy Lư thường nói người đời nay niệm
Phật, một vạn người niệm Phật chỉ có hai ba người
văng sanh. Không phải họ không tinh tấn, xâu chuỗi
niệm Phật không bao giờ rời khỏi tay hết, miệng suốt
ngày niệm ‘A Di Đà Phật’, ‘A Di Đà Phật’ không
ngừng. Tại sao họ không thể văng sanh? V́ họ không
có Bồ Đề tâm, không phù hợp tiêu chuẩn để văng sanh!
‘Nhất hướng chuyên niệm’ họ làm được, nhưng ‘phát Bồ
Đề tâm’ họ chưa làm được th́ không thể văng sanh!
Hôm qua Quán trưởng có nói chuyện với chúng tôi về
Khổng Lăo Phu Tử; đức học của ngài Khổng Tử có từng
giai đoạn, từng giai đoạn thật rơ ràng, đây là gương
tốt cho chúng ta noi theo. ‘Tam thập nhi lập’, ba
mươi tuổi mới lập, lập ǵ vậy? Lập chí hướng. Nhà
Nho nói ‘lập chí’ là giống chúng ta nói ‘phát tâm’
trong nhà Phật. Đức Khổng Tử lập chí là lập chí học
tập, cả đời dồn sức vào sự học vấn. Chúng ta hôm nay
lập chí phổ độ chúng sanh, chúng sanh vô biên thệ
nguyện độ, chí chúng ta lập là chí này. Tứ hoằng thệ
nguyện là lập chí, chúng ta thiệt đă lập chưa?
Nhà Nho nói nếu không lập chí th́ không có thành tựu
ǵ có thể đề cập đến, tại sao vậy? Bạn không có
phương hướng, không có mục tiêu, cho dù nỗ lực thêm
nữa cũng sẽ không có kết quả. Pháp xuất thế gian so
với pháp thế gian c̣n phải nghiêm khắc hơn nhiều,
nếu bạn không phát tâm th́ làm sao được? Cho nên thứ
nhất phải phát nguyện, phát Bồ Đề tâm tức là phát
đại nguyện. Quá tŕnh học tập của đức Khổng Tử đáng
làm gương cho chúng ta noi theo.
‘Tứ thập nhi bất hoặc’ nghĩa là bốn mươi tuổi không
c̣n bị mê hoặc nữa. Không bị mê hoặc là không bị
cảnh giới bên ngoài lôi cuốn, thu hút, mê hoặc nữa.
‘Ngũ thập nhi tri thiên mạng’ nghĩa là năm mươi tuổi
th́ hiểu rơ nhân duyên quả báo. Biết được tất cả
chúng sanh không ai là không do nhân duyên quả báo
tuần hoàn nối tiếp nhau mà tạo nên những hiện tượng
như vậy.
‘Lục thập nhi nhĩ thuận’. Sáu chục tuổi tâm an định
rồi, tâm thanh tịnh hiện ra. Kinh Kim Cang có nói:
‘Tín tâm thanh tịnh tắc sanh thật tướng’. Trí huệ
chân thật hiện ra. Thiền tông Lục Tổ đại sư trong
Pháp Bảo Đàn Kinh có nói ‘Nhược chân tu đạo nhân,
bất kiến thế gian quá’ (Nếu là người tu đạo chân
thật th́ không thấy lỗi lầm của người khác trong thế
gian). Nhĩ thuận là không thấy sự lỗi lầm của người
trong thế gian. Trong kinh Hoa Nghiêm Thiện Tài đồng
tử trong năm mươi ba lần tham vấn cũng không ‘kiến
thế gian quá’, đó cũng là cảnh giới của ‘nhĩ thuận’.
Đến bảy mươi tuổi công phu thành tựu rồi tâm phải
như thế nào? ‘Tùy tâm sở dục nhi bất du củ’ (tạm
dịch: Tùy sự ưa thích trong tâm tất cả đều được
nhưng không vượt quá khuôn phép, quy củ). ‘Củ’ là
ǵ? Đối với pháp tánh hoàn toàn tương ứng gọi là
‘củ’, tuyệt đối không trái ngược với pháp tánh. Tùy
tâm đều được nhưng những thứ này tự nhiên hợp t́nh,
hợp lư, và hợp pháp. Điều này thiệt là tuyệt diệu!
Chúng ta trong nhà Phật gọi điều này là ‘đại tự
tại’. Đời sống tự tại, công việc tự tại, đối xử với
người, với sự vật cũng đều tự tại. Đây là chỗ chúng
ta thường nói ‘lợi ích chân thật’, ‘chân thật thọ
dụng’. Ngài Khổng Tử đă đạt được, người học Phật nói
đúng ra phải đạt được một cách nhanh chóng và rốt
ráo hơn.
3. Phát Bồ Đề tâm, Tin sâu nhân quả, Đọc tụng Đại
thừa, Khuyến tấn hành giả.
Điều cuối cùng là ‘Tin sâu nhân quả, Đọc tụng Đại
thừa’. Hiện tượng y chánh trang nghiêm trong mười
pháp giới là quả báo; quả báo rất phức tạp, nếu nói
đến tŕnh độ phức tạp th́ sự phức tạp của nhân phải
có tỷ lệ tương đương với quả. Trong những nhân quả
phức tạp như vậy chúng ta phải cẩn thận để ư, thời
thời khắc khắc luôn luôn cảnh giác tuyệt đối không
tạo ra nhân ác.
