Cùng Chung Lăn Chuyn Bánh Xe Pháp

     
 

TỊNH ĐỘ

---o0o---

Tin sâu pháp môn Tịnh độ
Tác giả: Thích Tâm Hải
 
     
 

Lời nói đầu

   Kinh Pháp Hoa dạy, đức Phật ra đời v́ một đại sự nhân duyên lớn “khai thị chúng sinh ngộ nhập Phật tri kiến”.

  Chính v́ thế, sau khi thành Phật, bằng tất cả tấm ḷng đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả. Ngài đă chu du khắp nước Ấn Độ để hoằng hóa độ sinh. Chỉ với mục đích là làm sao đưa hết thảy chúng sinh đang ch́m đắm trong bể khổ vô minh trở về với đời sống đầy an lạc và giải thoát.

Tuy nhiên, trên bước đường hoằng hóa độ sinh đó, đức Phật đă nhận thấy rằng chúng sinh đời mạt pháp căn tánh không đồng, có kẻ th́ căn tánh thượng, có kẻ th́ căn tánh trung, có kẻ th́ căn tánh hạ. Cho nên, đức Phật không chỉ dùng một phương tiện mà phải dùng vô số phương tiện để nhiếp hết thảy chúng sinh trở về với Phật tánh. Tuy có vô số phương tiện nhưng duy nhất chỉ có một vị giải thoát mà thôi, cũng giống như nước trong bốn biển tuy nhiều nhưng duy nhất chỉ có một vị mặn.

 Pháp của đức Phật cũng giống như một trận mưa lớn xuống trần gian, tùy theo mỗi loại thích ứng tiếp nhận lượng nước của ḿnh mà nuôi sống.
Hôm nay, là thời kỳ mạt pháp, với cách nh́n khách quan của mọi người, đại đa số chư Tăng, chư Ni và toàn thể tín đồ Phật tử ưa chuộng Pháp môn Tịnh độ. Chắc có lẽ Pháp môn Tịnh độ hợp thời và hợp căn cơ sao? Đúng vậy, Tịnh độ tông không chỉ dành riêng cho bậc hạ căn mà c̣n thâu nhiếp bậc trung, thượng căn nữa. V́ vậy, trong kinh Tượng Pháp Quyết Nghi cũng nói:

- Chúng sinh ở thời Chánh pháp, tu Giới luật dễ thành tựu.
- Chúng sinh ở thời tượng pháp, tu Thiền định dễ thành tựu.
- Chúng sinh ở thời mạt pháp, tu Tịnh độ dễ thành tựu.

Trong kinh Niệm Phật Ba La Mật, phẩm thứ sáu, đức Bồ tát Quán Thế Âm nói rằng: “Đức Thích Ca trọn đời giáo hóa điều phục chúng sinh đă ban bố tám vạn bốn ngh́n pháp môn tu tập nhưng trong đó niệm Phật là thù thắng đệ nhất”.

 Sự thù thắng và phổ cập của Pháp môn Tịnh độ cho quảng đại quần chúng ngoài sự giới thiệu của đức Phật Thích Ca Mâu Ni, tiếp theo c̣n có các vị Bồ tát khuyên bảo mọi người nên nguyện văng sinh về Tây phương Cực lạc như ngài Văn Thù, Phổ Hiền, Mă Minh, Long Thọ, các vị Tổ sư cả Thiền lẫn Tịnh như Vĩnh Minh, Trí Giả, Triệt Ngộ, Liên Tŕ, Thiện Đạo, Ngẫu Ích, đều là những vị Thiền sư nổi tiếng bên Thiền tông, sau khi tham thiền đạt ngộ, chuyển hướng niệm Phật cầu văng sinh.

Ngài Vĩnh Minh Diên Thọ, Tổ thứ ba của Thiền Pháp Nhăn cũng là Tổ thứ sáu của tông Tịnh độ đă nói:

“Hữu Thiền hữu Tịnh độ
Du như đới giác hổ
Hiện thế vi nhân sư
Lai sinh tác Phật Tổ”.

                 Nghĩa là:

“Có Thiền có Tịnh độ
Như hổ mọc thêm sừng
Hiện đời thầy trời người
Vị lai làm Phật Tổ”.

Chư Phật, chư Bồ tát, chư Tổ cực lực xiển dương Pháp môn Tịnh độ. Với sự lợi lạc thật lớn lao này, chúng tôi cũng không ngại ǵ với tài mọn, đức kém của ḿnh, để viết lên đây cuốn sách với tựa đề: “Tin sâu Pháp môn Tịnh độ”, chỉ với tâm nguyện là đem lại lợi lạc cho mọi người, chứ không có ư cao ngạo, ngă mạn ǵ cả.

Đây là cuốn sách đầu tiên, chúng tôi không sao tránh khỏi những sai lầm trong lối hành văn. Nếu có, kính mong chư Ḥa thượng, chư Thượng tọa, các thân giáo sư, các vị học giả góp ư dạy bảo để cho cuốn sách ra đời được tốt đẹp hơn.

                                                                                       Mùa An cư kiết hạ PL. 2547
                                                                                               Tâm Hải cẩn chí

 

Lời giới thiệu

Kính thưa quư vị!

   Đề tài mà chúng tôi có duyên được tŕnh bày cùng quư vị hôm nay thuộc một lănh vực rất phổ thông, song cũng rất quan trọng, bởi v́ nó liên hệ đến rất nhiều người theo đạo Phật. Đó là Pháp môn Tịnh độ, một pháp môn mà hầu hết các Phật tử đều quen biết. Đúng vậy, từ khi đạo Phật du nhập vào nước ta đến nay đă trải qua biết bao nhiêu sự thăng trầm nghiệt ngă của lịch sử. Đứng trước sự kinh hoàng đầy cay đắng đó Phật giáo Việt Nam vẫn măi là một cây cổ thụ đứng vững để che mát cho nhân loại mà không hề bị tàn lụi. Dù trong mọi hoàn cảnh nào, Phật giáo Việt Nam luôn luôn sát cánh với dân tộc, ḥa nhập với dân tộc như nước với sữa, thật là đúng như mấy câu thơ của thi sĩ Hồ Dzếnh:
 
“Trang sử Phật,
Đồng thời là trang sử Việt,
Trải bao độ hưng suy,
Có nguy mà chẳng mất”.

   Và đây, Pháp môn Tịnh độ, cũng vậy, như một ḍng suối trong lành, mát dịu cứ măi tuôn chảy vỗ về đến từng trái tim son của người dân Việt Nam mà không hề ngưng nghỉ. Chắc có lẽ Pháp môn Tịnh độ đă trở thành một nguồn sống tinh thần ăn sâu vào tâm thức của mỗi người dân Việt Nam chúng ta.

   Thậm chí, từ những em nhỏ cho đến những cụ già vẫn thường nở trên môi câu niệm “Nam mô A Di Đà Phật”. Không chỉ vậy, bây giờ câu niệm Phật đă trở thành một ngôn ngữ giao tiếp và cũng là món quà dễ mến cho toàn thể chư Tăng Ni và tín đồ Phật tử.

   Thật phải nói, Pháp môn Tịnh độ là một pháp môn thích đáng, khế hợp mọi căn cơ, dễ tu, dễ chứng, chư Phật trong mười phương đă dùng pháp môn này để cứu vớt hết thảy chúng sinh xa rời nẻo khổ, chứng đắc Niết bàn ngay trong một đời.

