|
5. Tịnh nghiệp Tam phước
Chư vị pháp sư, chư vị đại đức đồng tu:
Thời gian trôi đi quá nhanh, hôm nay đă là ngày họp mặt cuối
cùng trong chuyến đi Úc Châu lần này, hai ngày trước thực sự chúng
tôi nói chưa hết lời và cũng nói chưa hết những điều muốn căn dặn,
nhắc nhở; trong khoảng thời gian ngắn nội dung của buổi nói chuyện
chẳng nhiều, hy vọng các bạn lắng ḷng thể hội, đi t́m cầu trong
kinh giáo. Mỗi chữ mỗi câu trong kinh Phật đều chứa đựng vô lượng
nghĩa, tùy theo tri kiến và kiến giải của chúng sanh, lợi ích của
mỗi người có sâu cạn, rộng hẹp chẳng đồng. Nếu chúng ta thành tâm đi
t́m cầu, thể hội, phụng hành th́ mọi người sẽ đạt được lợi ích thù
thắng, đây là sự gia tŕ của Tam Bảo cho chúng ta, người thế tục
thường nói là Phật, Bồ Tát pḥ hộ cho chúng ta, là có ư nghĩa như
vậy. Do đây có thể biết trong Phật pháp chẳng có mê tín; lư luận,
phương pháp dạy chúng ta tu học như thế nào.
a. Tịnh nghiệp chánh nhân của ba đời
chư Phật.
Sự tu học Tịnh Tông, chúng tôi đặc biệt tuyển chọn những lời
khai thị trong kinh điển của Tịnh Tông và tóm tắt thành năm khoa mục
(Tam Phước, Lục Ḥa, Tam Học, Lục Độ, Thập Nguyện) để làm nguyên tắc
cho sinh hoạt, việc làm, xử sự, đăi người, tiếp vật trong suốt cuộc
đời chúng ta. Chúng ta phải tuân theo những nguyên tắc này th́ mới
xứng đáng làm đệ tử của Thế Tôn, làm học tṛ của đức Phật A Di Đà.
Khoa mục thứ nhất là ‘Tịnh Nghiệp Tam Phước’ dạy trong kinh Quán Vô
Lượng Thọ Phật, v́ thời gian không đủ nên tôi chẳng thể nói rơ,
trong hội trường có một bộ băng cassette ghi bài giảng lúc trước [các
bạn có thể nghe thêm]. Tam Phước hết sức quan trọng, trong phần cuối
của đoạn kinh này đức Thế Tôn đặc biệt nhấn mạnh ba điều này là tịnh
nghiệp chánh nhân của ba đời chư Phật.
Tầm vóc của câu này hết sức quan trọng, ba đời chư Phật là
Phật quá khứ, Phật hiện tại, Phật tương lai; những người tu hành
thành Phật trong quá khứ, hiện tại và tương lai chẳng biết bao nhiêu
mà tính! Dĩ nhiên họ tu hành thành Phật chẳng phải chỉ dùng một
phương pháp duy nhất v́ có vô lượng pháp môn. Trong kinh Đại thừa
thường nói: 'Pháp môn b́nh đẳng, chẳng có cao thấp', pháp môn
nào cũng có thể thành Phật, nhưng dựa trên căn tánh của chúng sanh
mà nói th́ sẽ khác nhau – có người lợi căn, có người độn căn. Có
pháp môn khế cơ, có pháp môn chẳng khế cơ; khế cơ th́ thích hợp cho
chúng ta tu học, chẳng khế cơ nghĩa là
đối
với đời sống hiện tại có nhiều chỗ chẳng thuận tiện. Khế cơ th́
chúng ta tu học rất thuận lợi, rất dễ dàng, nếu chẳng khế cơ th́
chúng ta cảm thấy rất khó khăn, hễ cảm thấy khó khăn th́ chúng ta
nên bỏ và lựa chọn pháp môn nào thích hợp với ḿnh. Việc này cũng
giống như lựa chọn khoa hệ trong trường học, khoa hệ nào mà chúng ta
rất thích và cũng có năng lực học theo th́ dễ rồi. Nếu lựa chọn một
khoa hệ chẳng hợp với ư thích của ḿnh th́ học theo sẽ rất khó khăn.
Cho nên vô lượng pháp môn của Phật pháp giống như khoa hệ trong
trường học, đều để cho ḿnh tùy ư lựa chọn. Điều kiện của sự lựa
chọn là phải thích hợp với tŕnh độ của ḿnh, ư thích của ḿnh, đời
sống của ḿnh, chẳng gây trở ngại cho đời sống và công ăn việc làm
của ḿnh, không những chẳng trở ngại mà c̣n trợ giúp thêm th́ tu học
theo sẽ rất dễ dàng. Đây là những điều kiện chúng ta cần biết rơ khi
lựa chọn pháp môn.
