Tiểu sử Phật A Di Đà
A Di Đà là phiên âm từ chữ Phạn Amitabha,
nghĩa là ánh sáng vô lượng (vô lượng quang),
sống lâu vô lượng (vô lượng thọ). Sở dĩ chữ “A
Di Đà” không dịch nghĩa mà chỉ phiên âm, v́ theo
Huyền Trang Tam Tạng Pháp sư, có năm loại danh
từ không dịch nghĩa (ngũ chủng bất phiên):
1- Danh từ bí mật.
2- Danh từ nhiều nghĩa.
3- Danh từ không có ở Trung Quốc.
4- Danh từ đă có dịch từ xưa.
5- Danh từ khiến người tôn kính.
V́ Amitabha là danh từ nhiều nghĩa, bí mật và
được người đời tôn kính nên không dịch. Trong
kinh Tiểu Bản A Di Đà, đức Phật Thích Ca dạy:
“Này Xá Lợi Phất! Ư ông nghĩ sao? Phật kia v́
sao tên gọi A Di Đà? Xá Lợi Phất! Phật kia có
ánh sáng vô lượng chiếu khắp cơi nước trong mười
phương không chướng ngại, nên gọi A Di Đà. Lại
nữa Xá Lợi Phất! Phật kia cùng nhân dân sống lâu
vô lượng vô biên a-tăng-kỳ kiếp, nên gọi A Di Đà!”.
Phật A Di Đà tượng trưng cho Phật tánh chúng
sinh, v́ tánh ấy vô thỉ đến nay chưa hề sinh
diệt, nên đồng nghĩa sống lâu vô lượng. Tánh ấy
trùm khắp mười phương, tuyệt nhiên yên lặng,
chiếu sáng thời thời, nên đồng nghĩa ánh sáng vô
lượng. Tóm lại, về tướng mà nói, Phật A Di Đà là
vị giáo chủ của cơi Cực lạc Tây phương, hiện
đang thuyết pháp; trên tánh mà bàn, A Di Đà
chính là Phật tánh tất cả chúng sinh. Thường
sống với Phật tánh chính là Đạo, là trở về với
cái vô sanh, bất diệt. Từ vô lượng kiếp Phật A
Di Đà thực hành Bồ tát hạnh, trang nghiêm diệu
độ.
Rải rác trong các kinh, đức Phật Thích Ca
thường nói đến điều này. Như kinh Pháp Hoa kể,
vào thời Như Lai Đại Thông Trí Thắng hóa đạo,
lúc ấy có 16 vị vương tử xuất gia, ưa giảng nói
kinh Pháp Hoa, về sau đều thành Phật. Vương tử
thứ chín hiện là Phật A Di Đà, vương tử thứ 16
chính là đức Phật Thích Ca.
Kinh Bi Hoa ghi, thuở xưa, có vua Vô Tránh
Niệm và đại thần Bảo Hải, đồng đối trước Như Lai
Bảo Tạng, phát tâm Vô thượng Bồ-đề. Chuyển luân
Vô Tránh Niệm phát nguyện: “Khi thành Phật, tôi
nguyện ở nơi thế giới An Lạc, thanh tịnh, luôn
nhiếp thọ chúng sinh trong mười phương thế giới”.
Đại thần Bảo Hải nguyện: “Khi thành Phật, tôi
nguyện ở vào thế giới năm trược (kiếp trược,
kiến trược, phiền năo trược, chúng sinh trược,
mạng trược) để độ chúng sinh thoát khổ năo”. Vua
Vô Tránh Niệm ngày đó giờ là Phật A Di Đà, đại
thần Bảo Hải chính là Phật Thích Ca. Hai vị tuy
đồng đại nguyện nhiếp độ chúng sinh, nhưng một
vị chỉ ra cơi khổ để chúng sinh nhàm chán, một
vị bày mở cơi vui để khuyến dụ chúng sinh về.
Lại nữa, kinh Cổ Âm Vương viết, thời quá khứ,
trong nước Diệu Hỷ, có vị quốc vương tên Kiều
Thi Ca, ông nội là quốc vương Thanh Thới, cha là
Chuyển Luân vương Nguyệt Thương, mẹ Thù Thắng
Diệu Nhan, sinh ra ba quư tử: con cả tên Nguyệt
Minh, con thứ tên Kiều Thi Ca và con út là Đế
Chúng. Lúc ấy, có Đức Thế Tự Tại Vương Như Lai
ra đời, Kiều Thi Ca bèn bỏ ngôi vua, theo Phật
xuất gia, hiệu là Tỳ kheo Pháp Tạng. Một lần,
Pháp Tạng tuyên phát bốn mươi tám nguyện hóa độ
chúng sinh, thề nếu không thành, quyết không giữ
ngôi Chánh giác. Khi ấy, mười ngh́n thế giới
chấn động mạnh, giữa không trung phát ra lời
ngợi khen rằng: “Lành thay! Lành thay! Ngài nhất
định sẽ thành Phật!”.
Trong kinh Vô Lượng Thọ, thuở Phật Thế Tự Tại
Vương c̣n trụ thế, có vị quốc vương nghe Phật
nói pháp, ḷng thường vui vẻ, phát tâm Bồ-đề,
thôi làm vua, xuất gia thành Sa môn, hiệu Pháp
Tạng. Ngài thông kinh điển, tài đức vượt hơn
người. Phật Thế Tự Tại Vương, theo bản nguyện
của Ngài, dạy cho cách trang nghiêm diệu độ. Về
sau, Ngài thành Phật, hiệu A Di Đà, hiện là giáo
chủ cơi Cực lạc Tây phương.
Phát nguyện
nhân duyên
1. Ḷng đại từ
Tỳ kheo
Pháp Tạng khi rời cung vua, phát tâm Vô thượng,
tự nghĩ rằng: “Chúng sinh trong mười phương,
muôn đời chịu khổ, không bao giờ dừng”. Ngài
khởi đại bi, muốn lập một Tịnh độ, tiếp dẫn
chúng sinh về đó tiến tu. Bèn đến bạch với Thế
Tự Tại Vương Như Lai rằng: “Nay con phát tâm Vô
thượng, muốn cứu khổ muôn loài, xin hăy v́ con
chỉ bày cách thực hành, trang nghiêm diệu độ,
nhanh chóng viên măn Bồ-đề, nhổ bật gốc rễ đau
khổ cho chúng sinh”.