   Đức Phật quán thấy chúng sinh đời mạt pháp đa số là những hàng hạ căn, đầy dẫy phiền năo, phước mỏng nghiệp dày. V́ ḷng bi mẫn, Ngài đă thương tưởng đến chúng sinh, với ḷng từ bi vô hạn, đức Phật đă giới thiệu một cảnh giới Tịnh độ của Phật A Di Đà, để cho chúng sinh nương nơi tha lực bản nguyện của Phật A Di Đà mà được văng sinh.

   Pháp môn Tịnh độ được h́nh thành trong ba bộ kinh Tịnh độ:
   1. Phật Thuyết A Di Đà Kinh
   2. Phật Thuyết Vô Lượng Thọ Kinh
   3. Phật Thuyết Quán Vô Lượng Thọ Kinh

   Bộ kinh Tịnh độ này được h́nh thành tại Ấn Độ do đức Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni nói ra chứ không phải do một ông Thần ông Thánh nào nói cả. Những ai đă theo và đang theo Pháp môn Tịnh độ, tin sâu, nguyện thiết, hành chuyên pháp môn này th́ hăy lắng nghe đức Thế Tôn dạy: “Vô lượng Bồ tát ở mười phương thế giới muốn nghe thuyết về Pháp môn Tịnh độ mà không được toại nguyện. Giả sử khắp tam thiên đại thiên thế giới bị nạn hỏa thiêu, nếu ai được nghe giảng về Pháp môn Tịnh độ mà phải băng qua miền lửa cháy th́ cũng cố nên vượt qua để được nghe diệu pháp này”.

   Lời Phật đă dạy như vậy, đủ chứng tỏ giá trị siêu việt của Pháp môn Tịnh độ hay pháp môn niệm Phật cầu văng sinh Cực lạc quốc cao tột đến mức độ nào.
 
 
Tiểu sử Phật A Di Đà

   A Di Đà là phiên âm từ chữ Phạn Amitabha, nghĩa là ánh sáng vô lượng (vô lượng quang), sống lâu vô lượng (vô lượng thọ). Sở dĩ chữ “A Di Đà” không dịch nghĩa mà chỉ phiên âm, v́ theo Huyền Trang Tam Tạng Pháp sư, có năm loại danh từ không dịch nghĩa (ngũ chủng bất phiên):
   1- Danh từ bí mật.
   2- Danh từ nhiều nghĩa.
   3- Danh từ không có ở Trung Quốc.
   4- Danh từ đă có dịch từ xưa.
   5- Danh từ khiến người tôn kính.

   V́ Amitabha là danh từ nhiều nghĩa, bí mật và được người đời tôn kính nên không dịch. Trong kinh Tiểu Bản A Di Đà, đức Phật Thích Ca dạy: “Này Xá Lợi Phất! Ư ông nghĩ sao? Phật kia v́ sao tên gọi A Di Đà? Xá Lợi Phất! Phật kia có ánh sáng vô lượng chiếu khắp cơi nước trong mười phương không chướng ngại, nên gọi A Di Đà. Lại nữa Xá Lợi Phất! Phật kia cùng nhân dân sống lâu vô lượng vô biên a-tăng-kỳ kiếp, nên gọi A Di Đà!”.

   Phật A Di Đà tượng trưng cho Phật tánh chúng sinh, v́ tánh ấy vô thỉ đến nay chưa hề sinh diệt, nên đồng nghĩa sống lâu vô lượng. Tánh ấy trùm khắp mười phương, tuyệt nhiên yên lặng, chiếu sáng thời thời, nên đồng nghĩa ánh sáng vô lượng. Tóm lại, về tướng mà nói, Phật A Di Đà là vị giáo chủ của cơi Cực lạc Tây phương, hiện đang thuyết pháp; trên tánh mà bàn, A Di Đà chính là Phật tánh tất cả chúng sinh. Thường sống với Phật tánh chính là Đạo, là trở về với cái vô sanh, bất diệt. Từ vô lượng kiếp Phật A Di Đà thực hành Bồ tát hạnh, trang nghiêm diệu độ.

   Rải rác trong các kinh, đức Phật Thích Ca thường nói đến điều này. Như kinh Pháp Hoa kể, vào thời Như Lai Đại Thông Trí Thắng hóa đạo, lúc ấy có 16 vị vương tử xuất gia, ưa giảng nói kinh Pháp Hoa, về sau đều thành Phật. Vương tử thứ chín hiện là Phật A Di Đà, vương tử thứ 16 chính là đức Phật Thích Ca.

   Kinh Bi Hoa ghi, thuở xưa, có vua Vô Tránh Niệm và đại thần Bảo Hải, đồng đối trước Như Lai Bảo Tạng, phát tâm Vô thượng Bồ-đề. Chuyển luân Vô Tránh Niệm phát nguyện: “Khi thành Phật, tôi nguyện ở nơi thế giới An Lạc, thanh tịnh, luôn nhiếp thọ chúng sinh trong mười phương thế giới”. Đại thần Bảo Hải nguyện: “Khi thành Phật, tôi nguyện ở vào thế giới năm trược (kiếp trược, kiến trược, phiền năo trược, chúng sinh trược, mạng trược) để độ chúng sinh thoát khổ năo”. Vua Vô Tránh Niệm ngày đó giờ là Phật A Di Đà, đại thần Bảo Hải chính là Phật Thích Ca. Hai vị tuy đồng đại nguyện nhiếp độ chúng sinh, nhưng một vị chỉ ra cơi khổ để chúng sinh nhàm chán, một vị bày mở cơi vui để khuyến dụ chúng sinh về.

   Lại nữa, kinh Cổ Âm Vương viết, thời quá khứ, trong nước Diệu Hỷ, có vị quốc vương tên Kiều Thi Ca, ông nội là quốc vương Thanh Thới, cha là Chuyển Luân vương Nguyệt Thương, mẹ Thù Thắng Diệu Nhan, sinh ra ba quư tử: con cả tên Nguyệt Minh, con thứ tên Kiều Thi Ca và con út là Đế Chúng. Lúc ấy, có Đức Thế Tự Tại Vương Như Lai ra đời, Kiều Thi Ca bèn bỏ ngôi vua, theo Phật xuất gia, hiệu là Tỳ kheo Pháp Tạng. Một lần, Pháp Tạng tuyên phát bốn mươi tám nguyện hóa độ chúng sinh, thề nếu không thành, quyết không giữ ngôi Chánh giác. Khi ấy, mười ngh́n thế giới chấn động mạnh, giữa không trung phát ra lời ngợi khen rằng: “Lành thay! Lành thay! Ngài nhất định sẽ thành Phật!”.

   Trong kinh Vô Lượng Thọ, thuở Phật Thế Tự Tại Vương c̣n trụ thế, có vị quốc vương nghe Phật nói pháp, ḷng thường vui vẻ, phát tâm Bồ-đề, thôi làm vua, xuất gia thành Sa môn, hiệu Pháp Tạng. Ngài thông kinh điển, tài đức vượt hơn người. Phật Thế Tự Tại Vương, theo bản nguyện của Ngài, dạy cho cách trang nghiêm diệu độ. Về sau, Ngài thành Phật, hiệu A Di Đà, hiện là giáo chủ cơi Cực lạc Tây phương.