Đức Phật dạy ba điều trong Tam phước là tịnh nghiệp chánh nhân
của hết thảy chư Phật, nói một cách khác bất luận bạn tu học theo
khoa hệ nào th́ ba điều này là lớp chính ḿnh phải học; trong vô
lượng pháp môn ba điều này là khóa học mọi người nhất định phải tu
học, hết sức quan trọng. Giống như xây một căn nhà, chẳng kể bạn xây
theo kiểu nào th́ đây là nền móng, nhất định phải xây nền móng vững
chắc, ổn định trước th́ căn nhà này mới được hoàn hảo, chúng ta phải
đặc biệt coi trọng việc này.
b. Phật pháp là hiếu đạo và sư đạo
Điều thứ nhất: ‘Hiếu dưỡng phụ mẫu, phụng sự sư trưởng, từ tâm
chẳng sát hại sanh vật, tu thập thiện nghiệp’. Chúng ta nhất định
phải làm cho được điều này, nếu chúng ta thực sự làm được th́ chúng
ta học Phật, nền móng để thành Phật đă được xây dựng. Giả sử bạn
chẳng làm được th́ Phật pháp mà bạn nghiên cứu sẽ trở thành những ǵ
người thế gian nói: Phật học – học Phật như nghiên cứu một môn học,
việc này đối với đời sống, tu tŕ, thậm chí liễu sanh tử, vượt thoát
tam giới chẳng có liên quan chi hết! V́ vậy phải hết ḷng làm cho
bằng được. Phật pháp là hiếu đạo, trong Giới kinh của Đại thừa giảng
rất rơ, từ hiếu thuận cha mẹ mở rộng đến hiếu thuận sư trưởng, hiếu
thuận hết thảy chúng sanh, phải có tâm lượng như vậy. Thế nên chữ
hiếu này có thể nói đă bao gồm hết thảy toàn bộ Phật pháp. Hiếu
dương cha mẹ, ‘hiếu’ là giác ngộ, tức là tự tánh giác, giác ngộ xong
rồi biểu hiện trong hành vi sanh hoạt tức là ‘dưỡng’.
Mọi người đều biết văn tự Trung Quốc là một hệ thống kư hiệu
có trí huệ cao độ, khi chúng ta nh́n phù hiệu này th́ liền hiểu rơ,
việc này thiệt rất phi thường. Kết cấu của văn tự Trung Quốc có sáu
nguyên tắc (lục thư), chữ hiếu là viết theo nguyên tắc ‘hội ư’ –
nh́n phù hiệu này liền có thể hiểu được ư nghĩa trong đó. Phía trên
chữ Hiếu là chữ Lăo, phía dưới là chữ Tử (con), hai chữ này ghép lại
thành chữ Hiếu, ư nghĩa của nó rất rơ ràng. Lăo là
đời
trước, đời trước c̣n có đời trước nữa, quá khứ vô thỉ; Tử (con) là
đời
sau, đời sau c̣n có thêm đời sau nữa, vị lai vô chung, vô thỉ vô
chung là một cái toàn thể, đây gọi là hiếu. Người phương tây nói về
‘đại cấu’ (sự ngăn cách giữa các thời đại), nếu có sự ngăn cách th́
chữ hiếu này chẳng c̣n nữa. Người Âu tây thường hỏi tôi: ‘Người
Trung Quốc quư vị, tổ tông cả mấy ngàn năm trước chưa hề gặp qua thế
th́ tại sao vào dịp tết, dịp lễ phải đi cúng họ?’. Đó là hiếu đạo.
Bạn nghĩ thử coi: tổ tông từ ngàn năm về trước ḿnh c̣n kỷ niệm họ,
vẫn chẳng quên họ, cha mẹ hiện giờ làm sao có thể chẳng làm tṛn đạo
hiếu cho được? Thầy giáo thời xưa ḿnh c̣n tôn trọng th́ đối với
người thầy dạy ḿnh hiện giờ làm sao chẳng tôn kính cho được? Sự
giáo học của nhà Nho và nhà Phật đều có căn bản từ điểm này, đây là
nền tảng. Cho nên phải hiểu chữ hiếu này tức là Phật pháp, đặc biệt
là trong kinh điển Đại thừa gọi là ‘chân như pháp tánh’, tận hư
không, khắp pháp giới, phù hiệu này được dùng để tượng trưng cho cả
cái chỉnh thể này. Nếu chúng ta có sự nhận thức như vậy th́ mới thực
sự thể hội được chữ hiếu.
Sau đó làm thế nào để thực hiện chữ ‘hiếu’ trong đời sống sinh
hoạt của ḿnh, trên phương diện làm người, xử sự, đó tức là ‘dưỡng’;
dưỡng là phụng dưỡng, từ nghĩa hẹp mà nói tức là dưỡng thân của cha
mẹ. Cha mẹ sanh chúng ta, ân đức dưỡng dục này rất lớn; khi cha mẹ
lớn tuổi và về hưu, chúng ta có nghĩa vụ săn sóc cho họ cũng giống
như lúc ḿnh c̣n nhỏ cha mẹ lo lắng, chăm sóc cho ḿnh, chúng ta
phải báo đáp, báo đền, đây là một chuyện hết sức tự nhiên. Đây là
dưỡng thân thể của cha mẹ, [làm được việc này] có kể là
đă
làm tṛn đạo hiếu chưa? Chưa tṛn. Quư vị phải biết trong loài cầm
thú con quạ cũng biết dưỡng thân của cha mẹ; quạ con biết đút đồ ăn
cho quạ già, nó cũng biết nuôi dưỡng cha mẹ vậy! Nếu người chẳng
biết nuôi cha mẹ ḿnh th́ cả cầm thú cũng chẳng bằng! Thế nên dưỡng
thân của cha mẹ cũng chưa làm tṛn đạo hiếu. Cha mẹ hy vọng con cái
như thế nào? Chúng ta có làm thỏa măn nguyện vọng của cha mẹ chăng,
việc này rất quan trọng!
