|
7. Phụ lục
a. Ba yếu quyết của việc thọ tŕ kinh Vô
Lượng Thọ
1. Khéo giữ ǵn khẩu nghiệp, chẳng chê bai lỗi của người khác;
Khéo giữ ǵn thân nghiệp, đừng làm chuyện trái ngược với giới
luật;
Khéo giữ ǵn ư nghiệp, thanh tịnh chẳng nhiễm.
2. Phát Bồ Đề tâm, một hướng chuyên niệm A Di Đà Phật.
3. Quán pháp như hoá, tam muội thường tịch.
Nhận định:
Lăo ḥa thượng luôn luôn nhấn mạnh bí quyết tu học Phật pháp
cho được thành tựu là phải: 'Thâm nhập một môn, huân tu lâu dài'.
Nếu có thể không hoài nghi, không xen tạp, không gián đoạn, th́
chẳng ai không thành công. Trong bài văn Khuyên Phát Tâm Bồ Đề, Tổ
thứ mười một của Tịnh Tông, Tỉnh Am đại sư chỉ rơ 'Trong việc tu
hành cấp bách nhất là phải lập nguyện trước tiên'. Trong chín
nhân duyên có nói: 'Phát Bồ Đề Tâm là thiện căn, chấp tŕ danh
hiệu là phước đức'.
Kinh Hoa Nghiêm dạy: 'Nguyện rộng th́ hành sâu, hư không
chẳng lớn, tâm vương mới lớn. Kim cang chẳng cứng, nguyện lực cứng
nhất'.
Chú thích: Bồ Đề tâm tức là tín nguyện tâm – tin những
ǵ Phật nói, muôn duyên buông xuống hết, cầu nguyện văng sanh.
b. Thái độ và nhận thức cần có khi tu
học Phật pháp.
1 Ấn Quang đại sư dạy chúng ta: 'Muốn được lợi ích chân
thật của Phật pháp th́ phải t́m cầu từ sự cung kính, một phần cung
kính được một phần lợi ích, mười phần cung kính được mười phần lợi
ích'.
2. Học Phật phải tin sâu nhân quả, hiểu lư của nhân quả. Bất
luận là ‘Như Lai thành chánh giác’ hoặc là ‘chúng sanh đọa ác đạo’
đều chẳng ra ngoài nhân quả. Kinh Dịch nói: 'Nhà tích thiện ắt có
niềm vui, nhà tích điều bất thiện ắt có việc tai ương'. Tích
thiện và tích bất thiện là nhân; niềm vui và tai ương là quả.
3. Kinh nói: 'Bồ Tát sợ nhân, chúng sanh sợ quả'. Bồ
Tát sợ chiêu cảm ác quả nên ngăn ngừa, đoạn trừ nhân ác, từ đó tội
chướng tiêu trừ, công đức viên măn măi đến khi thành Phật. Chúng
sanh thường làm nhân ác nhưng lại muốn miễn trừ quả ác cũng giống
người chạy trốn bóng của ḿnh dưới ánh nắng mặt trời, vất vả khổ
nhọc cách nào cũng chẳng được. Người vô trí khi làm chút ít việc
thiện xong rồi hy vọng có phước báo to lớn; lúc gặp nghịch cảnh, có
chút ǵ chẳng như ư liền nói: ‘Tôi làm lành nhưng lại gặp nạn, chẳng
có nhân quả’, từ đó thoái tâm.
4. ‘Tu phước c̣n phải tu huệ, tu Tịnh Độ’, tu phước dĩ nhiên
là bắt đầu từ ‘đoạn ác tu thiện’. Làm công quả ở đạo tràng nhất định
phải giữ ǵn tâm thanh tịnh, nhắm đến mục tiêu ‘thành tựu giới, định,
huệ của ḿnh’, đừng tham cầu phước báo. Nhân viên [trong đạo tràng]
càng không thể có thái độ: ‘tôi cho bạn cơ hội tu phước báo’ để đối
xử với những người đến làm công quả. Tu huệ nên cầu đoạn trừ phiền
năo. Hoằng Nhất đại sư khai thị: "Muốn trừ phiền năo trước tiên
phải quên ‘ngă’ (tôi)”. Tu hành chẳng rời sinh hoạt, nhất định
từ ‘quên tôi, xả tiểu ngă, đến vô tư, vô ngă’ mà làm; như vậy mới có
thể đoạn trừ phiền năo, trừ ngă chấp, tu học giới, định, huệ; đây là
một phương pháp rất kỳ diệu. Nếu có thể dùng tâm ‘chân thành, thanh
tịnh, từ bi’ để niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ th́ đó là phước huệ viên
măn.
5. Người niệm Phật ăn chay để nuôi dưỡng tâm từ bi và tâm
tường ḥa. Nếu chẳng thể chấm dứt ăn mặn th́ nên ăn tam tịnh nhục (thịt
mà ḿnh chẳng thấy giết, chẳng nghe giết, chẳng bị giết v́ ḿnh),
hoặc ăn chay buổi sáng, nhất quyết đừng sát sanh, đặc biệt là sát
sanh ở nhà. Để cho trong nhà thường được kiết tường, nếu thường sát
sanh th́ trong nhà biến thành ḷ sát sanh, oan hồn thường tụ tập,
chẳng kiết tường.