Lúc ban đầu khi tôi tiếp xúc tới Phật pháp, chỗ khâm
phục đức Phật nhất là ngài chỉ dạy bạn tự lo cho
ḿnh [nh́n lỗi của ḿnh], mà không dạy bạn nh́n
[lỗi] người khác. Chỗ này chúng ta khâm phục đến sát
đất, những giáo giới mà đức Phật dạy đều nhằm răn
dạy một cá nhân của ḿnh mà không dạy người khác.
Nếu chúng ta không từ chỗ này đi vào cửa Phật, bạn
muốn đạo nghiệp thành tựu sớm hơn th́ tuyệt đối
không thể nào làm được.
V́ trung tâm của sự tu học Phật pháp là thiền định
và tâm thanh tịnh.
Nếu bất cứ lúc nào cũng lo nghĩ đến hoàn cảnh bên
ngoài, phân biệt đến hoàn cảnh bên ngoài, bạn thử
nghĩ coi khi nào bạn mới đắc được định? Vĩnh viễn
không hy vọng có ngày đắc được.
Nếu bạn muốn thiệt sự đắc đuợc thiền định, thành tựu
được tâm thanh tịnh, phải hoàn toàn không theo đuổi
sự việc và cảnh giới bên ngoài, hăy quay vào trong
tâm mà dụng công, đây là chỗ cao siêu của Phật Pháp.
Cho nên Phật Pháp đuợc xưng là ‘Nội Học’, là dạy bạn
không hướng ra bên ngoài mà theo đuổi và t́m cầu.
Cảnh giới bên ngoài, khi gặp cảnh thuận hoặc gặp
cảnh nghịch cũng vậy, gặp người tốt hoặc gặp người
xấu cũng vậy, bạn cũng đừng để ư đến. Chúng ta dùng
tâm chân thành để đối xử với sự việc bên ngoài; cảnh
thuận cảnh nghịch cũng như nhau, người xấu người tốt
cũng như nhau, nhất định không dùng hai tâm niệm
khác nhau. Bạn có thể dùng một tâm chân thành này để
đối đăi với người th́ người tốt khen ngợi bạn, người
xấu cũng khen ngợi bạn v́ người xấu được bạn cảm hóa
nên họ sẽ dứt ác tu thiện.
Lục Tổ nói một câu rất hay: ‘Nếu là người tu đạo
chân thật th́ không thấy lỗi lầm của người khác
trong thế gian’. Nếu thường thấy lỗi lầm của người
khác th́ ḿnh sẽ thất bại. Ngày nay chúng ta mắc
phải một căn bịnh rất trầm trọng, mỗi ngày từ sáng
đến tối đều nh́n thấy lỗi lầm của người khác nhưng
không thấy lỗi của ḿnh. Đến khi nào chúng ta có thể
không thấy lỗi người khác mà chỉ thấy lỗi của ḿnh
th́ chúng ta sẽ thành công. Công phu của bạn sẽ đắc
lực, bạn sẽ gặt hái được sự lợi ích chân thật.
Người khác làm cái ǵ và làm như thế nào cũng có
nhân quả riêng của họ. Quan trọng là nhân quả của
ḿnh, nhân quả của người khác chúng ta không thể
nhận chịu thay thế cho họ mà cũng không thể giúp họ
thay đổi. Hơn nữa trong thời đại hiện nay, ai chịu
nói lỗi lầm của người khác? Người xưa cũng không
nói; chúng ta đọc trong sách Lễ Kư viết hồi thời nhà
Hán xem người nào chịu nói ra lỗi lầm của bạn? Chỉ
có hai người, một là cha mẹ của bạn, hai là thầy
giáo của bạn. Họ có trách nhiệm nói ra lỗi lầm của
bạn mà bạn không phản đối lại. Bạn bè nếu nói ra sẽ
có sự xích mích thù hận lẫn nhau rồi sẽ t́m cách trả
thù. Cho nên không ai chịu nói ra lỗi lầm của người
khác hết.
Chư Phật Bồ Tát giảng kinh thuyết pháp thường dùng
cách nói khéo mà nhắc nhở, để cho chúng ta nghe rồi
suy nghĩ xem tự ḿnh có phạm lỗi đó hay không. Nếu
có th́ mau mau sửa đổi, đó là ‘nếu có sai th́ sửa
đổi, nếu không th́ khuyến khích ngăn ngừa’. Chư Phật
Bồ Tát không chỉ trích lỗi lầm của chúng ta mà chỉ
nói một cách gián tiếp khiến cho chúng ta tự ḿnh
phản tỉnh, tự ḿnh giác ngộ. Tâm của họ là tâm thanh
tịnh, nên những lỗi lầm đề cập trong kinh luận thực
ra là Phật không thấy lỗi lầm của bất cứ một người
nào; đây là sự cao siêu thâm áo của những phương
pháp răn dạy của Phật, tất cả đều không đánh mất tâm
thanh tịnh.
Chúng ta phải từ những điểm này mà thể hội, mà phản
tỉnh, mà hiểu được ḷng từ bi chân thành của chư
Phật Bồ Tát, vô cùng từ bi; chỉ cần chúng ta nỗ lực,
y theo lời dạy mà tu hành, bạn có thể không để ư đến
hoàn cảnh, tự nhiên có Phật hộ niệm, thần Hộ pháp sẽ
lo cho bạn; bạn không cần phải lo có người đến phá
hoại hoặc gây ra chướng ngại. Nếu không như vậy th́
người khác chưa đến phá khuấy mà ngược lại chính bạn
đă gây chướng ngại cho ḿnh. Bạn nghĩ đến những
chuyện này để làm ǵ? Đó chính là vọng tưởng, phân
biệt, chấp trước phá hoại bạn trước. Đây là lư do
tại sao chúng ta phải nh́n thấu, phải buông xả.
