Có
người cho rằng Tịnh Độ Giáo thuộc về hành môn
không phải lư môn, nghĩa là Đức Thích Ca chỉ trần
thuật cảnh Cực Lạc, rồi khuyên người niệm Phật để
cầu sanh, không thiệp đến phần lư thuyết. Nhưng
thật ra, lư để đi đến hành, trong hành tức đă có
ẩn phần giáo lư. Vă lại pháp môn của Đức Phật chia
làm Không Tông, Hữu Tông, Hiển Giáo, Mật Giáo, tất
cả đều nương tựa và làm sáng tỏ cho nhau. Cho nên
nếu nhận định rằng: không có Duy Thức hay Thiền,
th́ Mật và Tịnh Độ thành ra thần quyền mê tín,
hoặc không có Tịnh Độ cùng Mật, tất Duy Thức và
Thiền thành ra lư thuyết trệ không, đều là biết
qua các tông phái Phật Giáo bằng lối nh́n phiến
diện. Chẳng hạn như bên Thiền Tông, tuy chỉ dạy
tham một câu thoại đầu, nhưng trong ấy đă hàm ẩn
vô biên đạo lư. Tịnh Độ Tông cũng thế, một câu
niệm Phật gồm cả Thiền, Giáo, Luật, Mật, nên cổ
đức đă phán định pháp môn nầy thuộc về đốn giáo.
Và Ngẫu Ích Đại Sư, một vị đích truyền thuộc phái
Thiên Thai, cũng bảo: 'Một câu Phật hiệu nếu niệm
cho thuần thục, th́ ba ngàn oai nghi tám muôn tế
hạnh, bao nhiêu công án của Thiền Tông và đạo lư
cực tắc của Giáo môn đều ở trong đó.'
Để chứng minh câu niệm Phật hàm đạo lư nhiệm mầu,
và giải mối nghi cho những vị t́m hiểu cùng hành
tŕ về môn nầy, bút giả xin phiên dịch quyển Thập
Nghi của ngài Trí Giả, tập Hoặc Vấn của ngài Thiên
Như, họp lại tạm lấy nhan đề là Tịnh Độ Quyết Nghi
Luận. Trong đây phần nhiều bàn giải những nghi vấn
hơi cao, đáng lẽ bút giả phải phụ thích thêm những
nghi điểm thông thường về Tịnh Độ, song v́ tự thân
kém sức khỏe lại Phật sự bận nhiều, nên xin hẹn
chờ dịp khác.
Nội dung quyển nầy trừ một vài điểm phụ giải có
ghi chú, ngoài ra toàn là những luận thích của bậc
danh đức. Học giả có thể đặt niềm tin tưởng nơi cổ
huấn, mà mở đường vào Tịnh Độ Huyền Môn.
Liên Du Thích Thiền Tâm
1
Hỏi:- Chư Phật Bồ Tát lấy
đại bi làm sự nghiệp. Vậy người đă phát tâm Bồ Đề,
nếu muốn cứu độ chúng sanh, chỉ nên nguyện sanh
trong ba cơi, ở nơi đời ngũ trược, vào ba đường ác
mà cứu khổ cho các hữu t́nh. Tại sao chúng ta đă
học theo Phật, lại xa rời chúng sanh, tự sống
riêng một cuộc đời yên ổn? Đó có phải là thiếu
ḷng từ bi, chuyên lo tự lợi và trái với đạo Bồ Đề
chăng?
Đáp:- Bồ Tát có hai hạng. Thứ nhất, bậc tu Bồ Tát
Đạo đă lâu, chứng được Vô Sanh Pháp Nhẫn. Với
những vị nầy, đem lời đó trách th́ đúng. Thứ nh́,
bậc chưa chứng Vô Sanh và hàng phàm phu mới phát
tâm Bồ Tát. Những vị sau nầy cần phải thường không
rời Phật, mới thành tựu được nhẫn lực và có thể ở
trong ba cơi, vào nơi đời ác để cứu độ chúng sanh.
Cho nên Luận Trí Độ nói: 'Hạng phàm phu c̣n đủ mọi
sự ràng buộc, dù có ḷng đại bi, nhưng vội muốn
sanh trong đời ác để cứu chúng hữu t́nh khổ năo,
đó là điều không hợp lư.' Tại sao thế? V́ trong
cơi đời ác trược, nghiệp phiền năo mạnh mẽ lẫy
lừng. Khi ấy, ḿnh đă không có nhẫn lực, tất tâm
sẽ tùy cảnh mà chuyển, rồi bị sắc, thanh danh, lợi
trói buộc, sanh ra đủ nghiệp tham, sân, si. Chừng
đó tự cứu đă không rồi, nói chi là cứu chúng sanh?
Giả sử được sanh trong cơi người th́ cảnh xấu ác
kẻ tà ngoại dẫy đầy, người chánh chơn khó gặp, cho
nên Phật Pháp không dễ ǵ nghe, Thánh Đạo không dễ
ǵ chứng.
Nếu người nhân bố thí, tŕ giới, tu phước được làm
bậc quyền quư, mấy ai không mê đắm cảnh giàu sang,
buông lung trong trường dục lạc?
Lúc đó dù có bậc Thiện Tri Thức khuyên bảo, họ
cũng không chịu tin làm theo, lại v́ muốn thỏa măn
ḷng tham dục của ḿnh, nương quyền thế sẵn có,
gây ra nhiều tội nghiệp. Đến khi chết rồi, bị đọa
vào tam đồ trải qua vô lượng kiếp, khi khỏi tam đồ,
sanh được làm người, phải thọ thân bần tiện; nếu
không gặp Thiện Tri Thức lại mê lầm gây tội ác,
rồi bị đọa nữa. Từ trước đến nay chúng sanh luân
hồi đều ở trong t́nh trạng ấy. Đây gọi là nan hành
đạo vậy. Kinh Duy Ma cũng nói: 'Chính bịnh của
ḿnh c̣n không tự cứu được, đâu có thể cứu được
bịnh cho kẻ khác.'
Luận Trí Độ cũng nói: 'Ví như hai người, mỗi kẻ
đều có thân nhân bị nước lôi cuốn; một người tánh
gấp nhảy ngay xuống nước để cứu vớt, nhưng v́
thiếu phương tiện nên cả hai đều bị đắm ch́m. Một
người sáng tỉnh hơn vội chạy đến lấy thuyền bơi ra
cứu vớt, nên cả hai đều không bị nạn trầm nịch.'