 
Phát nguyện nhân duyên

   1. Ḷng đại từ
   Tỳ kheo Pháp Tạng khi rời cung vua, phát tâm Vô thượng, tự nghĩ rằng: “Chúng sinh trong mười phương, muôn đời chịu khổ, không bao giờ dừng”. Ngài khởi đại bi, muốn lập một Tịnh độ, tiếp dẫn chúng sinh về đó tiến tu. Bèn đến bạch với Thế Tự Tại Vương Như Lai rằng: “Nay con phát tâm Vô thượng, muốn cứu khổ muôn loài, xin hăy v́ con chỉ bày cách thực hành, trang nghiêm diệu độ, nhanh chóng viên măn Bồ-đề, nhổ bật gốc rễ đau khổ cho chúng sinh”.

   Phật Thế Tự Tại Vương biết Pháp Tạng có ḷng đại bi vô lượng, nên nhân đó dạy: “Như có biển lớn, một người muốn t́m của báu, bèn dùng đấu để lường, nhiều kiếp đi qua, biển có thể cạn. Nay ngươi có ḷng đại nguyện muốn cứu khổ chúng sinh, ta sẽ v́ ngươi, tuyên bày giảng nói!”. Xong, bèn dùng thần lực, hiện ra 200 ức quốc độ của chư Phật. Pháp Tạng thấy vậy, mừng rỡ vô cùng.

  
2. Quyết tâm tu hành
   Sau khi nghe Phật Thế Tự Tại Vương giảng bày về các quốc độ thanh tịnh, Pháp Tạng ghi nhớ, tâm vô cùng tịch tịnh, tinh tấn, nghiêm mật tu hành qua năm kiếp dài. Ngài chọn những điểm thù thắng nhất trong các cơi Phật thù thắng, xây dựng thế giới Tịnh độ. Bạch điều này lên Phật Thế Tự Tại Vương, đức Phật hoan hỷ thọ kư và nói cùng đại chúng: “Trong tương lai không lâu, Bồ tát Pháp Tạng này sẽ thành tựu đại nguyện!”.

   3. Cách thức trang nghiêm Tịnh độ
   Trang nghiêm nghĩa là trang hoàng, làm thành, xây dựng. Cơi Tịnh độ an lạc là do ngài Pháp Tạng quyết tâm tùy theo nguyện mà thực hiện thành tựu. Khi mới phát tâm, cơi ấy vẫn có ba đường dữ, Ngài hiện thân tu Bồ tát hạnh, độ hết thảy chúng sinh dứt bặt tham sân si, tiến tu dự vào hàng bất thối.

   Trên nền tảng 48 đại nguyện, Tỳ kheo Pháp Tạng xây dựng quốc độ của ḿnh bằng ba phương diện nhiếp pháp hàng đầu: nhiếp Pháp thân nguyện, nhiếp Tịnh độ nguyện và nhiếp Chúng sinh nguyện.

   a- Nhiếp Pháp thân nguyện: là nguyện xây dựng Phật thân. Bồ tát chọn quả Phật thân để đem công đức trang nghiêm, thệ nguyện trang nghiêm thành tựu Pháp thân chư Phật, ánh sáng vô lượng, thọ mạng vô cùng.

   b- Nhiếp Tịnh độ nguyện: là nguyện xây dựng cơi Phật. Sau khi thành Phật, Bồ tát đem công đức trang nghiêm quốc độ, tất cả đều bằng thất bảo: vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xa cừ, xích châu, mă năo…

   c- Nhiếp chúng sinh nguyện: là tiếp độ và giáo hóa chúng sinh, gồm cả phàm phu và Thánh trí.
 
Giă từ quán trọ
Trở về cố hương

   Quán trọ ví cho cơi Ta bà đau khổ, ngắn ngủi, không bền chắc. Cố hương ví cho cơi Cực lạc thuần vui, bền lâu, chắc thật.

   Nói về sự: chúng ta phải thật sự rời bỏ Ta bà để luôn nhớ nghĩ về cơi Cực lạc của Phật A Di Đà.

   Nói về lư: chúng ta phải rũ bỏ tất cả những phiền muộn, lo âu, trăn trở, giả tạm trong tâm thức, để thảnh thơi trở về với chân như Phật tánh hằng thanh tịnh của chúng ta.
 
   Chúng ta thường nghĩ: Cuộc đời này luôn đầy hoa bướm. Chúng ta say sưa đắm ch́m trong t́nh yêu, danh vọng, tiền bạc, cứ ngỡ cuộc đời là những bài thơ, tiếp nối với những ngày vui bất tận, hoa sẽ không tàn, trăng sẽ không khuyết, cuộc vui dài kéo đến thiên thu. Nhưng có ngờ đâu, thân người như bóng chớp chiều hôm, mới trẻ rồi già, mới sống rồi chết, trong cuộc vui hội ngộ đă ươm mầm chia ly. Đời người thật vô thường, huyễn mộng như hoa sớm nở tối tàn, vui ít khổ nhiều, sống chết nối liền không ai tránh khỏi. Ai cũng biết đời ít người trăm tuổi, tuổi xuân thấy đó rồi chợt mất, buồn vô cùng và khổ cũng vô cùng.

   V́ sao vậy? V́ quán trọ chỉ cho sự tạm bợ, ngắn ngủi, ví như những quán trọ ở ven đường, chỉ dành cho khách bộ hành dừng chân nghỉ mát, sau đó từ giă ra đi, chớ không ở măi được. Cũng vậy, Ta bà chẳng khác ǵ quán trọ, nhân loại sống trong cơi này đều giả tạm, vô thường, không thật. Tại sao không thật? V́ suốt cả cuộc đời bị sinh, lăo, bệnh, tử, tiền tài, danh vọng chi phối, bức bách thật là khổ năo. Tất cả đời sống vật chất cho dù làm vua, làm quan, giàu sang đến cỡ nào đi nữa nhưng khi ra đi không mang được ǵ cả, cho nên mới gọi là không thật. Chúng ta là người hiểu đạo, phải sớm giác ngộ ngay chỗ này, sống có đạo đức để làm lợi ích cho mọi người. Có như vậy, mới không uổng phí đời người.

   Ta bà thật là đau khổ, tại sao chúng ta không sớm giác ngộ để một ḷng nhớ về cố hương Cực lạc? Cố hương là nơi chúng ta chôn nhau cắt rốn, là ngôi nhà vững chắc cho chúng ta ngơi nghỉ sau những ngày tháng vất vả với cuộc đời.

   Ngày ấy, đức Phật Thích Ca, v́ hiểu cuộc đời ngắn ngủi, kiếp phù sinh tạm bợ, mong manh nên đă quay mặt với vinh hoa, độc hành vào núi thẳm, rừng sâu t́m chân lư. Bao ngày tháng miệt mài tu tập, cuối cùng giác ngộ, đem đạo mầu soi tỏ cuộc đời. Giáo lư Ngài dạy rất nhiều, trong đó, vô thường (không thường c̣n, luôn đổi thay biến dạng) là một trong những giáo lư căn bản.

   Phàm mọi pháp vô thường, theo sau là khổ. Ấy vậy, chúng sinh không tỉnh, lấy khổ làm vui, cam ḷng nhận chịu, nên gọi là Ta bà. Ta bà là cơi uế trược đầy dẫy khổ đau. Trái lại, cơi Cực lạc là cơi thuần vui, nơi an lạc thanh tịnh cho tất cả chúng sinh. V́ thế, người Việt Nam ta, khi có người thân tạ thế, tất cả đều mong ước nguyện cầu vong hồn sớm tiêu diêu miền Cực lạc. Danh từ Cực lạc đối với dân tộc ta nó thân thiết đậm đà như một ngôi nhà ấm cúng, là nơi yên nghỉ an toàn, là quê hương đầy thắng cảnh cho những khách lăng tử viễn du ṃn gót trên vạn nẻo đường đời. Để hết khổ được vui, chúng ta hăy hiểu rơ hai cơi Ta bà và Cực lạc.