Phải tin sâu sự hộ niệm của chư Phật; hộ niệm nghĩa
là tất cả chư Phật Như Lai thường thường tưởng nhớ
đến bạn, thường lo lắng đến bạn. Đây là sự thật
không phải giả. Thiện thần hộ pháp tôn kính, khâm
phục, và ủng hộ bạn. Nếu lúc nào bạn cũng đề pḥng
cái này, đề pḥng chuyện kia, Phật sẽ không hộ niệm
cho bạn nữa, thần Hộ pháp cũng sẽ không chiếu cố đến
bạn nữa. Bạn suy nghĩ xem nên làm như thế nào, sự
thiệt tḥi này rất lớn.
Cho nên hai chữ ‘tin Phật’ không phải dễ. Tin Phật
th́ đâu c̣n những thứ vọng tưởng này nữa? Đâu c̣n
những thứ âu lo, bồn chồn, nhớ nhung nữa? Tất cả đều
dẹp hết, như vậy mới có thể nhất tâm hướng về đạo.
Đạo ở đâu vậy? Đạo tức là sự sanh hoạt thường ngày,
tức là ăn cơm mặc áo. Trong kinh Kim Cang đoạn mở
đầu có viết: ‘Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đắp y, cầm
b́nh bát, đi vào thành Xá Vệ khất thực’. Đó là
‘đạo’. Từ đó mới biết, sự sanh hoạt hàng ngày không
có thay đổi, công việc làm hàng ngày cũng không thay
đổi, tiếp đăi người, xử lư công việc, tất cả những
thứ này đều tiếp tục b́nh thường.
Chư Phật Bồ Tát không giống người thường ở chỗ nào?
Người thế gian trong mọi hoàn cảnh lúc khởi tâm động
niệm đều là phân biệt chấp trước, đi ngược lại với
đạo. Chư Phật Bồ Tát trong sanh hoạt thường ngày
không khởi tâm, không động niệm, không phân biệt,
không chấp trước, hằng thuận chúng sanh, tùy hỷ công
đức. Đời sống của họ tự tại, sự xă giao của họ cũng
tự tại, tất cả đều tự tại và viên măn.
Đại tự tại, đại viên măn này đều từ tâm thanh tịnh
sanh ra. Kinh Kim Cang có nói: ‘Tín tâm thanh tịnh
tắc sanh thật tướng’, sanh thật tướng trí huệ bát
nhă; thật tướng trí huệ bát nhă đă hiện ra, làm sao
không được tự tại chứ? Làm sao không viên măn chứ?
Tất cả có được đều do tâm thanh tịnh.
Cho nên trong mọi thời mọi chỗ người biết tu đều
luôn luôn trụ ở trong (giữ) tâm thanh tịnh. Đó cũng
giống như đoạn trước có nói đến tam quy: Giác,
Chánh, Tịnh. Luôn luôn giác mà không mê, chánh mà
không tà, tịnh mà không nhiễm; niệm Phật như thế cầu
sanh Tịnh Độ, làm sao không văng sanh được chớ?
Những duyên sự ở thế gian, trong kinh Phật có nói:
‘Khả đắc vi thế gian sự, bất khả đắc vi thế gian ư’
(tạm dịch: Có thể làm chuyện thế gian, nhưng đừng
nên có ư tưởng của thế gian). Hai câu này nói rất
hay, chuyện thế gian có thể làm. Trong kinh Hoa
Nghiêm có nói: ‘Lư sự vô ngại, sự sự vô ngại’.
Chướng ngại ở đâu? Chướng ngại ở chỗ ‘thế gian ư’.
Thế gian ư là ǵ? Là vọng tưởng, phân biệt, chấp
trước, tất cả những thứ này bạn đừng nên có. Ư nghĩa
của hai câu này rất sâu, rất rộng.
Đức Thế Tôn thuyết pháp 49 năm, giảng kinh hơn 300
hội. Ngài đă nói những ǵ? Tức là nói những thứ này,
ngàn câu vạn chữ nói không hết; đối với người, đối
với sự việc, đối với sự vật mà tôi ‘tưởng’ như thế
nào, có ‘tưởng’ như thế nào là sai rồi, tưởng là đă
rơi vào trong ư thức; tưởng ở đây là vọng tưởng.
Như vậy th́ bạn sẽ hỏi có người nào mà không có ư
tưởng như vậy? Rất tiếc là bạn chưa gặp qua, bạn đă
gặp toàn là phàm phu, cho nên bạn đem sự việc này
coi rất b́nh thường.
Tại sao chư Phật Bồ Tát không có cách suy tưởng như
vậy? Chư Phật Bồ Tát biết được ‘vạn pháp giai không’
(tất cả pháp đều là không). Trong kinh Kim Cang có
nói ‘Tam tâm bất khả đắc’ (ba thứ tâm không thể có
được). Năng tưởng (những ǵ có thể tưởng) được đều
là không; ‘Chư pháp duyên sanh, duyên sanh tánh
không’ (tạm dịch: tất cả pháp đều do nhân duyên mà
sanh ra, bản tánh của nhân duyên sanh là không). Sở
tưởng (đối tượng để tưởng) đều là không. Như thế họ
c̣n tưởng cái ǵ nữa? Không tưởng nữa! Tuy không
tưởng nhưng lúc đối phó giải quyết công việc đều có
thể làm được rất chu đáo. Họ làm sao có thể làm chu
đáo như vậy? Đó là nhờ trí huệ đă phát sanh.