Bậc Bồ Tát mới phát tâm v́ chưa đủ nhẫn lực nên
không thể cứu chúng sanh, cũng như người trước.
Những vị Bồ Tát thường gần gũi Phật chứng được Vô
Sanh Nhẫn, mới có thể nhập thế và cứu độ vô lượng
chúng sanh cũng như người sau. Như trẻ thơ không
nên rời mẹ, nếu rời mẹ th́ hoặc rơi vào hầm giếng,
té xuống sông đầm, hoặc đói khát mà chết. Lại như
chim non chưa đủ lông cánh, chỉ có thể nhảy chuyền
theo cành cây; đợi chừng nào lông cánh đầy đủ, mới
có thể bay xa, thong thả vô ngại. Phàm phu không
nhẫn lực, chỉ nên chuyên niệm Phật A Di Đà cho
được nhất tâm, đợi khi tịnh nghiệp thành tựu, lúc
lâm chung sẽ được Phật tiếp dẫn văng sanh, quyết
định không nghi. Khi thấy Đức A Di Đà chứng quả Vô
Sanh rồi, chừng ấy sẽ cỡi thuyền Pháp Nhẫn vào
biển luân hồi cứu vớt chúng sanh, mặc ư làm vô
biên Phật sự.
Cho nên bậc bi tâm hành giả, như muốn giáo hóa nơi
địa ngục, vào biển trầm luân, nên chú ư đến nhân
duyên cầu sanh Tịnh Độ. Điều nầy Thập Trụ Tỳ Bà Sa
Luận gọi là Dị Hành Đạo.
2
Hỏi:- Thể của Pháp là
không, xưa nay vẫn vô sanh và b́nh đẳng vắng lặng.
Nếu bỏ Ta Bà cầu về Cực Lạc, há chẳng là trái lư
ư? Lại trong Kinh nói: 'Muốn cầu về Tịnh Độ, trước
phải tịnh tâm ḿnh; tâm ḿnh thanh tịnh, cơi Phật
mới thanh tịnh.' Người cầu sanh Tịnh Độ, cũng
chẳng là trái lư này?
Đáp:- Vấn đề ấy có hai nghĩa. Xin phân làm tổng
đáp và biệt đáp.
Về phần tổng đáp, nếu ông cho rằng cầu về Tịnh Độ
tức là bỏ đây t́m kia, không hợp với lư b́nh đẳng
như như. C̣n ông chấp Ta Bà không cầu về Cực Lạc,
há lại không bị lỗi bỏ kia chấp đây sao? Nếu ông
bảo: 'Tôi không cầu kia cũng không chấp đây' th́
lại mắc lỗi đoạn diệt. Cho nên Kinh Kim Cang Bát
Nhă nói: 'Tu Bồ Đề! Ông đừng nghĩ rằng nói phát
tâm Vô Thượng Bồ Đề là đoạn diệt hết tướng của các
pháp. Tại sao thế? V́ phát tâm Vô Thượng Bồ Đề,
đối với các pháp không nói tướng đoạn diệt.'
Về phần biệt đáp, như ông đă gạn về lư Vô Sanh và
tâm tịnh, tôi xin giải thích. Vô Sanh cũng chính
là lư bất sanh bất diệt. Bất sanh là các pháp giả
hợp của sanh duyên không tự tánh, nên không thật
có sanh thể và thời gian sanh. Xét ra không phải
thật từ đâu mà đến, nên gọi là bất sanh. Bất diệt
là khi các pháp hoại diệt cũng không tự tánh, nó
không bảo rằng ḿnh hoại diệt. V́ nó không thật có
chỗ đi về nên gọi là bất diệt. Cho nên lư Vô Sanh
hay bất sanh diệt không phải ngoài các pháp sanh
diệt mà có. V́ thế chẳng phải không cầu sanh Tịnh
Độ mà gọi là Vô Sanh. Trung Quán Luận nói: 'Các
pháp nhân duyên sanh, ta nói chính là không, đó
gọi là giả danh, cũng là nghĩa Trung Đạo.' Lại nói:
'Các pháp không tự sanh, không từ nơi cái khác mà
sanh, không phải cộng sanh, cũng không phải vô
nhân, nên gọi là Vô Sanh.' Kinh Duy Ma nói: 'Tuy
biết các cơi Phật, cùng với hữu t́nh không, mà
thường tu Tịnh Độ, để giáo hóa quần sanh.' Lại nói:
'Ví như có người tạo lập cung thất, nếu cất ở chỗ
đất trống th́ tùy ư không ngại. Nếu muốn xây giữa
hư không, tất không thể thành. Chư Phật thuyết
pháp thường nương theo nhị đế, không phải hoại giả
danh mà nói thật tướng của các pháp.' Cho nên
người trí tuy siêng cần cầu sanh Tịnh Độ, mà rơ
sanh thể không thật có. Đây mới là chân Vô Sanh và
cũng là nghĩa tâm tịnh cơi Phật thanh tịnh. Trái
lại kẻ ngu bị cái sanh ràng buộc, nghe sanh liền
nghĩ là sanh, nghe nói Vô Sanh lại chấp là không
có sanh về nơi nào cả, đâu biết rằng sanh chính là
Vô Sanh, Vô Sanh há lại ngại v́ sanh? V́ không
hiểu lẽ ấy, họ sanh ḷng tranh chấp thị phi khinh
chê người cầu sanh Tịnh Độ, thật rất sai lầm! Đây
chính là kẻ tội nhơn báng Pháp, hạng tà kiến ngoại
đạo vậy.
3
Hỏi:- Tất cả cơi Tịnh Độ
của chư Phật ở mười phương công đức đều b́nh đẳng,
pháp tánh cũng như vậy. Người tu nên nhớ nghĩ khắp
tất cả công đức của chư Phật, cầu về các cơi tịnh
ở mười phương mới phải, sao nay lại riêng cầu Tịnh
Độ của một Đức Phật? Như thế chẳng là trái với lư
b́nh đẳng cầu sanh ư?
Đáp:- Tất cả cơi tịnh của chư Phật, thật ra đều
b́nh đẳng. Nhưng v́ chúng sanh ở cơi này phần
nhiều là kẻ độn căn trược loạn, nếu không buộc tâm
chuyên vào một cảnh, th́ Tam Muội khó thành.