6. Phật, Bồ Tát giúp đỡ chúng ta bằng cách nói rơ đạo lư về
nghiệp nhân quả báo, nói rơ sự lợi hại, và phương pháp đoạn ác tu
thiện cho chúng ta biết, chỉ như vậy mà thôi. Thực sự muốn làm th́
phải do tự ḿnh làm; Phật, Bồ Tát chẳng thể làm thay chúng ta.
7. Nghe pháp và nghe kinh nhất định phải 'thâm nhập một môn,
huân tu lâu dài', học tập không ngừng để thể hội, giác ngộ và nỗ
lực làm được 'giải và hành đều tương ứng'. Lâu ngày công phu
sâu dày mới phát sanh tác dụng -- mới có kết quả --, mới có thể hàng
phục thói quen tập khí và
đạt
được thành tựu.
8. Khổng Lăo Phu Tử dạy chúng ta: 'Đa văn khuyết nghi, thận
hành kỳ dư’ (Nếu nghe nhiều mà c̣n có những chỗ nghi ngờ th́ hăy
thực hành cẩn thận những điều c̣n lại, tức những điều ḿnh không
nghi), đây là thái độ nên có khi chúng ta nghe kinh, nghiên [cứu
kinh] giáo. Trong việc nghe kinh, nghiên giáo, căn cơ của mỗi người
chẳng giống nhau, mỗi người sẽ hiểu khác nhau, tâm đắc khác nhau, và
chẳng tránh có chỗ nghi ngờ khác nhau. Nghi ngờ là một căn bịnh nặng,
đừng v́ nghi mà
đánh
mất ḷng tin, càng không thể v́ nghi mà cản trở chánh hạnh. Nên tạm
thời gác chỗ nghi hoặc qua một bên, chỉ thực hành những ǵ mà ḿnh
chẳng nghi, chuyện này rất quan trọng. Sau này gặp được ‘minh sư’
hoặc cảnh giới tu học của ḿnh đă nâng cao th́ vấn đề nghi hoặc sẽ
được giải đáp.
9. Trong câu chuyện Pháp Chiếu vào Trúc Lâm tự, Văn Thù Bồ Tát
nói với Pháp Chiếu: 'Hôm nay ông niệm Phật, đă đúng lúc rồi.
Trong các môn tu chẳng có ǵ hơn niệm Phật. Cúng dường Tam Bảo, tu
phước lẫn tu huệ. Hết thảy các pháp, Bát Nhă Ba La Mật, thậm thâm
thiền định, cho đến chư Phật đều phát sanh từ niệm Phật. Thế mới
biết niệm Phật là vua của các pháp. Ông nên thường niệm pháp vô
thượng này, đừng bao giờ ngừng nghỉ’. Pháp Chiếu hỏi: 'Làm
thế nào để niệm?'. Văn Thù Bồ Tát nói: 'Phía Tây của thế giới
đó có Phật A Di Đà, Ngài có nguyện lực chẳng thể nghĩ bàn, ông nên
niệm liên tục đừng để gián đoạn, sau khi mạng chung, nhất quyết sẽ
văng sanh, vĩnh viễn chẳng thoái chuyển'.
10. ‘Nhiếp trọn sáu căn’ là bí quyết của sự niệm Phật, lúc
niệm Phật phải nhiếp nhĩ căn, lắng nghe từng chữ từng câu rơ ràng,
đừng để mất. Phật hiệu từ tâm khởi lên, âm thanh từ miệng phát ra,
trở vào tai, liên tục chẳng gián đoạn. Khi vừa có chút vọng niệm
liền thâu nhiếp tâm niệm Phật, nhiếp nhĩ căn lắng nghe, chẳng để
vọng niệm tiếp tục, hết thảy tạp niệm sẽ từ từ tiêu trừ, công phu tự
nhiên sẽ được đắc lực.
11. Long Thư Tịnh Độ Văn nói:
‘Ngày hết đ êm
sẽ đến, phải chuẩn bị cho đ êm;
Mùa nóng hết th́ mùa lạnh sẽ đến, phải chuẩn bị cho mùa lạnh.
C̣n th́ sẽ phải mất, phải chuẩn bị cho cái mất.
Làm thế nào để chuẩn bị cho đ êm?
Đèn nến, giường chiếu.
Làm thế nào để chuẩn bị cho mùa lạnh? Áo ấm, than củi.
Làm thế nào để chuẩn bị cho cái chết? Phước huệ Tịnh Độ.’
12. Phật dạy: 'Chẳng thể dùng ít thiện căn, phước đức, nhân
duyên được sanh về cơi nước đó'. ‘Nhân duyên’ tức là nghe kinh,
nghe pháp, ‘thiện căn’ là tin tưởng Phật pháp, ‘phước đức’ là thực
sự làm theo, tu hành đúng như pháp. Đầy đủ cả ba th́ mới đạt được
toàn bộ lợi ích của Phật pháp.
13. Tâm an lư đắc; V́ lư đắc (hiểu rơ lư) nên tâm an.
14. Lăo Tử nói: ‘Ta có mối lo lớn v́ ta có thân này; nếu ta
chẳng có thân th́ đâu có ǵ phải lo lắng’.