Chúng ta nêu ra một thí dụ, các bạn xem những lời
Phật nói trong kinh điển có hay không? Rất có thứ
tự, ư nghĩa rất mạch lạc, một chút cũng không rối
loạn. Không kể là nói lư hay nói sự, câu nào cũng
đều là đạo. Đức Phật có bao giờ khởi lên một ư
tưởng: ‘Hôm nay tôi phải giảng cách nào đây?’ Không
có! Không khởi tâm, không động niệm, hoàn toàn thuận
theo tự tánh, từ trong tâm tánh tự nhiên tuôn trào
ra. Sự việc là như vậy đó.
Chúng ta khởi tâm động niệm măi, rốt cục rồi cũng
đều thiếu sót đủ thứ, nói như thế nào đi nữa cũng
không lưu loát bằng người khác, chữ nghĩa viết làm
sao cũng không bóng bảy bằng người khác. Cho nên học
Phật phải học chỗ không khởi tâm, không động niệm,
không phân biệt, và không chấp trưóc. Tất cả dùng
tâm chân thành, tâm chân thành tự nhiên sẽ sanh ra
trí huệ, tự nhiên được chư Phật gia tŕ. Gia tŕ ở
đây nghĩa là chư Phật hộ niệm lo lắng cho.
Tâm chân thành là tâm Phật, tâm bạn cùng tâm Phật
giống nhau; tứ hoằng thệ nguyện là giống với nguyện
của chư Phật. Tâm nguyện giống nhau, đức tâm giống
nhau, chúng ta thể hội ư nghĩa này được chưa? Trong
sanh hoạt thường ngày có thể làm được mấy phần? Đây
là lư do tại sao chúng ta tu hành công phu không
được đắc lực, không thể cải thiện được đời sống sanh
hoạt của chúng ta. Nguyên nhân là ở chỗ đó!
Phản tỉnh và kiểm điểm kỹ lại mới biết chúng ta đă
làm sai. Chúng ta hôm nay tùy thuận theo phiền năo,
tùy thuận theo tập khí (thói quen). Phiền năo là
tham, sân, và si, chúng ta tùy thuận những thứ này.
Khi mắt thấy màu sắc, tai nghe âm thanh, nếu hợp ư
th́ khởi tâm tham, khởi tâm ngạo mạn lên; ngược lại
nếu không vừa ư th́ nổi tâm sân giận lên; tất cả đều
là ngu si!
Cho nên bên ngoài h́nh như có học Phật, nhưng thực
ra khi đối xử với người, tiếp xúc với sự vật, khi
khởi tâm động niệm một tí ǵ cũng không sửa đổi hết.
Chữ ‘thọ tŕ’ trong kinh Phật dạy, chúng ta không
những không làm được, không những không hiểu nghĩa
của hai chữ này, lại c̣n hiểu sai nữa! Chúng ta cứ
tưởng là mỗi ngày đem kinh ra đọc một lần th́ kể là
đă ‘thọ tŕ’, bạn nói như vậy là sai đến mức nào
rồi!
Nếu muốn công phu được đắc lực, thật t́nh mà nói,
công phu đắc lực tức là cải thiện đời sống của chúng
ta; không những cải thiện đời sống chúng ta hiện
nay, mà c̣n cải thiện đời sau nữa; ư nghĩa này rất
sâu rộng. Y theo cách sống hiện nay của chúng ta,
dựa trên những ǵ Phật nói trong kinh điển Đại thừa
và Tiểu thừa, khi chúng ta đă mất thân người, nếu
muốn có lại thân người rất khó, rất khó! Mất thân
người rồi sanh đi đâu? Phần đông là đọa vào ba đường
ác hết.
Làm sao biết đọa vào ba đường ác? Chỉ cần nghe người
ta thường nói một câu th́ hiểu ngay, câu nói ǵ vậy?
‘Chết đi làm quỷ!’ Mọi người đều nghĩ chết rồi th́
đi làm quỷ. Chưa bao giờ nghe nói chết đi trở lại
làm người, chỉ nghe nói chết đi làm quỷ mà thôi.
Phật nói với chúng ta một chân lư ‘Nhất thiết pháp
tùng tâm tưởng sanh’ (Tất cả các pháp đều do tâm
tưởng sanh ra). Mọi người nghĩ là chết đi đều làm
quỷ hết; bạn có cái ư tưởng này, có cách suy nghĩ
như vậy, th́ bạn nhất định sẽ đi làm quỷ. Có được
mấy người nghĩ rằng sau khi chết trở lại làm người
hoặc là sanh lên trời, thành Phật thành Bồ Tát; cách
nói này rất ít khi nào nghe đến! Luôn luôn nghe nói
chết đi làm quỷ thôi. Chúng ta đừng tưởng câu nói
này rất b́nh thường chưa chắc là đúng. Thật ra câu
nói này rất đúng và rất b́nh thường.
Tất cả các pháp đều do tâm tưởng sanh ra. Kinh Hoa
Nghiêm có nói: ‘Duy tâm sở hiện, duy thức sở biến’
(tạm dịch: Từ tâm hiện ra, từ thức biến ra). Đây
cũng giải thích rơ lời của Phật nói rằng người chết
đi rồi muốn được thân người trở lại rất khó. Hơn nữa
phải y theo nguyên tắc trong kinh Phật nói, đời sau
muốn được thân người trở lại nhất định phải làm tṛn
năm giới. Năm giới cũng giống như ‘ngũ thường’ trong
Nho Giáo, nội dung cũng giống như vậy.