Phật Thế Tự Tại Vương biết Pháp Tạng có ḷng
đại bi vô lượng, nên nhân đó dạy: “Như có biển
lớn, một người muốn t́m của báu, bèn dùng đấu để
lường, nhiều kiếp đi qua, biển có thể cạn. Nay
ngươi có ḷng đại nguyện muốn cứu khổ chúng
sinh, ta sẽ v́ ngươi, tuyên bày giảng nói!”.
Xong, bèn dùng thần lực, hiện ra 200 ức quốc độ
của chư Phật. Pháp Tạng thấy vậy, mừng rỡ vô
cùng.
2. Quyết
tâm tu hành
Sau khi nghe Phật Thế Tự Tại Vương giảng bày
về các quốc độ thanh tịnh, Pháp Tạng ghi nhớ,
tâm vô cùng tịch tịnh, tinh tấn, nghiêm mật tu
hành qua năm kiếp dài. Ngài chọn những điểm thù
thắng nhất trong các cơi Phật thù thắng, xây
dựng thế giới Tịnh độ. Bạch điều này lên Phật
Thế Tự Tại Vương, đức Phật hoan hỷ thọ kư và nói
cùng đại chúng: “Trong tương lai không lâu, Bồ
tát Pháp Tạng này sẽ thành tựu đại nguyện!”.
3. Cách thức trang nghiêm Tịnh độ
Trang nghiêm nghĩa là trang hoàng, làm thành,
xây dựng. Cơi Tịnh độ an lạc là do ngài Pháp
Tạng quyết tâm tùy theo nguyện mà thực hiện
thành tựu. Khi mới phát tâm, cơi ấy vẫn có ba
đường dữ, Ngài hiện thân tu Bồ tát hạnh, độ hết
thảy chúng sinh dứt bặt tham sân si, tiến tu dự
vào hàng bất thối.
Trên nền tảng 48 đại nguyện, Tỳ kheo Pháp
Tạng xây dựng quốc độ của ḿnh bằng ba phương
diện nhiếp pháp hàng đầu: nhiếp Pháp thân nguyện,
nhiếp Tịnh độ nguyện và nhiếp Chúng sinh nguyện.
a- Nhiếp Pháp thân nguyện:
là nguyện xây dựng Phật thân. Bồ tát chọn quả
Phật thân để đem công đức trang nghiêm, thệ
nguyện trang nghiêm thành tựu Pháp thân chư Phật,
ánh sáng vô lượng, thọ mạng vô cùng.
b- Nhiếp Tịnh độ nguyện:
là nguyện xây dựng cơi Phật. Sau khi thành Phật,
Bồ tát đem công đức trang nghiêm quốc độ, tất cả
đều bằng thất bảo: vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xa
cừ, xích châu, mă năo…
c- Nhiếp chúng sinh nguyện:
là tiếp độ và giáo hóa chúng sinh, gồm cả phàm
phu và Thánh trí.
Giă từ quán
trọ
Trở về cố
hương
Quán trọ ví cho cơi Ta bà đau khổ, ngắn ngủi,
không bền chắc. Cố hương ví cho cơi Cực lạc
thuần vui, bền lâu, chắc thật.
Nói về sự: chúng ta phải thật sự rời bỏ Ta bà
để luôn nhớ nghĩ về cơi Cực lạc của Phật A Di Đà.
Nói về lư: chúng ta phải rũ bỏ tất cả những
phiền muộn, lo âu, trăn trở, giả tạm trong tâm
thức, để thảnh thơi trở về với chân như Phật
tánh hằng thanh tịnh của chúng ta.
Chúng ta thường nghĩ: Cuộc đời này luôn đầy
hoa bướm. Chúng ta say sưa đắm ch́m trong t́nh
yêu, danh vọng, tiền bạc, cứ ngỡ cuộc đời là
những bài thơ, tiếp nối với những ngày vui bất
tận, hoa sẽ không tàn, trăng sẽ không khuyết,
cuộc vui dài kéo đến thiên thu. Nhưng có ngờ đâu,
thân người như bóng chớp chiều hôm, mới trẻ rồi
già, mới sống rồi chết, trong cuộc vui hội ngộ
đă ươm mầm chia ly. Đời người thật vô thường,
huyễn mộng như hoa sớm nở tối tàn, vui ít khổ
nhiều, sống chết nối liền không ai tránh khỏi.
Ai cũng biết đời ít người trăm tuổi, tuổi xuân
thấy đó rồi chợt mất, buồn vô cùng và khổ cũng
vô cùng.
V́ sao vậy? V́ quán trọ chỉ cho sự tạm bợ,
ngắn ngủi, ví như những quán trọ ở ven đường,
chỉ dành cho khách bộ hành dừng chân nghỉ mát,
sau đó từ giă ra đi, chớ không ở măi được. Cũng
vậy, Ta bà chẳng khác ǵ quán trọ, nhân loại
sống trong cơi này đều giả tạm, vô thường, không
thật. Tại sao không thật? V́ suốt cả cuộc đời bị
sinh, lăo, bệnh, tử, tiền tài, danh vọng chi
phối, bức bách thật là khổ năo. Tất cả đời sống
vật chất cho dù làm vua, làm quan, giàu sang đến
cỡ nào đi nữa nhưng khi ra đi không mang được ǵ
cả, cho nên mới gọi là không thật. Chúng ta là
người hiểu đạo, phải sớm giác ngộ ngay chỗ này,
sống có đạo đức để làm lợi ích cho mọi người. Có
như vậy, mới không uổng phí đời người.
Ta bà thật là đau khổ, tại sao chúng ta không
sớm giác ngộ để một ḷng nhớ về cố hương Cực lạc?
Cố hương là nơi chúng ta chôn nhau cắt rốn, là
ngôi nhà vững chắc cho chúng ta ngơi nghỉ sau
những ngày tháng vất vả với cuộc đời.
Ngày ấy, đức Phật Thích Ca, v́ hiểu cuộc đời
ngắn ngủi, kiếp phù sinh tạm bợ, mong manh nên
đă quay mặt với vinh hoa, độc hành vào núi thẳm,
rừng sâu t́m chân lư. Bao ngày tháng miệt mài tu
tập, cuối cùng giác ngộ, đem đạo mầu soi tỏ cuộc
đời. Giáo lư Ngài dạy rất nhiều, trong đó, vô
thường (không thường c̣n, luôn đổi thay biến
dạng) là một trong những giáo lư căn bản.