15. Phàm phu chẳng thể vượt thoát tam giới là v́ trong tâm có
cái ‘Ta’. Chỗ huyền diệu của pháp môn Đại thừa là ở chỗ liệng bỏ chữ
‘Ta’ này đi, khi khởi tâm động niệm ǵ cũng nghĩ đến chúng sanh,
chẳng nghĩ đến ḿnh, là dạy ḿnh chẳng chấp trước trên cái ‘Ta’, mở
rộng tâm lượng, phóng lớn lên, th́ tự nhiên ‘chấp Ta, tướng Ta, ngă
kiến’ sẽ mất hết.
16. Ấn Quang đại sư khuyên người mới học Phật phải đọc cuốn
Liễu Phàm Tứ Huấn, Thái Thượng Cảm Ứng Thiên, An Sĩ Toàn Thư là
không ngoài mục đích t́m khuyết điểm của ḿnh mà thôi, cũng giống
như soi gương t́m ra vết dơ của ḿnh. Lăo ḥa thượng Tịnh Không đau
ḷng mỏi miệng giảng đi giảng lại cũng là v́ vậy.
17. ‘Tâm niệm quá nhiều phiền phức thật!
Xưa nay lặng niệm khó muôn vàn!’
(Niệm đầu thái đa chân phiền năo.
Cổ lai nhất niệm tối nan b́nh)
Bịnh nặng nhất của chúng ta là tâm không định, tâm cứ tán loạn,
nghĩ ngợi lung tung, chẳng thể an định, v́ vậy nghĩ về bịnh sẽ bị
bịnh, nghĩ về già sẽ biến thành già nua. Mục đích của việc niệm Phật
là
để
đ è
nén, hàng phục những vọng tưởng phiền năo này.
18. Thiền định, thiền là bên ngoài không trước tướng, định là
bên trong không động tâm. Thiền định là thủ đoạn chứ không phải là
mục đích, Bát Nhă trí huệ mới là mục đích.
19. Tu hành phải dồn sức vào tâm niệm, tu hành chẳng phải tu
để thành một người có tài ăn nói lưu loát, lanh lẹ. Nhà Nho nói ‘Lúc
học vấn thâm sâu th́ tâm ư b́nh lặng’. (Học vấn thâm thời ư khí
b́nh)
20. Nghe kinh nghe pháp nên đặt mục tiêu trên một bộ kinh
điển hoàn chỉnh th́ mới có thể đạt được lợi ích hoàn toàn, và
cũng có thể tránh khỏi căn bịnh ‘đoạn chương thủ nghĩa’ (hiểu nghĩa
rời rạc theo từng phần nhỏ, ư nói: không lănh hội được ư nghĩa toàn
bộ kinh). Thường thấy có một vài đồng tu v́ nhân duyên chưa đầy đủ,
nghe kinh nghe pháp chỉ mới nghe một vài đoạn, không có thời gian
hoặc cơ hội nghe hết cả bộ kinh (như kinh Vô Lượng Thọ) nhưng cũng
có thể sanh tâm hoan hỷ, được lợi ích nơi Phật pháp. Thử nghĩ nếu có
thể phát tâm nguyện rộng lớn nghe trọn hết một bộ kinh th́ được lợi
ích nơi Phật pháp sẽ chẳng thù thắng hơn sao!
21. Hoằng Nhất đại sư nhắc nhở người tu hành nên chú ư
‘công và tội không thể bù
đắp
cho nhau (công không chuộc nổi tội) th́ mới phù hợp với đạo lư
nhân quả. Nếu không th́ [những tư tưởng sai lầm như] ‘người đă làm
việc thiện to lớn th́ dù có làm chuyện ác cũng chẳng bị báo ứng’,
‘bây giờ làm việc ác chỉ cần sau này làm việc thiện để bù
đắp,
bù trừ th́ được rồi!’, đây là những sự hiểu lầm về nhân quả, là
những thiên kiến sai lầm. Người tu hành đoạn ác là sau này không tái
phạm trở lại, là cắt đứt nhân ác, duyên ác. Tu thiện tức là tu nhân
thiện, duyên thiện, tích lũy công đức, phá mê khai ngộ, chuyển phàm
thành thánh.
A Di Đà Phật.
c. Lợi ích thù thắng của sự nhiếp thọ
chúng sanh của kinh Vô Lượng Thọ.
Năm Dân quốc bảy mươi sáu (1987) lăo ḥa thượng Tịnh Không kỷ
niệm ngày cụ Lư Bỉnh Nam văng sanh, v́ muốn báo ân pháp nhũ của ân
sư nên đặc biệt khai giảng kinh ‘Phật Thuyết Đại Thừa Vô Lượng Thọ
Trang Nghiêm Thanh Tịnh B́nh Đẳng Giác’. Từ lúc giảng kinh đến nay,
đồng tu trong và ngoài nước đều vui vẻ tán thán, đều cảm được sự lợi
ích thù thắng từ sự nhiếp thọ chúng sanh của kinh này, càng cảm niệm
cái nh́n sáng suốt, rốt ráo của lăo ḥa thượng đă chọn bộ kinh
phương tiện nhanh chóng, thẳng tắt, rốt ráo, viên măn này để dẫn dắt
chúng sanh, để làm kim chỉ nam cho sự tu hành, thành tựu cho Phật
quả Bồ Đề viên măn của chúng sanh.
