|
Hành
giả tu học pháp môn Tịnh Độ, tất yếu đầy đủ tư lương
Tịnh Độ. Những ǵ gọi là tư lương? Tức tất yếu phẩm,
có nghĩa chuẩn bị, tích tập thực phẩm. Tư tức tư trợ,
giúp đỡ, lương là lương thực; ví như người viễn hành,
th́ phải nương mượn vào lương thực để tư trợ thân
ḿnh, cho nên hành giả cực khổ muốn chứng được Tam
thừa, phải dùng lương thực thiện căn công đức để tư
trợ kỳ thân.
Cũng
như trong các Kinh mỗi khi dùng đến từ "tư lương’’,
tức suy rộng ra xu hướng vốn liếng Bồ đề, hoặc ư nói
trưởng dưỡng chư thiện pháp của nhân (nhân duyên) mà
tư ích, giúp đỡ lợi ích Bồ đề.
Tư
lương Tịnh Độ gồm Tín, Nguyện và Hành, cũng như cái
Đỉnh ba chân, không thể thiếu một. Các học phái khác
của Đại Thừa Phật Giáo, th́ do Tín sinh Giải, do
Giải sinh Hành. C̣n pháp môn Tịnh Độ th́ do Tín sinh
Nguyện, do Nguyện đưa đến Hành.
Trong tu hành thứ tự tinh tiến, bước đầu tiên là
Hành, bước sau cùng là Hành, trong khoảng giữa cũng
chỉ là bước này, các học phái khác của Đại Thừa đ̣i
hỏi ‘‘sinh Giải’’, pháp môn Tịnh Độ th́ phải ‘‘phát
nguyện’’, hai thứ khác nhau. Giải, bao hàm ư nghĩa
giải thích, tức tư duy lư của sự vật mà có thể liễu
tri được phần nào. Thế nên học Phật có nói đến khó
tin (nan tín), khó hiểu (nan giải) và khó làm (nan
hành). Mà cửa ải khó thông qua nhất, ắt là Giải, do
lư giải chân lư mà biết được tất cả, th́ trong chúng
sinh rất ít, pháp môn Tịnh Độ lấy ‘‘nguyện’’ thế ‘‘giải’’,
tức đi qua được cửa ải khó nhất. ‘‘Tín’’ ở đây rất
then chốt, nhưng cũng rất khó tin, cho nên pháp môn
Tịnh Độ c̣n gọi ‘‘pháp môn dễ hành khó tin’’ .
Ngẫu Ích Đại sư nói : ‘‘Lấy tín nguyện tŕ
danh làm tông yếu tu hành’’ . Do Tín sinh
Nguyện, do Nguyện khởi Hành, Hành tức tŕ danh diệu
hành. Tín Nguyện Hành là ba món tư lương, không Tín
không đủ khởi Nguyện, không Nguyện không đủ đưa dến
Hành, đó là một ṿng liên hoàn. Nếu hành giả hoài
nghi Tây Phương Tịnh Độ thật có không, tự ḿnh niệm
Phật có văng sanh không, th́ hành giả kia không bao
giờ khởi lên được Nguyện chân thật. Nếu có Tín
Nguyện, tự nhiên sẽ dẫn khởi được sự diệu hành của
tŕ danh niệm Phật, tŕ danh niệm Phật không phải là
loại tu hành phổ thông, mà là hạng cực kỳ vi diệu,
thâm sâu không cùng, và là sự diệu hành công đức nan
tư ngh́. Chỉ có diệu hành như thế, mới có thể thực
hiện được đại nguyện quảng độ chúng sinh. C̣n như
không có được sự diệu hành như vậy, chúng sinh muốn
xuất ly sanh tử đều rất khó, hà huống là độ người
khác. Thế nên, không có tŕ danh diệu hành, những
điều Nguyện sẽ không viên măn, những niềm Tín sẽ
không chân chánh. Chỉ có pháp môn tŕ danh niệm Phật,
mới có khả năng làm viên măn đầy đủ được những đại
nguyện mà chính ḿnh phát, mà c̣n chứng thực những
niềm Tín chính ḿnh, chứng thực pháp môn Tịnh Độ
niệm Phật tŕ danh tức đắc được sự thắng hạnh của
văng sanh, chứng thực được diệu lư ‘‘thị tâm thị
Phật, thị tâm tác Phật’’.