Phàm mọi pháp vô thường, theo sau là khổ. Ấy
vậy, chúng sinh không tỉnh, lấy khổ làm vui, cam
ḷng nhận chịu, nên gọi là Ta bà. Ta bà là cơi
uế trược đầy dẫy khổ đau. Trái lại, cơi Cực lạc
là cơi thuần vui, nơi an lạc thanh tịnh cho tất
cả chúng sinh. V́ thế, người Việt Nam ta, khi có
người thân tạ thế, tất cả đều mong ước nguyện
cầu vong hồn sớm tiêu diêu miền Cực lạc. Danh từ
Cực lạc đối với dân tộc ta nó thân thiết đậm đà
như một ngôi nhà ấm cúng, là nơi yên nghỉ an
toàn, là quê hương đầy thắng cảnh cho những
khách lăng tử viễn du ṃn gót trên vạn nẻo đường
đời. Để hết khổ được vui, chúng ta hăy hiểu rơ
hai cơi Ta bà và Cực lạc.
Ta bà là ǵ? Ta bà là phiên âm từ chữ Saha
của Phạn ngữ, có nghĩa là ráng chịu đựng, v́
chúng sinh ở trong cơi này chịu các phiền năo,
tham sân si bức bách, làm các điều ác, xoay
quanh trong ba nẻo sáu đường, lại cứ cam ḷng
nhẫn chịu không mong ngày ra khỏi. Ta bà không
phải chỉ có một thế giới ta đang ở, mà nó gồm cả
ba ngh́n đại thiên thế giới, trong phạm vi hóa
độ của Phật Thích Ca Mâu Ni.
Cực lạc là ǵ? Cực là rất, lạc là vui. Như
vậy, Cực lạc là cơi thuần vui. Trong Kỳ Viên Hội,
đức Phật gọi ngài Xá Lợi Phất dạy rằng: “Cơi đó
v́ sao gọi là Cực lạc? V́ chúng sinh trong cơi
đó không có các điều khổ, chỉ hưởng thuần những
sự vui, nên gọi là Cực lạc”.
Vậy, để giă từ quán trọ (Ta bà) một cách dứt
khoát, thiết tha nhớ về cố hương (Cực lạc) th́
chúng ta phải so sánh sự hơn kém giữa chánh báo
và y báo của hai cơi.
Quy hướng Tịnh
độ
Nay là thời mạt pháp,
chính là lúc Pháp môn Tịnh độ đang cần hơn bao
giờ hết cho nhân loại. V́ vậy, chúng ta nên tuân
thủ nhiều hơn đối với Pháp môn Tịnh độ. Như ngài
Thiên Như Thiền sư đă dạy: “Mạt pháp chi hậu chư
kinh diệt tận, chỉ lưu A Di Đà Phật tứ tự cứu độ
chúng sinh, kỳ bất tín giả, ưng đọa địa ngục”,
nghĩa là: đời mạt pháp về sau, các kinh sách đều
diệt hết, chỉ c̣n lưu lại bốn chữ A Di Đà Phật
để cứu độ chúng sinh, nếu kẻ nào không tin, tức
sẽ bị đọa địa ngục”.
Ngẫu Ích Trí Húc đại sư khi viết quyển A Di
Đà Kinh Yếu Giải đă phải lên tiếng than rằng:
“Đời mạt pháp ức vạn người tu hành ít có người
đắc đạo. Chỉ c̣n nhờ pháp niệm Phật mới được độ
thoát. Than ôi! Nay chính là đời mạt pháp rồi mà
bỏ pháp môn niệm Phật này th́ c̣n pháp môn nào
tu học được nữa!”.
Tế Tỉnh đại sư (Triệt Ngộ) Liên tông thập nhị
Tổ thường dạy rằng: “Ngài Vĩnh Minh Diên Thọ
nguyên là bậc “tông tượng” trong chốn Thiền môn
mà c̣n quy tâm về Tịnh độ thay, huống chi nay là
thời kỳ mạt pháp, chúng ta lại càng phải nên
tuân theo hơn nữa”.
Các vị Thiền sư c̣n phải lên tiếng nói rằng:
“Nếu như chúng tôi khi mới xuất gia mà có túc
căn sớm với Pháp môn Tịnh độ, th́ chúng tôi
không phải mất công, tốn sức chuyển pháp môn tu
như thế này đâu”.
Chúng ta thấy, các vị Thiền sư c̣n quy tâm về
Pháp môn Tịnh độ một cách dứt khoát, th́ phải
nói pháp môn niệm Phật là pháp môn vi diệu, bất
khả tư ngh́.
Hôm nay, thật là hữu duyên cho chúng ta sớm
gặp được Pháp môn Tịnh độ ngay từ ban đầu, theo
như chúng tôi nghĩ, chắc có lẽ từ vô lượng kiếp
chúng ta đă từng gieo nhân niệm Phật, chính nhân
niệm Phật này mà chúng ta có được quả niệm Phật
hôm nay.
Nhờ nhân duyên lành đó, chúng ta được chư
Phật, chư Bồ tát, chư Tổ trao tặng pháp môn này,
chứ đâu phải dễ. Đây là một pháp môn mà các Ngài
đă thực hành và đă chứng đắc.
Vậy chúng ta đi theo pháp môn tu của các Ngài
chỉ dạy th́ chúng ta cũng giống như các Ngài
không hai không khác.
Chúng ta đă có duyên với Pháp môn Tịnh độ,
th́ chúng ta không sợ lạc đường, nếu nói lạc
đường th́ chư Tổ lạc đường trước. Ví dụ, nếu như
pháp môn niệm Phật này không có ai tu theo mà ta
tu một ḿnh th́ ta mới sợ lạc đường, huống hồ
chư Tổ, nhiều vị tu theo pháp môn này, th́ chắc
chắn chúng ta không sợ lạc đường, chúng ta phải
có lập trường và tin chắc như vậy, không có một
ư nào mà hoài nghi cả.
Trong kinh Niệm Phật Ba La Mật, đức Phật dạy:
“Trong quá khứ vô lượng vô biên a-tăng-kỳ kiếp
nhẫn lại đến nay, mười phương chư Phật chỉ dùng
pháp môn niệm Phật để cứu vớt hết thảy chúng
sinh”.
Trong hiện tại cũng có vô lượng vô biên hằng
hà sa số chư Phật cũng đang thuyết giảng giáo
nghĩa này. Đức Phật c̣n nói thêm trong đời vị
lai, tất cả mười phương chư Phật muốn cứu vớt
chúng sinh th́ không ngoài pháp môn niệm Phật
này. V́ vậy, Như Lai bảo rằng: “Pháp môn niệm
Phật là vua trong tất cả các pháp”.