   Ta bà là ǵ? Ta bà là phiên âm từ chữ Saha của Phạn ngữ, có nghĩa là ráng chịu đựng, v́ chúng sinh ở trong cơi này chịu các phiền năo, tham sân si bức bách, làm các điều ác, xoay quanh trong ba nẻo sáu đường, lại cứ cam ḷng nhẫn chịu không mong ngày ra khỏi. Ta bà không phải chỉ có một thế giới ta đang ở, mà nó gồm cả ba ngh́n đại thiên thế giới, trong phạm vi hóa độ của Phật Thích Ca Mâu Ni.

   Cực lạc là ǵ? Cực là rất, lạc là vui. Như vậy, Cực lạc là cơi thuần vui. Trong Kỳ Viên Hội, đức Phật gọi ngài Xá Lợi Phất dạy rằng: “Cơi đó v́ sao gọi là Cực lạc? V́ chúng sinh trong cơi đó không có các điều khổ, chỉ hưởng thuần những sự vui, nên gọi là Cực lạc”.

   Vậy, để giă từ quán trọ (Ta bà) một cách dứt khoát, thiết tha nhớ về cố hương (Cực lạc) th́ chúng ta phải so sánh sự hơn kém giữa chánh báo và y báo của hai cơi.
 
Quy hướng Tịnh độ
 
   Nay là thời mạt pháp, chính là lúc Pháp môn Tịnh độ đang cần hơn bao giờ hết cho nhân loại. V́ vậy, chúng ta nên tuân thủ nhiều hơn đối với Pháp môn Tịnh độ. Như ngài Thiên Như Thiền sư đă dạy: “Mạt pháp chi hậu chư kinh diệt tận, chỉ lưu A Di Đà Phật tứ tự cứu độ chúng sinh, kỳ bất tín giả, ưng đọa địa ngục”, nghĩa là: đời mạt pháp về sau, các kinh sách đều diệt hết, chỉ c̣n lưu lại bốn chữ A Di Đà Phật để cứu độ chúng sinh, nếu kẻ nào không tin, tức sẽ bị đọa địa ngục”.

   Ngẫu Ích Trí Húc đại sư khi viết quyển A Di Đà Kinh Yếu Giải đă phải lên tiếng than rằng: “Đời mạt pháp ức vạn người tu hành ít có người đắc đạo. Chỉ c̣n nhờ pháp niệm Phật mới được độ thoát. Than ôi! Nay chính là đời mạt pháp rồi mà bỏ pháp môn niệm Phật này th́ c̣n pháp môn nào tu học được nữa!”.

   Tế Tỉnh đại sư (Triệt Ngộ) Liên tông thập nhị Tổ thường dạy rằng: “Ngài Vĩnh Minh Diên Thọ nguyên là bậc “tông tượng” trong chốn Thiền môn mà c̣n quy tâm về Tịnh độ thay, huống chi nay là thời kỳ mạt pháp, chúng ta lại càng phải nên tuân theo hơn nữa”.

   Các vị Thiền sư c̣n phải lên tiếng nói rằng: “Nếu như chúng tôi khi mới xuất gia mà có túc căn sớm với Pháp môn Tịnh độ, th́ chúng tôi không phải mất công, tốn sức chuyển pháp môn tu như thế này đâu”.

   Chúng ta thấy, các vị Thiền sư c̣n quy tâm về Pháp môn Tịnh độ một cách dứt khoát, th́ phải nói pháp môn niệm Phật là pháp môn vi diệu, bất khả tư ngh́.

   Hôm nay, thật là hữu duyên cho chúng ta sớm gặp được Pháp môn Tịnh độ ngay từ ban đầu, theo như chúng tôi nghĩ, chắc có lẽ từ vô lượng kiếp chúng ta đă từng gieo nhân niệm Phật, chính nhân niệm Phật này mà chúng ta có được quả niệm Phật hôm nay.

   Nhờ nhân duyên lành đó, chúng ta được chư Phật, chư Bồ tát, chư Tổ trao tặng pháp môn này, chứ đâu phải dễ. Đây là một pháp môn mà các Ngài đă thực hành và đă chứng đắc.

   Vậy chúng ta đi theo pháp môn tu của các Ngài chỉ dạy th́ chúng ta cũng giống như các Ngài không hai không khác.

   Chúng ta đă có duyên với Pháp môn Tịnh độ, th́ chúng ta không sợ lạc đường, nếu nói lạc đường th́ chư Tổ lạc đường trước. Ví dụ, nếu như pháp môn niệm Phật này không có ai tu theo mà ta tu một ḿnh th́ ta mới sợ lạc đường, huống hồ chư Tổ, nhiều vị tu theo pháp môn này, th́ chắc chắn chúng ta không sợ lạc đường, chúng ta phải có lập trường và tin chắc như vậy, không có một ư nào mà hoài nghi cả.

   Trong kinh Niệm Phật Ba La Mật, đức Phật dạy: “Trong quá khứ vô lượng vô biên a-tăng-kỳ kiếp nhẫn lại đến nay, mười phương chư Phật chỉ dùng pháp môn niệm Phật để cứu vớt hết thảy chúng sinh”.

   Trong hiện tại cũng có vô lượng vô biên hằng hà sa số chư Phật cũng đang thuyết giảng giáo nghĩa này. Đức Phật c̣n nói thêm trong đời vị lai, tất cả mười phương chư Phật muốn cứu vớt chúng sinh th́ không ngoài pháp môn niệm Phật này. V́ vậy, Như Lai bảo rằng: “Pháp môn niệm Phật là vua trong tất cả các pháp”.

   Chư Phật, chư Tổ, chư Bồ tát luôn khen ngợi, tán thán, ra sức xiển dương Pháp môn Tịnh độ mà chúng ta không tin hay sao. Ví như có một người nào đó bị trúng đạn vào chân, th́ chúng ta cũng cảm thấy họ đau như thế nào, khi chúng ta bắt gặp một người nào đó rạng rỡ nở nụ cười trên môi th́ chúng ta cũng cảm thấy được họ hạnh phúc, họ vui như thế nào, huống hồ, biết bao nhiêu danh hạnh, biết bao nhiêu tấm gương sáng niệm Phật được văng sinh. Tổ Tổ tương truyền cho đến bây giờ th́ chúng ta cũng cảm thấy được pháp môn niệm Phật vi diệu, thù thắng, tuyệt vời như thế nào rồi.

   Không phải chúng tôi theo Tịnh độ mà chúng tôi tự đề xướng, tự đưa pháp môn của ḿnh lên tận trời cao đâu, mà phải hiểu như thế này, hôm nay, chúng tôi chỉ là người phụ họa thêm thôi, chỉ là người biết cầm bút để ghi lại những lời chư Phật, chư Tổ chỉ dạy mà thôi, chớ chúng tôi không bao giờ có ư bảo thủ, tự lập một pháp môn riêng cho ḿnh đâu, đây là điều mà chúng tôi tối kỵ nhất.