Thời xưa có sự dạy dỗ của cổ thánh tiên hiền, cha mẹ không kỳ
vọng con cái thăng quan phát tài, chẳng giống với quan niệm của
người thời nay, đều hy vọng con cái có thể làm thánh làm hiền, có
đạo đức, có học vấn, có cống hiến đối với xă hội đại chúng. Thế nên
lập công, lập đức, lập ngôn là làm rạng danh cha mẹ, làm cho cha mẹ
hănh diện, mới được xă hội đại chúng tôn kính. Chúng ta đă làm tṛn
được chưa? Có phụ ḷng cha mẹ kỳ vọng nơi ḿnh hay không?
Sau khi học Phật th́ kỳ vọng của cha mẹ sẽ khác lúc trước, làm
thánh làm hiền vẫn chưa đủ, c̣n phải làm ǵ? Làm Bồ Tát, làm Phật!
Nếu bạn làm Bồ Tát th́ họ là cha mẹ của Bồ Tát; nếu bạn thành Phật
th́ họ làm cha mẹ của Phật; làm cha mẹ của thánh hiền và làm cha mẹ
của Phật, Bồ Tát là hai chuyện khác nhau. Nếu chúng ta làm Phật, Bồ
Tát chẳng nổi th́ chữ hiếu này chưa đạt đến viên măn, vẫn c̣n khiếm
khuyết, phải biết chuyện này. Người như thế nào mới làm tṛn chữ
hiếu? Thành Phật th́ chữ hiếu viên măn nhất. Đẳng Giác Bồ Tát c̣n
thua một bậc, họ c̣n một phẩm Sanh Tướng vô minh chưa phá th́ đạo
hiếu của họ cũng chưa viên măn; từ đây có thể biết Tam Phước là cơ
sở chân thực.
Nếu bạn thực sự đă học Phật, khi bạn khởi tâm động niệm, ngôn
ngữ tạo tác liền lập tức phải nghĩ đến ‘hiếu dưỡng cha mẹ, phụng sự
sư trưởng’. Thầy giáo và cha mẹ kỳ vọng chúng ta những ǵ? Chúng ta
đă làm được hay chưa? Trong kinh thường nói: ‘Phật, Bồ Tát là tấm
gương tốt nhất cho hết thảy chúng sanh trong chín pháp giới.’ Trong
xă hội này chúng ta có thể làm gương mẫu, làm người dẫn đầu cho xă
hội đại chúng hay không? Tư tưởng, lời nói, hành động của chúng ta
có ảnh hưởng ǵ đối với xă hội đại chúng? Nếu là ảnh hưởng xấu th́
tuyệt đối đừng làm. Nếu chẳng thâm nhập kinh điển Đại thừa th́ bạn
không biết ‘hiếu dưỡng cha mẹ, phụng sự sư trưởng’ trong đời sống
phải bằt đầu từ đâu. Chúng ta nêu ra một thí dụ đơn giản: trong nhà
có nhiều anh chị em, làm con nếu anh em chẳng ḥa hợp th́ cha mẹ
phải lo lắng, buồn rầu, như vậy tức là bất hiếu! Con cái trưởng
thành ai cũng thành gia lập nghiệp, cưới vợ sanh con, chị em dâu bất
ḥa, cha mẹ phải bận tâm, đó cũng là bất hiếu! Lúc c̣n nhỏ đi học
chẳng siêng năng làm cha mẹ phải bận tâm là bất hiếu! Trong trường
không nghe lời thầy, mỗi ngày đều đánh lộn, phá phách cũng là bất
hiếu!
Thế nên chư vị nghĩ xem, chữ hiếu này bao trùm hết thảy Phật
pháp, hết thảy pháp của Thế Tôn nói suốt bốn mươi chín năm chỉ là
để
giảng rơ chữ hiếu mà thôi. Khi chúng ta khởi tâm động niệm, xử sự,
đăi người, tiếp vật đều phải làm theo những lời đức Phật dạy trong
kinh điển. Phật dạy chúng ta làm thế nào, chúng ta nhất định phải
làm cho bằng được; những ǵ Phật chẳng cho chúng ta làm th́ chúng ta
tuyệt đối không làm, được vậy th́ bạn mới làm tṛn đạo hiếu, mới kể
là thực sự làm được ‘phụng sự sư trưởng’. Sư trưởng chẳng dạy bạn
mỗi ngày phải cung kính họ, cúng dường họ; chẳng phải vậy, bạn phải
hết ḷng làm theo lời dạy của sư trưởng. Thế nên Phật pháp là hiếu
đạo và sư đạo: thầy dạy bạn phải làm sao để tṛn đạo hiếu, cha mẹ
dạy bạn phụng tŕ thầy giáo như thế nào, sự giáo dục của hai bên hỗ
trợ lẫn nhau th́ bạn mới thành tựu, đây là cội gốc của căn bản. Học
Phật phải bắt đầu từ đâu? Bắt đầu từ Tịnh nghiệp Tam phước.
Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện dạy rơ về hiếu đạo, trong nhà
Phật kinh này thường được xưng là ‘Hiếu Kinh’. Lúc mỗi đạo tràng mới
thành lập, bộ kinh đầu tiên tôi giảng nhất định phải là kinh Địa
Tạng. Khi chúng ta có một miếng đất th́ mới có thể phát triển, mới
có thể làm việc. Đất đai có rồi nhưng quan trọng hơn vẫn là tâm địa,
dùng lời nói hiện nay tức là xây dựng tâm lư, kinh Địa Tạng giúp
chúng ta xây dựng tâm lư. Từ mảnh đất này liên tưởng đến tâm địa của
ḿnh, tâm địa phải chân thành, thanh tịnh, b́nh đẳng, từ bi. Cả bộ
kinh Địa Tạng thực ra là giảng bốn câu này: ‘Hiếu dưỡng cha mẹ,
phụng sự sư trưởng, từ tâm chẳng sát hại, tu thập thiện nghiệp’, các
bạn hăy coi kỹ.