Lăo ḥa thượng từ bi thương xót [chúng ta] cứ giảng đi giảng
lại đến nay đă giảng hết chín lần, hội giảng kinh mỗi lần càng thù
thắng hơn trước, những người đạt được lợi ích chân thật chẳng thể
tính đếm nổi. Hiện nay lăo ḥa thượng đang giảng lần thứ mười ở Cư
Sĩ Lâm Tân Gia Ba, trong bốn sự ‘Tín, Giải, Hành, Chứng’ đặc biệt
nhấn mạnh ở ‘Hành, Chứng’, hy vọng những người có duyên nghe được
đều 'phát Bồ Đề tâm chân chánh, một hướng chuyên niệm A Di Đà
Phật, cầu sanh Tịnh Độ'. Đồng thời cũng hy vọng quư vị đồng tu
trong Tịnh Tông có thể áp dụng Phật pháp viên dung vào trong đời
sống và việc làm hằng ngày, để có thể cải thiện hoàn cảnh xă hội,
cứu văn kiếp vận của thế giới đầy dẫy tai nạn.
Lăo ḥa thượng chỉ rơ bản hội tập của kinh này là dựa trên sư
thừa hẳn ḥi, là
được
lăo sư Lư Bỉnh Nam ở Đài Trung đích thân truyền thừa (thầy Lư là học
tṛ của Ấn Quang đại sư); bản hội tập kinh này đă được lăo pháp sư
Huệ Minh ấn chứng, pháp sư Từ Châu đích thân soạn khoa phán, đă khai
giảng ở Đại lục. Tuyên giảng hơn mười năm nay cũng thường nghe đến
nhiều người y theo kinh này tu hành được văng sanh, họ dự biết trước
ngày giờ, hoa nở thấy Phật, họ làm chứng cho việc văng sanh, rất
nhiều đồng tu đă chứng kiến tận mắt, số nghe đến c̣n nhiều hơn nữa.
Như vậy đủ để thấy công đức của bản hội tập kinh này rất thù thắng,
được hết thảy mười phương ba đời chư Phật gia tŕ, hộ niệm.
Khả năng chữ nghĩa của người đời nay chẳng bằng người thời
xưa, nhiều người không hiểu văn ‘Văn Ngôn’, thậm chí chẳng có năng
lực đọc, huống chi kinh Vô Lượng Thọ có đến năm bản dịch gốc, thực
sự rất khó đọc hết năm bản ấy. Đồng tu trong hội chúng ta cũng biết
việc này nên rất cảm niệm lời giáo huấn tha thiết, ân cần của lăo
ḥa thượng đă dùng tâm cung kính, kiền thành để khuyên lơn hết thảy
đồng tu, bất luận nghe kinh, nghiên giáo, hoặc niệm Phật tu hành đều
nên bắt đầu từ bản hội tập kinh Vô Lượng Thọ. Hiểu rơ lư mới có thể
tin sâu, tin sâu rồi mới có thể phát nguyện thiết tha, nguyện khẩn
thiết mới có thể phụng hành, phụng hành th́ tự nhiên công phu sâu
dày. Có thể tín, nguyện, hành cả ba liên đới mật thiết như vậy,
chẳng thiếu thứ nào th́ mới có thể đạt được lợi ích chân thật của
Phật pháp.
Những đại đức đồng tu ưa thích kinh Kim Cang Bát Nhă, Hoa
Nghiêm, Pháp Hoa nếu có thể lấy kinh Vô Lượng Thọ làm cơ sở, bắt đầu
từ kinh Vô Lượng Thọ th́ càng dễ đạt được lợi ích rốt ráo của đại
kinh. A Di Đà Phật
Tứ chúng đồng tu tại Tịnh Tông Học Hội Thành Phố Đài Nam
kính ghi.
d. Ư nghĩa của Phật thất và niệm Phật.
Phật thất là căn cứ trên đoạn: 'Nếu có người thiện nam tử,
người thiện nữ nghe đến A Di Đà Phật, chấp tŕ danh hiệu trong ṿng
một ngày, hoặc hai ngày, …, hoặc bảy ngày, nhất tâm bất loạn. Người
này lúc lâm chung, A Di Đà Phật và chư thánh chúng hiện ra ở trước
mặt. Lúc người này mạng chung, tâm chẳng điên đảo ắt được văng sanh
về cơi Cực Lạc của A Di Đà Phật'trong Phật thuyết A Di Đà Kinh.
Trong những pháp hội niệm Phật, hy vọng dùng tâm chí thành, tâm khẩn
thiết, buông xuống hết vạn duyên, nhất tâm niệm Phật, đạt được hiệu
quả khắc kỳ cầu chứng (cầu chứng được nhất tâm bất loạn trong ṿng
bảy ngày, xây dựng ḷng tin và bằng chứng để văng sanh).
Ấn Quang đại sư dạy: ‘Nhiếp trọn sáu căn là bí quyết niệm
Phật’. Lúc niệm Phật nhất định phải thâu nhiếp nhĩ căn, lắng
nghe từng câu, từng chữ rơ ràng, rành mạch, đừng để luống qua. Phật
hiệu phát khởi từ tâm, âm thanh từ miệng niệm, lọt vào tai, liên tục
chẳng dứt. Vừa có chút vọng niệm th́ liền thâu nhiếp tâm lại để niệm
Phật, đóng cái tai lại và lắng nghe, chẳng để cho vọng niệm tiếp
tục. Hết thảy vọng niệm tự nhiên từ từ biến mất, công phu tự nhiên
đắc lực.