   Chúng tôi xiển dương ca ngợi pháp môn Tịnh độ là đều y cứ vào sử sách, chớ không bao giờ nói một cách suông, như chúng ta đă từng biết đạo Phật không chỉ nói lư thuyết suông không, mà c̣n phải đ̣i hỏi hành nữa, cho nên có câu “Học đạo chưa phải là đắc đạo. Hành đạo mới gọi là đắc đạo”. Đúng vậy, những điều chúng tôi nói đều y cứ vào sử sách chứ không bao giờ tự nói, để cho quư vị có được tín tâm đối với pháp môn này, chúng tôi xin giới thiệu một số sách nói về Pháp môn Tịnh độ. Đó là: kinh A Di Đà, kinh Quán Vô Lượng Thọ, kinh Vô Lượng Thọ, kinh Niệm Phật Ba La Mật, kinh Đại Thừa Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm Thanh Tịnh B́nh Đẳng Giác, Niệm Phật Thập Yếu, Những chuyện văng sinh lưu xá lợi v.v…

   Đă là một hành giả tu theo Pháp môn Tịnh độ th́ chúng ta nên cần t́m đọc những cuốn sách Tịnh độ, có như vậy mới giúp cho tín tâm của chúng ta vững chắc thêm. Ngoài những cuốn sách Tịnh độ trên, chúng ta nên t́m đọc ngay cuốn “Liên Tông Thập Tam Tổ”, đây là một cuốn sách gối đầu, nói rất rơ ràng về phương pháp tu và những công hạnh đẹp của 13 vị Tổ sư của Pháp môn Tịnh độ.

   Để chúng ta có niềm tin sâu, nguyện thiết, hành chuyên, đối với Pháp môn Tịnh độ, chúng tôi xin dẫn chứng một vị Tổ trong Liên tông thập tam Tổ cho quư vị biết: đó là Sơ Tổ Huệ Viễn. Trong 10 năm ṛng ră niệm Phật, Ngài đă thấy Phật A Di Đà xoa đầu Ngài ba lần. Khi lâm chung Ngài biết được ngày giờ ra đi, an nhiên thị tịch một cách tự tại. Từ Sơ Tổ Huệ Viễn lần đến vị Tổ thứ 13 là Ấn Quang đại sư đều niệm Phật, khi lâm chung các Ngài đều biết ngày giờ ra đi một cách tự tại.

   Thật phải nói, pháp môn niệm Phật là pháp môn thù thắng. Như vậy thử hỏi Pháp môn Tịnh độ có phải dành riêng cho những người thấp hèn, bất học tu không?

   Chúng tôi xin mạnh dạn trả lời thật là không phải chỉ dành riêng cho những kẻ thấp hèn mà c̣n cho đến các vị đại sĩ Pháp thân Bồ tát, chư Tổ cũng đều tu theo.

   Thế mà nay, chúng tôi vẫn c̣n nghe văng vẳng bên tai pháp môn niệm Phật chỉ dành cho những kẻ không học, những kẻ ngu phu ngu phụ, những người đầu làng cuối xóm tu theo thôi, c̣n những bậc có học, thượng căn ai mà tu theo làm ǵ!

   Hôm nay, chúng tôi viết đề tài này là thiết tha kêu gọi những ai mà đă có ư chê bai hủy báng Pháp môn Tịnh độ th́ nên lập tâm sám hối, chớ không th́ chúng ta tự hủy báng chư Phật, chư Bồ tát, chư Tổ đấy, thật là tội nặng đáng đọa vào tam đồ.

   Cho nên Ấn Quang đại sư đă phải lên tiếng cảnh cáo người đời rằng: “Pháp môn niệm Phật cao thâm huyền diệu mà vẫn có nhiều kẻ c̣n dám khinh chê cho là chỉ có những người già nua, tuổi tác yếu đuối, dốt nát mới theo Pháp môn Tịnh độ th́ quả là họ đă dám coi thường, khinh chê cả các vị đại Bồ tát như Di Lặc, Văn Thù, Phổ Hiền, Quán Thế Âm, Đại Thế Chí, Mă Minh, Long Thọ rồi vậy”.

   Đối với quư vị nào mà đă phạm vào thiển ư chê bai, hủy báng Pháp môn Tịnh độ, th́ quư vị không nên run sợ ǵ cả. Như chúng
ta thường nghe đức Phật dạy:
   Có hai hạng người mạnh:
   1. Hạng người có lỗi mà biết sám hối.
   2. Hạng người không tạo lỗi.
   Vậy quư vị cứ y theo lời Phật dạy th́ sẽ trở thành người tốt mà thôi.

  Ngài Trí Húc đại sư, lừng danh trong chốn Thiền môn thuở xưa, đă lên tiếng trước hàng đệ tử: “Khi mới xuất gia, tôi tập ngồi thiền, tự phụ đă tu theo đốn pháp dễ ngộ và tỏ ư chê bai Pháp môn Tịnh độ, cho là tiệm pháp lâu chứng. Khi ấy c̣n ít tuổi, tôi dám cả gan nói những điều thiếu suy xét rằng: “Pháp môn Tịnh độ chỉ dành riêng cho hạng người hạ căn ít học mà thôi. Chẳng dè, nhân bị một cơn ốm nặng, tưởng khó qua khỏi, tôi mới chịu phát tâm niệm Phật A Di Đà, sau đó khỏi bệnh, tôi được đọc nhiều sách nói về Tịnh độ, lúc này tôi mới bừng tỉnh, bừng tỉnh cái ǵ? Là thấy chư Bồ tát, chư Tổ đều niệm Phật cầu văng sinh, kể từ đây tôi mới nhất tâm niệm Phật A Di Đà cầu văng sinh Tây phương Cực lạc, ngày đêm không ngừng với một sức tinh tiến ít người nào sánh kịp”.

   Chúng ta đă thấy tận tường chưa? Ngài Trí Húc đại sư là bậc tông tượng trong chốn Thiền môn, khi mới xuất gia theo Thiền tông, Ngài có ư chê bai hủy báng Pháp môn Tịnh độ, nhưng khi bừng tỉnh, Ngài thấy ḿnh có lỗi liền lập tâm sám hối, quy hướng về Pháp môn Tịnh độ niệm Phật cầu văng sinh để giải quyết sinh tử.

   Chư Phật, chư Tổ v́ thương chúng sinh đời mạt pháp cứ măi trôi lăn trong ṿng sinh tử, với ḷng từ bi vô điều kiện, các Ngài đă khuyên chúng ta nên theo Pháp môn Tịnh độ v́ dễ tu, dễ chứng như đi thuyền buồm xuôi ḍng, gặp gió thuận, lướt nhẹ trên mặt nước, tiến mau như mũi tên, c̣n tu theo các pháp môn khác sẽ gặp nhiều điều khó khăn. 

   Cho nên trong Liên Tông Thập Tam Tổ, Ấn Quang đại sư nói rằng: “Bỏ đường tắt Tây phương, chín giới chúng sinh trên khó thể viên thành quả giác. Ĺa cửa mầu Tịnh độ, mười phương chư Phật, dưới không toàn độ khắp quần mê. Pháp môn cao cả lợi khắp ba căn nhân đây: Chín cơi đồng về, mười phương khen ngợi. Phật nguyện rộng sâu không từ một vật nên được: ngh́n kinh đều chỉ, muôn luận tuyên bày”.

   Mỗi niệm danh hiệu Phật tức là mỗi niệm thành Phật, không đợi nhiều kiếp tu chứng, v́ nó gồm cả Thiền, Giáo, Luật, Mật, phổ cập đến các bậc thượng, trung, hạ, như mưa thấm nhuần đủ muôn vật, như biển cả dung nạp trăm sông, Đại thừa, Tiểu thừa, Đốn giáo, Tiệm giáo, tất cả tu theo pháp môn này đều được thành tựu Phật quả.
 