Phật giáo Đại thừa ở Trung Quốc rất có đạo lư, là trí huệ cao
độ, dùng bốn đại Bồ Tát để tiêu biểu và tượng trưng cho sự tu học
Phật pháp. Vị thứ nhất là Địa Tạng Bồ Tát, thứ hai là Quán Thế Âm Bồ
Tát; Quán Thế Âm Bồ Tát tượng trưng cho đạo hiếu mở rộng ra tức là
đại
từ đại bi, phát huy đạo hiếu đến có thể hiếu thuận hết thảy chúng
sanh. Nếu lúc chúng ta giao thiệp với người khác vẫn c̣n tự tư tự
lợi, vẫn làm một số việc lợi ḿnh, hại người, tức là chẳng hiếu, là
chẳng kính trọng thầy giáo! Như vậy th́ chúng ta đâu có học Phật?
Người học Phật đối với ai cũng đều chân thành, người nào gạt gẫm
ḿnh, ḿnh đối với họ vẫn phải chân thành, được vậy mới đáng gọi là
người học Phật.
Trong số những pháp sư thế hệ trước, có một thời gian tôi có
dịp tiếp xúc và hợp tác với Đạo An lăo pháp sư. Thầy mở lớp Phật học
Đại Chuyên và mời tôi làm tổng chủ giảng, chúng tôi hợp tác với nhau
hết ba, bốn năm. Thầy làm cho tôi khâm phục, thầy chẳng có tâm riêng
tư, chẳng có đố kỵ, việc này rất hiếm và quư báu! Lúc tôi giảng, có
khoảng chừng hơn bốn trăm học sinh đến nghe; lúc lăo pháp sư giảng
th́ chỉ c̣n từ ba đến bốn mươi học sinh. T́nh trạng này rất khó coi,
thầy chẳng phiền ḷng nhưng tôi cảm thấy rất khó chịu. Lớp của tôi
được xếp vào buổi sáng, lớp của thầy buổi chiều; học sinh buổi sáng
học xong, ăn xong th́ đều ra về, buổi chiều chẳng c̣n bao nhiêu
người đến lớp của thầy. Thế nên tôi đề nghị: ‘Chúng ta thay đổi lớp
học ngược lại xem sao, thầy dạy lớp buổi sáng, tôi dạy lớp buổi
chiều’. Sau khi thay đổi th́ lớp buổi sáng của thầy học tṛ chẳng
chịu đến, lớp buổi chiều th́ học sinh lại đến đầy chỗ ngồi, thiệt là
chẳng có cách nào khác! Tuy vậy nhưng lăo pháp sư trước sau cũng
chẳng phiền hà ǵ hết, có thể làm được như vậy rất khó, chẳng dễ
đâu!
Có một hôm tôi đi thăm thầy, lúc đó có một người từ pḥng của
thầy đi ra. Thầy hỏi tôi: ‘Người đó [vừa bước ra], thầy có gặp
chăng?’
Tôi nói: ‘Gặp rồi, vừa đi khỏi’.
Thầy nói: ‘Hôm nay ổng cũng đến gạt tôi’. Ông đó rất thường
gạt tiền của thầy, hôm nay cũng lại gạt tiền.
Tôi nói: ‘Thế th́ thầy có cho ổng hay không?’
‘Tôi đưa rồi’.
Thiệt là phi thường! Người đến gạt lăo pháp sư cứ nghĩ rằng
lăo pháp sư chẳng biết ḿnh bị gạt, đâu ngờ là lăo pháp sư đă biết
rơ ràng. Biết rơ họ gạt ḿnh mà vẫn để cho họ gạt; thiệt là phi
thường! Trong những lăo pháp sư đời trước tôi chỉ gặp được một người
như thầy, tôi rất khâm phục, thầy chẳng hồ đồ, chẳng mê hoặc điên
đảo chi cả, đây là việc chúng ta phải nên học tập. Thầy đă làm một
gương tốt cho chúng ta.
Điều thứ hai trong Tam Phước:
‘Thọ tŕ Tam Quy, đầy đủ các giới, chẳng phạm oai nghi’.
Từ đây có thể biết điều kiện cơ bản của ‘Thọ tŕ Tam Quy’ tức
là phước thứ nhất làm xong th́ mới có tư cách tiếp nhận sự dạy dỗ
của Phật. Tại sao ngày nay Phật pháp suy thoái như vậy? Là v́ mọi
người thọ tŕ Tam Quy nhưng điều thứ nhất [nói phía trước] chẳng làm
được nên thọ Tam Quy đều là giả, chẳng phải thật – trên h́nh thức
thọ Tam Quy, nhưng trên thực tế th́ chẳng thọ. Hỏi bạn thọ Tam Quy
rồi, quy từ đâu? Chẳng biết. Hỏi bạn y những ǵ? Cũng chẳng biết.