Ngũ thường là: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Nhân là
nhân từ, bạn có làm được không? Đối với người với
vật bạn có nhân từ không?
Nghĩa là đối với người, với sự việc, bạn có tận tâm
làm hết nghĩa vụ chưa? Tuy có nhận tiền công nhưng
không coi trọng mà nghĩ đó đều là phận sự công tác
của ḿnh, ḿnh phải tận tâm tận lực đi làm cho đàng
hoàng. Đây là đạo nghĩa, không phải dựa trên tiền
công mà ḿnh nhận được, nếu tiền nhiều th́ làm nhiều
một chút, tiền ít th́ làm xong là được rồi. Người
như vậy không có nghĩa.
Lễ, giữa người với người phải dùng lễ để đối xử với
nhau.
Trí là lư trí, không dùng cảm t́nh để xử sự.
Tín là tín dụng. Trong chữ tín quan trọng nhất là
‘không gạt ḿnh, không gạt người’. Tự ḿnh gạt ḿnh
là làm trái với lương tâm. Như tục ngữ thường nói
‘không có lương tâm’. Nếu không có lương tâm th́ làm
sao có tín dụng được? Bên trong th́ làm trái với
lương tâm, bên ngoài th́ dùng trăm phương ngàn kế để
gạt người.
Phạm năm thứ nói trên th́ bạn không được thân người
nữa. Nếu bạn làm tṛn được năm điều này, tự ḿnh
không hổ thẹn với lương tâm, th́ đời sau sẽ được
thân người trở lại. Chúng ta coi người trong xă hội
hiện nay rồi tự ḿnh xét lại, quan trọng nhất là
phải tự ḿnh phản tỉnh, ḿnh có làm tṛn hết không?
Ḿnh đời sau có được thân người trở lại hay không?
Nếu không có nhân, nghĩa, lễ, trí, tín th́ đời sau
nhất định phải đọa vào ba đường ác!
Đoạn trước có nói phần đông người ta chết rồi đều đi
làm quỷ. Trong sáu nẻo luân hồi không đi đường khác
mà phải chọn đường ngạ quỷ. V́ có cách nói như vậy
nên cũng có đạo lư của nó. Điều kiện của đường ngạ
quỷ là tâm tham: tham danh, tham lợi, tham tài, tham
sắc, tham nhiều thứ lắm; chỉ cần tâm tham nặng đều
là nghiệp nhân của đường ngạ quỷ.
Tâm sân giận và đố kỵ nặng là nghiệp nhân của địa
ngục. Không có trí huệ, không thể phân biệt chánh và
tà, chân và vọng, thiện và ác là nghiệp nhân của súc
sanh. Tham, sân, và si là nghiệp nhân của ba đường
ác.
Chúng ta phản tỉnh thử xem chúng ta có tham, sân, si
không?
Ư niệm tham, sân,
si này nặng hay không?
Nếu ư niệm này nặng, bạn phải cẩn thận cảnh giác đi,
tương lai là một màu đen tối! Chúng ta muốn niệm
Phật cầu sanh Tây phương Cực Lạc thế giới, nhất định
phải diệt trừ tham, sân, si, phải chuyên cần tu tập
ba thứ tư lương là tín, nguyện, hạnh. Nếu y theo lời
dạy mà tu hành, đời này chúng ta sẽ không bỏ phí
qua. Nhân duyên của chúng ta trong đời này thật là
rất thù thắng, có thể gặp được Phật pháp chân chánh,
lại có thể gặp được pháp môn thù thắng nhất là pháp
môn Tịnh Độ.
Cái duyên này thiệt là không thể nghĩ bàn; kệ khai
kinh có nói ‘Bá thiên vạn kiếp nan tao ngộ’ (trăm
ngàn muôn kiếp cũng khó gặp được), cư sĩ Bành Tế
Thanh có nói: ‘Vô lượng kiếp lai hy hữu nan phùng
chi nhất nhật’ (một ngày rất hiếm rất khó gặp trong
vô lượng kiếp qua). Chúng ta hôm nay cố nhiên đă gặp
được, thiện căn phước đức nhân duyên có đầy đủ rồi,
nếu tự ḿnh không thể nắm lấy cơ hội mà để nó trôi
qua, đó thiệt là rất đáng tiếc!
Hôm nay chúng ta tiếp tục đàm luận những chướng ngại
trong sự hành tŕ của chúng ta, thiệt t́nh mà nói,
Thế tôn đúng là một người có trí huệ bậc nhất. Giống
như những người trong các tôn giáo khác khen ngợi
‘Thần’ là ‘Không có ǵ không biết, không có ǵ là
không có khả năng làm được’. Sau khi Phật diệt độ
hai ngàn năm trăm năm, những chướng ngại của chúng
sanh đời mạt pháp, Thế tôn năm xưa trong lúc giảng
kinh thuyết pháp đă có nói qua hết, nếu không có trí
huệ siêu việt th́ không thể nói ra được.
C. CHƯỚNG NGẠI CỦA HÀNH GIẢ:
Người hiện nay tạo tội nghiệp có thể nói là rất phổ
biến, tất cả đều đem việc này coi thành việc thông
thường, cho nên riết rồi không ai để ư và quan tâm
đến, mà không biết quả báo rất đáng sợ. Không kể
xuất gia hay tại gia, có mấy người học Phật đă thiệt
giác ngộ, thiệt hối cải rồi? Trong kinh, Phật cũng
nói những người này rất hiếm, rất ít có, nhưng không
thể nói không có, chỉ nói là rất hiếm mà thôi. Chúng
ta tự hỏi ḿnh có phải là một trong thiểu số những
người đức Phật nói ở trên. Đây là điều chúng ta nên
giác ngộ, nên thức tỉnh, phải thành thật mà phản
tỉnh và kiểm điểm lại.