Chư Phật, chư Tổ, chư Bồ tát luôn khen ngợi,
tán thán, ra sức xiển dương Pháp môn Tịnh độ mà
chúng ta không tin hay sao. Ví như có một người
nào đó bị trúng đạn vào chân, th́ chúng ta cũng
cảm thấy họ đau như thế nào, khi chúng ta bắt
gặp một người nào đó rạng rỡ nở nụ cười trên môi
th́ chúng ta cũng cảm thấy được họ hạnh phúc, họ
vui như thế nào, huống hồ, biết bao nhiêu danh
hạnh, biết bao nhiêu tấm gương sáng niệm Phật
được văng sinh. Tổ Tổ tương truyền cho đến bây
giờ th́ chúng ta cũng cảm thấy được pháp môn
niệm Phật vi diệu, thù thắng, tuyệt vời như thế
nào rồi.
Không phải chúng tôi theo Tịnh độ mà chúng
tôi tự đề xướng, tự đưa pháp môn của ḿnh lên
tận trời cao đâu, mà phải hiểu như thế này, hôm
nay, chúng tôi chỉ là người phụ họa thêm thôi,
chỉ là người biết cầm bút để ghi lại những lời
chư Phật, chư Tổ chỉ dạy mà thôi, chớ chúng tôi
không bao giờ có ư bảo thủ, tự lập một pháp môn
riêng cho ḿnh đâu, đây là điều mà chúng tôi tối
kỵ nhất.
Chúng tôi xiển dương ca ngợi pháp môn Tịnh độ
là đều y cứ vào sử sách, chớ không bao giờ nói
một cách suông, như chúng ta đă từng biết đạo
Phật không chỉ nói lư thuyết suông không, mà c̣n
phải đ̣i hỏi hành nữa, cho nên có câu “Học đạo
chưa phải là đắc đạo. Hành đạo mới gọi là đắc
đạo”. Đúng vậy, những điều chúng tôi nói đều y
cứ vào sử sách chứ không bao giờ tự nói, để cho
quư vị có được tín tâm đối với pháp môn này,
chúng tôi xin giới thiệu một số sách nói về Pháp
môn Tịnh độ. Đó là: kinh A Di Đà, kinh Quán Vô
Lượng Thọ, kinh Vô Lượng Thọ, kinh Niệm Phật Ba
La Mật, kinh Đại Thừa Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm
Thanh Tịnh B́nh Đẳng Giác, Niệm Phật Thập Yếu,
Những chuyện văng sinh lưu xá lợi v.v…
Đă là một hành giả tu theo Pháp môn Tịnh độ
th́ chúng ta nên cần t́m đọc những cuốn sách
Tịnh độ, có như vậy mới giúp cho tín tâm của
chúng ta vững chắc thêm. Ngoài những cuốn sách
Tịnh độ trên, chúng ta nên t́m đọc ngay cuốn
“Liên Tông Thập Tam Tổ”, đây là một cuốn sách
gối đầu, nói rất rơ ràng về phương pháp tu và
những công hạnh đẹp của 13 vị Tổ sư của Pháp môn
Tịnh độ.
Để chúng ta có niềm tin sâu, nguyện thiết,
hành chuyên, đối với Pháp môn Tịnh độ, chúng tôi
xin dẫn chứng một vị Tổ trong Liên tông thập tam
Tổ cho quư vị biết: đó là Sơ Tổ Huệ Viễn. Trong
10 năm ṛng ră niệm Phật, Ngài đă thấy Phật A Di
Đà xoa đầu Ngài ba lần. Khi lâm chung Ngài biết
được ngày giờ ra đi, an nhiên thị tịch một cách
tự tại. Từ Sơ Tổ Huệ Viễn lần đến vị Tổ thứ 13
là Ấn Quang đại sư đều niệm Phật, khi lâm chung
các Ngài đều biết ngày giờ ra đi một cách tự tại.
Thật phải nói, pháp môn niệm Phật là pháp môn
thù thắng. Như vậy thử hỏi Pháp môn Tịnh độ có
phải dành riêng cho những người thấp hèn, bất
học tu không?
Chúng tôi xin mạnh dạn trả lời thật là không
phải chỉ dành riêng cho những kẻ thấp hèn mà c̣n
cho đến các vị đại sĩ Pháp thân Bồ tát, chư Tổ
cũng đều tu theo.
Thế mà nay, chúng tôi vẫn c̣n nghe văng vẳng
bên tai pháp môn niệm Phật chỉ dành cho những kẻ
không học, những kẻ ngu phu ngu phụ, những người
đầu làng cuối xóm tu theo thôi, c̣n những bậc có
học, thượng căn ai mà tu theo làm ǵ!
Hôm nay, chúng tôi viết đề tài này là thiết
tha kêu gọi những ai mà đă có ư chê bai hủy báng
Pháp môn Tịnh độ th́ nên lập tâm sám hối, chớ
không th́ chúng ta tự hủy báng chư Phật, chư Bồ
tát, chư Tổ đấy, thật là tội nặng đáng đọa vào
tam đồ.
Cho nên Ấn Quang đại sư đă phải lên tiếng
cảnh cáo người đời rằng: “Pháp môn niệm Phật cao
thâm huyền diệu mà vẫn có nhiều kẻ c̣n dám khinh
chê cho là chỉ có những người già nua, tuổi tác
yếu đuối, dốt nát mới theo Pháp môn Tịnh độ th́
quả là họ đă dám coi thường, khinh chê cả các vị
đại Bồ tát như Di Lặc, Văn Thù, Phổ Hiền, Quán
Thế Âm, Đại Thế Chí, Mă Minh, Long Thọ rồi vậy”.
Đối với quư vị nào mà đă phạm vào thiển ư chê
bai, hủy báng Pháp môn Tịnh độ, th́ quư vị không
nên run sợ ǵ cả. Như chúng
ta thường nghe đức Phật dạy:
Có hai hạng người mạnh:
1. Hạng người có lỗi mà biết sám hối.
2. Hạng người không tạo lỗi.
Vậy quư vị cứ y theo lời Phật dạy th́ sẽ trở
thành người tốt mà thôi.
Ngài Trí Húc đại sư, lừng danh trong chốn
Thiền môn thuở xưa, đă lên tiếng trước hàng đệ
tử: “Khi mới xuất gia, tôi tập ngồi thiền, tự
phụ đă tu theo đốn pháp dễ ngộ và tỏ ư chê bai
Pháp môn Tịnh độ, cho là tiệm pháp lâu chứng.