Lăo ḥa thượng Tịnh Không thường khuyến khích đồng tu phải
dùng tâm ‘chân thành, thanh tịnh, b́nh đẳng, chánh giác, từ bi’ để
niệm Phật, như vậy câu Phật hiệu này mới tương ứng, mới được bổn
nguyện oai thần của đức Phật A Di Đà gia tŕ, mới là chắc thật niệm
Phật. Và nói: ‘Chỉ cần đệ tử Di Đà thực sự chịu buông xuống, xả trừ
vọng niệm, chánh niệm tự nhiên sẽ hiện tiền’. Cổ đức có câu: ‘Chỉ
cầu trừ vọng, đâu cần t́m chân [thật]’. Phải biết ‘mục đích của niệm
Phật vốn là công phu dùng chánh niệm đánh đổi vọng niệm, dùng một
chánh niệm chống đỡ vô số vọng niệm’. Nếu có thể chắc thật niệm Phật
th́ bất cứ lúc nào chánh niệm cũng phân minh, thánh hiệu Di Đà
thường nằm trong tâm. V́ lúc nào cũng có Phật hiệu nên mới đạt đến
‘quên ta, quên ḿnh’; nhờ quên ḿnh như vậy nên chẳng có chướng
ngại. V́ lúc nào cũng có Phật hiệu [trong tâm] th́ tự nhiên được đại
tự tại, công phu tự nhiên đắc lực.
Trong quyển ‘Tâm Thanh Lục’ lăo cư sĩ Hoàng Niệm Tổ cũng chỉ
rơ: 'Chí tâm xưng niệm thánh hiệu Di Đà này cũng giống như
‘luyện khoáng (quặng) thành vàng’ là loại bỏ hết thảy tạp chất đến
lúc sạch hoàn toàn, xả bỏ hết thảy vô minh phiền năo. Nếu được vậy
tức là
đă
luyện thành vàng, chẳng c̣n là quặng nữa”.
- Chí thành niệm Phật là tự lực và Phật lực gia tŕ, là sự kết
hợp của hai lực [lượng này].
- Chí thành niệm Phật là cắt cỏ mọc um tùm, bỏ chất tạp, luyện
khoáng thành vàng.
- Chí thành niệm Phật là buông xuống hết vạn duyên, là chứng
minh cho sự phát Bồ đề tâm, cầu nguyện văng sanh.
- Chí thành niệm Phật là sự khảo nghiệm coi ‘tam tư lương’ tín
- nguyện - hạnh đầy đủ hay không.
- Chí thành niệm Phật là thiện căn và phước đức hiện tiền.
e. Giới thiệu sơ lược về Tam Thời Hệ
Niệm.
Tam Thời Hệ Niệm là do Trung Phong quốc sư đời Tống đặt ra,
nội dung gồm có tụng kinh, tŕ danh, giảng kinh, hành đạo, sám hối,
phát nguyện, xướng tán, bảy phương pháp hợp lại làm thành, pháp sự
này phân chia ra thành ba đoạn để cử hành.
Mục tiêu chính của Tam Thời Hệ Niệm là khuyên dạy vong linh
sanh khởi ḷng tin chân chánh, tâm nguyện khẩn thiết, niệm Phật cầu
sanh Tây phương Tịnh độ. Người làm lễ Tam Thời Hệ niệm thay thế vong
linh cũng có thể lợi dụng cơ hội này để tu tập Tịnh nghiệp. Đây
không những là
để
khuyến đạo vong linh, đồng thời cũng là
để
khuyến đạo chính ḿnh, tự ḿnh đạt được lợi ích, vong linh cũng được
lợi ích, thiệt là cả hai cơi minh dương đều lợi, hết sức khế cơ cho
những đồng tu tu tŕ Tịnh nghiệp.
Văng tích sở tạo chư ác nghiệp (Những ác nghiệp tạo từ trước
Giai do vô thỉ tham sân si Đều do tham sân si từ vô thỉ
Tùng thân khẩu ư chi sở sanh Từ thân khẩu ư sanh ra
Ngă kim Phật tiền cầu sám hối Trước Phật con nay cầu sám hối)
Chư khổ tận tùng tham dục khởi (Hết thảy khổ khởi lên từ tham
dục
Bất tri tham dục khởi hà nhân Chẳng biết tham dục khởi từ nhân
ǵ
Nhân vong tự tánh Di Đà Phật V́ quên mất tự tánh Di Đà Phật
Vọng niệm phân phi tổng thị ma. Vọng niệm sôi nổi đều là ma.)
f. Khó gặp thầy tốt.
Học hành phải y theo minh sư chứ chẳng phải danh sư. Minh sư
có thể chỉ dẫn bạn đi trên đường bằng phẳng, đi về đường hướng sáng
sủa. Minh sư là người chỉ đường, chỉ điểm phương hướng cho ḿnh,
pḥng ngừa cho ḿnh chẳng đi lạc đường. Đồng tu là người khuyến
khích lẫn nhau, dùi mài, trao giồi lẫn nhau, có ‘thầy tốt bạn tốt’
mới có thể thành tựu.