Thọ tŕ một cách hồ đồ như vậy là sai lầm! Tôi đă giảng ‘Tam Quy’ kỹ
càng ở Tân Gia Ba, h́nh như năm ngoái đă giảng thêm một lần ở tại bờ
biển Hoàng Kim, có lưu lại băng thâu âm, băng thâu h́nh. Hai lần
diễn giảng này đă được chép lại thành một cuốn sách nhỏ, đă in ở Đài
Loan, chư vị muốn thọ Tam Quy nhất định phải nghe kỹ hai lần giảng
này; sau đó chúng ta ở trước mặt Phật, Bồ Tát làm nghi thức đơn giản
nhưng long trọng, mời Tam Bảo chứng minh cho chúng ta; chúng ta thực
sự phát nguyện quy y Tam Bảo.
c. Tam Quy trong Tịnh Tông: A Di Đà
Phật, kinh Vô Lượng Thọ, Bồ Tát Quán Âm và Thế Chí.
Quy y Tam Bảo nghĩa là từ hôm nay trở đi tôi phát nguyện chánh
thức làm một học tṛ của đức Phật, tôn Phật làm thầy. Bạn phát
nguyện tôn Phật làm thầy, chúng sanh trong chín pháp giới kể cả
những thiên thần nh́n thấy bạn đều tôn kính bạn. Bạn là học tṛ của
Phật, chẳng phải là người thường, đặc biệt nếu bạn là học tṛ của A
Di Đà Phật th́ càng tôn quư hơn, hết thảy chư Phật Như Lai đều đặc
biệt tiếp đăi bạn, là nể Phật A Di Đà
đấy.
Nhưng bạn phải thiệt là học tṛ của A Di Đà Phật mới được, nếu là
giả mạo th́ bạn chẳng đáng một xu. Tuy Phật, Bồ Tát chẳng trách bạn
nhưng thần hộ pháp sẽ khiến bạn bị rắc rối. Thần hộ pháp là cảnh
sát, là người chấp hành pháp luật, họ đối với bạn chẳng khách sáo ǵ
cả, nếu bạn giả mạo làm đệ tử Phật th́ bạn đă phạm pháp rồi.
Tôi đặc biệt kết hợp sự quy y của đồng tu chúng ta với giáo
giới của Tịnh Tông. Chúng ta quy y Phật th́ tôn A Di Đà Phật làm
thầy, quy y Pháp th́ lấy kinh Vô Lượng Thọ làm nền tảng, đây là kinh
số một của Tịnh Tông. Những lời dạy của đức Phật trong kinh chúng ta
phải hiểu rơ, nhận thức, nhớ nằm ḷng, và phải thực hiện những lời
này trong đời sống. Chúng ta hy vọng cách dụng tâm của ḿnh giống
như đức Phật A Di Đà; chúng ta phát nguyện cũng phải giống nguyện
của đức Phật A Di Đà, mỗi nguyện trong bốn mươi tám lời nguyện của
đức Phật A Di Đà
đều
nhằm đem lại lợi ích cho chúng sanh, đều chẳng v́ ḿnh. Đức Phật A
Di Đà dạy chúng ta phải sửa đổi hết thảy tập khí phiền năo từ vô
lượng kiếp đến nay. Một đoạn rất dài từ phẩm ba mươi hai đến phẩm ba
mươi bảy [trong kinh Vô Lượng Thọ] dạy về vấn đề này. Trong đó là
những lời giải thích hết sức cụ thể của ngũ giới và thập thiện,
chúng ta phải biết làm thế nào y giáo phụng hành, làm theo lời dạy
của Phật; thực sự nương tựa th́ sẽ được lợi ích! Tăng bảo th́ chúng
ta học theo Quán Thế Âm Bồ Tát và Đại Thế Chí Bồ Tát -- Bồ Tát Tăng.
Hai vị đại Bồ Tát này tượng trưng cho những ǵ?
Quán Thế Âm Bồ Tát đại từ đại bi, nói theo hiện nay th́ từ bi
nghĩa là quan tâm, thương mến, và giúp đỡ, trong đó hoàn toàn chẳng
có điều kiện ǵ hết th́ gọi là
đại.
Đối với hết thảy người, hết thảy chúng sanh, chúng ta phải quan tâm,
thương mến họ. Khi họ gặp khó khăn th́ phải giúp đỡ họ, đây tức là
Quán Âm. Nếu bạn thường giữ tâm niệm này để đối người, tiếp vật th́
bạn tức là Quán Thế Âm Bồ Tát.
Đại Thế Chí Bồ Tát tượng trưng cho trí huệ cao độ; tuyệt đối
chẳng dùng t́nh cảm để xử sự, đăi người, tiếp vật, dùng lư trí mà
chẳng dùng cảm t́nh tức là Đại Thế Chí Bồ Tát. Đại từ đại bi lấy trí
huệ làm cơ sở, chẳng dùng cảm t́nh. Dùng cảm t́nh th́ có thể có
nhiều rắc rối nên phải dùng lư trí để phán đoán. Ư nghĩa của việc
quy y Tam Bảo là như vậy, đây mới thiệt là chỗ quay về, nương tựa
của chúng ta. Cho nên Tam Bảo trong Tịnh Tông được thể hiện qua ‘A
Di Đà Phật, kinh Vô Lượng Thọ, Quán Âm và Thế Chí Bồ Tát’. Nếu phàm
phu chúng ta chẳng có nơi nương tựa th́ sẽ cảm thấy trống rỗng,
thiếu thốn; khi bạn hiểu được những đạo lư và phương pháp này th́
bạn đă kiếm được chỗ nương tựa. Từ mê hoặc, điên đảo, sai lầm quay
lại nương tựa vào Tam Bảo th́ bạn mới thực sự quy y.
d. Giữ phép tắc, làm gương mẫu cho
chúng sanh. Học chịu thiệt tḥi, không v́ cá nhân ḿnh.