I.Tín
Yếu
nghĩa hàng đầu của tư lương Tịnh Độ là Tín. Văn hóa
của nhân loại, nền tảng của xă hội, đều ở nơi ‘‘tín’’.
Theo giải thích của chử Hán Trung Quốc : ‘‘con người
có ngôn từ là tín’’, 人(nhân) + 言(ngôn) = 信(tín).
Những ǵ nói chuyện đều có thể căn cứ theo đạo lư
chân thật, sự thật chân thực, không hề hư vọng, đó
chính là ‘‘tín’’ . Những điều người nghe, biết được
tính chân thật bất hư của người nói, tin tưởng sự
chân thật của những ǵ họ nói, không hề hoài nghi,
cũng đều nơi ‘‘tín’’ . Ngôn ngữ của con người, do
vậy có khả năng phát sanh tác dụng tốt đẹp, căn bản
ấy hoàn toàn kiến lập trên mặt chử ‘‘tín’’ này.
Phật giáo lấy Tín làm điều kiện nhập môn, nhưng muốn
phát sinh tín tâm hướng về Phật pháp, tuyệt đối
không phải là chuyện dễ dàng. <<Đại Thừa Bách Pháp
Môn Luận>> đem Tín liệt xếp vào thiện tâm sở pháp,
Tín là thật ‘‘lư’’ thật ‘‘sự’’, như Pháp Tứ Thánh Đế,
thâm tín sẽ xác nhận, đối với công đức Tam Bảo thâm
tín là lạc, đối với tất cả việc thiện thế gian và
xuất thế gian thâm tín có khả năng sinh khởi hi vọng,
bản thể trong sáng ấy là tánh. Lạc ở chính nơi tác
thiện làm nghiệp, đối trị bất tín. ‘‘Tín’’ được xếp
làm pháp hàng đầu của thiện tâm, bởi v́ nó đối với
ba tính ‘‘Thực’’ ‘‘Đức’’ và ‘‘Năng’’, thâm tín mà hỉ
lạc. ‘‘Thực’’, ư chỉ những ǵ là thực sự thực lư của
các pháp, lư và sự không thể thiên vị một bên; ‘‘Đức’’,
chỉ cho sự tu hành đức tính đức hạnh, hạnh và tính
không thể trái ngược; ‘‘Năng’’, ư chỉ năng thành
năng đắc của tác nghiệp, đắc và thành đều dựa vào
nghị lực. Ba tính này lấy tín tâm vững chắc làm cửa
nhập đạo.
Từ
bản thân pháp môn Tịnh Độ mà nói, nó rất đặc biệt,
không cần ‘‘cầu giải’’. Phật pháp nan tín, ngay đến
ngộ tín, ngộ giải, do vậy đều v́ phải giác giải, mới
có thể trở thành ‘‘Hành’’ . Trí huệ chúng ta không
đủ, không những không khả năng ‘‘tín’’, mà tín rồi
vẫn c̣n phát sinh ngộ giải, rồi đi sai đường. Thế
nên Như Lai từ bi, khai thị ra điều không cần ‘‘cầu
giải’’, tự ḿnh có thể thâm giải phương tiện pháp
môn tuyệt đối ổn thỏa không sai lầm. Do vậy tronh
Kinh Đức Phật nói : ‘‘Vị thử thế gian thuyết thử nan
hành chi pháp, thị vi thậm nan’’, tức là v́ thế gian
này mà nói pháp môn khó hành, th́ là rất khó. Trong
<<Tịnh Độ Luận>> Thế Thân Bồ Tát nhấn mạnh đến ‘‘ngă
nhất tâm’’ và rất tương ưng điểm trên, tức cùng một
đạo lư.