Người sơ học chưa đủ năng lực phân biệt tà - chánh, thị - phi;
khi nghe người này rồi nói người này tốt, đi theo họ; nghe người kia
xong th́ nói người kia tốt, bị họ chuyển dời. Cũng như trẻ em, cha
mẹ phải chăm nom kỹ càng v́ nó chẳng biết tà - chánh, thị - phi,
chẳng biết được - mất, lợi - hại, cần phải có thầy dạy dỗ. Đợi đến
lúc bạn có thể phân biệt tà chánh, thị phi, chẳng bị người ta xỏ mũi
dẫn đi, có năng lực này rồi, lăo sư có thể cho bạn đi ra ngoài tham
học. Thầy thật là
đại
từ đại bi! Bảo đảm dạy dỗ, tận tâm tận lực.
Đạo lư thầy tṛ thiệt chỉ có thể gặp mà chẳng thể cầu, vô cùng
hiếm có! Đây là cơ duyên, tự ḿnh phải trồng thiện căn, vun bồi
thiện duyên. Nếu thực sự chẳng gặp được th́ cũng c̣n phương pháp, đó
tức là học người xưa. Lúc trước thầy Lư Bỉnh Nam dạy tôi (tôi ở đây
chỉ lăo ḥa thượng Tịnh Không), thầy rất khiêm nhường mà nói: ‘Khả
năng của tôi chỉ có thể dạy cho ông năm năm’. Thầy dạy tôi học theo
Ấn Quang pháp sư. Ấn Quang pháp sư là thầy của thầy Lư, thầy khuyến
khích tôi tôn Ấn Quang pháp sư làm thầy. Lúc đó tôi mới bắt đầu học,
c̣n chưa xuất gia. Thầy nói với tôi: ‘Người xưa đừng học theo Tô
Đông Pha, người thời nay đừng học theo Lương Khải Siêu.’ Hai người
này đều là học giả Phật học lỗi lạc, trên ‘Phật học’ họ là học giả
uyên thâm, nhưng trên ‘học Phật’ họ chẳng có thành tựu, chẳng thể
học theo hai người này.’
Lúc chúng ta chẳng t́m được thiện tri thức th́ có thể t́m
người xưa, làm học tṛ tư thục của người xưa. Những người dùng
phương pháp này được thành tựu rất nhiều, ở Trung Quốc người đầu
tiên tôn người xưa làm thầy là Mạnh Tử. Mạnh Tử học theo Khổng Tử,
lúc bấy giờ Khổng Tử chẳng c̣n nhưng sách vở của ngài c̣n lưu lại
trong thế gian nên Mạnh Tử chuyên đọc và học theo sách của Khổng Tử,
tiếp nhận lời dạy của Khổng Tử trong sách, một ḷng một dạ học theo
Khổng Tử. Mạnh Tử học theo vị thầy này, chuyên học một vị thầy, học
rất thành công, v́ vậy nên trong lịch sử Trung Quốc người ta tôn
Khổng Tử làm Đại Thánh, Chí Thánh, Mạnh Tử làm Á Thánh.
Sau này trong lịch sử Trung Quốc có rất nhiều người dùng
phương pháp này được thành công, lừng danh nhất là Tư Mă Thiên triều
Hán, ông viết quyển lịch sử Trung Quốc đầu tiên ‘Sử Kư’. Tư Mă Thiên
học Tả Khưu Minh, ông chỉ học một người, chuyên đọc tụng ‘Tả
Truyện’, chuyên học văn chương, tu dưỡng của ‘Tả Truyện’, ông học
thành công và trở thành một văn hào thời đó. C̣n Hàn Dũ đời Đường,
ông là một trong tám văn hào nổi tiếng đời Đường, Tống, c̣n có hiệu
là Hàn Xương Lê, người chuyển đổi nền văn học sau tám đời suy thoái;
thầy của Hàn Xương Lê là ai? Tức là Sử Kư. Ông học Tư Mă Thiên,
chuyên học Sử Kư, học văn chương, giáo huấn của Sử Kư và trở thành
lănh tụ của tám nhà [văn hào] đời Đường, Tống.
Trong nhà Phật, Ngẫu Ích đại sư triều Minh là một Tổ sư Tịnh
Tông. Thầy của Ngài là ai? Là Liên Tŕ đại sư. Lúc bấy giờ Liên Tŕ
đại sư đă văng sanh rồi, sách vở của Liên Tŕ đại sư c̣n lưu lại
trong đời, Ngẫu Ích đại sư bèn chuyên học sách vở của Liên Tŕ đại
sư.
Sự giáo học từ đời xưa của Trung Quốc đều hy vọng đời sau vượt
trội hơn đời này, nếu chẳng thể vượt trội th́ giáo dục [kể như] hoàn
toàn thất bại. Chẳng giống người ngày nay có tâm đố kỵ, chướng ngại
luôn sợ người ta hơn ḿnh, khi dạy người khác th́ luôn giữ lại một
ít, chẳng chịu tận tâm dạy học, đây gọi là keo pháp.
Chú thích: tài liệu trong phần này được trích từ bài giảng
‘Nhận thức Phật giáo’ của lăo ḥa thượng Tịnh Không tại Miami.
g. Nhàn đ àm
về chuyện học Phật.
1. Tin sâu nhân quả, trồng nhân ǵ th́ gặt quả đó. Bố thí vô
uư được khoẻ mạnh, sống lâu.