Khi ấy c̣n ít tuổi, tôi dám cả gan nói những
điều thiếu suy xét rằng: “Pháp môn Tịnh độ chỉ
dành riêng cho hạng người hạ căn ít học mà thôi.
Chẳng dè, nhân bị một cơn ốm nặng, tưởng khó qua
khỏi, tôi mới chịu phát tâm niệm Phật A Di Đà,
sau đó khỏi bệnh, tôi được đọc nhiều sách nói về
Tịnh độ, lúc này tôi mới bừng tỉnh, bừng tỉnh
cái ǵ? Là thấy chư Bồ tát, chư Tổ đều niệm Phật
cầu văng sinh, kể từ đây tôi mới nhất tâm niệm
Phật A Di Đà cầu văng sinh Tây phương Cực lạc,
ngày đêm không ngừng với một sức tinh tiến ít
người nào sánh kịp”.
Chúng ta đă thấy tận tường chưa? Ngài Trí Húc
đại sư là bậc tông tượng trong chốn Thiền môn,
khi mới xuất gia theo Thiền tông, Ngài có ư chê
bai hủy báng Pháp môn Tịnh độ, nhưng khi bừng
tỉnh, Ngài thấy ḿnh có lỗi liền lập tâm sám hối,
quy hướng về Pháp môn Tịnh độ niệm Phật cầu văng
sinh để giải quyết sinh tử.
Chư Phật, chư Tổ v́ thương chúng sinh đời mạt
pháp cứ măi trôi lăn trong ṿng sinh tử, với
ḷng từ bi vô điều kiện, các Ngài đă khuyên
chúng ta nên theo Pháp môn Tịnh độ v́ dễ tu, dễ
chứng như đi thuyền buồm xuôi ḍng, gặp gió
thuận, lướt nhẹ trên mặt nước, tiến mau như mũi
tên, c̣n tu theo các pháp môn khác sẽ gặp nhiều
điều khó khăn.
Cho nên trong Liên Tông Thập Tam Tổ, Ấn Quang
đại sư nói rằng: “Bỏ đường tắt Tây phương, chín
giới chúng sinh trên khó thể viên thành quả giác.
Ĺa cửa mầu Tịnh độ, mười phương chư Phật, dưới
không toàn độ khắp quần mê. Pháp môn cao cả lợi
khắp ba căn nhân đây: Chín cơi đồng về, mười
phương khen ngợi. Phật nguyện rộng sâu không từ
một vật nên được: ngh́n kinh đều chỉ, muôn luận
tuyên bày”.
Mỗi niệm danh hiệu Phật tức là mỗi niệm thành
Phật, không đợi nhiều kiếp tu chứng, v́ nó gồm
cả Thiền, Giáo, Luật, Mật, phổ cập đến các bậc
thượng, trung, hạ, như mưa thấm nhuần đủ muôn
vật, như biển cả dung nạp trăm sông, Đại thừa,
Tiểu thừa, Đốn giáo, Tiệm giáo, tất cả tu theo
pháp môn này đều được thành tựu Phật quả.
Sự lựa chọn
Pháp tu
Theo Đạo Xước Thiền sư, trên bước đường tu
tập, Ngài đă chia ra hai phương pháp tu:
1. Thánh giáo môn.
2. Tịnh độ môn
Như thế nào gọi là Thánh giáo
môn? Thánh giáo môn là tự ḿnh dùng giới, định,
huệ, diệt tham, sân, si. Ắt hẳn suốt cả cuộc đời
này, chúng ta tự tu một ḿnh liệu có diệt hết
tham, sân, si không, chắc chắn là không rồi.
Thử hỏi, trong đời mạt pháp này có ai tu mà đạt
được cảnh giới Phi tưởng phi phi tưởng xứ định
chưa, thật sự chưa có một ai đạt được. Nhưng cho
dù đạt được đi nữa cũng không diệt hết tham, sân,
si và đây, chúng tôi xin lấy một ví dụ để chứng
minh.
Như ông Uất Đầu Lam Phất tu đạt được cảnh
giới cao nhất của cơi trời Vô sắc, đó là Phi
tưởng phi phi tưởng xứ định nhưng cũng chưa làm
chủ được phiền năo. Là thế này, nhân một buổi
ông ta ngồi thiền tại một gốc cây, trong lúc
đang hành thiền, th́ có những chú chim bay nhảy,
kêu hót trên cây rộn ră, lúc này, ông ta tỏ ư
sân hận với mấy chú chim, liền bỏ gốc cây đi
xuống gần một ḍng suối để ngồi thiền. Không ngờ
ông ta tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa, trong lúc ngồi
thiền tại ḍng suối th́ những chú cá bơi lui bơi
lại làm động nước phát ra tiếng ồn, lúc này, ông
ta nổi sân hận hơn lúc trước, liền khởi ư ác là
sau này đầu thai làm một con ǵ mà ăn hết các
loại chim và cá, v́ tham sân si này nổi lên, sau
khi chết ông ta đầu thai làm con phi ly (là con
chồn biết bay).
Qua câu chuyện này chúng ta thấy rằng: cho dù
tự lực tu mà đạt được cảnh giới Phi tưởng phi
phi tưởng xứ định đi nữa cũng không bao giờ diệt
hết tham sân si, huống hồ chúng ta là chúng sinh
đời mạt pháp, phước mỏng nghiệp dày mà một ḿnh
tự lực tu th́ chúng ta không bao giờ giải quyết
được sinh tử. Như vậy, theo “Thánh giáo môn” th́
chúng ta không kham nổi.
Vậy, chúng ta tiếp tục phân tích, mổ xẻ
phương pháp thứ hai: “Tịnh độ môn”.
Tịnh độ môn chia ra hai phương pháp: Yếu chỉ
Tịnh độ và Tha lực Tịnh độ.
Như thế nào gọi là Yếu chỉ Tịnh độ? Là tự
ḿnh sách tấn, tu hành để tạo một cơi Tịnh độ
ngay trong hiện tại, như vậy phương pháp này chỉ
dùng cho bậc thượng căn mà thôi.
Như thế nào gọi là Tha lực Tịnh độ? Là ḿnh
nương nơi bản nguyện của Phật A Di Đà để được
văng sinh, phương pháp này khế hợp với ba căn cơ,
hạ căn, trung căn, thượng căn. Tha lực Tịnh độ
cũng giống như đi thuyền qua sông, c̣n Thánh
giáo môn tự lội qua sông. Như vậy, người mà có
thuyền chở qua sông và người tự lội qua sông,
thử hỏi trong hai người cùng đi qua sông, người
nào khỏe nhất? Chắc chắn là người có thuyền chở
qua.