‘Đầy đủ các giới, chẳng phạm oai nghi’. Dùng cách nói hiện nay
th́ hai câu này nghĩa là ‘giữ ǵn phép tắc’; không những phải giữ
phép tắc mà c̣n phải làm gương mẫu cho xă hội đại chúng. Chúng ta
không được làm trái ngược lời dạy của đức Phật, phải tuân theo. Hiến
chương, luật pháp của quốc gia, phong tục tập quán ở địa phương
chúng ta đều phải tuân giữ; được vậy mới có thể ḥa đồng với đại
chúng, mới có thể cảm hóa hết thảy chúng sanh. Cho nên lúc chúng ta
khởi tâm động niệm, hết thảy các hành động phải thường suy nghĩ coi
có thể làm gương mẫu cho xă hội đại chúng hay không.
Hôm qua tôi nêu lên một thí dụ: ngày nay tâm tham của người ta
rất nặng, bất luận làm ngành nghề nào cũng đều kiếm đủ mọi cách để
đóng thuế ít hơn. Đây có phải là việc chúng ta nên làm hay không?
Không phải. Chúng ta là
đệ
tử Phật, phải giữ phép tắc, chúng ta có nghĩa vụ phải đóng thuế, nếu
t́m đủ mọi cách, t́m lỗ hổng của pháp luật để đóng thuế ít một chút
th́ chúng ta chẳng c̣n là
đệ
tử Phật nữa, chúng ta không tuân giữ luật pháp. Trong đời sống hằng
ngày chúng ta có thể tùy tiện khạc nhổ bừa băi trên đường phố hay
không? Có thể tùy tiện xả rác hay chăng? Nếu chúng ta làm vậy th́ có
thể làm gương mẫu cho xă hội đại chúng hay không? Nếu bạn có những
sự cảnh giác như vậy th́ đó tức là quy y, bạn đă quay lại, bạn đă
giác ngộ -- những hành động không tốt này sẽ ảnh hưởng đến xă hội,
chúng ta nhất quyết chẳng làm.
Chúng ta chân thành với người, tuyệt đối chẳng lừa gạt bất cứ
người nào, khi chúng ta bị thiệt tḥi, bị gạt gẫm cũng chẳng so đo,
giống như Đạo An lăo ḥa thượng biết rơ bị người gạt nhưng vẫn để
cho họ gạt, và chẳng nói một lời, trong ḷng ḿnh tâm an lư đắc. Tại
sao người đó gạt ḿnh mà chẳng gạt người khác? Bạn hăy suy nghĩ đạo
lư này. Nếu họ gạt ḿnh và ḿnh có năng lực cho người đó th́ ḿnh
hăy bố thí cho họ, làm một việc thiện. Ngay trong cảnh giới, trong
hoàn cảnh này mài dũa hết tham, sân, si, mạn, nghi. Nếu bạn chẳng có
những cảnh giới này th́ bạn tu cái ǵ? Đây tức là tu hành, đây tức
là công phu! Rơ ràng minh bạch, là trí huệ đấy! Tu hành phải tu ở
đâu? Tu ngay tại chỗ này. Một chút thiệt tḥi cũng chẳng chịu làm
th́ bạn tu hành cái ǵ? Một chút thua thiệt cũng chẳng chịu, nói
thực ra là bạn có phân biệt, chấp trước quá cứng chắc. Nếu không thể
phá trừ những thứ này th́ bất luận tu học pháp môn nào, tu được giỏi
cách mấy, nói với các bạn biết đó đều là tu thế gian pháp, đều vẫn
kẹt trong lục đạo luân hồi.
e. Giác là Phật pháp, mê không là
Phật pháp.
Đại thừa Phật pháp đặc biệt trong Tông Môn, thường thường dùng
câu: ‘Pháp nào là Phật pháp?’ để thẩm vấn người sơ học. Các bạn nghĩ
thử coi, pháp nào là Phật pháp? Và hỏi ngược lại: ‘Pháp nào chẳng là
Phật pháp?’ Sự khác biệt giữa Phật pháp và chẳng phải Phật pháp ở
đâu, bạn phải hiểu rơ. Giác ngộ rồi th́ hết thảy pháp đều là Phật
pháp; chưa giác ngộ th́ hết thảy pháp đều chẳng là Phật pháp.
Khi bạn chưa giác ngộ, vẫn c̣n mê hoặc điên đảo, hỏi bạn thêm lần
nữa: ‘pháp nào là Phật pháp?’ Chẳng pháp nào là Phật pháp cả. Kinh
Đại Phương Quảng Hoa Nghiêm cũng chẳng phải là Phật pháp. Một ngày
bạn niệm mười vạn câu Phật hiệu, th́ như lời Liên Tŕ, Ngẫu Ích đại
sư nói cho dù công phu niệm Phật của bạn có giỏi hơn nữa, niệm đến
mức ‘gió thổi chẳng động, mưa rơi chẳng thấm’, sau đó phê b́nh bạn:
‘hét bể cổ họng cũng uổng công’. Tại sao vậy? Chẳng thể văng sanh,
vẫn kẹt trong lục đạo luân hồi. V́ vậy nếu chẳng giác ngộ, một ngày
niệm mười vạn tiếng Phật hiệu cũng chẳng là Phật pháp, quư vị phải
hiểu đạo lư này.