Chuyên niệm Phật A Di Đà, tức là Nhất Tướng Tam
Muội, v́ tâm chuyên nhất, nên được sanh về cơi kia.
Như trong Kinh Tùy Nguyện Văng Sanh, Phổ Quảng Bồ
Tát hỏi Phật: 'Bạch Đức Thế Tôn, Mười phương đều
có Tịnh Độ, tại sao Thế Tôn lại riêng khen ngợi
cơi Tây Phương Cực Lạc và khuyên chúng sanh nên
chuyên niệm Phật A Di Đà để cầu về cơi ấy?' Phật
bảo ngài Phổ Quảng: 'Chúng sanh ở cơi Diêm Phù Đề
phần nhiều tâm trược loạn, v́ thế ta chỉ tán thán
một Tịnh Độ ở Tây Phương, khiến các hữu t́nh
chuyên tâm vào một cảnh, để cho sự văng sanh được
dễ thành tựu. Nếu nhớ niệm tất cả chư Phật, v́
niệm cảnh quá rộng, nên tâm mênh mang tán lạc, Tam
Muội khó thành, không được văng sanh. Lại sự cầu
công đức của một vị Phật cùng sự cầu công đức của
tất cả Phật không khác nhau, v́ chư Phật đồng một
pháp tánh. Cho nên niệm Phật A Di Đà tức là niệm
tất cả Phật, sanh Tây Phương Tịnh Độ, tức là sanh
tất cả Tịnh Độ. V́ thế Kinh Hoa Nghiêm nói: 'Thân
tất cả chư Phật, là thân một Đức Phật, một tâm một
trí huệ, lực vô úy cũng thế.' Lại nói: 'Ví như
trăng tṛn sáng, in bóng khắp sông hồ, ảnh tượng
tuy vô cùng, mặt trăng chỉ là một, như đấng Vô
Ngại Trí, thành bậc Đẳng Chánh Giác, ứng hiện tất
cả cơi, thân Phật không có hai.'
Tóm lại, người có trí huệ nương nơi thí dụ trên sẽ
hiểu được lư một tức tất cả, tất cả là một. Khi
hiểu được lư nầy, th́ niệm một Đức Phật, chính là
niệm tất cả chư Phật vậy.
4
Hỏi:- Mười phương đều có
chư Phật và Tịnh Độ. Nếu v́ lẽ chúng sanh ở cơi
nầy tâm tánh trược loạn, niệm nhiều vị Phật e Tam
Muội khó thành, tại sao người tu không tùy ư niệm
một Đức Phật, tùy nguyện cầu sanh về một Tịnh Độ
nào khác, hà tất phải riêng niệm Đức A Di Đà cầu
sanh về Cực Lạc
Đáp:- Phàm phu vô trí phải theo lời Phật dạy,
chẳng nên tự chuyên, v́ thế xưa nay những người tu
Tịnh Độ đều chuyên niệm Phật A Di Đà. Theo lời
Phật dạy là thế nào? Đức Thích Ca Thế Tôn một đời
thuyết pháp, hằng khuyên chúng sanh niệm Phật A Di
Đà cầu sanh về thế giới Cực Lạc. Như trong các
Kinh Vô Lượng Thọ, Quán Vô Lượng Thọ, Phật Thuyết
A Di Đà, Pháp Hoa, Hoa Nghiêm... có đến mấy mươi
bộ, Phật đều ân cần khuyên sanh về Tây Phương.
Chẳng những riêng các Kinh, mà trong các luận, chư
Bồ Tát, Tổ Sư đều bảo nên cầu sanh về Cực Lạc.
Lại nữa, Đức Phật A Di Đà có bốn mươi tám điều đại
bi nguyện lực để tiếp độ chúng sanh. Kinh Quán Vô
Lượng Thọ nói: 'Phật A Di Đà có tám mươi bốn ngàn
tướng, mỗi tướng có tám mươi bốn ngàn vẻ đẹp tùy
h́nh, mỗi vẻ đẹp phóng ra tám mươi bốn ngàn tia
sáng soi khắp pháp giới nhiếp lấy chúng sanh niệm
Phật không rời bỏ. Nếu có chúng sanh nào niệm danh
hiệu ngài, th́ cơ cảm tương ưng, quyết định sẽ
được văng sanh.' Các Kinh Phật Thuyết A Di Đà, Vô
Lượng Thọ, Cổ Âm Vương Đà La Ni đều nói: 'Khi Đức
Thích Ca thuyết Kinh, hằng hà sa chư Phật ở mười
phương đều hiện tướng lưỡi rộng dài che khắp cơi
đại thiên để chứng thật rằng nếu chúng sanh nào
niệm Phật A Di Đà, tất sẽ nương nhờ đại bi nguyện
lực của ngài, quyết định được sanh về thế giới Cực
Lạc.'
Nên biết Phật A Di Đà đối với cơi nầy có nhân
duyên lớn. Như Kinh Vô Lượng Thọ nói: 'Trong thời
mạt, khi các Kinh khác đă diệt hết, chỉ c̣n Kinh
nầy lưu trú ở đời một trăm năm để tiếp độ loài hữu
t́nh văng sanh về cơi kia.' Đây là điểm chứng minh
Phật A Di Đà đối với chúng sanh ở cơi trược nầy có
đại nhân duyên.
Về các Tịnh Độ khác, tuy một hai bộ Kinh có lược
khuyên văng sanh, song chẳng bằng cơi Cực Lạc là
tiêu điểm mà các Kinh Luận đều ân cần khuyến
hướng.
5
Hỏi:- Hàng cụ phược phàm
phu nghiệp ác sâu dày, đầy đủ tất cả phiền năo, dù
có chút ít công đức tu hành, hoặc chướng vẫn chưa
vơi được trong muôn một. Cơi Cực Lạc rất thanh
tịnh trang nghiêm, c̣n siêu việt hơn tam giới. Thế
th́ hạng phàm phu ấy làm sao văng sanh?