Lúc đức Phật c̣n tại thế, đă có một số Bồ Tát tỏ ra
rất ngu xuẩn không có trí huệ, tạo ra rất nhiều tội
nghiệp, cho dù muốn tu hành nhưng chướng ngại quá
nhiều. Họ có phải thiệt là như vậy không? Chúng ta
suy nghĩ xem những việc đó chưa chắc đă là thiệt. V́
Thế tôn năm xưa xuất hiện tại thế gian này, có rất
nhiều vị cổ Phật hoặc đại Bồ Tát trở lại giúp đỡ cho
Phật để hoằng pháp độ sanh. Họ thị hiện trong chúng
Tỳ Kheo, chúng Bồ Tát, và người hộ pháp, không kể họ
có hành vi thuận hoặc nghịch đều là cố ư làm ra. Tại
sao phải làm như vậy? V́ muốn dạy cho tất cả chúng
sanh, đây thiệt là đại từ đại bi.
Nếu không có những sự tiêu biểu (thị hiện) này, rất
nhiều pháp đức Phật không thể nói ra được. V́ đức
Phật nói pháp đều là tùy cơ mà nói; những sự thị
hiện của các vị nói trên đều là thay mặt chúng sanh
mà thỉnh pháp. Có người th́ trực tiếp hỏi, đây gọi
là ‘ngôn ngữ thỉnh pháp’; có người cố ư tạo ra những
ác hạnh, để cho Phật thấy được mà lại khai đạo (dạy)
giáo huấn, đây là dùng thân nghiệp để thỉnh pháp.
Ngoại trừ dùng thân nghiệp và khẩu nghiệp để thỉnh
pháp, ư nghiệp cũng có thể thỉnh pháp. Chúng ta cũng
thường thấy trong kinh điển Đại thừa, chúng đệ tử
vừa khởi tâm động niệm, tuy chưa nói ra Phật đă biết
được. Giống như trong kinh Vô Lượng Thọ, đoạn nói về
vua A Xà Thế, họ dùng ‘niệm’ để thỉnh pháp. Trong
tâm có niệm như vậy, chưa nói ra Phật đă kể lại nhân
duyên của họ trong đời quá khứ. Do đây có thể biết
thân, ngữ, ư ba nghiệp đều có thể thỉnh pháp.
Cho nên khi chúng ta biết được điểm này, chúng ta
không thể dùng tâm khinh mạn để xem xét những mật
hạnh của hàng Tỳ Kheo, Bồ Tát. Nhất định phải biết
họ là v́ đại từ đại bi thay thế chúng ta để thỉnh
pháp. Những ǵ họ biểu hiện ra đều là những ư ác,
khẩu ác, hành ác của chúng ta hiện nay. Nếu không có
sự thỉnh cầu của họ th́ sẽ không có sự giảng dạy của
Phật, chúng ta làm sao biết được là ḿnh đă phạm lỗi
lầm? Biết được ḿnh đă phạm lỗi lầm rất nghiêm
trọng?
Chúng ta sơ lược cử ra một thí dụ trong kinh, chuyện
này chúng ta rất thường nhắc lại trong những buổi
giảng kinh. Tuy thường nhắc lại nhưng nhiều khi cũng
bị mọi người quên mất. Đó là tùy tâm vui vẻ của ḿnh
hoặc tùy tâm ưa thích của ḿnh mà chửi mắng, phỉ
báng, sỉ nhục người khác, mà không biết sự đáng sợ
của nghiệp tội này.
Trong kinh, Phật đă kể lại chuyện của một người xuất
gia lúc Phật c̣n tại thế, chứ không phải thời mạt
pháp hiện giờ. Người xuất gia này ỷ là ḿnh học
rộng, thường nghe Phật giảng kinh thuyết pháp, nghe
nhiều nên sanh tâm kiêu ngạo cũng giống như người
hiện nay thường nói ‘điều này đáng được hănh diện’.
Lúc Phật c̣n tại thế, vị này tu học rất tốt, tŕ
giới thanh tịnh, nghe kinh rất nhiều, cho nên rất
kiêu ngạo. Kiêu ngạo là phiền năo, bạn thấy vị này
không sanh trí huệ mà lại sanh phiền năo, vậy là sai
rồi.
C̣n một loại người tu hành, tuy không có tâm kiêu
mạn, họ tu khổ hạnh, muốn ít, biết đủ, điều này rất
quư. Cũng giống như đời sau này những người [ẩn tu]
trong núi, trong túp lều tranh; so với những người
khác những người tu hành này quả thật thân tâm thanh
tịnh hơn nhiều. Tuy nhiên họ lại chấp tướng, chấp
tướng th́ sai rồi. Trong kinh Kim Cang nói rất hay:
‘Nếu Bồ Tát có ngă tướng, nhân tướng, chúng sanh
tướng, thọ giả tướng th́ không phải Bồ Tát’. Phật
không thừa nhận người như vậy là Bồ Tát. Chúng ta
nghĩ coi lúc đức Phật c̣n tại thế đă như vậy huống
ǵ là thời mạt pháp bây giờ, đă hai ngàn năm trăm
năm qua rồi.