Tín,
có thể phân thành sáu loại, tín tự, tín tha, tín
nhân, tín quả, tín sự và tín lư.
1,
Tín tự, tin nơi tâm của ta một niệm ngay
trước mật, dọc không trước sau, ngang không bờ bến,
cả ngày tùy duyên, suốt hôm bất biến, mười phương hư
không vi trần quốc độ, vốn là trong một niệm ngă sở
hiện ra các vật, như ngày nay tuy ta c̣n mê hoặc
trầm luân, trằn trọc quanh co trong lục đạo, nếu
nhất niệm hồi tâm, quyết định đắc sanh ‘‘tự tâm bổn
cụ Cực Lạc’’, qui kiến tự gia Di Đà, lại không nghi
lự, đó gọi là ‘‘tín tự’’. Tại sao phải nói ‘‘tín tự’’
? Phải biết rằng cái ‘‘tự’’ này không phải là cái tự
ngă có ngă tướng, mà là chỉ cái tự tính ĺa nhất
thiết tướng, cũng tức là bổn hữu diệu minh chân tâm.
Chân tâm không phải là một khối thịt tụ lại gọi là
quả tim. Tự tâm của ngă, không phải là tâm duyên ảnh.
Tâm duyên ảnh tức là thức thứ sáu có khả năng làm
tâm phan duyên, bám lấy duyên, tâm này chỉ là duyên
sắc, thanh, hương, vị, xúc ngủ trần sở sanh ảnh
tượng, cho nên gọi tâm duyên ảnh. <<Kinh Thủ Lăng
Nghiêm>> Đức Phật chỉ thẳng cho A Nan thấy, những ǵ
A Nan cho là tự tâm, đó không phải chân tâm của ông,
nó chỉ là vọng tưởng của ngủ trần ngoại giới dẫn
khởi lên. Nó làm mê hoặc chân tánh ông, đó là vọng
tâm. Vọng tâm không những không phải là tự chính ông,
mà c̣n là kẻ địch của chính ông, nó làm ông đánh mất
đi bổn hữu chân tâm thường trụ để rồi thọ khổ luân
hồi. Đoạn Kinh <<Thủ Lăng Nghiêm>> khai thị rất quan
trọng về mối liên hệ giữa ‘‘kiến đạo’’, ‘‘tu đạo’’
và ‘‘chứng đạo’’, do ‘‘kiến đạo’’ mới có thể ‘‘tu
đạo’’, có ‘‘tu đạo’’ mới có thể ‘‘chứng đạo’’, nhưng
phải biết ‘‘kiến đạo’’ là bước đầu quan trọng của ‘‘tính’’.
Phương tiện của ‘‘kiến đạo’’ là hiển chân tâm, mà
phương tiện ban đầu của nó tức là phá vọng tâm. Do
thế ư thức thức sáu không phải là tự tâm mà chỉ là
tâm duyên ảnh. Nên thể hội tín thọ sâu sắc, tín tâm
như vậy là điều căn bản của chúng ta, có như vậy mới
có hi vọng khôi phục được chân tâm của chính ḿnh,
cũng tức là bổn lai Phật tính. Trước đây tuy chúng
ta là vọng tâm làm chủ, do vọng tưởng chấp trước,
chân tâm chưa thể xuất hiện, cố nên hôn mê đảo hoặc.
Nhưng nếu như chúng ta có thể nhất niệm hồi tâm, y
Phật giáo chỉ bảo, hợp giác bội trần, phát Bồ Đề tâm,
cầu sanh Tịnh Độ, quyết định đắc sanh ‘‘tự tâm bổn
cụ Cực Lạc’’. Hành giả Tịnh Độ, đối với điều này nên
sanh tín tâm kiên cố, không được nghi hoặc, đó tức
là tự tín. Tín tự, cũng tức là tin vào bổn giác Phật
tính của chính ḿnh.