Qua sự phân tích, mổ xẻ phương pháp tu trên
đây, chúng ta chọn phương pháp tu nào là hợp
nhất? Theo chúng tôi nghĩ, chắc chắn ai cũng đều
đồng ư chọn “Tha lực Tịnh độ”. Tại sao ta chọn
phương pháp này ? Là v́ hợp với căn cơ của chúng
ta, cho nên ta không dại khờ ǵ mà chọn “Thánh
giáo môn”.
Chúng ta là một hành giả tu theo đạo Phật,
trước khi chọn một việc ǵ th́ phải đầy đủ tam
huệ: Văn huệ, tư huệ và tu huệ.
- Văn huệ: là ḿnh nghe rơ ràng.
- Tư huệ: là ḿnh tư duy, suy nghĩ chọn lựa
cái nào đúng cái nào sai một cách rơ ràng.
- Tu huệ: là ḿnh áp dụng tu hành cái ḿnh đă
chọn lựa tư duy một cách đúng đắn. Như vậy, tam
huệ rất quan trọng, nó cũng giống như nấc thang
đầu tiên, hay là ch́a khóa để chúng ta bước vào
ngưỡng cửa Phật pháp. Nếu như ban đầu, chúng ta
nghe một cách lập chập, tư duy một cách hời hợt,
sai lệch, th́ khi chúng ta tu, dễ bị lệch lạc.
Ngược lại, chúng ta nghe một cách rơ ràng, tư
duy và áp dụng đúng đắn, th́ khi tu ta cảm thấy
an lạc vô cùng, v́ vậy, chúng ta phải hết sức
cẩn trọng ở chỗ này.
Đức Phật Thích Ca trọn đời giáo hóa, điều
phục chúng sinh, Ngài đă ban ra tám vạn bốn
ngh́n pháp môn tu. Nhiều pháp môn tu như vậy,
chúng ta thấy ḿnh hợp căn cơ nào th́ theo căn
cơ đó, chớ không nên chê bai một pháp môn nào cả.
Là đệ tử Phật chúng ta hết sức để ư ở chỗ này,
không nên có một ư nào hủy báng cả, mà chúng ta
phải luôn tán thán, ca ngợi, pháp môn nào cũng
tốt cả, Thiền cũng tốt, Tịnh cũng tốt, Mật tông
cũng tốt. Tại sao chúng ta phải ca ngợi, tán
thán như vậy? Là bởi v́ đều là đức Phật chỉ dạy
cả. Nếu chúng ta không khéo lại chê pháp này
hay, pháp kia dở là chúng ta tự chê trách đức
Phật, nếu sơ sẩy một chút thôi là rơi vào tội
hủy báng pháp, tội này rất chi là nặng.
Trong Tứ hoằng thệ nguyện có dạy: “Pháp môn
vô lượng thệ nguyện học”.
Chúng ta hợp căn cơ nào th́ theo căn cơ đó.
Nếu chúng ta sốt th́ uống liều thuốc sốt, chúng
ta cảm th́ uống liều thuốc cảm, chứ không nên
điên dại, sốt mà lấy thuốc cảm uống. Như chúng
ta thấy, nước trong bốn biển duy nhất chỉ có một
vị mặn. Pháp của đức Phật dạy vô lượng chỉ có
một vị giải thoát mà thôi. Xin lấy một ví dụ.
Chúng ta đi ra Hà Nội, đâu phải có một đường đi,
mà có nhiều đường để đi, chúng ta có thể đi xe,
có thể đi máy bay, có thể đi tàu lửa, có thể đi
bộ v.v… đường nào cũng tới Hà Nội, tuy lâu hay
mau mà thôi. Cũng vậy, muốn đạt được quả vị Phật
th́ chúng ta cũng có rất nhiều phương pháp tu
như là Thiền, Tịnh, Mật, Giáo v.v… Chúng ta phải
hiểu tường tận như vậy, th́ mới không mắc kẹt
vào tội chấp pháp, Thiền cũng tốt, Tịnh cũng
hay, Mật cũng tuyệt vời.
Trong kinh Kim Cang, đức Phật dạy: “Chánh
pháp ta c̣n bỏ, huống ǵ là phi pháp”. Chúng ta
muốn qua sông th́ cần thuyền, khi qua sông rồi
th́ bỏ thuyền lại, cho nên chúng ta phải biết
tất cả chỉ là phương tiện mà thôi. Nếu chấp
phương tiện là chúng ta khổ hay nói cách khác là
sự và lư phải viên dung.
Sự lư viên
chung
Điều căn bản và duy nhất là phải hiểu sự lư
cho rơ ràng, luôn luôn thực hành không gián đoạn
th́ chắc chắn không sai. Sự không ngại ǵ lư, lư
không ngại ǵ sự, hai phạm trù này luôn luôn hỗ
tương cho nhau, nếu thiếu một trong hai th́ ắt
hẳn không có kết quả tốt, cũng giống như con
chim đủ đôi cánh mới bay được, chiếc xe đủ hai
bánh mới chạy được; chúng ta hiểu như vậy th́
không bao giờ thiên lệch về một bên nào cả.
Đôi khi chúng ta cứ nê chấp vào thuật ngữ vô
niệm, lư không để rồi bác bỏ sự tu niệm Phật cầu
văng sinh. Như vậy, dễ rơi vào t́nh trạng “chưa
bước lên bờ đă vội phá bỏ chiếc bè” tất sẽ không
tránh khỏi bị chết ch́m dưới nước. Chúng ta phải
biết rằng: “Lư tuy đốn ngộ nhưng sự phải lần
lượt tu hành”.
Ví dụ: điểm đến của chúng ta là Hà Nội, như
vậy lấy cái ǵ để đến Hà Nội được? Tất nhiên,
chúng ta phải đi bằng máy bay, bằng xe… Chúng ta
muốn qua bên kia sông th́ chúng ta phải cần cái
ǵ đây? Chắc chắn là chúng ta phải mượn thuyền.
Cũng vậy, muốn thấy được bản lai diện mục th́
chúng ta cần phải có ngồi thiền, quán sổ tức,
tri vọng, câu thoại đầu. Muốn đạt đến nhất tâm
bất loạn hay niệm Phật tam muội th́ cần phải
mượn sự niệm Phật. Như vậy, chúng ta mới hiểu ra
rằng: Sự và lư là một, Thiền và Tịnh là một
không hai không khác.