Đáp:- Có hai duyên: tự lực và tha lực. Về tự lực,
hàng cụ phược phàm phu ở thế giới nầy tuy có đôi
chút tu hành, thật ra chưa có thể sanh về Tịnh Độ
và xứng đáng được ở Tịnh Độ. Kinh Anh Lạc nói: 'Từ
địa vị cụ phược phàm phu chưa biết Tam Bảo và nhân
quả thiện ác, trước tiên mới phát tâm Bồ Đề phải
lấy tín làm gốc, đến khi vào Đạo Phật lại lấy giới
làm nền tảng. Hạng phàm phu nầy khi mới thọ giới
Bồ Tát, nếu mỗi đời cứ tiếp tục giữ giới như thế
không cho khuyết phạm, trải qua ba kiếp mới đến
địa vị Sơ Phát Tâm Trụ. Lại cứ như thế mà tu Thập
Tín, Thập Ba La Mật cùng vô lượng hạnh nguyện, nối
nhau không gián đoạn, măn một vạn kiếp, mới đến
ngôi đệ lục Chánh Tâm Trụ. Khi tiến lên đệ thất
Bất Thối Trụ tức là đă vào Chủng Tánh Vị, nhưng
địa vị nầy cũng chưa được sanh về Tịnh Độ. Đây là
ước về tự lực.
Về tha lực, nếu kẻ nào tin nơi nguyện lực đại bi
nhiếp lấy chúng sanh niệm Phật của Đức A Di Đà,
rồi phát ḷng Bồ Đề tu môn Niệm Phật Tam Muội,
chán thân hữu lậu trong ba cơi, thực hành bố thí,
tŕ giới cùng các phước nghiệp, mỗi hạnh đều hồi
hướng nguyện sanh Tây Phương th́ cơ cảm hợp nhau,
nương nhờ Phật lực liền được văng sanh. Cho nên
Thập Trụ Tỳ Bà Sa Luận nói: 'Có hai lối tu: Nan
Hành Đạo và Dị Hành Đạo. Nan Hành Đạo là chúng
sanh ở cơi ngũ trược trải qua vô lượng đời chư
Phật, cầu ngôi A Bệ Bạt Trí, thật rất khó được.
Nỗi khó nầy nhiều vô số như cát bụi, nói không thể
xiết. Nay chỉ kể sơ lược năm điều:
Ngoại đạo dẫy đầy, làm loạn Bồ Tát Pháp.
Bị người ác, kẻ vô lại phá hư thắng đức của ḿnh.
Dễ bị phước báo làm điên đảo, có thể khiến hoại
mất phạm hạnh.
Dễ bị lạc vào lối tự lợi của Thanh Văn, làm chướng
ngại ḷng đại từ.
Bởi duy có tự lực không tha lực hộ tŕ, nên sự tu
hành rất khó khăn, ví như người què yếu đi bộ một
ḿnh tuy rất khó nhọc, một ngày chẳng qua chỉ được
vài dặm.
Dị Hành Đạo là chúng sanh ở cơi nầy nếu tin lời
Phật, tu môn Niệm Phật nguyện về Tịnh Độ, tất sẽ
nhờ nguyện lực của Phật nhiếp tŕ, quyết định được
văng sanh không c̣n nghi. Ví như người nương nhờ
sức thuyền xuôi theo ḍng nước, tuy đường xa ngàn
dặm cũng đến nơi không mấy chốc. Lại ví như người
tầm thường nương theo luân bảo của Thánh Vương,
trong một ngày đêm có thể du hành khắp bốn châu
thiên hạ. Đây không phải do sức ḿnh, mà chính là
nhờ thế lực của Chuyển Luân Vương.'
Cũng có kẻ suy theo lư mà cho rằng hạng phàm phu
hữu lậu không thể sanh về Tịnh Độ và không thể
thấy thân Phật. Nhưng công đức niệm Phật thuộc về
vô lậu thiện căn, hạng hữu lậu phàm phu do phát
tâm Bồ Đề cầu sanh Tịnh Độ và thường niệm Phật,
nên có thể phục diệt phiền năo, được văng sanh, và
tùy phần thấy thô tướng của Phật. C̣n bậc Bồ Tát
th́ cố nhiên được văng sanh, lại thấy tướng vi
diệu của Phật, điều ấy không c̣n nghi ngờ chi nữa.
Cho nên Kinh Hoa Nghiêm nói: 'Tất cả các cơi Phật,
đều b́nh đẳng nghiêm tịnh, chúng sanh hạnh nghiệp
khác, chỗ thấy chẳng đồng nhau.' Đây là chỉ cho ư
nghĩa trên vậy.
6
Hỏi:- Hàng cụ phược phàm
phu được sanh về cơi Cực Lạc, giả sử phiền năo ác
kiến thường nổi lên, th́ làm sao được gọi là:
'vượt hơn ba cơi, lên ngôi bất thối?'
Dáp:- Người được sanh về Tây Phương, dù là hàng cụ
phược phàm phu, cũng không khi nào khởi phiền năo
ác kiến và không được lên ngôi bất thối; bởi có
năm nhân duyên:
Do nguyện lực đại bi của Phật nhiếp tŕ.
Ánh sáng của Phật thường soi đến thân, nên ḷng Bồ
Đề của chư thiên nhơn luôn luôn tăng tiến.
Chim, nước, rừng, cây gió, âm nhạc thường phát ra
tiếng pháp: khổ, không, vô thường, vô ngă; hành
giả nghe rồi sanh ḷng niệm Phật, niệm Pháp, niệm
Tăng.
Chúng sanh được sanh về Cực Lạc, th́ bạn lành toàn
là bậc Bồ Tát thượng thiện, tuyệt tất cả chướng
nạn, ác duyên, lại không ngoại đạo tà ma, nên tâm
thường an tịnh.
Đă được sanh về cơi ấy th́ thọ lượng vô cùng, đồng
với Phật và Bồ Tát, an nhiên tu tập trải qua vô
biên A tăng kỳ kiếp.
Do năm nhân duyên trên nên chúng sanh sanh về Cực
Lạc tất được bất thối chuyển và không khi nào khởi
phiền năo ác kiến. C̣n chúng hữu t́nh ở cơi ác
trược nầy, thọ số ngắn ngủi, ác duyên chướng nạn
dẫy đầy, nên rất khó được bất thối chuyển, lư ấy
đă hiển nhiên, không c̣n chi phải nghi ngờ.