2. Tín tha, tức tin vào Phật. Đầu tiên là tin
vào Thích Ca Mâu Ni Phật, tuyệt đối không phải những
lời hư nguyện, tùy thuận chư Phật chân thật dạy bảo,
quyết định sẽ sanh Tịnh Độ Cực Lạc. Thích Tôn là
Đấng Đạo Sư của chúng ta, chỉ bảo tín đồ thọ tŕ Ngủ
Giới, bất năng vọng ngữ, do vậy Thích Tôn tuyệt đối
không nói lời vọng ngữ, <<A Di Đà Phật Kinh>> là
chính nơi thân khẩu Thích Ca Mâu Ni Phật sở thuyết,
‘‘Tùng thị Tây Phương quá thập vạn ức Phật độ, hữu
Thế Giới danh viết Cực Lạc. Kỳ độ hữu Phật, hiệu A
Di Đà, kim hiện tại thuyết pháp.’’ Vă lại <<Vô Lượng
Thọ Kinh>> và <<Quán Kinh>>, đều có ghi chép đại
chúng trong Pháp Hội, tận mắt thấy A Di Đà Phật và
Cực Lạc thế giới, rất nên tin tưởng, rồi y giáo
phụng hành, nguyện sanh bỉ quốc. Thứ hai là phải tin
vào nguyện của A Di Đà Phật quyết không hư dối, Điểm
trung tâm trong bốn mươi tám lời nguyện của Ngài
phát ra là nguyện thứ mười tám, ‘‘Thập phương chúnh
sinh, văn Ngă danh hiệu, chí tâm tín lạc, sỡ hữu
thiện căn, tâm tâm hồi hướng, nguyện sanh Ngă quốc,
năi chí thập niệm, nhược bất sanh giả, bất thủ Chánh
giác.’’ Chúng sinh mười phương, nghe danh hiệu Ta,
thành tâm tin vui, hễ có thiện căn, hết ḷng hồi
hướng, nguyện sanh nước Ta, cho đến mười niệm, nếu
không sanh đến, không thành Chánh giác. Thứ ba là
phải tin vào tất cả chư Phật mười phương. Thuận theo
những chỉ bảo chân thật của chư Phật, quyết tâm cầu
sanh, mà lại không nghi, th́ đó gọi là ‘‘tín tha’’.
Trong ‘‘lục tín’’ tín tự và tín tha là một cặp không
thể phân ly, cả hai đều phải tin, th́ mới là Chánh
tín. Thông thường mà nói, hành giả mà văn hóa không
cao, duyệt độc Kinh điển không nhiều, dễ dàng ‘‘tín
tha’’, mà khó nơi ‘‘tín tự’’. Nếu nói tự tâm là Phật,
bèn không dám nhận chịu, mà lại cho rằng đó là một
thứ ngă mạn. Có người nghe đến duy tâm Tịnh Độ, tự
tính Di Đà, liền không dám tin, cho là hư vô mù mịt,
sợ rơi vào trống không. Đó đều là biểu hiện của tín
tâm không sâu chắc. Rồi một loại hành giả khác, th́
chuyên đàm ‘‘tín tự’’, không thể ‘‘tín tha’’. Đây
phần nhiều thuộc về những người ‘‘hữu tri thức
chướng’’, hay nói tự tâm thị Phật, chứ không tin
‘‘tha Phật’’, cho rằng niệm Phật cầu văng sanh, là
chấp tướng, là tâm ngoại mịch pháp, t́m pháp ngoài
tâm. Thế rồi khinh thị Tịnh Độ, Đương nhiên cũng tức
là bỏ lỡ đi pháp môn thù thắng này. mà c̣n khó chứng
được bất thối chuyển trong đời sống hiện tại.
3, Tín nhân, tức tin chắc rằng tán loạn tŕ danh,
c̣n là chủng tử thành Phật, con nay nhất tâm bất
loạn, làm sao không sanh Tịnh Độ được, đó là ‘‘tín
nhân’’
4. Tín quả, tức tin chắc rằng chư thượng thiện
nhân trên Cực Lạc Thế Giới Tịnh Độ, câu hội nhất xứ,
đều do niệm Phật đắc sanh, như trồng dưa được dưa,
trồng đău được đău; như ảnh tất theo h́nh, hưởng tất
ứng thanh. Tŕ danh niệm Phật, công lao không mất,
không thể lo ngại, đó là ‘‘tín quả’’.