Sự lựa chọn Pháp tu

   Theo Đạo Xước Thiền sư, trên bước đường tu tập, Ngài đă chia ra hai phương pháp tu:

   1. Thánh giáo môn.
   2. Tịnh độ môn
   Như thế nào gọi là Thánh giáo môn? Thánh giáo môn là tự ḿnh dùng giới, định, huệ, diệt tham, sân, si. Ắt hẳn suốt cả cuộc đời này, chúng ta tự tu một ḿnh liệu có diệt hết tham, sân, si không, chắc chắn là không rồi.
Thử hỏi, trong đời mạt pháp này có ai tu mà đạt được cảnh giới Phi tưởng phi phi tưởng xứ định chưa, thật sự chưa có một ai đạt được. Nhưng cho dù đạt được đi nữa cũng không diệt hết tham, sân, si và đây, chúng tôi xin lấy một ví dụ để chứng minh.

   Như ông Uất Đầu Lam Phất tu đạt được cảnh giới cao nhất của cơi trời Vô sắc, đó là Phi tưởng phi phi tưởng xứ định nhưng cũng chưa làm chủ được phiền năo. Là thế này, nhân một buổi ông ta ngồi thiền tại một gốc cây, trong lúc đang hành thiền, th́ có những chú chim bay nhảy, kêu hót trên cây rộn ră, lúc này, ông ta tỏ ư sân hận với mấy chú chim, liền bỏ gốc cây đi xuống gần một ḍng suối để ngồi thiền. Không ngờ ông ta tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa, trong lúc ngồi thiền tại ḍng suối th́ những chú cá bơi lui bơi lại làm động nước phát ra tiếng ồn, lúc này, ông ta nổi sân hận hơn lúc trước, liền khởi ư ác là sau này đầu thai làm một con ǵ mà ăn hết các loại chim và cá, v́ tham sân si này nổi lên, sau khi chết ông ta đầu thai làm con phi ly (là con chồn biết bay).

   Qua câu chuyện này chúng ta thấy rằng: cho dù tự lực tu mà đạt được cảnh giới Phi tưởng phi phi tưởng xứ định đi nữa cũng không bao giờ diệt hết tham sân si, huống hồ chúng ta là chúng sinh đời mạt pháp, phước mỏng nghiệp dày mà một ḿnh tự lực tu th́ chúng ta không bao giờ giải quyết được sinh tử. Như vậy, theo “Thánh giáo môn” th́ chúng ta không kham nổi.

   Vậy, chúng ta tiếp tục phân tích, mổ xẻ phương pháp thứ hai: “Tịnh độ môn”.

   Tịnh độ môn chia ra hai phương pháp: Yếu chỉ Tịnh độ và Tha lực Tịnh độ.

   Như thế nào gọi là Yếu chỉ Tịnh độ? Là tự ḿnh sách tấn, tu hành để tạo một cơi Tịnh độ ngay trong hiện tại, như vậy phương pháp này chỉ dùng cho bậc thượng căn mà thôi.

   Như thế nào gọi là Tha lực Tịnh độ? Là ḿnh nương nơi bản nguyện của Phật A Di Đà để được văng sinh, phương pháp này khế hợp với ba căn cơ, hạ căn, trung căn, thượng căn. Tha lực Tịnh độ cũng giống như đi thuyền qua sông, c̣n Thánh giáo môn tự lội qua sông. Như vậy, người mà có thuyền chở qua sông và người tự lội qua sông, thử hỏi trong hai người cùng đi qua sông, người nào khỏe nhất? Chắc chắn là người có thuyền chở qua.

   Qua sự phân tích, mổ xẻ phương pháp tu trên đây, chúng ta chọn phương pháp tu nào là hợp nhất? Theo chúng tôi nghĩ, chắc chắn ai cũng đều đồng ư chọn “Tha lực Tịnh độ”. Tại sao ta chọn phương pháp này ? Là v́ hợp với căn cơ của chúng ta, cho nên ta không dại khờ ǵ mà chọn “Thánh giáo môn”.

   Chúng ta là một hành giả tu theo đạo Phật, trước khi chọn một việc ǵ th́ phải đầy đủ tam huệ: Văn huệ, tư huệ và tu huệ.

   - Văn huệ: là ḿnh nghe rơ ràng.
   - Tư huệ: là ḿnh tư duy, suy nghĩ chọn lựa cái nào đúng cái nào sai một cách rơ ràng.
   - Tu huệ: là ḿnh áp dụng tu hành cái ḿnh đă chọn lựa tư duy một cách đúng đắn. Như vậy, tam huệ rất quan trọng, nó cũng giống như nấc thang đầu tiên, hay là ch́a khóa để chúng ta bước vào ngưỡng cửa Phật pháp. Nếu như ban đầu, chúng ta nghe một cách lập chập, tư duy một cách hời hợt, sai lệch, th́ khi chúng ta tu, dễ bị lệch lạc. Ngược lại, chúng ta nghe một cách rơ ràng, tư duy và áp dụng đúng đắn, th́ khi tu ta cảm thấy an lạc vô cùng, v́ vậy, chúng ta phải hết sức cẩn trọng ở chỗ này.

   Đức Phật Thích Ca trọn đời giáo hóa, điều phục chúng sinh, Ngài đă ban ra tám vạn bốn ngh́n pháp môn tu. Nhiều pháp môn tu như vậy, chúng ta thấy ḿnh hợp căn cơ nào th́ theo căn cơ đó, chớ không nên chê bai một pháp môn nào cả. Là đệ tử Phật chúng ta hết sức để ư ở chỗ này, không nên có một ư nào hủy báng cả, mà chúng ta phải luôn tán thán, ca ngợi, pháp môn nào cũng tốt cả, Thiền cũng tốt, Tịnh cũng tốt, Mật tông cũng tốt. Tại sao chúng ta phải ca ngợi, tán thán như vậy? Là bởi v́ đều là đức Phật chỉ dạy cả. Nếu chúng ta không khéo lại chê pháp này hay, pháp kia dở là chúng ta tự chê trách đức Phật, nếu sơ sẩy một chút thôi là rơi vào tội hủy báng pháp, tội này rất chi là nặng.

   Trong Tứ hoằng thệ nguyện có dạy: “Pháp môn vô lượng thệ nguyện học”.

   Chúng ta hợp căn cơ nào th́ theo căn cơ đó. Nếu chúng ta sốt th́ uống liều thuốc sốt, chúng ta cảm th́ uống liều thuốc cảm, chứ không nên điên dại, sốt mà lấy thuốc cảm uống. Như chúng ta thấy, nước trong bốn biển duy nhất chỉ có một vị mặn. Pháp của đức Phật dạy vô lượng chỉ có một vị giải thoát mà thôi. Xin lấy một ví dụ. Chúng ta đi ra Hà Nội, đâu phải có một đường đi, mà có nhiều đường để đi, chúng ta có thể đi xe, có thể đi máy bay, có thể đi tàu lửa, có thể đi bộ v.v… đường nào cũng tới Hà Nội, tuy lâu hay mau mà thôi. Cũng vậy, muốn đạt được quả vị Phật th́ chúng ta cũng có rất nhiều phương pháp tu như là Thiền, Tịnh, Mật, Giáo v.v… Chúng ta phải hiểu tường tận như vậy, th́ mới không mắc kẹt vào tội chấp pháp, Thiền cũng tốt, Tịnh cũng hay, Mật cũng tuyệt vời.