7
Hỏi:- Di Lặc Bồ Tát là
bậc nhứt sanh bổ xứ, hiện ở cung trời Đâu Suất;
Ngài sẽ kế vị đức Thích Ca mà thành Phật trong
tương lai. Thiết tưởng chúng ta nên tu thượng phẩm
thập thiện cầu sanh về nơi đó để được diện kiến
Ngài. Đợi đến khi Bồ Tát giáng thế thành Phật, ta
cũng theo Ngài mà hạ sanh, trong ba hội Long Hoa
tất sẽ được chứng thánh quả. Thế th́ cần chi phải
cầu sanh về Tây Phương Tịnh Độ?
Đáp:- Cầu về Đâu Suất cũng có thể gọi là nghe đạo,
thấy Phật, gần giống như cầu về Tây Phương. Nhưng
nếu xét kỹ lại trong ấy có sự hơn kém rất xa. Xin
kể ra hai việc để luận:
1. Dù chúng ta có tu thập thiện, chưa chắc đă được
sanh về Đâu Suất. V́ Kinh Di Lặc Thượng Sanh nói:
'Hành giả phải tu các môn Tam Muội đi sâu vào
chánh định, mới được sanh lên Nội Viện thiên
cung'. Xét qua phương diện ấy, ta thấy Di Lặc Bồ
Tát không có phương tiện tiếp dẫn, đâu bằng sức
bản nguyện cùng sức quang minh của Đức A Di Đà có
năng lực nhiếp thủ và tế độ những chúng sanh niệm
Phật. Lại khi Đức Thích Ca nói về nghĩa phương
tiện tiếp dẫn trong cửu phẩm giáo môn, Ngài đă ân
cần khuyên chúng sanh nên về Cực Lạc. Phương tiện
nầy rất giản dị, hành giả chỉ cần niệm Phật A Di
Đà, cơ cảm hợp nhau, liền được văng sanh. Như ở
thế gian chiêu mộ người, nếu kẻ nào muốn gia nhập
th́ cơ hội hợp nhau, liền thành sự việc.
2. Đâu Suất thiên cung dù sao cũng ở trong Dục
giới, nên kẻ thối vị rất nhiều. Nơi ấy chim, nước,
rừng cây gió, âm nhạc không phát ra tiếng pháp, có
thể khiến chúng sanh phục diệt phiền năo nhớ nghĩ
Tam Bảo, phát ḷng Bồ Đề. Trái lại c̣n có nữ nhơn
gây tăng thượng duyên cho tâm trước nhiễm ngũ dục
của hành giả. Mà vẻ xinh đẹp của các thiên nữ ấy
lại vi diệu tuyệt vời, làm cho chư thiên đắm mê,
ít có vị nào tránh khỏi. Sao bằng cơi Cực Lạc cây
chim tuyên Diệu Pháp, gió nhạc diễn Bồ Đề, chúng
sanh nghe rồi phiền năo tiêu tan, đạo tâm tăng
tiến? Cơi Tịnh Độ của Phật A Di Đà, không có người
nữ và kẻ phát tâm nhị thừa, chỉ thuần là những
pháp lữ Đại Thừa thanh tịnh, phiền năo ác nghiệp
không thể phát khởi; như thế làm sao hành giả
không mau chứng quả vị Vô Sanh? Chỉ so sánh qua
vài điều mà sự hơn kém đă hiển nhiên, c̣n chi phải
nghi ngờ do dự?
Đến như sự gặp Phật Di Lặc được chứng thánh quả,
cũng đă vị tất! Như khi Đức Thích Ca c̣n tại thế
có biết bao nhiêu chúng sanh thấy Phật, mà vẫn
không được chứng thánh quả? Lúc Đức Di Lặc ra đời
cũng vậy, có vô số chúng sanh thấy Phật nghe pháp,
song không được chứng thánh quả. Riêng về Tịnh Độ
của Phật A Di Đà, chỉ được sanh về, quyết sẽ chứng
Vô Sanh Pháp Nhẫn, không một kẻ nào thối đọa trở
lại tam giới, bị nghiệp sanh tử buộc ràng.
Lại nghe Tây Vức Truyện nói: -Có ba vị Bồ Tát là
Vô Trước, Thế Thân, Sư Tử Giác thâm tu thiền định
quyết chí đồng sanh về Đâu Suất. Ba vị đó cùng ước
hẹn, nếu ai sanh lên Nội Viện được thấy Đức Di Lặc
trước, phải trở về báo tin cho huynh đệ biết. Ngài
Sư Tử Giác quy tịch trước, trải qua thời gian khá
lâu, không trở lại báo tin. Kế đó ngài Thế Thân vô
thường; khi lâm chung, Vô Trước Bồ Tát dặn rằng:
'Sau khi em bái kiến Đức Di Lặc, phải trở xuống
cho anh biết ngay.' Thế Thân Bồ Tát tịch rồi ba
năm sau mới trở lại báo tin. Ngài Vô Trước hỏi:
'Tại sao em thông báo trể như thế?' Thế Thân đáp:
'Sau khi lễ kiến Đức Di Lặc, vừa nghe Ngài thuyết
pháp chỉ dạy xong, em cung kính đi vi nhiễu ba
ṿng rồi trở xuống đây báo tin liền. V́ một ngày
đêm ở Đâu Suất bằng 400 năm nơi hạ giới, nên mới
trể đến ba năm.' Vô Trước lại hỏi: 'C̣n Sư Tử Giác
hiện ở đâu?' Thế Thân đáp: 'Sư Tử Giác bị lạc vào
Đâu Suất ngoại viện, đang say đắm cảnh ngũ dục, từ
khi sanh lên đến nay, chưa được thấy Đức Di Lặc.'
Xem thế th́ biết các bậc tiểu Bồ Tát sanh về Đâu
Suất c̣n bị mê lạc, huống nữa là phàm phu. Cho nên
người tu muốn chắc chắn được bất thối chuyển, nên
cầu về Cực Lạc, chớ nguyện sanh lên Đâu Suất.
8
Hỏi:- Chúng sanh từ vô
thỉ đến giờ tạo vô lượng tội; đời nay lúc bé đến
già, do không gặp thiện tri thức, lại gây thêm
nhiều nghiệp ác. Như thế làm sao lại bảo: 'Khi lâm
chung mười niệm thành tựu liền được văng sanh?' Và
cái lư 'vượt qua kiết nghiệp ba cơi' làm sao giải
thích cho thông?