Tín
nhân và tín quả cũng là một cặp không thể phân ly.
Một người chân chánh thâm tín nhân quả, th́ không
phải là một người thông thường. Nhân thiện được quả
thiện, nhân ác bị quả ác, liền biết tất cả đều có
nhân lúc trước, không cần tham cầu, tính toán, mưu
mô và phân biệt, tự nhiên tùy theo tự nhiên mà giảm
bớt đi phiền năo và sai trái. Luật nhân quả ba đời
này th́ không sai chạy đâu hết, Kinh Phật nói: ‘‘Dục
tri quá khứ nhân, hiện tại thọ giả thị. Dục tri
tương lai quả, hiện tại tác giả thị’’, có nghĩa
‘‘muốn biết nhân đời trước, hăy xem hiện tại nhận
những ǵ. Muốn biết quả tương lai, nh́n xem hiện tại
làm những ǵ.’’
5. Tín sự, tức thâm tín ở nơi ngoài thập vạn ức
Phật độ thật có Cực Lạc quốc độ, hết sức thanh tịnh,
tuyệt đối không phải lời nói ngụ ngôn, đó gọi là
‘‘tín sự’’
6. Tín lư, tức tin chắc rằng thập vạn ức Phật độ
không ra ngoài khỏi ‘‘ngă nhất niệm hiện tiền’’, do
‘‘ngă nhất niệm hiện tiền’’ cố nên ‘‘tâm vô hữu
ngoại’’ ; lại nữa thâm tín Tịnh Độ y chánh chủ bạn,
đều là cái ảnh hiện của tâm ‘‘ngă nhất niệm hiện
tiền’’, toàn sự tức lư, toàn vọng tức chân, toàn tu
tức tánh, toàn tha tức tự, nên tâm ngă biến, tâm
Phật diệc biến, tâm tánh tất cả chúng sinh diệc biến,
giống như một ngh́n ngọn đèn trong pḥng, ánh sáng
chiếu nhau, không trở ngại nhau, th́ gọi là ‘‘tín lư’’.
Sự
và lư cũng là một đôi. sự là sự tướng, lư là bổn thể.
Sự lư tức là sự vật và chủng chủng các tướng hữu
h́nh vô h́nh. Những ǵ thấy trước mắt, những ngôi
cao lầu, nam nữ già trẻ, cho đến sơn hà đại địa,
nhựt nguyệt tinh tú, chim bay thú chạy, luân hồi lục
đạo, tử tử sanh sanh, vạn sự vạn vật, đều là sự
tướng. Đối với tất cả sự tướng này, nếu hỏi chúng
thực ra lấy cái ǵ làm bản thể? Từ khoa học mà nói,
truy đến tận gốc vạn vật vũ trụ, chẳng qua đều do
các loại nguyên tử hợp thành. Nhưng bản chất của
nguyên tử là ǵ đây? Chỉ là điện tử, chất tử và
chủng tử. Nhưng nếu càng tiến sâu hơn mà hỏi, đương
nhiên trong nhỏ lại c̣n có nhỏ hơn, đó th́ bất khả
cùng tận. Tuy nhiên vẫn có thể dùng lư dao động và
năng lượng để giải thích trên sự tướng mà nh́n đến
sum la vạn tượng, th́ đó chính là bản chất. Nếu theo
Phật pháp nói về bổn thể, tức bổn tính và Phật tính,
vốn là không có sanh diệt. Những ǵ bổn thể được nói
ở đây, tức là lư. Lư không phải ư chỉ đạo lư, đạo lư
là tri giải, là sản vật tư duy của con người, th́ có
sanh diệt. Lư đây tức chân lư, thực tướng, cũng là
toàn thể pháp giới. Pháp giới tức là bổn thể của tất
cả thân tâm chúng sinh.