   Trong kinh Kim Cang, đức Phật dạy: “Chánh pháp ta c̣n bỏ, huống ǵ là phi pháp”. Chúng ta muốn qua sông th́ cần thuyền, khi qua sông rồi th́ bỏ thuyền lại, cho nên chúng ta phải biết tất cả chỉ là phương tiện mà thôi. Nếu chấp phương tiện là chúng ta khổ hay nói cách khác là sự và lư phải viên dung.
 
Sự lư viên chung

   Điều căn bản và duy nhất là phải hiểu sự lư cho rơ ràng, luôn luôn thực hành không gián đoạn th́ chắc chắn không sai. Sự không ngại ǵ lư, lư không ngại ǵ sự, hai phạm trù này luôn luôn hỗ tương cho nhau, nếu thiếu một trong hai th́ ắt hẳn không có kết quả tốt, cũng giống như con chim đủ đôi cánh mới bay được, chiếc xe đủ hai bánh mới chạy được; chúng ta hiểu như vậy th́ không bao giờ thiên lệch về một bên nào cả.

   Đôi khi chúng ta cứ nê chấp vào thuật ngữ vô niệm, lư không để rồi bác bỏ sự tu niệm Phật cầu văng sinh. Như vậy, dễ rơi vào t́nh trạng “chưa bước lên bờ đă vội phá bỏ chiếc bè” tất sẽ không tránh khỏi bị chết ch́m dưới nước. Chúng ta phải biết rằng: “Lư tuy đốn ngộ nhưng sự phải lần lượt tu hành”.

   Ví dụ: điểm đến của chúng ta là Hà Nội, như vậy lấy cái ǵ để đến Hà Nội được? Tất nhiên, chúng ta phải đi bằng máy bay, bằng xe… Chúng ta muốn qua bên kia sông th́ chúng ta phải cần cái ǵ đây? Chắc chắn là chúng ta phải mượn thuyền. Cũng vậy, muốn thấy được bản lai diện mục th́ chúng ta cần phải có ngồi thiền, quán sổ tức, tri vọng, câu thoại đầu. Muốn đạt đến nhất tâm bất loạn hay niệm Phật tam muội th́ cần phải mượn sự niệm Phật. Như vậy, chúng ta mới hiểu ra rằng: Sự và lư là một, Thiền và Tịnh là một không hai không khác.

   Nhiều khi chúng ta không suy xét kỹ, lấy những lư cao siêu trong kinh điển ra, để biện luận cho cái hiểu biết của ḿnh. Như câu: “Kỳ tùy tâm tịnh, tức Phật độ tịnh” (nếu tâm ḿnh tịnh, tức là cơi Phật đó rồi, không cầu đâu xa, rồi lại phủ nhận không có cơi Phật). Đây là sự hiểu biết thật là nông cạn, thật là đáng thương, không chỉ vậy mà c̣n gây ra một hoang mang lớn cho số Phật tử tu theo Pháp môn Tịnh độ.

   Chúng ta thử xét câu “kỳ tùy tâm tịnh, tức Phật độ tịnh” đúng ở cấp độ nào và không đúng ở cấp độ nào?

   Đáp: đúng ở cấp độ khi chúng ta thấy được Phật tánh.
   Không đúng ở cấp độ khi chúng ta chưa thấy được Phật tánh.
   Thử hỏi trong mỗi chúng ta có ai đạt được Phật tánh chưa? Thật sự mà nói chưa có ai đạt được Phật tánh. Như vậy, khi chúng ta chưa thấy được Phật tánh, mà chúng ta lấy những lư cao siêu này để mà biện bạch cho cái hiểu biết của ḿnh th́ nó sẽ phản kháng lại cho chúng ta những điều như sau.

   Thứ nhất, chỉ là lời nói viễn vông đầu môi chót lưỡi.
   Thứ hai, không thực tế.
   Thứ ba, mâu thuẫn với chính ḿnh (mâu thuẫn là sao? Là ḿnh chưa đạt được cái lư đó, mà cứ cho là ḿnh đạt được, cũng giống như nghĩ cơm mà không ăn cơm th́ không sao tránh khỏi sự đói bụng, không chỉ mâu thuẫn với chính ḿnh mà c̣n mắc vào tội đại vọng ngữ, không chứng mà nói chứng).

   Câu nói: “Kỳ tùy tâm tịnh, tức Phật độ tịnh” nghe qua tựa hồ như đúng lư, nhưng nếu xét cho kỹ th́ lại không hợp, mà chỉ chuyên về phần lư thuyết ngụy biện. Tại sao? V́ bất kỳ một pháp nào hiện hữu cũng đều nói lên lư và sự của nó. Nói về lư th́ tâm ḿnh tịnh tức là Tịnh độ, cũng như nói do tâm chúng sinh uế trược nên mới có thế giới Ta bà đau khổ. Chúng ta đă thấy do có tâm phiền năo của chúng sinh nên mới có thế giới uế trược Ta bà. Vậy th́, khi chúng sinh niệm Phật tâm được thanh tịnh tức nhiên cũng có cảnh giới Tịnh độ Cực lạc mà chúng sinh đó sẽ sinh về. Thế th́ cảnh Cực lạc là một thế giới thanh tịnh có thật, có Phật A Di Đà đang thuyết pháp giống như đức Phật Thích Ca thuyết pháp ở cơi Ta bà này. Như vậy, ta niệm Phật cầu văng sinh về Cực lạc có ǵ là không đúng, có ǵ là vọng cầu xa xôi. Mong sinh về cảnh tịnh điều đó không hay hơn là mải mê ở trong cảnh uế sao?

   Lại nữa câu nói: “Tự tánh là Phật Di Đà, tâm là cảnh Tịnh độ”, cũng như bảo chúng sinh ai cũng có Phật tánh và có thể thành Phật. Nhưng thử hỏi tâm ta đă hoàn toàn thanh tịnh chưa, và thật sự ta đă thành Phật chưa? Nếu chưa, th́ đừng quá cao ngạo, bỏ sự chấp lư, tự cho tự tánh là Phật A Di Đà, thanh tịnh tâm là Tịnh độ.
 
   Nh́n một cách thực tế, cơi Ta bà của chúng ta có mấy ai phát tâm xuất gia đâu, trong một trăm người th́ chỉ có một người xuất gia.
 
   Chúng ta thử nh́n ra bên ngoài, biết bao nhiêu điều gây rối cho xă hội như là tham nhũng hối lộ, x́ ke, ma túy, sát sinh, trộm cướp, tà dâm, v.v… có mấy ai chịu quay đầu để nh́n lại chính ḿnh, để tu tập. Nh́n chung, đại đa số th́ ch́m đắm trong ngũ dục, lục trần. Với cách nh́n khách quan như thế này, th́ làm sao chúng ta chuyển nổi cơi Ta bà này thành Tịnh độ được. Với câu nói: “Tự tánh Di Đà, duy tâm Tịnh độ” th́ quá ư là không đúng với thực tế, chỉ là hư vọng mà thôi.