Phật pháp thay đổi quan niệm, cách suy nghĩ của chúng ta. Khi
khởi tâm động niệm đều nghĩ cho ḿnh, như vậy là sai lầm, đó chẳng
là Phật pháp; khởi tâm động niệm đều nghĩ đến hết thảy chúng sanh,
nghĩ đến sự an toàn của cả xă hội th́ hết thảy pháp đều là Phật
pháp. Tôi thường nói những việc mà bạn làm hằng ngày như uống nước,
mặc áo, ăn cơm chẳng có thứ nào không là Phật pháp. Bạn giác ngộ
chưa? Người giác ngộ sẽ v́ hết thảy chúng sanh, người mê chỉ v́ cá
nhân ḿnh, mê và ngộ khác nhau tại chỗ này. Lúc khởi tâm động niệm
c̣n v́ ḿnh th́ không được. Tại sao không được? Phật nói: 'Hết
thảy chúng sanh vốn thành Phật'. Tại sao bây giờ bạn biến thành
chúng sanh? Tại sao bây giờ bạn c̣n trong lục đạo luân hồi? Phật dạy
chúng ta: lục đạo là do chấp trước hiện thành; thập pháp giới là do
phân biệt hiện thành. Nói cách khác nếu bạn có thể phá trừ chấp
trước, lục đạo sẽ chẳng c̣n nữa, bạn sẽ vượt ra khỏi tam giới; nếu
bạn phá trừ phân biệt, bạn sẽ vượt thoát thập pháp giới và
đến
Nhất Chân pháp giới. Nhất Chân pháp giới là Hoa Tạng thế giới trong
kinh Hoa Nghiêm, là cảnh giới của Tỳ Lô Giá Na Phật. (Tây phương Cực
Lạc thế giới cũng là Nhất Chân pháp giới). V́ vậy khi khởi tâm động
niệm mà c̣n một cái ‘TA’ th́ ngă chấp của bạn làm sao có thể phá trừ
được?
‘Cách phá ngă chấp’ trong Đại thừa cao minh hơn Tiểu thừa.
Trong pháp Đại thừa Phật dạy chúng ta khi khởi tâm động niệm đều v́
chúng sanh, đừng nghĩ cho cá nhân ḿnh, lâu dần biến thành thói
quen, niệm niệm đều v́ chúng sanh, đem ích lợi cho chúng sanh, v́
chúng sanh tạo phước, quên mất ḿnh. Phương pháp này đích thật là
rất tốt, chẳng nghĩ đến ḿnh, chỉ nghĩ cho người khác. Dần dần không
hay không biết th́ ngă chấp sẽ biến mất hết. Nói một cách khác không
hay không biết bạn bèn vượt thoát tam giới, lục đạo. Phương pháp này
vô cùng kỳ diệu! Thêm phần bạn nhất tâm niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ
th́ làm sao chẳng nhanh chóng được? Thành Phật rất nhanh chóng!
Thành Phật tức là thành tựu trí huệ, đức năng viên măn, nhất định
phải hiểu đạo lư này, nhất định phải hiểu phương pháp. Hiểu đạo lư
rồi, biết phương pháp rồi, vấn đề sau đó là ḿnh phải nỗ lực thực
hành. Đây đích thật là con đường thành Phật nhanh chóng vậy!
Nếu bạn hỏi: ‘Trong xă hội ngày nay làm theo cách này th́ chỗ
nào tôi cũng chịu thiệt tḥi, bị gạt rồi sao? Người ta ai cũng v́
ḿnh, nhưng tôi lại v́ họ, họ lại chẳng chịu v́ tôi, làm sao tôi
phải làm việc khờ dại này!’ Nếu bạn nghĩ như vậy th́ bạn mới thiệt
là ngu si, chẳng phải người khác ngu; nếu bạn chịu làm th́ bạn sẽ
được đại tự tại! Bạn thực sự có thể đạt được những quả báo mà Phật
nói trong kinh. Phải tin Phật, phải mạnh dạn làm, tôi nói những lời
này với mọi người khẳng định chắc chắn như đinh đóng cột, chẳng có
một tơ hào hoài nghi ǵ hết. Tại sao vậy? V́ tôi đă làm được rồi.
Những ǵ Phật nói trong kinh, những ǵ thầy tôi dạy cho tôi, trong
ṿng mấy chục năm nay những ǵ tôi làm bây giờ đă có kết quả, hiện
nay tôi đạt được những ǵ? Được đại tự tại. Tôi thường nói: ‘Trên
thế giới này tôi sung sướng nhất’.
Nếu bạn hỏi: ‘Sung sướng ở chỗ nào?’
‘Trong tâm tôi chẳng có lo lắng, âu sầu, phiền năo, th́ làm
sao chẳng sung sướng, chẳng tự tại được? Trong tâm của các bạn có lo
âu, nhớ nhung, phiền năo th́ dù bạn có nhiều tiền, có địa vị cao,
bạn cũng chẳng tự tại. Bạn sinh sống rất khổ sở, tôi sinh sống rất
thong dong, rất vui sướng, rất tự tại’. Cho nên những ǵ đức Phật
nói trong kinh câu nào cũng chân thật, chẳng có câu nào giả dối, tại
sao bạn chẳng chịu làm? Tại sao lại hoài nghi? Chẳng chịu làm là v́
chẳng giác. Dùng một thuật ngữ trong Phật pháp [th́ đây] là nghiệp
chướng sâu nặng! Nghiệp chướng nặng phải tự ḿnh tiêu trừ, người
khác chẳng có cách chi tiêu trừ dùm bạn, Phật, Bồ Tát cũng chẳng có
cách ǵ hết. Phật, Bồ Tát chỉ có thể nói rơ những lư luận và phương
pháp này cho bạn biết, bạn phải tự ḿnh giải quyết vấn đề của bạn.
f. Tin sâu nhân quả -- Niệm Phật là
nhân, thành Phật là quả.