Đáp:- Những nghiệp chủng lành dữ của chúng sanh từ
kiếp vô thỉ đến nay, hoặc ít hoặc nhiều, hoặc yếu
hoặc mạnh thật ra vẫn khó biết. Nhưng nếu người
nào khi lâm chung gặp thiện tri thức và thành tựu
mười niệm, tất kẻ ấy đă có túc thiện nghiệp. Nếu
chẳng thế th́ thiện tri thức c̣n không được gặp,
huống chi là thành tựu mười niệm? Như ông cho rằng
ác nghiệp từ vô thỉ là nặng, mười niệm khi lâm
chung là nhẹ; tôi xin đem ba đạo lư để giải thích
sự văng sanh ấy không thuộc về trường hợp khinh
trọng, không phải tại công hạnh nhiều ít hay thời
gian lâu mau. Ba đạo ấy là: Do bởi tâm, do bởi
duyên, và do bởi quyết định.
Do bởi tâm, là loài hữu t́nh khi tạo tội đều từ
nơi vọng niệm điên đảo mà sanh, c̣n lúc niệm Phật
lại từ nơi nghe danh hiệu công đức chân thật của
Phật A Di Đà mà khởi; một bên hư một bên thật đâu
thể sánh nhau! Ví như một gian thạch thất đóng kín
để tối muôn năm, nếu được người mở ra cho ánh sáng
mặt trời soi vào, sự tối ấy liền mất; đâu phải v́
do tối tăm đă lâu mà không được sáng ư? Người tạo
ra tội nhiều kiếp, khi lâm chung thành tựu mười
niệm được văng sanh cũng lại như vậy.
Do bởi duyên, là loài hữu t́nh khi tạo tội đều từ
nơi vọng niệm tối tăm điên đảo, duyên theo cảnh
giới hư huyễn mà sanh; lúc niệm Phật lại từ nơi
nghe danh hiệu công đức chân thật thanh tịnh của
Phật Di Đà duyên theo Bồ Đề tâm mà khởi. Như thế,
một bên chân một bên ngụy, đâu thể sánh nhau! Ví
như có người bị trúng tên độc, tên ghim sâu sức
độc mạnh, xương thịt nhiễm trọng thương, nếu được
nghe được tiếng trống thần dược, th́ tên tự bắn
ra, độc tiêu tan hết; đâu phải v́ do tên sâu độc
nặng, mà không được an lành ư? Người tạo tội nhiều
kiếp, khi lâm chung thành tựu mười niệm mà được
văng sanh cũng lại như vậy.
Do bởi quyết định, là loài hữu t́nh khi tạo tội
đều từ nơi gián tâm hoặc hậu tâm; lúc lâm chung
niệm Phật lại không có hai tâm đó, mà từ nơi một
niệm mănh liệt tŕ danh rồi xả mạng, nên được siêu
thoát. Ví như sợi dây cực to, cả ngàn người bứt
không đứt, nếu có đứa bé cầm gươm Thái A mà chém,
dây liền đứt đoạn. Lại như đống củi rất lớn chứa
góp từ cả ngàn năm, nếu có người dùng một đốm lửa
mà đốt, củi liền cháy hết. Và như có người trọn
đời tu mười nghiệp lành ưng được sanh về cơi trời,
nhưng khi lâm chung kẻ ấy khởi một niệm tà kiến
mạnh mẽ, liền vị đọa vào A Tỳ địa ngục. Nghiệp ác
vẫn hư vọng, mà do bởi tâm niệm quyết liệt, c̣n có
thể lấn lướt nghiệp lành một đời, khiến cho chúng
sanh bị đọa vào ác đạo; huống chi sự niệm Phật là
nghiệp lành chân thật, có người khi lâm chung dùng
tâm mănh liệt tŕ danh, lại không thể lấn áp ác
nghiệp từ vô thỉ ư? Cho nên người tạo tội nhiều
kiếp, khi lâm chung dùng tâm mănh liệt thành tựu
mười niệm mà không được văng sanh, quyết không có
lư đó!
Kinh nói: 'Chí tâm niệm một câu A Di Đà, sẽ tiêu
diệt được tội nặng nơi đường sanh tử trong tám
mươi ức kiếp.' Sỡ dĩ có sự kiện đó, v́ hành giả
niệm Phật dùng tâm mănh liệt nên mới phục diệt
được ác nghiệp; nếu khi lâm chung dùng tâm ấy niệm
Phật, quyết định sẽ văng sanh, không c̣n nghi ngờ
chi nữa! Cổ truyền phán định mười niệm khi lâm
chung hoàn toàn thuộc về biệt thời ư ( ư nói túc
nhân). Lư ấy không đúng. Tại sao thế? -V́ trong
Nhiếp Luận nói: 'Nếu chỉ là biệt thời, th́ duy
phát nguyện, toàn không có hạnh.' Tạp Tập Luận
nói: 'Nếu nguyện văng sanh về Cực Lạc liền được
văng sanh, nếu nghe danh hiệu Phật Vô Cấu liền
chứng được quả Vô Thượng chánh giác, đó mới là
biệt thời nhân.' Riêng về người khi lâm chung
thành tựu mười niệm, là do duyên lành nên được gặp
thiện tri thức dạy bảo, lại cũng do tự ḿnh chí
tâm thật hành pháp niệm Phật, mới có kết quả; nếu
chỉ định cho hoàn toàn thuộc về túc nhân, thật đă
sai lầm! Nguyện các hành giả nghĩ sâu lư nầy tự
sanh ḷng kiên cố đừng tin theo dị kiến ma để lạc
lối mê.
9
Hỏi:- Thế giới Cực Lạc
cách đây mười muôn ức cơi Phật, hạng phàm phu yếu
kém làm sao có thể đi đến? Lại, trong luận Văng
Sanh nói: 'Người nữ, kẻ căn thiếu. Nhị thừa chủng
không sanh.' Đă có lời ấy th́ người nữ và kẻ sáu
căn không toàn vẹn chắc là không được văng sanh?