   Chúng ta phải hiểu rơ Tịnh độ là ǵ?
   Tịnh: thanh tịnh, trong sạch.
    Độ: cơi, nước.
   Như vậy, Tịnh độ là một cơi thanh tịnh, trong sạch chứ không phải một cơi uế trược như cơi Ta bà này. 
  Tịnh độ c̣n có nghĩa là: tịnh hóa thân tâm, trang nghiêm quốc độ.
   Như vậy, muốn chuyển đổi một cơi đầy uế trược thành một cơi Tịnh độ thật sự, th́ mỗi chúng sinh trong cơi uế trược đó đều phải cùng nhau tu tập, cùng nhau tịnh hóa thân tâm, cùng nhau trang nghiêm quốc độ, th́ mới chiêu cảm được cơi Tịnh độ. C̣n ngược lại, th́ không bao giờ có được. Như vậy muốn có cơi Tịnh độ, th́ phải có nhân thanh tịnh, trong sạch, muốn có được nhân thanh tịnh trong sạch th́ chúng ta phải làm sao? Chúng ta phải nhất tâm niệm Phật nguyện cầu văng sinh. Cho nên, chúng ta phải biết rằng, nay tâm chưa tịnh, tánh lại chưa phải là Phật A Di Đà, th́ đừng sinh tâm ngă mạn tự cao, chê bai Chánh pháp, chê lời Phật dạy, chê lời Tổ dạy, lư thuyết ngụy biện chỉ mang thêm tội lỗi vào thân miệng ư mà trôi lăn trong ṿng ác đạo. Không ít người có tâm ngă mạn tự cao, mắc bệnh không tưởng, nên tự cho ḿnh là kẻ siêu việt vượt hơn các bậc tiền bối, khinh khi thầy tổ, chê bai lời Phật và Bồ tát, hủy diệt mất chánh tín, làm bạn với ma vương, cuối cùng cũng chỉ rơi vào con đường sinh tử. Liên Tŕ tổ sư có dạy: “Thời mạt pháp, tín tâm của bậc xuất gia có khi không bằng hàng nam cư sĩ, và phần nhiều hàng nam cư sĩ tín tâm không bằng nữ cư sĩ”.
 
   Đúng vậy, chúng ta học cho nhiều, hiểu biết cho nhiều dễ rơi vào một trong tám nạn, đó là thế trí biện thông, đôi khi chúng ta lấy mớ hiểu biết của ḿnh để rồi đi thắc mắc điều này, nghi ngờ điều kia, để chúng ta hiểu được một khái niệm mơ hồ nào đó, về một thế giới nào đó, chính cái này sẽ trở thành sở tri chướng cho chúng ta. Cái biết đó sẽ làm cho ta chướng ngại đến niềm tin, đánh mất ḷng tin, thật là nguy hiểm vô cùng.

   Tại sao Tổ Liên Tŕ nói: “Thời mạt pháp tín tâm của người xuất gia có khi không bằng hạng nữ cư sĩ”? V́ hàng nữ cư sĩ họ không cần lư thuyết suông, không cần ngụy biện để chứng tỏ ta là người học rộng hiểu nhiều, mà chỉ tín tâm vào lời Phật Tổ, vào sự tu tŕ nên đạo hạnh ngày càng tăng trưởng một cách mau chóng, và sự nghiệp văng sinh có phần cao hơn. Chỉ trừ những kẻ phước mỏng tội dày, nghiệp chướng sâu nặng, mới dễ bị lôi cuốn vào các pháp môn khác bỏ đi pháp môn niệm Phật vi diệu mà trước đây họ đă từng tu niệm. V́ nghiệp trần quá nặng nên bỏ Phật chạy theo trần cảnh ma nghiệp, ham vui nhất thời, ưa chuộng danh tiếng, mê theo lư thuyết mà bỏ đi sự tu, mê cảnh không tưởng bỏ bê giác tánh; ngày tháng chần chừ, chỉ mang lại cho tâm thần rối loạn, đầu óc ngơ ngơ ngẩn ngẩn, như người mất trí, Phật Phật ma ma, tâm thần bất định, có khi tâm trí cuồng loạn, nên sinh tử luân hồi cũng vẫn là con đường mở rộng để đón chờ.
 
   Thương thay! V́ một chút đánh mất tín tâm đối với pháp môn tu mà muôn đời trầm luân nơi sinh tử đau khổ.
 
Sinh tử là việc lớn

   Nỗi thao thức trong mỗi chúng ta là làm sao giải quyết được sinh tử bởi v́ c̣n sinh tử th́ chúng ta cứ măi trôi lăn trong ṿng luân hồi của lục đạo hết sức khổ sở. V́ sinh tử, chúng ta cứ măi vô ra trong bào thai đầy hôi tanh máu mủ, nhơ nhớp của người mẹ, có khi nằm trong bào thai của con chó, con heo, con cá v.v… cứ măi quay đi lộn lại trong vô lượng kiếp như vậy, thật là ghê rợn. V́ sinh tử mà làm đảo lộn luân thường đạo lư, ví dụ như cha lấy con, con lấy cha, mẹ lấy con, con lấy mẹ, chị lấy em, cầm dao giết con vật để ăn, không ngờ ta giết cha mẹ, anh, chị, em, thân bằng quyến thuộc của ta nhiều đời nhiều kiếp mà không hay không biết.

   V́ sinh tử, chúng ta không chỉ làm khổ cho ḿnh mà c̣n làm khổ đến cho tất cả mọi người như là làm khổ vợ, khổ chồng, khổ con, khổ cha mẹ v.v… trong vô lượng kiếp như vậy.

   Ôi! Nghĩ đến sinh tử thật là kinh hoàng, mà chúng ta không giác ngộ tu hành hay sao, chúng ta không gấp rút hay sao, đợi đến chừng nào đây?

   Thật là may mắn thay, chúng ta được làm thân người, sớm lại được gặp Phật pháp. Đặc biệt, chúng ta lại gặp được Pháp môn Tịnh độ, nhờ tha lực bản nguyện của Phật A Di Đà mà chúng ta được liễu sinh thoát tử văng sinh về thế giới Cực lạc.

   Để cho chúng ta luôn thức tỉnh, tu hành một cách nghiêm mật, th́ chúng ta phải luôn nghĩ đến sự vô thường, sự trống vắng, ngắn ngủi của kiếp người.

   Khi đề cập đến việc được làm thân người, được gặp Phật pháp là khó hay dễ, thật là khó vô cùng. Như chúng ta thường nghe: “Nhân thân nan đắc, Phật pháp nan văn”, nghĩa là: thân người khó được, Phật pháp khó nghe.
Thật là khó được gặp mà hôm nay chúng ta đều gặp được cả.

   Chúng tôi thầm nghĩ, chắc có lẽ chúng ta từ vô lượng kiếp đă từng tu tạo phước đức cho nên hôm nay mới gặp được quả tốt như thế này, bằng ngược lại th́ chúng ta không dễ ǵ mà gặp được đâu.

   V́ vậy, chúng ta phải luôn thường xuyên nghĩ đến sự vô thường, trống vắng, mỏng manh của cuộc đời mà tinh tấn tu hành, chứ trong thời gian ngắn ngủi này, chúng ta không chịu tu sửa th́ thật uổng phí cả một kiếp người.

   Đức Phật đă dạy: “Mỗi khi chúng ta đánh mất thân này, th́ trăm ngh́n muôn kiếp khó mà kiếm lại được”. Cũng giống như đức Phật ví con rùa mù hai mắt, sống tận dưới đáy biển, cứ một ngh́n năm khúc gỗ trôi qua biển th́ con rùa mù hai mắt nổi lên liền chui vào đúng bọng cây. Phật mới bảo các vị Tỳ Kheo, các thầy thấy con rùa mù hai mắt chui được vào bọng cây khó hay là dễ? Các thầy Tỳ kheo trả lời: “Kính bạch Thế Tôn, thật là khó