Từ Tam Quy nâng cao đến phước thứ ba tức là cơ sở tu học của
Đại thừa Bồ Tát: ‘Phát Bồ Đề tâm, đọc tụng Đại thừa, tin sâu nhân
quả, khuyến tấn hành giả’.
Bồ Tát Đại thừa chẳng những tự độ ḿnh mà c̣n giúp đỡ người
khác, cho nên ‘khuyến tấn hành giả’ nghĩa là chủ động giúp đỡ người
khác. Tin sâu nhân quả nói ở đây chẳng phải là nhân quả thông
thường. 'Niệm Phật là nhân, thành Phật là quả’ đặc biệt nhấn mạnh
trên nhân quả ‘niệm Phật thành Phật'. Chúng ta có thể t́m được
rất nhiều chứng minh trong các kinh điển Đại thừa, kinh Hoa Nghiêm
là thí dụ rơ ràng nhất cho việc niệm Phật thành Phật. Pháp Hoa, Lăng
Nghiêm, Lăng Già cũng chẳng ngoại lệ, quư vị hăy quán sát kỹ càng.
Hết thảy kinh Đại thừa đều nói niệm Phật thành Phật, đây là cơ sở
học Phật của chúng ta! Chúng ta phải dụng công từ đây, bắt đầu học
từ đây.
g. Năm khoa mục của Tịnh Tông – Tam
Phước, Lục Ḥa, Tam Học, Lục Độ, Thập Nguyện.
Hiện nay chúng ta chưa thành Phật, chưa thành Bồ Tát, chưa
văng sanh, thân thể này vẫn c̣n trụ trên thế gian, mỗi ngày phải
tiếp xúc với đại chúng, chúng ta dùng thái độ ǵ để đối phó với
những chuyện hiện thực trong xă hội, Phật dạy chúng ta sáu nguyên
tắc gọi là ‘Lục Ḥa Kính’. Lần này cư sĩ Lâm đem vài bộ [liễn, ghi
chép] Lục Ḥa Kính ở Đài Loan về đây, hy vọng đem đóng khung [treo
lên] để chúng ta thường nh́n thấy và cảnh giác ḿnh. ‘Kiến ḥa đồng
giải, Giới ḥa đồng tu’. Nói theo hiện nay ‘kiến ḥa đồng giải’ tức
là ‘xây dựng kiến thức chung’, chúng ta có chung nhận thức, chung lư
tưởng, mục tiêu th́ có thể sinh hoạt chung với nhau, ḥa đồng khi
tiếp xúc lẫn nhau, đối xử ḥa mục với nhau; ‘Giới ḥa đồng tu’ nghĩa
là tuân giữ luật pháp; nhà có quy tắc trong nhà, nước có pháp luật
quốc gia, đạo tràng có quy củ của đạo tràng, mọi người đều phải tuân
theo. ‘Thân ḥa đồng trụ, khẩu ḥa vô tránh, ư ḥa đồng duyệt, lợi
ḥa đồng quân’ [thân ḥa đồng trụ: cùng nhau làm việc, sanh hoạt
ḥa đồng; khẩu ḥa vô tránh: chẳng tranh chấp, căi cọ; ư ḥa đồng
duyệt: cùng chung chí hướng; lợi ḥa đồng quân: cùng chia xẻ tài vật
đồng đều với nhau]. Phật dạy chúng ta ‘Lục ḥa kính’, chúng ta
phải tuân theo sáu nguyên tắc này khi tiếp xúc, sinh hoạt với đại
chúng trong xă hội.
Tam Phước là cơ sở tu học của mỗi người. Lục Ḥa Kính là
nguyên tắc căn bản khi chúng ta tiếp xúc với đại chúng. Nếu chúng ta
có thể làm được th́ trên thế giới này bất luận bạn ở quốc gia nào,
địa phương nào, bất luận trong xă hội nào, bạn sẽ chẳng thiệt tḥi
ǵ hết, đi đâu cũng được mọi người tôn kính, hoan nghinh, lợi ích
này thiệt là chẳng thể nghĩ bàn! Phải dốc sức thực hành, làm hết
ḷng; từ cơ sở này không ngừng tiến lên, nâng cao cảnh giới của
ḿnh, bạn nhất định phải tuân theo Tam Học, Lục Độ, Thập Nguyện. Tam
Học tức là Giới, Định, Huệ. Trong đề kinh ‘Thanh Tịnh B́nh Đẳng
Giác’ của kinh Vô Lượng Thọ, Thanh tịnh là Giới Học, B́nh đẳng là
Định Học, Giác là Huệ Học. Tam Học đầy đủ trong đề kinh này; Chẳng
những Tam Học đầy đủ, Tam Bảo cũng đầy đủ, Thanh tịnh là Tăng Bảo,
B́nh đẳng là Pháp Bảo, Giác là Phật Bảo. Từ đây có thể biết kinh Vô
Lượng Thọ thiệt là chẳng thể nghĩ bàn, hy vọng các vị đồng tu hết
ḷng nỗ lực, đời này chúng ta sẽ chẳng luống uổng, đây là nhân duyên
khó gặp từ vô lượng kiếp đến nay, đời này gặp được th́ chúng ta phải
trân trọng, nắm chắc, nhất định sẽ thành tựu. Lời tôi nói đến đây đă
hết.
Buổi nói chuyện tại Tịnh Tông Học Hội Úc Châu, 1997 (ngày
thứ ba) |