Đáp:- Thế giới Cực Lạc cách đây mười muôn ức cơi
Phật, là đối với tâm lượng của hạng nhục nhăn phàm
phu ở trong nẻo luân hồi mà nói vậy thôi. Nếu đối
với chúng sanh tịnh nghiệp thành tựu, th́ tâm ở
trong định khi lâm chung, chính là tâm thọ sanh về
Tịnh Độ, vừa động niệm liền được văng sanh. V́ thế
trong Quán Kinh nói: 'Cơi nước của Phật A Di Đà
cách đây không xa!' Lại nghiệp lực không thể nghĩ
bàn, trong một niệm liền được sanh về cơi Phật,
không cần phải lo đường lối xa xuôi. Ví như người
nằm mơ, thân tuy ở nơi giường, mà tâm đi khắp các
nơi xa lạ như lúc c̣n thức. Sự sanh về Tịnh Độ đại
để cũng như vậy.
C̣n câu: 'Người nữ, kẻ căn thiếu. Nhị thừa chủng
không sanh' là ư nói người nữ khi sanh về Cực Lạc
sẽ chuyển thành nam, kẻ căn thiếu lúc về đó các
căn sẽ đầy đủ, và tất cả đều được ba mươi hai
tướng tốt; chớ không phải bảo người nữ cùng kẻ căn
thiếu, không được văng sanh. Nếu quả như thế th́
bà Vi Đề Hy và năm trăm thị nữ đâu được Phật thọ
kư cho sanh về Cực Lạc? Thế nên, người nữ cùng kẻ
đui điếc câm ngọng ở cơi nầy, nếu niệm Phật A Di
Đà, tất đều được văng sanh. Đến như hàng nhị thừa,
nếu chịu hướng về Đại Thừa tin môn Tịnh Độ, nguyện
về Cực Lạc, niệm Phật A Di Đà, quyết định đều được
văng sanh, và khi đă về cơi ấy không c̣n chấp theo
tâm lượng hẹp ḥi của nhị thừa nữa. Trong Kinh Vô
Lượng Thọ, Pháp Tạng Tỳ Khưu, tiền thân của Phật A
Di Đà đă phát nguyện rằng: 'Như tôi đắc quả Vô
Thượng Giác, tất cả người nữ trong mười phương thế
giới nhàm chán thân nữ, xưng danh hiệu tôi, nguyện
kiếp sau không c̣n thọ nữ nhân, quyết đều sẽ được
toại ư. Nếu chẳng như thế, tôi thề không thành
Phật.' Người nữ chỉ v́ muốn chuyển nữ thành nam,
niệm Phật A Di Đà, c̣n được toại nguyện, huống chi
những vị đă sanh về Cực Lạc? Cho đến kẻ căn thiếu
cũng lại như thế.
Tóm lại, hai câu trên đại ư chỉ luận ở cơi Cực Lạc
không có người nữ, kẻ căn thiếu, cùng hạng chủng
tử nhị thừa mà thôi.
10
Hỏi:- Nay tôi quyết định
cầu sanh Tây Phương, nhưng chưa biết phải làm
những nghiệp ǵ, và lấy chi làm chủng tử để được
sanh về Cực Lạc? Lại hạng phàm phu ở thế tục đều
có gia đ́nh, chưa biết không đoạn dâm dục có được
sanh về cơi kia chăng?
Đáp:- Muốn quyết định được sanh về Tây Phương phải
có đủ hai hạnh: yễm ly và hân nguyện.
Nói yễm ly, là hàng phàm phu từ vô thỉ đến nay bị
ngũ dục buộc ràng nên luân hồi trong sáu đạo, chịu
không biết bao nhiêu nỗi khổ! Trong ṿng lẩn quẩn
ấy, nếu không chán ĺa ngũ dục th́ làm sao có thể
thoát ly? Cho nên người tu Tịnh Độ phải thường xét
thân nầy là một khối thịt xương máu mủ, chứa đựng
đàm dăi, đại tiểu tiện và các thứ nhơ nhớp hôi
tanh. Kinh Niết Bàn nói: 'Ṿng thành thân kiến như
thế, duy loài La Sát ngu si mới chịu ở trong đó;
nếu người có trí ai lại đắm nhiễm thân nầy! Lại
trong Kinh cũng nói: 'Thân nầy là nơi tập hợp của
các thứ khổ, là cảnh tù ngục, là một khối ung sanh
tất cả đều bất tịnh. Nên xét cho cùng, nó không có
nghĩa lư lợi ích chi khi ta chấp lấy nó, dù là
thân của chư thiên.' V́ thế, hành giả ở trong các
oai nghi hoặc khi nằm nghỉ, lúc thức giấc, nên
thường quán sát thân nầy chỉ có khổ không chi vui,
mà thâm tâm sanh niệm chán ĺa. Như thế, dù cho
không dứt liền được việc nam nữ, cũng có thể lần
lần khởi tâm nhàm chán.
Lại hành giả cũng cần nên quán bảy pháp bất tịnh.
Bảy pháp ấy là:
Chủng tử bất tịnh: Thân nầy do nơi nghiệp dâm dục,
từ hạt giống tham ái mà sanh.
Thọ sanh bất tịnh: Mầm sanh khởi của bản thân lại
do một điểm tinh huyết cha mẹ ḥa hợp trong khi
gần gũi.
Trụ xứ bất tịnh: Thai thân ở trong tử cung nhơ
nhớp, nằm dưới ruột non, trên là ruột già.
Thực đạm bất tịnh: Khi c̣n ở trong thai, huyễn
thân lại thọ dụng huyết phần của người mẹ.
Sơ sanh bất tịnh: Khi đă đủ tháng ngày, thai thân
đầu hướng về sản môn, ra khỏi ḿnh người mẹ cùng
một lúc với máu mủ, sự hôi nhơ dẫy đầy.
Cử thể bất tịnh: Trong lớp da ngoài che đậy, thân
nầy là tất cả sự hôi nhơ của các chất: thịt, xương
máu, đàm đại tiểu.
Cứu cánh bất tịnh: Đến khi chết rồi, thân nầy là
một đống thịt śnh thúi ră rời, mặc cho ṿi tủa ḅ
lan hoặc quạ diều tha mổ.
Thân của ḿnh đă thế, thân người khác cũng như
vậy. Nếu thường quán sát bảy điều ấy, đối với các
thân nam nữ mà người đời cho rằng xinh đẹp, cũng
sanh niệm yễm ly và lửa ái dục cũng lần lần tiêu
giảm. Như thật hành được môn cửu tưởng quán, càng
thêm tốt:
Tưởng thân mới chết.