Những ǵ ‘‘lục tín’’ tŕnh bày ở trên cốt để hiển
phát nên chân tín, đó gọi là chân tín: tín ngă và Di
Đà, tính giác không hai, ngă tuy hôn mê, tính giác
không mất, nhất niệm hồi quang, liền đồng bổn đắc;
tin rằng bổn tính tuy không hai, nhưng vị thứ vẫn có
cao thấp, Phật cứu cánh vẫn là Phật, ngă th́ theo
nghiệp lưu chuyển; ngă là chúng sinh trong tâm Di Đà,
Phật là Phật nơi trong tâm ngă. ¬c Phật niệm Phật
nhất định thấy Phật, đó là điều căn bản để sanh ‘‘Tín’’.
II. Nguyện
Nguyện là yếu nghĩa thứ hai của tư lương Tịnh Độ. Sự
liên hệ giữa Nguyện và Tín, Giải, Hành, Chứng th́
tương đối mật thiết, thế gian pháp và xuất thế gian
pháp đều đặt trọng ở nơi thực hành. Giá như không
thực hành, đơn thuần chỉ là không thuyết, không
tưởng, nhất định không đạt được hiệu quả. Thực hành
tức là chân thực muốn làm. Chúng ta làm một sự việc
ǵ, nhất định là muốn làm hoàn tất. Nếu như không
muốn mà miễn cưỡng đi làm, cũng sẽ không có kết quả,
do vậy Hành từ Nguyện mà sinh. Làm thế nào mới có
thể phát khởi lên ‘‘Nguyện’’ của sự mong muốn làm
thực sự? Đối với sự việc này đầu tiên phải có sự
liễu giải, t́m hiểu tha thiết, Muốn liễu giải, tất
phải học tập, muốn học tập, trước tiên phải ‘‘Tín’’.
Do đó, do. Tín đi đến Giải, do Giải đến Hành, th́ là
thứ tự nhất định. Trong Giải bao gồm cả học, trong
Hành bao gồm luôn Nguyện, con đường giáo lư của Phật
pháp, là y theo mỗi mỗi thứ tự mà tiến tu.
Như
Lai v́ một đại sự nhân duyên, cố nên xuất hiện nơi
đời, v́ làm chúng sinh khai thị ngộ nhập Phật tri
kiến. Bốn mươi chín năm thuyết pháp, không ǵ ngoài
sự việc này. Trong khoảng giữa v́ thực thi ‘‘quyền’’,
nói Tam thừa giáo, là nói cho người chẳng hiểu Phật
trí, chứ không phải là bổn hoài xuất thế của Như
Lai. Chính vậy thời kỳ ‘‘Phương Đẳng’’ hưng khởi nên
pháp môn đặc biệt này, thuyết Kinh Điển Tịnh Độ, làm
cho Tam thừa Ngủ tính cùng chứng chân thường, đồng
xuất sanh tử. Đối với thế giới Ta Bà không chút tham
luyến, mong muốn xuất ly, điều mà nhất tâm hướng về
chỉ là Cực Lạc thế giới, đó chính là ‘‘Nguyện’’. Bậc
thượng căn nghe âm thanh, đốn triệt ngọn nguồn các
pháp, tự nhiên phát nguyện cầu văng sanh. Bậc hạ căn
không hiểu Phật trí, chỉ cần phát nguyện văng sanh,
cũng năng cứu cánh thành Phật. Trong <<Vô Lượng Thọ
Kinh>>, Phật nói với Di Lặc Bồ Tát: ‘‘Nếu có chúng
sanh, mang tâm nghi hoặc, tu chư công đức, nguyện
sinh bỉ quốc, không hiểu Phật trí, không tư (tư duy)
nghĩa trí, không thể xưng (ngợi khen) trí, Đại thừa
quảng trí, vô đẳng vô luân Tối Thượng Thừa trí, do
nơicác trí nghi hoặc không tin này; nhưng do tin tội
phước, tu tập thiện căn, nguyện sanh nước kia. Những
chúng sinh này, sanh cung điện đó, sống năm trăm
tuổi, thường không gặp Phật, không nghe Kinh Pháp,
chẳng thấy Bồ tát, Thanh văn, Thánh chúng, cho nên
nơi quốc độ đó, gọi là thai sanh. Nếu có chúng sinh,
tin rơ Phật trí, cho đến thắng trí, làm các công đức,
tín tâm hồi hướng. Những chúng sinh này, tại thất
bảo hoa trung, tự nhiên hóa sanh, xếp bằng mà ngồi,
trong khoảnh chớp mắt, thân tướng quang minh, trí
huệ công đức, như chư Bồ tát cụ túc thành tựu.’’