Lúc Thế Tôn c̣n tại thế, có thể nói cả đời đều dùng
để giảng kinh thuyết pháp, ngài thuyết pháp hết 49
năm. Lúc đó khoa học kỹ thuật c̣n chưa phát triển,
cách xa nơi Phật thuyết pháp th́ không thể nghe
pháp, v́ vậy cơ hội nghe pháp thiệt là rất hiếm hoi.
Cho nên Thế Tôn thường phái những đệ tử xuất gia và
tại gia biết giảng kinh thuyết pháp đi khắp nơi để
thay thế Phật hoằng pháp lợi sanh. Có thể nói là
những vị này trong lớp học của Phật dạy đă tốt
nghiệp ra trường. Họ có thể giảng kinh, biết phương
pháp tu hành, cũng tu được rất tốt, cho nên được
phái đi khắp nơi để giảng kinh thuyết pháp.
Trí huệ và phước đức của đức Phật đều viên măn đương
nhiên sẽ được tất cả mọi người cung kính. Những học
tṛ của đức Phật được phái đi giảng kinh đa số cũng
được quần chúng tôn kính, nhưng cũng có một số ít
không được như vậy, mà c̣n bị người ta khinh khi và
phỉ báng nữa.
Chúng ta biết phiền năo tập khí của chúng sanh trong
lục đạo rất nặng. Những thứ phiền năo như tham, sân,
si, mạn, đố kỵ không cần học cũng có v́ những thứ
này đều là phiền năo tích lũy từ nhiều đời trước;
khi thấy người khác xuất sắc hơn ḿnh, trong tâm
liền không phục, từ đó liền kiếm mọi cách đi phá
hoại. Những chuyện như vậy trong đời mạt pháp hiện
nay c̣n nhiều hơn hồi trước rất nhiều, bất cứ chỗ
nào, bất cứ lúc nào chúng ta đều có thể thấy được.
Hoằng pháp lợi sanh là chuyện tốt. Tuy nhiên chuyện
tốt th́ sẽ gặp nhiều ma chướng. Ma chướng là những
chuyện rắc rối, tuy làm chuyện tốt nhưng bạn sẽ gặp
rất nhiều chuyện cản trở, chuyện rắc rối xảy ra.
Phật nói thời bấy giờ có hai vị tỳ kheo được Phật
phái đi thuyết pháp. Nếu pháp sư có đức hạnh, có
biện tài, có thiện xảo, tự nhiên sẽ được tín chúng
ưa chuộng. Pháp duyên của hai vị pháp sư này rất thù
thắng, tín chúng rất đông, đương nhiên cúng dường
cũng rất nhiều. Những vị pháp sư khác nh́n thấy th́
trong tâm không mấy ǵ vui, sanh tâm đố kỵ và t́m đủ
mọi cách để gây chướng ngại cho hai vị này. Cho nên
họ mới bịa chuyện nói là hai vị đó phá giới, nói họ
chỉ biết nói mà không biết làm, nói họ đă phạm bốn
trọng giới (bốn giới chính là sát sanh, trộm cắp,
dâm dục, và nói dối).
Có người đi dèm pha bịa chuyện rồi nói cho người
khác nghe; có người phỉ báng, đi nói xấu hai vị này
khiến cho người nghe sanh tâm hoài nghi, mất ḷng
tin đối với pháp sư. Từ đó pháp duyên của hai vị này
dần dần giảm bớt, người nghe cũng bớt đi không ít.
Những người đố kỵ đă đạt được mục đích, đă thành
công trong việc phá hoại và gây chướng ngại cho hai
vị pháp sư kể trên.
Tuy nhiên Phật nói ác nghiệp của người đố kỵ, phỉ
báng, phá hoại hai vị pháp sư kể trên quá nặng, quả
báo của người đó là đọa địa ngục A Tỳ sáu triệu năm,
sáu triệu năm này là dùng thời gian của chúng ta mà
tính. Người Trung Quốc có 5000 năm lịch sử, các vị
thử nghĩ xem 5000 năm chỉ là một nửa của một vạn
năm. Thời gian đọa địa ngục của người đó là gấp 1200
lần nhiều hơn 5000 năm của lịch sử Trung Quốc.
Sau sáu triệu năm trong địa ngục A Tỳ hết rồi, tội
của người đó cũng chưa tiêu hết, tội nặng báo hết
nhưng c̣n tội nhẹ c̣n lại, cho nên chuyển đến địa
ngục Đẳng Hoạt chịu tội thêm 4 triệu năm nữa. Sau đó
sanh đến địa ngục Hắc Thằng chịu 2 triệu năm. Tiếp
theo lại chuyển đến địa ngục Thiêu Nhiệt (sự trừng
phạt ở đây nhẹ hơn) chịu thêm 6 triệu năm. Tổng cộng
là 18 triệu năm. Câu chuyện này là do Phật thuật
lại. Kinh Kim Cang có nói: ‘Như Lai thị chân ngữ
giả, thật ngữ giả, như ngữ giả, bất cuống ngữ giả,
bất dị ngữ giả’ (tạm dịch: Như Lai là người nói lời
chân thật, lời đúng như thế, người không nói lời lừa
gạt, không nói lời khác biệt). Phật tuyệt đối không
nói một lời giả dối.