Tưởng thây chết đổi sắc bầm xanh tím.
Tưởng thây chết śnh lên dẫy đầy máu mủ và sắp ră.
Tưởng thây śnh bấy nức ră, nước hôi chảy ra.
Tưởng thây śnh ră, ṿi tửa ḅ lúc nhúc.
Tưởng thây śnh thịt tiêu hết chỉ c̣n gân và
xương.
Tưởng gân cũng tiêu hoại chỉ c̣n xương nằm ngổn
ngang.
Tưởng thây bị thiêu chỉ c̣n bộ xương co rút, hay
thây ră chỉ c̣n những khúc xương thúi.
Tưởng nắng chan mưa gội, xương hóa thành khô
trắng.
Lại nên phát nguyện cầu cho ḿnh vĩnh viễn thoát
ly thân nam nữ mê nhiễm, tạp thực, không sạch của
ba cơi, mà được thân pháp tánh Tịnh Độ. Trên đây
là đại lược về yễm ly môn.
Về hạnh hân nguyện, đại khái có hai điều kiện.
1. Phải nhận rơ mục đích cầu sanh: Sỡ dĩ chúng ta
cầu về Tịnh Độ, là v́ muốn thoát sự khổ cho ḿnh
và tất cả chúng sanh. Hành giả phải nghĩ rằng: Sức
ḿnh yếu kém, c̣n bị nghiệp ràng buộc, mà ở cơi
đời ác trược nầy cảnh duyên năo phiền quá mạnh. Ta
cùng chúng sanh bị ch́m đắm nơi ḍng mê, xoay vần
trong sáu nẻo, trải qua trần kiếp từ vô thỉ đến
nay, cũng v́ lẽ ấy. Bánh xe sống chết quay măi
không ngừng, ta làm thế nào để t́m con đường độ
ḿnh độ người một cách yên ổn chắc chắn? Muốn được
như thế, duy có cầu sanh Tịnh Độ, gần gũi Phật, Bồ
Tát, nhờ cảnh duyên thắng diệu bên cơi ấy tu hành
chứng Vô Sanh Nhẫn, mới có thể vào nơi đời ác cứu
khổ cho hữu t́nh. Luận Văng Sanh đă nói: 'Phát tâm
Bồ Đề chính là phát tâm cầu thành Phật, tâm cầu
thành Phật là tâm độ chúng sanh, tâm độ chúng sanh
là tâm nhiếp chúng sanh sanh về cơi Phật.'
Lại muốn sanh về Tịnh Độ, phải có đủ hai phương
diện: xa ĺa ba pháp chướng Bồ Đề và y theo ba
pháp thuận Bồ Đề. Ba pháp chướng Bồ Đề là thế nào?
Một là tâm cầu sự an vui riêng cho ḿnh, chấp ngă
và tham trước bản thân. Hành giả phải y theo trí
huệ môn mà xa ĺa tâm niệm ấy. Hai là tâm rời bỏ
không chịu cứu vớt chúng sanh khổ. Hành giả phải y
theo từ bi môn mà xa ĺa tâm niệm ấy. Ba là tâm
chỉ cầu sự cung kính cúng dường, không t́m phương
pháp làm cho chúng sanh được lợi ích an vui. Hành
giả phải y theo phương tiện môn mà xa ĺa tâm niệm
ấy. Nếu ĺa ba pháp chướng Bồ Đề, th́ sẽ được ba
pháp thuận Bồ Đề. Xin kể rơ ra đây ba pháp tùy
thuận ấy: Một là Vô Nhiễm Thanh Tịnh tâm, không v́
tự thân mà cầu các sự vui. Bởi Bồ Đề là thể trong
sạch ĺa nhiễm trước, nếu cầu sự vui riêng cho
ḿnh tức thân tâm có nhiễm, làm chướng Bồ Đề môn;
nên tâm thanh tịnh không nhiễm gọi là tùy thuận Bồ
Đề. Hai là An Thanh Tịnh tâm, v́ cứu độ tất cả khổ
cho chúng sanh. Bởi Bồ Đề là tâm trong sạch làm
cho chúng sanh được an ổn, nếu không cứu độ loài
hữu t́nh khiến họ được ĺa sự khổ sanh tử, tức là
trái với Bồ Đề môn; nên tâm cứu khổ đem lại an ổn
cho chúng sanh gọi là tùy thuận Bồ Đề. Ba là Lạc
Thanh Tịnh tâm, muốn khiến cho chúng sanh được đại
niết bàn. Bởi đại niết bàn là chỗ cứu cánh thường
vui, nếu không khiến cho loài hữu t́nh được niềm
vui cứu cánh tức là ngăn che Bồ Đề môn; nên tâm
muốn cho chúng sanh được hưởng cảnh thường lạc gọi
là tùy thuận Bồ Đề. Làm thế nào để thành tựu sự xa
ĺa và tùy thuận trên đây? -„y là phải cầu sanh
Tịnh Độ để được thường gần Phật, tu hành cho đến
khi chứng Vô Sanh Nhẫn. Chừng đó mặc ư cỡi thuyền
đại nguyện vào biển luân hồi, vận tâm bi trí cứu
vớt chúng sanh, tùy duyên mà bất biến, không c̣n
chi trở ngại nữa. Tất cả mấy điểm trên đây là
thuyết minh về mục đích cầu sanh.
2. Nên quán tưởng y chánh cơi Cực Lạc: Hành giả
nên quán tưởng báo thân của Phật A Di Đà sắc vàng
rực rỡ, có tám muôn bốn ngàn tướng, mỗi tướng có
tám muôn bốn ngàn vẻ đẹp, mỗi vẻ đẹp có tám muôn
bốn ngàn tia sáng, soi khắp pháp giới, nhiếp lấy
chúng sanh niệm Phật. Lại nên quán cơi Cực Lạc bảy
báu trang nghiêm như các Kinh Tịnh Độ đă nói.
Ngoài ra, người niệm Phật khi bố thí, tŕ giới,
cùng làm tất cả hạnh lành, đều phải hồi hướng cầu
cho ḿnh và chúng sanh đồng sanh Cực Lạc.
Nếu thật hành hai điều trên, hành giả sẽ phát tâm
khát ngưỡng Tây Phương, quyết định sẽ được văng
sanh. Và đây là hân nguyện môn.