Phật lại bảo với Di Lặc Bồ tát: ‘‘Do nghi hoặc Phật
trí, nên sanh cung điện thất bảo kia, không có h́nh
phạt, cho đến một niệm việc ác. Trong năm trăm năm,
không gặp Tam Bảo, không được cúng dường, tu chư bổn
thiện, lấy đó làm khổ. Tuy vui có thừa, xứ ấy vẫn
c̣n không vui. Nếu chúng sinh này, nhận ra tội ấy,
tự thâm hối trách, cầu ĺa xứ kia, tức đắc như ư,
sanh liền xứ Phật Vô Lượng Thọ, cung kính cúng dường,
cũng được biến đến vô lượng vô số nơi chư Phật khác,
tu chư công đức. Di Lặc nên biết, người sanh nghi
hoặc, Bồ tát có ấy, bị mất lợi lớn. Cho nên cần phải
tin rơ chư Phật trí huệ vô thượng.’’
Đoạn
Kinh văn đây giải thích đến văng sanh Tịnh Độ có hai
hạng người: một là tín Phật trí, liễu Phật trí; hai
là không tin Phật trí, nhưng vẫn tin tội phước. Tín
được Phật trí, tất liễu Phật trí, phải tin tội phước.
Không tin Phật trí, vẫn tin tội phước, phát nguyện
cầu sanh, cũng được văng sanh, nhưng không thể gặp
Phật. Đây là một hạng người tu mà không tu trí huệ,
nếu không sanh Tịnh Độ, ắt sanh nhân thiên, vẫn sẽ
đọa lạc. Vừa sanh Tịnh Độ, tự nhận không được gặp
Phật là khổ, sanh tâm giác ngộ, cần cầu Phật trí, tự
năng kiến Phật. Vừa thấy Phật xong, bèn cùng tất cả
Bồ tát tương đồng.
Làm
sao mới có thể tín Phật trí, liễu Phật trí được?
Phật trí là Đại Bát Nhă, những Kinh Điển mà Phật sở
thuyết là văn tự Bát Nhă, độc thông Đại Thừa Phật
Điển, đối với sự tướng đạo lư mà Phật Điển sở thuyết,
sanh thật tín tâm, chẳng sanh nhất niệm nghi hoặc
tâm, lại càng không dám dùng nghiệp thức tâm phân
biệt của phàm phu mà đi vọng đo lường Phật trí, mang
tất cả tri kiến phàm t́nh của ḿnh tung hết ra, dần
dần ngấm ngầm thông qua khỏi Phật trí. <<Vô Lượng
Thọ Kinh>> đem hạnh nguyện kiếp xưa của Phật A Di Đà
để làm thuyết minh rơ ràng, đây là nguồn gốc khải
giáo tư tưởng Tịnh Độ. Giáo nghĩa Tịnh Độ, toàn bộ
bao hàm trong Bốn mươi tám nguyện của Phật, không
liễu giải nguyện của Phật, tức không hiểu rơ pháp
môn Tịnh Độ. Y Chánh trang nghiêm của Tịnh Độ, và
Hạnh Nguyện văng sinh, trong <<Kinh Vô Lượng Thọ>>
nói lên rất ư tường tận, lấy Nguyện làm chủ, Phật
nguyện, chúng sinh nguyện, cảm ứng đạo giao, quyết
định văng sinh.