2. Rất nhiều người nói về nhân quả [theo một cách] rất dễ gây
ra hiểu lầm, tức là họ chỉ nhấn mạnh nhân quả đời trước. V́ họ cho
rằng hết thảy đều do vận mạng định sẵn nên trở thành tiêu cực, chẳng
muốn làm ǵ cả, và cách nói chẳng làm ǵ được (chỉ nghe theo trời,
theo vận mạng an bài) người nghe theo Túc Mạng Luận, nhưng coi nhẹ
nhân quả của đời này -- những việc làm của ḿnh trong đời này là mấu
chốt quan trọng hơn.
3. Mục đích nói về nhân quả có hai thứ:
Thứ nhất: An tâm, làm cho bạn định tâm, đừng v́ ngoại duyên
chẳng vừa ư mà nổi tâm bất b́nh, lúc nghịch cảnh đến th́ đừng lo sợ,
phải mạnh dạn nhận lấy. Thứ hai: Lập mạng, muốn bạn phát nguyện lập
chí, mạnh dạn tạo lập hạnh phúc cho ḿnh.
4. Những chỗ có Bồ Tát đều làm cho hết thảy chúng sanh sanh
tâm hoan hỷ. Khi khởi tâm động niệm, ngôn ngữ tạo tác đều chẳng có
tâm làm năo hại chúng sanh; phải kết thiện duyên với tất cả chúng
sanh, đừng kết ác duyên.
5. Tŕ giới: Giới luật chẳng phải là trói buộc, là những ǵ
[bạn] chẳng làm. V́ vậy giới luật giúp cho bạn tránh những sự dụ dỗ
phi pháp, chẳng bị cảnh giới bên ngoài chi phối, ngược lại [nhờ giữ
giới nên] được khinh an, tự tại. 6. Vô úy bố thí:
1. Không sát sanh: chúng sanh b́nh đẳng, tôn trọng sanh mạng,
tiếc thương sanh mạng.
2. Không năo hại chúng sanh: đừng làm cho người ta chẳng được
an ninh.
3. Cứu tế khi nguy cấp: phóng sanh, hiến máu, cứu người, cứu
động vật.
7. Ăn ít cho khoẻ và có tinh thần. Những thức ăn được thêm
chất hóa học và gia công dễ sanh bịnh, thậm chí dễ sanh ung thư, nên
ít ăn những thứ này, tốt nhất là
đừng
ăn.
8. Người xưa dạy: ‘Buổi sáng ăn cho có dinh dưỡng, buổi trưa
ăn cho no (để làm việc), buổi tối ăn ít (dễ ngủ).
9. Bác sĩ chuyên khoa tim danh tiếng Đổng Ngọc Kinh bàn về đạo
lư khoẻ mạnh:
a. Ăn uống, vận động, ngủ nghỉ, kiểm soát tâm lư cho được quân
b́nh.
b. Bịnh lâu ngày thành thầy thuốc hay, chỉ có thể chữa cho
ḿnh, không thể chữa cho người khác. Thuốc phải cho đúng bịnh!
10. Ô nhiễm mang đến tật bịnh: sanh hoạt bị ô nhiễm, thân thể
bị ô nhiễm, hoặc tâm lư bị ô nhiễm. Phương pháp trị bịnh hay nhất
là: tâm thanh tịnh, thân sẽ thanh tịnh, thân tâm thanh tịnh th́ tự
nhiên khoẻ mạnh.
11. Giải mở oan kết, gút mắt: là một công khóa quan trọng
trong nhà Phật, cần có:
a. Tự lực: đoạn ác tu thiện, tích lũy công đức, hồi hướng cho
oan gia chủ nợ.
Chuyên tu tâm thanh tịnh, thân tâm thanh tịnh, duyên đoạn rồi
th́ quả báo chẳng sanh.
b. Tha lực: Phật lực gia tŕ, chí thành niệm Phật, được nguyện
lực của đức Phật A Di Đà gia tŕ.
12. Tật bịnh của người hiện nay phần đông là do sanh hoạt tập
quán không tốt gây ra
13. Đạo dưỡng sanh: dưỡng tâm trong lúc tĩnh, lúc tịnh (như
niệm Phật), dưỡng thân trong lúc động (như lạy Phật)
14. Ăn chay không được th́ đừng miễn cưỡng, không thể v́ ḿnh
muốn ăn chay mà ảnh hưởng, tạo phiền phức cho người nhà, làm cho cả
nhà chẳng yên, thế th́ đă chẳng từ bi, lại không khéo léo. Nếu ăn
chay không được th́ nên ăn tam tịnh nhục.
15. Việc ăn chay là do Lương Vơ Đế đề xướng, sau khi đọc kinh
Lăng Già vua rất cảm động, phát tâm từ bi, chẳng nhẫn ăn thịt chúng
sanh. Sau đó được người xuất gia hưởng ứng, trở thành điểm đặc sắc
của Phật giáo Trung Quốc (Nhật, Đại Hàn, nhiều nước ở Đông Nam Á
[ngoại trừ Việt Nam] đều chẳng có).