Chúng ta thử nghĩ coi tạo những thứ nghiệp này rất
dễ dàng, tại sao lại mắc phải tội nặng như vậy? Điều
này thiệt làm cho chúng ta suy nghĩ không ra, h́nh
như chịu tội như vậy là quá nặng, không hợp lư tí
nào. Thật ra nếu chư vị đọc kỹ giới kinh th́ sẽ
hiểu, trong Phật pháp sự định tội không phải do một
người nào đó đặt ra, không như trong thế gian có
pháp luật, có quan ṭa xử án; trong Phật pháp không
có, chư Phật Bồ Tát không làm quan ṭa, không làm
thẩm phán; trong Phật pháp không giống như pháp luật
trong thế gian, không có định ra phải trừng phạt tội
nhân như thế nào; chư Phật Bồ Tát đều rất từ bi.
Nếu thế th́ tại sao lại có những thứ nghiệp tội như
vậy? Tội này được gọi là ‘tánh tội’, thật là tự làm
tự chịu. Địa ngục ở đâu? Địa ngục là tội báo của
người ta tự nhiên biến hiện ra chứ không phải có ai
tạo ra một cái địa ngục để cho người ta vào chịu
tội. Chư Phật Bồ Tát không làm những chuyện như vậy,
chư thiên, quỷ, thần cũng không làm những chuyện
này, Diêm La Vương cũng không làm những chuyện này.
Lăo cư sĩ Châu Kính Trụ có thuật lại một câu chuyện
và sau này cũng có viết trong một quyển sách, h́nh
như tựa là ‘Bát Đại Nhân Giác Kinh Giảng Kư’. Nội
dung của câu chuyện nói đến nhạc phụ của ông là ông
Chương Thái Diệm. Ông Chương giữ chức ‘Quốc Học Đại
Sư’ vào thời Dân quốc và trước đó đă làm ‘phán quan
của Đông Ngục’. Đông Ngục Đại Đế (vua của Đông Ngục)
là Đại Quỷ Vương, quyền lực của ông vua này chỉ thua
Diêm La Vương một bậc. Chức phán quan cũng tương tợ
như chức bí thư trưởng hiện nay, địa vị này cũng rất
cao. Ông Chương là người học Phật, nghe nói trong
địa ngục có h́nh phạt gọi là ‘bào lạc’, ‘bào lạc’ là
đem cột sắt đốt đỏ rực lên rồi bắt tội nhân đi ôm
cột sắt nóng đó. Ông Chương nói h́nh phạt này quá
tàn nhẫn và đề nghị Quỷ Vương của Đông Ngục nên bải
bỏ h́nh phạt này.
Ông vua Đông Ngục không trả lời, mỉm cười và sai hai
chú tiểu quỷ dẫn ông Chương đi đến chỗ tội nhân bị
hành h́nh để xem; hai chú tiểu quỷ này bèn dẫn ông
Chương đi một nơi rất xa rồi chỉ về một phía và nói:
“Ở phía trước ḱa”. Nhưng ông lại nh́n không thấy ǵ
hết; từ đó ông mới hiểu h́nh phạt đó không phải do
người nào lập nên mà từ trong tự tánh biến hiện ra,
chuyện này hoàn toàn phù hợp với những ǵ nói trong
Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện.
Trong kinh nói địa ngục chỉ có hai loại người có thể
thấy được, một là người tạo tội đi chịu trừng phạt
biến hiện ra; c̣n loại thứ hai là Bồ Tát đi vào địa
ngục để cứu chúng sanh. Không phải hai loại này, địa
ngục ở ngay trước mặt bạn cũng không thấy được, cho
nên ông Chương nh́n không thấy. Như vậy mới nói rằng
đây không phải vấn đề tàn khốc và nhân từ, mà là tội
tánh biến hiện ra quả báo.
Cũng giống như một người thường ngày hay làm ác, ban
đêm thường có ác mộng. Ai làm cho họ có những ác
mộng như vậy? Là tự tánh của họ biến hiện ra, tuyệt
đối không phải là người khác tạo ra ác mộng để cho
người đó chịu, là tự người đó biến hiện ra.
Tội từ đâu h́nh thành nặng như vậy? Phật nói với
chúng ta, đối tượng của tội mà người kể ở trên tạo
ra không phải là đối với hai vị pháp sư. Nếu bạn phỉ
báng hai người này, thật t́nh mà nói không phải là
tội nặng lắm. Tội là từ chỗ nào mà tính? Là từ chỗ
tất cả những tín đồ thính chúng ở trong khu vực này
v́ những lời phỉ báng đó mà không tin Phật, không
chịu nghe Phật Pháp nữa, không chịu noi theo Phật
Pháp mà tu hành. Họ đem thiện căn của những người
trong khu vực này đoạn mất, đem pháp thân huệ mạng
của những chúng sanh này đoạn dứt. Tội là từ chỗ này
mà tính, v́ thế nên tội này rất nặng.
Trong kinh Phật nói giết người đoạt mất thân mạng
người là chuyện nhỏ. Bạn giết đi một người, 49 ngày
sau họ đi đầu thai trở lại. Một người bị giết đi rất
dễ lấy được thân người trở lại, v́ bị giết không có
tội, chỉ có người đi giết người mới có tội. Trong
đời này tôi được thân người, nhờ tôi c̣n một chút
phước thừa, tuy bị người khác giết đi, 49 ngày sau
đầu thai cũng có thể làm người trở lại. Đời sau c̣n
có thể tiếp tục hưởng phước. Cho nên giết người lấy
mạng người th́ tội nhẹ, tội làm mất huệ mạng của
người mới nặng.
Nghe được Phật pháp không phải dễ, cơ duyên này thật
là rất khó được, rất khó gặp. Trong kinh có nói
‘Nhân thân nan đắc, Phật pháp nan văn’ (nghĩa là
Thân người khó được, Phật pháp khó được nghe). Nghe
|