Trong <<Kinh A Di Đà>>, Phật ba lần khuyến Tín,
khuyến Nguyện. Do v́ nguyện thiết tha tự nhiên sẽ
thành bền bỉ, nhưng muốn nguyện thiết tha c̣n phải ở
nơi thâm tín. Nguyện đó tức ĺa Ta bà, hân cầu Tịnh
Độ, lấy Ta bà thế giới làm uế độ, tức tự tâm sở tạo
chi uế, tự tâm chi uế, lư ưng yểm ly. Cực Lạc Tịnh
Độ, tức tự tâm sở cảm chi tịnh, lư ưng hân cầu.
Nguyện này tóm tắt, đại khái có năm:
Nguyện thứ nhất, Phật đạo vô thượng nguyện thành,
v́ tự tính và Phật tính vốn đồng, vạn đức trang
nghiêm, nên thề không thối đọa.
Nguyện thứ hai, chúng sinh vô biên thệ nguyện độ,
do tự tính chúng sinh, nên tự ưng độ.
Nguyện thứ ba, pháp môn vô biên thệ nguyện học,
nhân v́ thâm nhập Kinh Tạng, trí huệ như biển, nên
có thể làm người khác giác ngộ.
Nguyện thứ tư, phiền năo vô biên thệ nguyện đoạn,
v́ đoạn tận phiền năo, nên Phật đạo mới được nguyện
thành.
Bốn
điều trên là bốn loại thệ nguyện rộng lớn của tất cả
Bồ tát khi c̣n ở vị trí ‘‘Nhân vị’’ sở phát ra, Phật
giáo xưng đó là ‘‘tứ hoằng thệ nguyện’’
. Hành giả tu pháp môn Tịnh Độ, nguyện sinh Cực Lạc
thế giới. Do vậy, mà có thêm nguyện thứ năm dưới đây.
Nguyện thứ năm, v́ nguyện sinh Cực Lạc thế giới
A Di Đà Phật, tức do nương nhờ Tha nguyện lực cầu
sinh Di Đà thế giới, trước tiên ra khỏi luân hồi,
đắc bất thối chuyẻn, cuối cùng đắc thành Phật quả,
nên có thể viên măn độ tận chúng sinh nguyện.
III. Hành
Yếu
nghĩa thứ ba của tư lương Tịnh Độ là môn (cửa) ‘‘Hành’’.
Hành giả như chư Kinh sở thuyết, quán tượng, quán
tưởng, lễ bái, cúng dường v.v... tất cả trở thành ‘‘Hành’’,
đều có thể văng sinh Tịnh Độ, duy một pháp tŕ danh
niệm Phật, thâu nhiếp căn cơ rộng lớn nhất, hạ thủ
dễ nhất, thật là phương tiện đệ nhất trong môn
phương tiện. Do vậy, pháp môn Tịnh Độ lấy tŕ danh
niệm Phật làm ‘‘chính hành’’, nhưng lại cũng
không phải không cần ‘‘trợ hành’’. Chính trợ hợp
nhất, mới là chân tu. Làm sao mới có thể hợp nhất
được? Trong hai sáu thời, tâm không ĺa Phật, Đối
cảnh phùng duyên liền có thể khởi sức giác chiếu.
Niệm niệm tu thiện chỉ ác, thanh tịnh tam nghiệp
thân khẩu ư. Tâm không ĺa Phật như vậy, là Định;
niệm niệm giác chiếu, là Huệ; ngưng ác làm thiện là
Giới. Do đó chân năng niệm Phật, Giới, Định, Huệ tam
học ngay lập tức đầy đủ, đây đích thực là phương
tiện thù thắng.
Yếu
nghĩa Tịnh Độ, nơi tâm không ĺa Phật. Pháp tu như
vậy tức động mà tĩnh, tức tục mà chân, tức sự mà lư,
tức cạn mà sâu, tức sanh tâm nhập Phật tâm, tức phàm
cảnh làm thánh cảnh, tức pháp đệ, tức đốn viên, tức
tán tâm, tức nhất tâm. Ai biết quư trọng hăy nên
thâm tín. |