16. Phương pháp ngừa muỗi, kiến, dán (chẳng dùng thuốc sát
trùng).
a. Trong bếp giữ ǵn sạch sẽ, nấu ăn xong phải lau chùi gọn
(để ngừa dán)
b. Dùng thùng rác có nắp đậy (ngừa dán, kiến)
c. Cửa sổ cần dùng cửa lưới (ngừa ruồi, muỗi, trùng)
d. Chân bàn của bàn ăn dùng băng keo hai mặt dán xung quanh để
ngừa kiến, mỗi tháng thay một lần.
e. Đốt nhang đuổi muỗi (dùng nhang điện an toàn hơn, gây tổn
hại cho thân thể ít hơn), và phải mở hé cửa hoặc cửa sổ, để muỗi có
đường bay ra ngoài, đừng kết oán thù với những động vật nhỏ này.
f. Đi ra ngoài có thể dùng kem thoa ngừa muỗi, và tránh những
nơi có nhiều muỗi.
17. Từ trước đến nay trong sách thường dạy người ta phải ăn
thịt mới có đủ dinh dưỡng, mới khoẻ mạnh, động vật sanh ra là
để
người ăn thịt! Và nói: ‘Tôn giáo là mê tín, chẳng có thần tiên,
chẳng có Bồ Tát, và cũng chẳng có địa ngục, người chết th́ hết, việc
ǵ cũng chẳng c̣n’. V́ [có những quan niệm sai lầm như] vậy nên ngày
càng nhiều người chẳng tin nhân quả, muốn làm ǵ th́ làm, tham đắm
trong ngũ dục, chẳng thể tự chủ.
18. Khi nh́n thấy người ta giỏi, tốt hơn ḿnh th́ chịu không
nổi, đây là
đố
kỵ. Đố kỵ thuộc về [tội] ăn cắp, là tập khí từ vô thỉ kiếp đến nay.
Phải thành tâm hối cải, khi nh́n thấy chuyện thiện phải tùy hỷ, có
thể hoan hỷ khi nh́n thấy cái tốt, cái đẹp của người khác là thành
tựu công đức cho ḿnh, tức là tùy hỷ công đức.
19. Nhẫn nhục là công phu giữ ǵn công đức của ḿnh, là công
phu trước khi được định. Người xưa thường nói: ‘[Việc] nhỏ mà không
nhẫn th́ làm loạn mưu lớn’. Thành tựu nhỏ cần nhẫn nại ít, thành tựu
lớn cần phải nhẫn nại nhiều. Nhưng nhẫn nhục chẳng phải đ è
nén, đ è
nén lâu ngày sẽ tích lũy thành bịnh. Nhẫn nhục đúng cách là vượt
thoát ra khỏi phạm vi của sự tranh chấp, dùng trí huệ hóa giải, dùng
độ lượng bao dung.
20. Thuốc bổ tốt cách mấy cũng thua tâm thanh tịnh, tâm vui
vẻ. Ham muốn ít, biết đủ th́ thường vui. Ham muốn ít th́ tâm thanh
tịnh, biết đủ th́ thường khoái lạc.
Tóm lại chỉ có niệm Phật là tốt. A Di Đà Phật!
Chú thích
(1) Trăm giới ngàn như (Bách giới thiên như): Theo tông Thiên
Thai có mười giới: từ ngạ quỉ, súc sanh, địa ngục… cho đến chư Phật.
Trong mỗi giới lại có đủ mười giới (mỗi giới có đủ mầm mống mười
pháp giới ở trong), nên 10 x 10 100 giới. Trong mỗi giới lại có mười
môn như thị (mười thứ đúng như thế). Diệu lư của thật tướng từ xưa
đến nay vẫn ‘như như’, chẳng hề biến đổi nên gọi là Như; y vào Thực
Tướng và phải hiện ra Thế Đế nên gọi là Thị. Hai chữ Như Thị là
trạng thái của Thực tướng, nó phải như như thế thế. Mười cái Như thị
là như thị tướng, như thị thể, như thị tánh, như thị lực, như thị
tác, như thị nhân, như thị duyên, như thị quả, như thị bản mạt cứu
kính (cái ǵ cũng có gốc, ngọn, từ gốc đến ngọn đều b́nh đẳng rốt
ráo), (xem kinh Pháp Hoa) Mỗi một pháp giới có mười cái Như Thị, một
trăm pháp giới thành ra một ngàn cái Như Thị. Tông Thiên Thai dùng
chữ "bách giới thiên như” để chỉ tất cả các pháp.
(2) Trong kinh có tỷ dụ ‘thân người khó được’ như sau: từ trên
đỉnh núi cao thả một sợi chỉ xuống, phía dưới chân núi đặt một cây
kim, thả sợi chỉ từ đỉnh núi xuống và xỏ ngay vào cây kim ở dưới
chân núi, gió vừa thổi nhẹ th́ sợi chỉ chẳng biết sẽ bay đến phương
nào rồi! Đừng nói là chỉ có một sợi, dù có một ngàn sợi, mười ngàn
sợi, có sợi nào may mắn xỏ được ngay vào lỗ kim, sác xuất của việc
này xảy ra vô cùng nhỏ bé, chuyện này rất khó xảy ra, mất thân người
rồi muốn được thân người trở lại cũng khó như vậy!
(3) Địa Thượng Bồ Tát: Các vị Bồ Tát từ Sơ Địa trở lên.
Trong quá tŕnh chuyển ngữ chắc không tránh khỏi thiếu sót,
xin các bậc thức giả hoan hỷ phủ chính cho.
Xin thành thật cám ơn.
Một nhóm Diệu Âm cư sĩ, 9-4-2004 |