Nhiều khi chúng ta không suy xét kỹ, lấy
những lư cao siêu trong kinh điển ra, để biện
luận cho cái hiểu biết của ḿnh. Như câu: “Kỳ
tùy tâm tịnh, tức Phật độ tịnh” (nếu tâm ḿnh
tịnh, tức là cơi Phật đó rồi, không cầu đâu xa,
rồi lại phủ nhận không có cơi Phật). Đây là sự
hiểu biết thật là nông cạn, thật là đáng thương,
không chỉ vậy mà c̣n gây ra một hoang mang lớn
cho số Phật tử tu theo Pháp môn Tịnh độ.
Chúng ta thử xét câu “kỳ tùy tâm tịnh, tức
Phật độ tịnh” đúng ở cấp độ nào và không đúng ở
cấp độ nào?
Đáp: đúng ở cấp độ khi chúng ta thấy được
Phật tánh.
Không đúng ở cấp độ khi chúng ta chưa thấy
được Phật tánh.
Thử hỏi trong mỗi chúng ta có ai đạt được
Phật tánh chưa? Thật sự mà nói chưa có ai đạt
được Phật tánh. Như vậy, khi chúng ta chưa thấy
được Phật tánh, mà chúng ta lấy những lư cao
siêu này để mà biện bạch cho cái hiểu biết của
ḿnh th́ nó sẽ phản kháng lại cho chúng ta những
điều như sau.
Thứ nhất, chỉ là lời nói viễn vông đầu
môi chót lưỡi.
Thứ hai, không thực tế.
Thứ ba, mâu thuẫn với chính ḿnh (mâu thuẫn
là sao? Là ḿnh chưa đạt được cái lư đó, mà cứ
cho là ḿnh đạt được, cũng giống như nghĩ cơm mà
không ăn cơm th́ không sao tránh khỏi sự đói
bụng, không chỉ mâu thuẫn với chính ḿnh mà c̣n
mắc vào tội đại vọng ngữ, không chứng mà nói
chứng).
Câu nói: “Kỳ tùy tâm tịnh, tức Phật độ tịnh”
nghe qua tựa hồ như đúng lư, nhưng nếu xét cho
kỹ th́ lại không hợp, mà chỉ chuyên về phần lư
thuyết ngụy biện. Tại sao? V́ bất kỳ một pháp
nào hiện hữu cũng đều nói lên lư và sự của nó.
Nói về lư th́ tâm ḿnh tịnh tức là Tịnh độ, cũng
như nói do tâm chúng sinh uế trược nên mới có
thế giới Ta bà đau khổ. Chúng ta đă thấy do có
tâm phiền năo của chúng sinh nên mới có thế giới
uế trược Ta bà. Vậy th́, khi chúng sinh niệm
Phật tâm được thanh tịnh tức nhiên cũng có cảnh
giới Tịnh độ Cực lạc mà chúng sinh đó sẽ sinh về.
Thế th́ cảnh Cực lạc là một thế giới thanh tịnh
có thật, có Phật A Di Đà đang thuyết pháp giống
như đức Phật Thích Ca thuyết pháp ở cơi Ta bà
này. Như vậy, ta niệm Phật cầu văng sinh về Cực
lạc có ǵ là không đúng, có ǵ là vọng cầu xa
xôi. Mong sinh về cảnh tịnh điều đó không hay
hơn là mải mê ở trong cảnh uế sao?
Lại nữa câu nói: “Tự tánh là Phật Di Đà, tâm
là cảnh Tịnh độ”, cũng như bảo chúng sinh ai
cũng có Phật tánh và có thể thành Phật. Nhưng
thử hỏi tâm ta đă hoàn toàn thanh tịnh chưa, và
thật sự ta đă thành Phật chưa? Nếu chưa, th́
đừng quá cao ngạo, bỏ sự chấp lư, tự cho tự tánh
là Phật A Di Đà, thanh tịnh tâm là Tịnh độ.
Nh́n một cách thực tế, cơi Ta bà của chúng ta
có mấy ai phát tâm xuất gia đâu, trong một trăm
người th́ chỉ có một người xuất gia.
Chúng ta thử nh́n ra bên ngoài, biết bao
nhiêu điều gây rối cho xă hội như là tham nhũng
hối lộ, x́ ke, ma túy, sát sinh, trộm cướp, tà
dâm, v.v… có mấy ai chịu quay đầu để nh́n lại
chính ḿnh, để tu tập. Nh́n chung, đại đa số th́
ch́m đắm trong ngũ dục, lục trần. Với cách nh́n
khách quan như thế này, th́ làm sao chúng ta
chuyển nổi cơi Ta bà này thành Tịnh độ được. Với
câu nói: “Tự tánh Di Đà, duy tâm Tịnh độ” th́
quá ư là không đúng với thực tế, chỉ là hư vọng
mà thôi.
Chúng ta phải hiểu rơ Tịnh độ là ǵ?
Tịnh:
thanh tịnh, trong sạch.
Độ: cơi, nước.
Như vậy, Tịnh độ là một cơi thanh tịnh, trong
sạch chứ không phải một cơi uế trược như cơi Ta
bà này.
Tịnh độ c̣n có nghĩa là: tịnh hóa thân tâm,
trang nghiêm quốc độ.
Như vậy, muốn chuyển đổi một cơi đầy uế trược
thành một cơi Tịnh độ thật sự, th́ mỗi chúng
sinh trong cơi uế trược đó đều phải cùng nhau tu
tập, cùng nhau tịnh hóa thân tâm, cùng nhau
trang nghiêm quốc độ, th́ mới chiêu cảm được cơi
Tịnh độ. C̣n ngược lại, th́ không bao giờ có
được. Như vậy muốn có cơi Tịnh độ, th́ phải có
nhân thanh tịnh, trong sạch, muốn có được nhân
thanh tịnh trong sạch th́ chúng ta phải làm sao?
Chúng ta phải nhất tâm niệm Phật nguyện cầu văng
sinh. Cho nên, chúng ta phải biết rằng, nay tâm
chưa tịnh, tánh lại chưa phải là Phật A Di Đà,
th́ đừng sinh tâm ngă mạn tự cao, chê bai Chánh
pháp, chê lời Phật dạy, chê lời Tổ dạy, lư
thuyết ngụy biện chỉ mang thêm tội lỗi vào thân
miệng ư mà trôi lăn trong ṿng ác đạo. Không ít
người có tâm ngă mạn tự cao, mắc bệnh không
tưởng, nên tự cho ḿnh là kẻ siêu việt vượt hơn
các bậc tiền bối, khinh khi thầy tổ, chê bai lời
Phật và Bồ tát, hủy diệt mất chánh tín, làm bạn
với ma vương, cuối cùng cũng chỉ rơi vào con
đường sinh tử. Liên Tŕ tổ sư có dạy: “Thời mạt
pháp, tín tâm của bậc xuất gia có khi không bằng
hàng nam cư sĩ, và phần nhiều hàng nam cư sĩ tín
tâm không bằng nữ cư sĩ”.
Đúng vậy, chúng ta học cho nhiều, hiểu biết
cho nhiều dễ rơi vào một trong tám nạn, đó là
thế trí biện thông, đôi khi chúng ta lấy mớ hiểu
biết của ḿnh để rồi đi thắc mắc điều này, nghi
ngờ điều kia, để chúng ta hiểu được một khái
niệm mơ hồ nào đó, về một thế giới nào đó, chính
cái này sẽ trở thành sở tri chướng cho chúng ta.
Cái biết đó sẽ làm cho ta chướng ngại đến niềm
tin, đánh mất ḷng tin, thật là nguy hiểm vô
cùng.
Tại sao Tổ Liên Tŕ nói: “Thời mạt pháp tín
tâm của người xuất gia có khi không bằng hạng nữ
cư sĩ”? V́ hàng nữ cư sĩ họ không cần lư thuyết
suông, không cần ngụy biện để chứng tỏ ta là
người học rộng hiểu nhiều, mà chỉ tín tâm vào
lời Phật Tổ, vào sự tu tŕ nên đạo hạnh ngày
càng tăng trưởng một cách mau chóng, và sự
nghiệp văng sinh có phần cao hơn. Chỉ trừ những
kẻ phước mỏng tội dày, nghiệp chướng sâu nặng,
mới dễ bị lôi cuốn vào các pháp môn khác bỏ đi
pháp môn niệm Phật vi diệu mà trước đây họ đă
từng tu niệm. V́ nghiệp trần quá nặng nên bỏ
Phật chạy theo trần cảnh ma nghiệp, ham vui nhất
thời, ưa chuộng danh tiếng, mê theo lư thuyết mà
bỏ đi sự tu, mê cảnh không tưởng bỏ bê giác tánh;
ngày tháng chần chừ, chỉ mang lại cho tâm thần
rối loạn, đầu óc ngơ ngơ ngẩn ngẩn, như người
mất trí, Phật Phật ma ma, tâm thần bất định, có
khi tâm trí cuồng loạn, nên sinh tử luân hồi
cũng vẫn là con đường mở rộng để đón chờ.
Thương thay! V́ một chút đánh mất tín tâm đối
với pháp môn tu mà muôn đời trầm luân nơi sinh
tử đau khổ.
Sinh tử là
việc lớn
Nỗi thao thức trong mỗi chúng ta là làm sao
giải quyết được sinh tử bởi v́ c̣n sinh tử th́
chúng ta cứ măi trôi lăn trong ṿng luân hồi của
lục đạo hết sức khổ sở. V́ sinh tử, chúng ta cứ
măi vô ra trong bào thai đầy hôi tanh máu mủ,
nhơ nhớp của người mẹ, có khi nằm trong bào thai
của con chó, con heo, con cá v.v… cứ măi quay đi
lộn lại trong vô lượng kiếp như vậy, thật là ghê
rợn. V́ sinh tử mà làm đảo lộn luân thường đạo
lư, ví dụ như cha lấy con, con lấy cha, mẹ lấy
con, con lấy mẹ, chị lấy em, cầm dao giết con
vật để ăn, không ngờ ta giết cha mẹ, anh, chị,
em, thân bằng quyến thuộc của ta nhiều đời nhiều
kiếp mà không hay không biết.
V́ sinh tử, chúng ta không chỉ làm khổ cho
ḿnh mà c̣n làm khổ đến cho tất cả mọi người như
là làm khổ vợ, khổ chồng, khổ con, khổ cha mẹ
v.v… trong vô lượng kiếp như vậy.
Ôi! Nghĩ đến sinh tử thật là kinh hoàng, mà
chúng ta không giác ngộ tu hành hay sao, chúng
ta không gấp rút hay sao, đợi đến chừng nào đây?
Thật là may mắn thay, chúng ta được làm thân
người, sớm lại được gặp Phật pháp. Đặc biệt,
chúng ta lại gặp được Pháp môn Tịnh độ, nhờ tha
lực bản nguyện của Phật A Di Đà mà chúng ta được
liễu sinh thoát tử văng sinh về thế giới Cực lạc.
Để cho chúng ta luôn thức tỉnh, tu hành một
cách nghiêm mật, th́ chúng ta phải luôn nghĩ đến
sự vô thường, sự trống vắng, ngắn ngủi của kiếp
người.
Khi đề cập đến việc được làm thân người, được
gặp Phật pháp là khó hay dễ, thật là khó vô cùng.
Như chúng ta thường nghe: “Nhân thân nan đắc,
Phật pháp nan văn”, nghĩa là: thân người khó
được, Phật pháp khó nghe.
Thật là khó được gặp mà hôm nay chúng ta đều gặp
được cả.
Chúng tôi thầm nghĩ, chắc có lẽ chúng ta từ
vô lượng kiếp đă từng tu tạo phước đức cho nên
hôm nay mới gặp được quả tốt như thế này, bằng
ngược lại th́ chúng ta không dễ ǵ mà gặp được
đâu.
V́ vậy, chúng ta phải luôn thường xuyên nghĩ
đến sự vô thường, trống vắng, mỏng manh của cuộc
đời mà tinh tấn tu hành, chứ trong thời gian
ngắn ngủi này, chúng ta không chịu tu sửa th́
thật uổng phí cả một kiếp người.
Đức Phật đă dạy: “Mỗi khi chúng ta đánh mất
thân này, th́ trăm ngh́n muôn kiếp khó mà kiếm
lại được”. Cũng giống như đức Phật ví con rùa mù
hai mắt, sống tận dưới đáy biển, cứ một ngh́n
năm khúc gỗ trôi qua biển th́ con rùa mù hai mắt
nổi lên liền chui vào đúng bọng cây. Phật mới
bảo các vị Tỳ Kheo, các thầy thấy con rùa mù hai
mắt chui được vào bọng cây khó hay là dễ? Các
thầy Tỳ kheo trả lời: “Kính bạch Thế Tôn, thật
là khó